Nhảy đến nội dung

06 Bài 06

  • T4, 22/01/2025 - 21:08
  • admin1

Chương bốn: Hướng tới việc hồi tâm của các giáo hội



Việc cùng nhau duyệt lại lịch sử của chúng ta cho thấy: sự chia rẽ giữa chúng ta đã xuất hiện vào lúc Đức Maria bị cô lập đối với cả Chúa Kitô lẫn hiệp thông các thánh, và lúc lòng sùng kính ngài mặc lấy những hình thức thái quá. Về phía Công Giáo lúc ấy, “thánh mẫu học” bị tách rời một cách bất chính đáng khỏi Kitô học và giáo hội học. Chính vì thế, quyết định của Công Đồng Vatican II trong việc biến bản văn về Đức Maria thành một phần của Hiến Chế về Giáo Hội là một hành động có tầm quan trọng cao đối với sự hoà giải đại kết. Nền giáo hội học này giúp đưa Đức Maria trở thành thành phần của Dân Chúa một lần nữa. Phía Thệ Phản cho rằng việc tuyên xưng Chúa Kitô đòi phải nói một điều gì đó về Đức Maria, và phải nói điều này nhân danh chính sự nhập thể.



Các đề nghị được Nhóm Dombes đưa ra ở đây cho các giáo hội liên hệ nhằm đem họ lại gần nhau hơn qua việc cùng đặt Đức Maria vào đúng vị trí vốn thuộc về ngài trong đức tin Kitô Giáo, dĩ nhiên đây là vị trí trọn vẹn của ngài và là vị trí thích đáng.



I. Sự hồi tâm của Công Giáo



1. Hồi tâm trong thái độ



Người Công Giáo không thể không ý thức được sự phê phán hết sức nghiêm nghị, từng được các thần học gia Thệ Phản trong phong trào đại kết nêu ra về vị trí của Đức Maria trong Giáo Hội. Một thần học gia Thệ Phản, J. Moltmann, từng viết rằng: “Sự cách biệt giữa giáo huấn của giáo hội và Tân Ước không ở đâu lớn bằng trong thánh mẫu học” (1). Và trong một bài về Đức Maria trong bộ Bách Khoa về Phong Trào Thệ Phản (Encyclopédie du protestantisme) gần đây, A. Birmelé đã viết như sau: “Các tín điều của Rôma khiến người ta nêu lên vấn đề chỉ nên tham chiếu một mình Thánh Kinh, một mình Chúa Kitô, và một mình ơn thánh mà thôi. Sở dĩ người ta phải nhắc lại xác tín ấy, là do việc phát triển của lòng sùng kính bình dân và của việc trăm hoa đua nở các cuộc hành hương thánh mẫu” (2). Nói chung, tâm trí Thệ Phản vẫn tiếp tục xa lạ với lòng sùng kính của người Công Giáo dành cho Đức Maria. Cho dù không thể đòi hỏi việc mọi mẫn cảm linh đạo phải có cùng một biểu thức như nhau, nhưng quan điểm của người Thệ Phản buộc người Công Giáo phải biện minh và nghiên cứu sâu sắc hơn các thực hành của họ.



Sự thực lịch sử là con người Đức Maria đóng một vai trò chủ yếu trong tôn giáo đại chúng do việc phúc âm hóa của Kitô Giáo mang lại. Vai trò này có ba chiều kích:



- Sự gần gũi: ngài là người mẹ hết lòng chăm sóc mọi đứa con của mình;
- Bảo vệ bản sắc văn hóa: ngài được mừng kính như là người chiếm hữu các đặc điểm của mỗi dân tộc;
- Che chở và chữa lành: ngài được coi là người giải thoát con người khỏi mọi áp bức và bệnh tật.



Sự biện phân của thần học và mục vụ cần phải thận trọng, đừng coi thường đức tin của người khiêm hạ, cho dù việc phúc âm hóa đức tin ấy luôn nhằm loại bỏ khuôn mạo mẫu thần khỏi lòng sùng kính Đức Maria và giúp các tín hữu đừng nghĩ rằng liên hệ xúc cảm đối với Đức Maria chứa đựng trọn bộ Kitô Giáo và trọn bộ giáo hội. Cũng thế, phải thật thận trọng khi nại tới cảm thức đức tin tín hữu (sensus fidelium), vì điều được coi như thế rất có thể chỉ phát sinh từ cảm xúc tôn giáo hơn là từ đức tin Kitô Giáo.



Về chủ đề “Đức Maria và hiệp thông các thánh”, ta phải chú ý tới “truyền thống đại kết” đang trong diễn trình hình thành. Tại các đại hội do Hàn Lâm Viện Quốc Tế Giáo Hoàng về Thánh Mẫu tổ chức từ sau Công Đồng, chiều kích đại kết luôn luôn hiện hữu (3). Một điểm nữa cần được nhấn mạnh là: tuy hiếm, nhưng vẫn có những cuộc đối thoại về Đức Maria giữa người Công Giáo và người Luthêrô tại Hoa Kỳ (4). Ta cũng ghi nhận nhiều cuộc đối thoại song phương, như cuộc đối thoại giữa người Công Giáo và người Chính Thống Giáo...



Các nhà thần học Công Giáo dĩ nhiên có trách nhiệm lớn đối với cung cách giải thích vai trò của Đức Maria trong đức tin Công Giáo. Điều hết sức ước ao là họ bỏ đi bất cứ thứ thánh mẫu học nào được hiểu như một khoa biệt lập trong thần học và thay vào đó, nên hoàn toàn tập chú vào con người của Đức Maria và quay trở lại với nền “thần học chân chính về Đức Maria”, một nền thần học được sáp nhập vào “mầu nhiệm Chúa Kitô và giáo hội”. Sau Công Đồng Vatican II, dù đa số các nhà thần học đã chịu tiếp nhận phương thức thứ hai vừa nói, nhưng nhiều sách vở vẫn được ấn hành với nội dung khó chấp nhận được về phương diện khách quan. Xin đơn cử một thí dụ: mặc dù được phép nghiên cứu thêm mối liên kết giữa Đức Maria và Chúa Thánh Thần, nhưng ta không thể thiết lập một mối tương quan giữa ngài và Chúa Thánh Thần và so sánh nó với sự kết hợp giữa nhân tính và thiên tính nơi Chúa Giêsu (5). Để chứng tỏ cùng một sự thay đổi về phương thức như thế, nhiều tập san thánh mẫu hiện nay cũng nên cố gắng tự thanh tẩy mình trong việc trình bày giáo huấn của họ về Đức Maria và lòng sùng kính ngài.



2. Cuộc hồi tâm về tín lý: “Cộng tác” hay sự đáp ứng tích cực của Đức Maria



Nhận định đầu tiên của Nhóm Dombes về vấn đề này là: “Đối với chúng tôi, xem ra sự minh xác tín lý do hai phía cùng đưa ra về chủ đề “sự công tác” của Đức Maria đã đưa lại một kết quả thoả đáng trong việc nói lên đức tin chung, dù sự minh xác ấy không giải quyết trọn vẹn vấn đề trong các áp dụng khác nhau của nó”.


a. Hai tín điều mới đây của Công Giáo



Trong lãnh vực tín lý, việc công bố tín điều Vô Nhiễm Thai và tín điều Mông Triệu là vấn đề chỉ liên quan đến Giáo Hội Công Giáo, là định chế đã đưa ra hai tín điều ấy. Vì giáo hội này tự coi mình bị trói buộc bởi chính lời tuyên bố của mình về nguyên tắc “phẩm trật các chân lý”, nên người ta phải nhìn nhận rằng hai tín điều này không thể trở thành bắt buộc đối với các Kitô hữu khác, vì chúng vốn không phải là thành phần của tuyên xưng đức tin chung vào lúc phân rẽ (6).



Nói cho ngay, việc khẳng định nguyên tắc “phẩm trật các chân lý” tại Công Đồng Vatican II đã làm người ta không thể duy trì một số chủ trương trước đó một cách cứng đơ được (7). Dĩ nhiên, đức tin luôn là một bao lâu nó đáp ứng lại thẩm quyền của Thiên Chúa như Người đã tự mặc khải. Nhưng, có những chủ trương chủ yếu đến nỗi được gắn liền với chính tuyên tín, dù khi chuyển giao, chúng chịu nhiều ảnh hưởng của lịch sử và con người. Các chủ trương khác phải phụ thuộc các chủ trương này. Các phát biểu đức tin tạo nên một toàn bộ phức tạp trong đó quả có một phẩm trật và người ta có thể nhận ra trong đó nhiều khai triển thực sự.


Giáo Hội Công Giáo ngày nay không thể coi người Chính Thống và người Thệ Phản như những người Công Giáo chống lại việc công bố các tín điều này, nên cần phải đưa ra những lời cảnh cáo nghiêm khắc (8). Trái lại, đối với các anh chị em Kitô hữu này, giáo hội ấy nên vun xới cùng một thái độ khôn ngoan và bác ái mà suốt trong 19 thế kỷ qua họ vốn biểu lộ đối với các cuộc tranh biện thần học về chủ đề này. Điều vốn không phải là vấn đề đức tin mà chỉ là ý kiến thần học trong giáo hội suốt 19 thế kỷ qua không thể bị coi là nguyên nhân gây chia rẽ trong thế kỷ 20. Ta đừng quên rằng các bậc thầy vĩ đại về linh đạo như Thánh Bernađô và Thánh Tôma Aquinô vẫn giữ trọn được thế giá của các vị trong Giáo Hội Công Giáo và luôn được coi là các chứng tá của đức tin trọn vẹn ngay cả sau định nghĩa năm 1854, dù các vị lên tiếng chống đối Vô Nhiễm Thai. Và ta đừng quên rằng năm 1661, trong đoản sắc Sollicitudo, Đức Giáo Hoàng Alexăng VIII cấm các phe phái ủng hộ và chống đối Vô Nhiễm Thai không được tấn công và tuyệt thông lẫn nhau. Há thái độ đó không nên là thái độ của người Công Giáo ngày nay đối với người Chính Thống và Thệ Phản hay sao? Nếu sự hiệp thông trọn vẹn được tái lập giữa các giáo hội, thì ta cần một cuộc đối thoại mới về chủ đề này.



Theo Nhóm Dombes, điều khôn ngoan nhất là nhất trí với nhau rằng: “Giáo Hội Công Giáo sẽ không đòi phải chấp nhận hai tín điều này làm điều kiện cho việc hiệp thông trọn vẹn giữa các giáo hội. Giáo hội này chỉ nên yêu cầu các đối tác mình muốn tái lập sự hiệp thông tôn trọng nội dung của các tín điều này và đừng phê phán chúng là trái với Tin Mừng hay trái với đức tin, trái lại phải coi chúng như các kết luận tự do và chính đáng phát sinh từ suy tư có ý thức của Công Giáo về đức tin và sự gắn bó nội tại của đức tin này”.



Một điển hình gần đây về các tuyên tín Kitô học, được Đức Giáo Hoàng và các thượng phụ của các giáo hội cổ xưa vốn từ lâu được gọi dưới tên “không phải là Canxêđoan” ký nhận, cho thấy: các phát biểu có thẩm quyền nhất do các công đồng đề xướng có thể phát sinh ra sự nhất trí chân thực về đức tin miễn là người ta chịu đi quá bên kia ngôn ngữ lỗi thời vốn là chủ đề của nhiều tranh cãi vô bổ (9). Một lần nữa, vì mục tiêu phục hồi sự hợp nhất, ta nên có khả năng thực hiện được cùng một việc ấy với các quyết định của đức giáo hoàng về Vô Nhiễm Thai và Mông Triệu.



Để chuẩn bị cho một hòa giải như thế, há Giáo Hội Công Giáo lại không nên chú ý tới các dè dặt của các giáo hội và các tín phái Kitô Giáo khác và cố gắng đưa ra một nền giáo lý biết chú trọng hơn tới các chứng tá của Thánh Kinh hay sao? Phải sử dụng nền giáo lý này như một huấn giáo về đức tin đối với lòng sùng kính bình dân (10).



b. Sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria


Liệu ta có thể nại cùng một nguyên tắc “phẩm trật các chân lý” cho sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria không? Có thể lắm, chỉ cần ta xem sét sự đồng trinh này trong tương quan của nó với “nền tảng đức tin Kitô Giáo” và với một sự chứng thực rõ ràng và chắc chắn nơi Thánh Kinh. Đức tin của các anh chị em Thệ Phản vào thần tính của Chúa Giêsu Kitô “Đấng được tượng thai bởi Chúa Thánh Thần và được Đức Nữ Trinh Maria sinh ra” luôn là điểm cốt chính. Tuy thế, ở đây ta đang sử lý với niềm xác tín của giáo hội sơ khai, một xác tín vốn được phát biểu trong mọi nền phụng vụ của giáo hội này; tất cả các nền phụng vụ ấy đều dành cho Đức Maria tước hiệu “đồng trinh mãi mãi”, một tước hiệu được nhất tề chấp nhận bởi mọi giáo hội địa phương trước khi có cuộc ly khai trong thế kỷ 16, và chính các nhà Cải Cách nguyên thủy cũng chấp nhận (11). Truyền thống này, vì thế, ngăn ta không được đơn giản áp dụng cùng các nguyên tắc như đã được dùng để giải quyết hai tín điều Công Giáo mới đây.

Thành thử câu hỏi nêu ra là: nên hay không nên để sự kiện nhiều người Thệ Phản không chấp nhận sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria tiếp tục là trở ngại để ta không trở thành chi thể của cùng một giáo hội rửa tội và thánh thể hay không. Dù Nhóm Dombes rất muốn nói không, nhưng họ cho rằng cần phải có một cuộc đối thoại liên phái sâu sắc và toàn diện hơn về chủ đề này.



3. Cuộc hồi tâm về lòng sùng kính thánh mẫu



Trong phạm vi này, người Công Giáo khó hồi tâm là do sự kiện này: giáo huấn chính thức đáng lý ra nên tránh các thái quá của lòng sùng kính thánh mẫu, nhưng thực tế, họ đã không làm như thế. Công Đồng Vatican II trình bày lòng sùng kính này như là hoa trái của đức tin, chứ không ngược lại: “Các tín hữu hãy nhớ rằng… lòng sùng kính đích thực không hệ ở cảm tình vô bổ và mau qua, cũng không hệ ở một tâm tính dễ tin phù phiếm, mà phát xuất từ đức tin chân thực, qua đó, ta được hướng dẫn tới chỗ biết nhìn nhận sự trổi vượt của Mẹ Thiên Chúa, và được đánh động hướng tới một tình yêu con thảo với mẹ chúng ta và bắt chước các nhân đức của ngài” (Lumen Gentium 67).



a. Các hướng dẫn cần được tiếp nhận



Ít năm sau Công Đồng, trong một tông huấn, Đức Phaolô VI quyết định suy tư sâu xa hơn về vị trí của Đức Maria trong lòng sùng kính công cộng của giáo hội và trong lòng sùng kính tư riêng của các tín hữu (12). Trong bối cảnh vạch ra một đường hướng hồi tâm cho người Công Giáo này, ngài thúc giục họ hãy biện phân hơn nữa trong việc thực hành lòng sùng kính thánh mẫu.



Yếu tố Kitô học trong lòng sùng kính thánh mẫu phải giữ vị trí trước nhất: “Chỉ có … một Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và nhân loại, là Chúa Giêsu Kitô, Đấng làm người” (1Tm 2:5). “Nơi Trinh Nữ Maria, mọi sự đều liên quan với Chúa Giêsu và tùy thuộc Người” (số 24). Mối tương quan của Đức Maria với ngôi vị và công việc của Chúa Thánh Thần làm nổi bật chiều kích giáo hội cần phải có trong lòng sùng kính Đức Maria, vì Đức Trinh Nữ là người đầu tiên được cứu chuộc, là Kitô hữu trước nhất. Mối liên kết của Đức Maria với Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha, Con và Thánh Thần, và vị trí của ngài trong Giáo Hội, do đó, được đặt ngay bên trong nhiệm cục cứu chuộc.



Sau đây là 4 chiều kích cần phải có, theo Đức Phaolô VI, đối với lòng sùng kính Đức Maria:



- Chiều kích Thánh Kinh: Lòng sùng kính Đức Maria phải tập chú vào các chủ đề căn bản của sứ điệp Kitô Giáo;
- Chiều kích phụng vụ: Các thực hành sùng kính phải hoà hợp với phụng vụ trong khi không được lẫn lộn với nó;
- Chiều kích đại kết: Lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa phải có “khía cạnh đại kết… được tỏ rõ trong việc người Công Giáo mong muốn rằng tuy không hề sao lãng đặc tính chuyên biệt của lòng sùng kính này, nhưng cần phải thận trọng hết sức để tránh bất cứ thái quá nào khiến các anh em Kitô hữu khác hiểu sai về tín lý đích thực của Giáo Hội Công Giáo. Cũng thế, Giáo Hội mong ước rằng bất cứ sự biểu lộ lòng sùng kính nào đi ngược lại thực hành đúng đắn của Công Giáo cũng cần được loại bỏ” (Số 32);


- Chiều kích nhân học: Đức Maria là mẫu mực không chỉ trong cách sống mà ngày nay đã lỗi thời của ngài, nhưng còn trong đức tin can trường của ngài và trong đức mến hết sức tích cực của ngài: “Đức Maria thành Nadarét, tuy hoàn toàn tuân phục thánh ý Thiên Chúa, nhưng không hề là một người đàn bà tùng phục một cách nhát đảm hay có lòng đạo đức khiến người khác khó chịu; ngược lại, ngài là người đàn bà không do dự tuyên xưng rằng Thiên Chúa xác minh cho người khiêm nhường và bị áp bức, và loại bỏ người quyền thế khỏi các địa vị ưu tuyển của họ (xem Lc 1:51-53)” (số 37).



b. Lời cầu nguyện



Việc đọc kinh Truyền Tin và mân côi nên tuân theo các qui định sau đây:



Kinh Truyền Tin (13) có giá trị ở kết cấu đơn giản, tính chất Thánh Kinh, nguồn gốc lịch sử vốn liên kết với lời kêu gọi duy trì hòa bình của nó, nhịp điệu gần như phụng vụ của nó, và tính cởi mở của nó giúp ta bước vào mầu nhiệm vượt qua.


Kinh mân côi hay chuỗi mân côi là hình thức ca ngợi và kêu cầu theo lối lặp đi lặp lại (litanic) tập chú vào việc nhập thể đầy tính cứu chuộc của Chúa Kitô. Đây là cách suy niệm cuộc đời Chúa Cứu Thế (14). Trước đây, có 150 kinh Kính Mừng, giống như con số 150 Thánh Vịnh vậy. Nhưng con số ấy đã được tăng lên 200 từ đời Đức Gioan Phaolô II. Kinh này có nguồn gốc từ phụng vụ, nên cần trở về với nguồn gốc ấy. Tuy nhiên, có một “khác biệt về bản thể” (số 48) giữa phụng vụ và việc đọc kinh mân côi.



c. Các cuộc hiện ra



Ta phải nói gì về các cuộc Đức Maria hiện ra, như tại Lộ Đức và Fatima? Điều đáng lưu ý là tông huấn của Đức Phaolô VI không hề nói một lời nào về các cuộc hiện ra này. Các nhà tâm lý vốn mô tả chúng như các cảm nghiệm cá thể, không bệnh lý, được con mắt đức tin giải thích như các cảm nghiệm về một sự hiện diện. Giáo Hội Công Giáo coi chúng như “các mạc khải tư” (15), không thể so sánh với mạc khải trong Thánh Kinh. Chúng không phải là thành phần của đức tin; nghĩa là, mỗi người Công Giáo được tự do thẩm định chúng cho riêng mình.



Thái độ chính thức của Giáo Hội Công Giáo đối với chúng là thái độ hết sức thận trọng. Thánh Gioan Thánh Giá yêu cầu ta “chống lại” các mặc khải đặc biệt, coi chúng như những cám dỗ nguy hiểm (16). Trong thế kỷ 18, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV đã ấn định một đường hướng hành động mà các vị kế nhiệm ngài chưa hề đi trệch ra ngoài: “Việc Giáo Hội chuẩn nhận một cuộc mạc khải đặc biệt, sau khi điều tra kỹ lưỡng, chỉ có nghĩa là cho phép công bố cuộc mạc khải này để giáo huấn và xây dựng tín hữu. Người ta có quyền không đồng thuận với… cuộc mặc khải ấy, dù nó được Giáo Hội chuẩn nhận… miễn là họ làm thế vì những lý do tốt, không có bất cứ tinh thần khinh mạn nào” (17).



Huấn quyền giáo hội chỉ chuẩn nhận rất ít việc thờ phượng tại các nơi hiện ra ấy, sau một thời gian dài điều tra về tính trong sáng của các hiện tượng này. Giáo Hội đưa ra hai tiêu chuẩn để biện phân chúng: sứ điệp của chúng phải phù hợp với sứ điệp của Thánh Kinh và với đức tin của Giáo Hội; trong các dịp hành hương tại đó, phải có các hoa trái thiêng liêng giúp người ta hồi tâm.



Mục đích của các cuộc hiện ra không phải là đặt cơ sở cho đức tin mà chỉ để phục vụ đức tin. Chúng không thêm được gì cho mạc khải duy nhất, nhưng có thể là một nhắc nhớ khiêm nhường đối với mạc khải duy nhất này. Chúng là những dấu chỉ khả giác trong đó, Thiên Chúa tự tỏ mình ra tùy theo khả năng những người tiếp nhận các dấu chỉ này. Có thể ví chúng như một thứ ảnh tượng mà theo thần học Phương Đông, chính là việc “đối tượng hóa thực sự, do Chúa Thánh Thần linh hứng… phát sinh ra và chính là phương tiện của một hiện diện” (18). Chúng thuộc lãnh vực đặc sủng, nghĩa là, các ơn lành Chúa ban cho một chi thể của nhiệm thể để mưu ích cho toàn thể nhiệm thể. Giống mọi đặc sủng khác, ta không nên tìm kiếm chúng, nhưng tiếp nhận chúng với lòng cảm tạ, biện phân và khôn ngoan.



Tuy nhiên, lòng sùng kính bộc phát của tín hữu thường hay đi quá sự khôn ngoan nói trên và đôi khi dẫn tới những tò mò không lành mạnh liên quan tới các địa điểm hiện ra mới đây nhất và nhiều biểu hiện khác thường xẩy ra tại các nơi ấy; như thể đức tin của họ cần một củng cố không thể không có. Cần phải đưa ra một diễn trình huấn giáo có tính mục vụ, như một vài địa điểm hành hương vốn đã áp dụng. Mục đích việc huấn giáo này là hướng dẫn người hành hương hướng tới một sự hồi tâm chân chính, giúp họ từ bỏ thái độ dễ tin để thành thực tin vào sứ điệp của Chúa Kitô.



d. Giảng thuyết và dạy giáo lý



Nhìn nhận các thái quá và lệch lạc của thời quá khứ gần đây chưa đủ. Ta cũng cần loại bỏ các lạm dụng về ngôn ngữ trong các trình bày thần học và mục vụ nữa. Thí dụ, trong các thánh ca về Đức Maria, điều đáng ước mong là các công thức “thổi phồng” (19) dùng để gán cho ngài điều thực sự chỉ thuộc thẩm quyền Thiên Chúa, như tha thứ chẳng hạn, nên được sửa lại. Há việc tạc tượng lại không nên được hạn chế ở chỗ chỉ mô tả Đức Trinh Nữ cùng với Con của ngài hay sao? Một số thực hành của địa phương cần được nghiêm chỉnh phê phán, thậm chí loại bỏ hẳn.



Việc giảng thuyết cũng thế, có nhiều điều khẩn trương không nên coi nhẹ. Việc này không nên tìm cách cường điệu hóa lòng sùng kính Đức Maria. Lòng sùng kính này phải luôn trung thành với nguyên tắc sau đây của Thánh Irênê: một cái hiểu thích đáng về Chúa Kitô nhất thiết sẽ đem Đức Maria vào bức chân dung. Nếu sự hồi tưởng (evocation) có trở thành sự kêu cầu (invocation), như trên thực tế đã xẩy ra, thì sự kêu cầu này không bao giờ được đi ra ngoài qui luật của đức tin (regula fidei). Như chỉ có một đức tin khiến cho việc rửa tội trở thành cần thiết thế nào, thì cũng chỉ có một Chúa mới đòi có thái độ sùng kính đối với mẹ của Người như thế.
 

II. Sự hồi tâm của Thệ Phản



1. Hồi tâm trong thái độ


Diễn trình hồi tâm của người Thệ Phản cần được diễn ra trên hai bình diện. Trước nhất, họ cần nhìn nhận rằng một người anh em hay một người chị em trong Chúa Giêsu Kitô vẫn có thể sùng kính Đức Maria mà không vì thế bẻ gẫy sự hiệp thông của đức tin. Thứ đến, vấn nạn không ở chỗ phải chăng một bên quá sùng kính, còn bên kia sùng kính không đủ (hàm ý một bất cân xứng), mà vấn đề là điều gì ở cả hai phía đang án ngữ giữa tín hữu và Chúa Giêsu Kitô. Người Thệ Phản cần tự hỏi liệu sự im lặng quá thường xuyên của họ đối với Đức Maria há không quá thiên kiến đối với mối liên hệ của họ với Chúa Giêsu Kitô đó hay sao (20).


Nếu ta nhìn vào hai truyền thống liên hệ và cùng nhau lục lọi Thánh Kinh để nhìn ra vị trí của Đức Maria trong lịch sử cứu rỗi, như ta đã làm ở phần đầu sách này, thì việc làm của ta sẽ đem lại các hậu quả cụ thể đối với ta. Đây không phải là vấn đề chỉ kìm hãm sự thổi phồng Đức Maria trong lòng sùng kính của Công Giáo và tái lập Đức Maria vào đúng vị trí của ngài trong lòng đạo của Thệ Phản (bớt chỗ kia một ít, thêm chỗ này một ít!). Phong trào đại kết cần nhiều hơn thế. Như cùng nhau có cái nhìn mới về các dị biệt vẫn tồn tại giữa chúng ta, nhất là thuộc lãnh vực tín điều hóa vị trí của Đức Maria trong công trình cứu rỗi.



Đó chính là hình thức hồi tâm mà người Thệ Phản cần phải có.



Khi bàn luận về Đức Maria, ta phải bước ra khỏi cái thế giới tranh cãi vô bổ và những biếm họa dễ dãi mà mỗi bên vốn sẵn sàng dành cho bên kia, để mong không dính dáng gì tới nhau. Để chống lại thái độ quá chú trọng tới Đức Maria trong lòng sùng kính Công Giáo, người Thệ Phản đã tự giam mình vào một im lặng đến độ không những không kính trọng đức tin của Công Giáo mà còn dẫn tới thái độ tự kiểm duyệt chính mình, không đếm xỉa gì tới chủ trương của các Nhà Cải Cách cũng như vị trí đích thực của Đức Maria trong lịch sử cứu rỗi.



Vì lý do đó, ta phải hoan hô chào đón một vài tiếng nói Thệ Phản, những tiếng nói không hẳn kém thế giá, từng kêu gọi ta “hướng tới một thái độ tích cực mà chúng ta, trong tư cách con cháu Phong Trào Thệ Phản, cần phải có đối với vị trí của Mẹ Chúa Cứu Thế trong các điều mà Kitô hữu chúng ta biết chắc chắn”. Tác giả này nói tiếp rằng: “một giáo huấn về Đức Maria không những là điều có thể có mà còn cần thiết nữa trong đức tin và nền thần học Thệ Phản. Không có giáo huấn này, việc phê phán Công Giáo Rôma sẽ bị bóp méo và chắc chắn vô hiệu. Dù sao, về phương diện này, ta chỉ cần hồi tưởng và khuyến cáo cuốn chú giải tinh tế của Luther về Kinh Magnificat” (21).


Như thế, bất chấp các lệch lạc có thể có trong lòng sùng kính Đức Maria, người Thệ Phản được thúc giục bước ra khỏi sự dè dặt thái quá hiện nay để tái lập vị trí chân thực của Đức Maria trong sự hiểu biết đức tin và trong lời cầu nguyện của giáo hội.



Việc tái đánh giá hay phục hồi Đức Maria và vị trí độc đáo mà ngài vốn chiếm giữ trong kế hoạch của Thiên Chúa này không phải là hoa trái của một “thỏa hiệp đại kết”, gom lại một chỗ các quan điểm hoàn toàn khác nhau, mà là một trở về với Đức Maria của Tin Mừng và là một dấu ấn của lòng trung thành lớn hơn đối với Thánh Kinh. Ngay Karl Barth, người vốn hết sức nghiêm khắc phê phán lòng sùng kính Đức Maria, cũng minh nhiên viết về ngài rằng: “Ở đây, có một người còn lớn hơn cả Ápraham, lớn hơn cả Đavít, và lớn hơn cả Gioan Tẩy Giả, lớn hơn cả Phaolô và lớn cả toàn bộ Giáo Hội Kitô Giáo; ở đây, ta đang xử lý với lịch sử Mẹ của Chúa, và là Mẹ của Thiên Chúa. Đây là một biến cố độc nhất và vô song” (22).



Sự tỉnh táo Thệ Phản này cũng nên dẫn ta tới chỗ đừng nói quá về tầm quan trọng của Đức Maria trong đời sống Giáo Hội Công Giáo. Vị trí của ngài trong lòng đạo của người Công Giáo rất khác nhau, và phụng vụ Chúa Nhật rất dè dặt về ngài. Các tín điều thánh mẫu và các tuyên bố khác về Đức Maria cần được đặt trong “phẩm trật các chân lý” và chúng không hề chiếm hàng đầu trong giáo huấn Công Giáo hiểu như một toàn bộ. Người Thệ Phản được khuyến khích có cái nhìn mới mẻ, một cái nhìn không cường điệu: khi nói về Giáo Hội Công Giáo, họ không nên lẫn lộn tâm điểm hay những điều cốt chính trong phát biểu đức tin với các điều ngoại vi.



2. Hồi tâm trong tín lý



Mọi sự đều được thâu tóm nơi Chúa Kitô, và không có một khoảng trống nào nữa cần được lấp đầy giữa Thiên Chúa và ta, giữa trời và đất, giữa hiện tại, quá khứ và tương lai. Hơn nữa, nhờ đức tin, ta được lồng vào chuỗi dài mọi tín hữu: các tông đồ, các tiên tri, các tử đạo, và các chứng tá mọi thời từng đi trước ta và nay tạo thành hiệp thông các thánh. Bất chấp vị trí đặc biệt làm mẹ Chúa Kitô, Đức Maria vẫn không thể bị tách biệt ra khỏi hiệp thông này, và điều đó phải là sự tôn kính trước nhất và chân thực nhất đối với ngài.



Vị trí thích đáng ta có thể phục hồi cho Đức Maria chỉ có thể có trong hiệp thông các thánh mà thôi. Các thánh là những người đi trước và là mẫu mực cho những ai, cùng với các ngài và theo sau các ngài, đứng trong hàng ngũ “đoàn tùy tùng” của Chúa Kitô chiến thắng (Eph 4:8; Cl 2:15). Bằng sự sống và chứng tá, Đức Maria và mọi vị khác chia sẻ cùng một hiệp thông các thánh như nhau trong Chúa Kitô.



A. “Sự cộng tác” hay đáp ứng tích cực của Đức Maria



Cẩn thận đọc Sách Thánh, ta sẽ được thúc đẩy một cách lành mạnh để hiểu rõ vai trò và vị trí của Đức Maria. Dù ơn thánh luôn luôn ở hàng đầu, nhưng lúc nào nó cũng đòi phải có một đáp ứng, một đáp ứng tình yêu bằng tình yêu. Từ cái nhìn này, Đức Maria đã được ban cho ta làm mẫu gương dứt khoát và toàn hảo của lời đáp xin vâng mà đức tin Kitô Giáo cần phải thốt ra. Trong viễn tượng này, Đức Maria có thể được coi như mẫu mực của tín hữu, những người nên công chính nhờ đức tin, chứ không nhờ việc làm. Trong tư cách ấy, Đức Maria, “đấng đầy ơn phúc”, nữ tì hèn mọn của Chúa, được Chúa đoái nhìn một cách trìu mến và do đó, có phúc hơn mọi phụ nữ, đấng được tuyên xưng là có phúc vì đã tin; Đức Maria này quả là “mẫu mực cho Giáo Hội” (23), cho dân Chúa đang sống trên trần gian và đang tiến về nước trời; ngài quả là chị ta:



“Maria, người em gái ta, “cô gái nhỏ”, và chính vì thế là chị của mọi con người nhân bản chúng ta.
“Maria, khuôn mặt đơn sơ, thường hay bị bóp méo và bôi lọ, hiển nhiên do cùng một hành động.
“Maria, “đấng có phúc lạ” với cái nhìn thấu suốt tâm hồn thiên thần và giọng nói đã cất cao bài Magnificat cho ta.
“Maria Thành Nadarét, đầy ơn phúc và hồng ân, mà đức tin vốn là công trình kỳ diệu.
Một câu truyện, một tập chú vào lịch sử riêng mình, đủ nói với ta về Thiên Chúa của tầng trời trở thành xác phàm nơi ngài.
“Maria, đấng, hơn bất cứ người nào khác, có khả năng hơn hết nói với ta về lịch sử ấy.
“Maria, còn hơn là mẹ ta; mãi mãi, ‘Maria là chị ta’” (24).


Khi đã loại bỏ mọi hàm hồ lưỡng nghĩa liên quan tới việc ơn cứu rỗi có hiệu lực là nhờ một mình ơn thánh của Chúa Kitô mà thôi, người Thệ phản sẽ tìm ra ý nghĩa của sự “cộng tác” nói ở đây. Theo chân các Nhà Cải Cách, họ sẽ tìm thấy nơi Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, một con người chỉ nhờ đáp ứng tích cực của mình mà “cộng tác” vào ơn cứu rỗi và nhờ đó cho ta thấy một cách điển hình mọi Kitô hữu đều được thánh hóa ra sao. Vì, nhờ là “mẫu mực của Giáo Hội” và ở giữa hiệp thông các thánh, Đức Maria đã trở thành “mẹ ta và ta trở thành con cái ngài. Chính do lòng tốt và ơn an ủi tràn trề, Thiên Chúa đã ban cho nhân loại một của châu báu như thế, bằng cách biến Đức Maria thành mẹ thật của họ, Chúa Kitô là anh của họ, và Thiên Chúa là Cha của họ” (25). Như thế, ta có thể hiểu “sự cộng tác” ấy là việc “mô phỏng Đức Maria” mà Calvin vốn mời gọi mọi Kitô hữu thể hiện (26).



a. Hai tín điều mới đây của Công Giáo



A. Piepkorn, một nhà thần học của Giáo Hội Luthêrô, từng viết như sau: “Liên quan tới sự chín chắn của một số cái nhìn thấu suốt về giáo hội học của Công Giáo Rôma lần đầu tiên được mô tả một cách xúc tích trong Lumen Gentium Unitatis Redintegratio: sẽ đến ngày người ta phải chấp nhận và nhìn nhận rằng trước 1854 và trước 1950, toàn thể Giáo Hội không được tham khảo, toàn thể Giáo Hội không nhất trí với các định nghĩa này hay đồng thuận với chúng, và bất chấp mức độ giá trị giáo luật (canonical) của chúng đối với những ai chấp nhận thẩm quyền của giám mục Rôma, chúng vẫn được để ngỏ cho Giáo Hội như một toàn bộ chất vấn” (27).



Vào thời kỳ ấy, quan điểm như trên vẫn còn bị tác giả của nó coi như không phải là giải pháp được người Công Giáo Rôma chấp nhận. Ba mươi năm đối thoại đại kết đã chứng minh rằng sự thông cảm nỗi khó khăn này càng ngày càng gia tăng như đã thấy ở phần nói tới sự hồi tâm về phía Công Giáo (28). Tình thế mới này mang theo lời kêu gọi phía người Thệ Phản và giúp nhóm Dombes đi đến chủ trương sau.



“Dù các nhà Thệ Phản của Nhóm Dombes không thể chấp nhận được việc Vô Nhiễm Thai cũng như Mông Triệu thuộc đức tin của giáo hội, đặc biệt vì các tín điều này không được Sách Thánh chứng thực, tuy nhiên họ khá nhậy cảm đối với giá trị tượng trưng của chúng và sẵn sàng để anh em Công Giáo coi chúng như các tín điều. Nếu xét tới những gì chúng tôi đã nói về sự cộng tác và công chính hóa nhờ đức tin mà thôi (29), chúng tôi có thể nói rằng việc giải thích các tín điều này không còn chứa bất cứ điều gì ngược lại với việc công bố Tin Mừng. Trong chiều hướng này, các tín điều ấy không tạo nên một sự dị biệt đến độ gây chia rẽ. Về phần mình, người Thệ Phản của Nhóm tin rằng rất có thể xem sét việc trở về hiệp thông trọn vẹn trong đó, mỗi bên được tự do trong việc tôn trọng các quan điểm của phe kia”.



b. Sự trọn đời đồng trinh của Đức Maria



Về tước hiệu “đồng trinh mãi mãi” của Đức Maria, người Thệ Phản tôn trọng điều này như là một công bố thuộc đức tin chung trước khi có sự phân rẽ và nay là thành phần đức tin của đa số anh chị em Kitô hữu của họ. Bất kể các khó khăn có như thế nào của tước hiệu này, họ cũng vẫn tôn kính Đức Maria như trinh nữ tuyệt hảo, một tước hiệu mãi mãi là của ngài chỉ vì ngài đã thụ thai Chúa Giêsu một cách đồng trinh.



2. Đức Maria trong kinh nguyện và ca ngợi của Kitô Giáo



Lòng tôn kính Đức Maria, một lòng tôn kính vốn có chỗ đứng trong truyền thống Thệ Phản, sẽ không bao giờ biến thành sự thờ phượng: vì “chỉ một mình Thiên Chúa được tôn vinh mà thôi!”.



Hiển nhiên, trong sự tôn kính Đức Maria, người ta thấy nhiều mức độ khác nhau. Với viễn tượng ấy, người Thệ Phản hẳn sẵn sàng hiểu rằng các truyền thống Kitô Giáo khác có thể tiến xa hơn họ trong cách nói lên lòng tôn kính này, tuy họ không chấp nhận sự khác nhau về chủng loại giữa việc tôn kính Đức Maria và tôn kính các thánh hay các chứng tá vĩ đại của đức tin. Nhưng thử hỏi: ở phía Thệ Phản, đặc tính của việc “tôn kính dành cho Trinh Nữ thánh thiện và đầy ơn phúc Maria” là thế nào? (30).



Vượt lên trên sự im lặng của họ, các tranh cãi thần học của họ, và sự thận trọng dè dặt của họ trước các lệch lạc mà họ cho là thờ ngẫu thần Maria, người Thệ Phản vẫn cần phải đặt Đức Maria trở lại vị trí chân chính của ngài trong mầu nhiệm cứu rỗi và trong hiệp thông các thánh, cả về tín lý lẫn phụng vụ. Làm như thế, họ sẽ đóng góp lớn lao vào ước nguyện hiệp thông của các giáo hội và sẽ đặt mình tốt hơn vào hàng ngũ các truyền thống lớn của toàn thể giáo hội.


Điều trên hàm nghĩa rằng các Giáo Hội Thệ Phản sẽ dành một chỗ thích đáng trong việc thờ phượng Chúa Nhật và Kinh Nguyện Thánh Thể cho các chứng tá nói trên, nhất là trong các mùa chính của năm phụng vụ, như Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh, Mùa Thương Khó và Mùa Hiện Xuống, và sẽ phục hồi ý nghĩa cho lễ Các Thánh.



Nhờ cố gắng đọc lại Sách Thánh như thế và nhờ cái hiểu đổi mới này, các Giáo Hội Thệ Phản sẽ phục hưng việc tiếp xúc với chính các truyền thống của họ, và, giống một số nhà Cải Cách, biết khám phá ra niềm vui vốn được liên kết với các ngày Lễ Đức Mẹ, như Lễ Truyền Tin, Lễ Thăm Viếng, và Lễ Dâng Con Vào Đền Thờ. Tất cả các lễ này đều được nối kết với mầu nhiệm Chúa Kitô.

Sau cùng, việc chú ý tới các thái quá có thể có trong lòng sùng kính Đức Maria buộc người Thệ Phản chất vấn chính cách thức cầu nguyện của họ, các giới hạn và thiếu sót của nó. Liệu những hạn chế đôi khi quá đáng trong nền phụng vụ của họ có chừa chỗ nào cho một lòng đạo đức không rơi vào cảm tính hay hứng khởi vô độ không? Chú ý tới sự thật trong lối cầu nguyện của ta là một thao tác hồi tâm mà ai trong chúng ta cũng cần phải thực hiện.



“Điều gì cản trở” (xem Lc 18:16; Cv 8:36) không cho người Thệ Phản:

- hân hoan dùng đức tin ca hát vị trí mà Kinh Tin Kính vốn dành cho Đức Maria?


- nhấn mạnh tới định mệnh đặc biệt của người con gái đất Israel, từng trở thành mẹ Chúa Kitô và là chi thể của giáo hội?


- làm chứng cho việc hồi tâm của Đức Maria, đấng từng thêm vào tư cách làm mẹ của mình, tư cách khiêm nhường hơn làm hiền tỉ và nữ tì?


- nhất trí rằng kinh Magnificat ca ngợi một cách điển hình chính đức tin và đức cậy của họ?


- có khả năng ca ngợi Thiên Chúa vì những gì Người cho phép Đức Maria trở thành và thực hiện, và không khinh mạng những ai vì tình yêu đối với Chúa Giêsu đã đem danh mẹ của Người vào việc tạ ơn của họ, bằng cách sử dụng chính lời lẽ của thiên thần lúc Truyền Tin và lời chúc phúc của người chị em họ Êlisabét, và ngay cả lời của ông già Simêong lúc Dâng Con Vào Đền Thờ?


- nhìn nhận rằng lời tán tụng của Tin Mừng trên luôn luôn là lời tuyên xưng mầu nhiệm nhập thể và cứu chuộc; không gì gán cho “mẹ” Maria mà lại không thuộc Con Trai của ngài; và trong hiệp thông các thánh, không nên từ chối điều gì với Đức Maria?
- nhớ rằng Đức Maria là khởi đầu và là kết thúc thừa tác vụ trên gian của Chúa Giêsu, một chứng tá cho việc bắt đầu thừa tác vụ này tại Cana và lúc hoàn tất nó trên thánh giá?



Kết luận và tóm lược


Ở cuối hành trình của ta, liệu ta có cần phải tiếp tục nói tới “sự bất đồng” giữa người Thệ Phản và người Công Giáo về chủ đề Maria hay không? Thiển nghĩ cần trả lời câu hỏi này một cách dè dặt.



Nhiều điểm bất đồng vẫn còn đó, và vì ta đã nghiên cứu chúng một cách tường tận đến nỗi không thể không nhớ đến chúng khi viết mấy giòng kết luận này. Nhưng quan tâm của ta đúng ra là cố gắng cởi bỏ khỏi chúng các hiểu lầm khác nhau vẫn còn đang đè nặng lên chúng tận cho đến nay và giảm nhẹ ảnh hưởng của chúng bằng cách luôn cố gắng làm cho việc tương hợp giữa các quan điểm được rõ ràng hết sức. Chúng ta đã tìm hiểu tường tận liệu và đến mức độ nào các bất đồng kia nghiêm trọng đến có thể đụng tới “nền tảng” của đức tin ta.



Nhờ đó, Nhóm Dombes đã đưa ra kết luận sau đây:



“Là thành viên của Nhóm Dombes, và dưới ánh sáng các đề nghị hồi tâm trình bày ở cuối hành trình của mình, chúng tôi không còn coi các dị biệt mô tả trên có tính phân rẽ chúng tôi nữa. Ở cuối cuộc nghiên cứu lịch sử, Thánh Kinh và tín lý của mình, chúng tôi không còn thấy sự bất tương hợp nào có tính bất giản lược nữa, bất kể một vài phân rẽ thực sự về thần học và thực tiễn.



“Chúng tôi đồng thanh chấp nhận những gì kinh tin kính truyền lại cho chúng tôi. Kinh này dạy chúng tôi rằng Chúa Giêsu ‘được tượng thai bởi Chúa Thánh Thần và được sinh ra bởi Trinh Nữ Maria’. Chúng tôi cũng chấp nhận chứng cớ của Thánh Kinh. Chúng tôi vốn coi Đức Maria giữ vị trí tâm điểm trong việc khai triển sự sống của Chúa Kitô trong nhiệm thể của Người là Giáo Hội. Quan điểm này chính đáng vì dựa vào điều khoản đức tin vốn là thành phần trong Kinh Tin Kính Các Tông Đồ qua các hạn từ ‘hiệp thông các thánh’”.


Nếu thế thì đâu là nỗi khó khăn vẫn còn đang tiếp diễn? Đối với người Thệ Phản, nỗi khó khăn đó hiển nhiên nằm ở một số chủ đề được người Công Giáo sử dụng để nói về Đức Maria. Nhưng hơn thế nữa, nó còn nằm ở việc nại tới thánh truyền, tới việc khai triển học lý, và tới vai trò của huấn quyền, ở đây cũng như ở các phạm vi khác.



Đối với người Công Giáo, nỗi khó khăn ấy rõ ràng nằm ở lối đọc chứng tá Thánh Kinh có tính hết sức giới hạn của người Thệ Phản, và có lẽ nghiêm trọng nhất, chính là sự đối kháng của họ đối với cảm tình tính, một đối kháng được duy trì trong nhiều thế kỷ qua những tranh cãi khôn nguôi về Trinh Nữ Maria.



Tuy thế, toàn bộ công trình nghiên cứu này cho thấy không có điều gì về Đức Maria khiến ta biến ngài thành biểu tượng của những điều chia rẽ chúng ta.



Vậy thì mọi sự đều đã đâu vào đó cả hay sao? Chắc chắn không! Nhưng thiển nghĩ ta nên chấp nhận một tiêu chuẩn chung như sau: Đức Maria không bao giờ tách biệt khỏi Người Con của ngài và “nữ tì của Chúa”, người mà “Đấng Toàn Năng đã làm cho nhiều điều trọng đại”, luôn tôn vinh Con của mình là Cứu Chúa của mình và của tất cả chúng ta. Ta chiêm ngưỡng Chúa Kitô trong chính mầu nhiệm thập giá. Theo Thánh Gioan, mọi sự đã “hoàn tất” sau khi Chúa Giêsu ủy thác mẹ và môn đệ của Người cho nhau. Vì Đức Maria hiện diện như thế trong kế hoạch Thiên Chúa và ở ngay khởi đầu hiệp thông các thánh, thiển nghĩ cả hai bên, Thệ Phản lẫn Công Giáo, cùng với muôn triệu chứng tá trong lịch sử cứu rỗi, đều được mời gọi liên tục quay về với Chúa Giêsu Kitô, Đấng “được tượng thai bởi Chúa Thánh Thần và được sinh ra bởi Trinh Nữ Maria”.
 

Phụ lục I: Các tín điều Vô Nhiễm Thai và Mông Triệu



1. Vô Nhiễm Thai


Sau đây là lời công bố tín điều được Đức Giáo Hoàng Piô IX xác định vào ngày 8 tháng 12 năm 1854:



“Ta tuyên bố, công bố và xác định rằng: tín lý theo đó Đức Trinh Nữ rất thánh Maria, từ giây phút đầu tiên được tượng thai, nhờ ơn thánh đặc biệt và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng và dự ứng công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của nhân loại, đã được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ, là tín lý được Thiên Chúa mạc khải và, do đó, phải được mọi tín hữu tin một cách chắc chắn và mãi mãi” (Sắc chỉ Ineffabilis Deus; Denzinger 2803).



Đọc công bố trên, ta cần lưu ý mấy điểm sau đây:



- ở đây, học lý Vô Nhiễm Thai là chủ đề của một định nghĩa long trọng và nhận được tư cách một học lý “được Thiên Chúa mạc khải”. Tuy nhiên, trong lời giải thích của mình, chính Đức Piô IX nhấn mạnh tới tính liên tục của nó với đức tin của Giáo Hội được phát biểu trong các ngày lễ phụng vụ và giáo huấn các giáo phụ và một số vị giáo hoàng. Hơn nữa, dù có nhắc tới một số đoạn văn Thánh Kinh (St 3:15; Lc 1:28 và 1:42), nhưng ngài không trực tiếp biện bác từ Thánh Kinh. Tuy nhiên, ngài nhìn nhận rằng học lý này “theo phán quyết của các giáo phụ, đã được ghi trong Sách Thánh”.



- chính công thức định nghĩa không sử dụng thuật ngữ “Vô Nhiễm Thai”. Công thức này cũng không xác định “giây phút đầu tiên” của việc tượng thai; chỉ xác định rằng từ “giây phút đầu tiên”, Đức Maria được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ.



- một thế kỷ sau định nghĩa của Đức Piô IX, Công Đồng Vatican II đã đề cập tới mầu nhiệm Vô Nhiễm Thai bằng những lời lẽ ít “Latinh” hơn và mang nhiều dấu ấn của ngôn ngữ truyền thống Phương Đông hơn:



“Không có gì lạ, nếu các Thánh Giáo Phụ đã thường xưng tụng Mẹ Thiên Chúa là Ðấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc mới được thụ thai, Ðức Trinh Nữ thành Nazareth được Thiên Thần vâng lệnh Chúa đến truyền tin và kính chào là "Ðấng đầy ân phúc" (x. Lc 1:28)” (Lumen Gentium, số 56).



2. Mông Triệu


Trong Tông Hiến Munificentissimus Deus, ngày 1 tháng 11 năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII, đã xác định tín điều Mông Triệu như sau:



“Do thẩm quyền của Chúa chúng ta là Chúa Giêsu Kitô, do thẩm quyền của các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và do thẩm quyền riêng của ta, ta công bố, tuyên bố và ấn định thành tín điều do Thiên Chúa mạc khải rằng: Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa, là Đức Maria trọn đời đồng trinh, khi chấm dứt cuộc sống trần gian, được triệu cả hồn và xác về hưởng vinh quang thiên đàng” (Denzinger 3903).


Ở đây, một lần nữa, ta nên lưu ý mấy điều sau đây:

- Đoạn đầu câu định nghĩa có ám chỉ tới tín điều vô ngộ của đức giáo hoàng được công bố năm 1870.



- Lời định nghĩa trên gợi ta nhớ tới mối liên kết giữa Mông Triệu và các mầu nhiệm Vô Nhiễm Thai, Mẹ Thiên Chúa, và Trọn Đời Đồng Trinh.


- Sự khác nhau giữa các hạn từ “được triệu” (động từ thể thụ động) và các hạn từ được dùng trong Kinh Tin Kính để nói về việc “lên trời” của Chúa Kitô cho ta thấy rằng không nên lẫn lộn việc mông triệu của Đức Trinh Nữ với việc thăng thiên của Chúa Kitô.


- Các lời sau cùng “được triệu cả hồn và xác về hưởng vinh quang thiên đàng” không có ý nói tới việc thay đổi nơi chốn, mà đúng hơn nói tới việc biến đổi thân xác Đức Maria và việc toàn diện hữu thể ngài bước vào tình trạng “vinh quang” trong đó, ngài được kết hợp với thân xác vinh hiển của Con mình.



- Khi trình bày tín điều này, Đức Piô XII không trực tiếp biện bác từ Thánh Kinh nhưng nại tới Thánh Kinh qua ngả Thánh Truyền và dưới ánh sáng mối dây liên kết Đức Maria với Con của ngài.



- Công Đồng Vatican II, khi nhắc lại tín diều của Đức Piô XII, đã càng nhấn mạnh hơn nữa tới sợi dây liên kết đời đời giữa Con Trai vinh hiển và mẹ Người là Đức Maria:


“Được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Ðức Nữ Trinh Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19,16), Ðấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (Lumen Gentium, số 59).



Phụ lục II: Các kinh có nhắc đến Đức Maria trong một số Giáo Hội Thệ Phản



1. Trong Hiệp Thông Anh Giáo



a. Trích từ Kinh Tiền Tụng các lễ kính Đức Maria:



“Và nay, chúng con tạ ơn Cha, vì khi chọn Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria làm mẹ Con của Cha, Cha đã hiển dương những người bé nhỏ và thấp hèn. Thiên thần của Cha đã chào kính ngài là người có phúc cao; cùng với mọi thế hệ, chúng con xưng tụng ngài là đấng diễm phúc và cùng với ngài, chúng con hân hoan và chúc tụng thánh danh Cha”



b. Lời cầu nguyện trong các lễ kính Đức Maria:



“Lạy Thiên Chúa, Đấng đã triệu về với Chúa Trinh Nữ Diễm Phúc Maria, người mẹ của Con Chúa, xin cho chúng con được dự phần với ngài vào vinh quang trong vương quốc đời đời của Chúa, vì cả chúng con nữa cũng đã được máu Chúa Kitô cứu chuộc”.



2. Trong Các Giáo Hội Luthêrô tại Pháp (Phụng vụ Chúa Nhật và các ngày lễ, tháng 2 năm 1983)



a. Lời cầu nguyện trong các lễ kính Đức Trinh Nữ



(a) Lễ Truyền Tin (25 tháng 3 hay trong Mùa Vọng):



“Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, qua lời thiên thần Gabrien, Chúa đã cho chúng con hay sự nhập thể của Con Chúa. Xin đổ tràn ơn thánh Chúa xuống tâm hồn chúng con để, khi theo chân Người trong đau khổ và cái chết của Người, chúng con cũng được hưởng sự vinh quang của phục sinh nhờ Chúa Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con, Đấng hiện sống và trị vì mãi mãi cùng Chúa, là Cha, và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất”.



(b) Lễ Thăm Viếng (2 tháng 7 hay trong Mùa Vọng):



“Lạy Thiên Chúa, là Cha chúng con, qua Chúa Thánh Thần, Chúa đã dẫn dắt Trinh Nữ Maria tới với Bà Êlisabét để họ cùng nhau hân hoan chào đón việc xuống thế của Con Cha. Xin Cha cũng điều hướng bước chân của chúng con để chúng con đem đến cho thế gian niềm vui của Đấng đã trở nên khó nghèo vì chúng con, là Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con, Đấng hiện sống và trị vì mãi mãi cùng Chúa, là Cha, và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất”



b. Kinh tiền tụng Mùa Vọng

“Lạy Cha rất thánh, là Thiên Chúa vĩnh cửu và toàn năng, thật là phải đạo và tốt đẹp, được luôn luôn và từ khắp nơi vinh danh Cha và dâng lên Cha lời cảm tạ của chúng con, qua Chúa Kitô, Chúa chúng con. Chính Người là Đấng mọi tiên tri đã ca ngợi; Đức Trinh Nữ Maria đã yêu thương chờ đợi, và Thánh Gioan Tẩy Giả đã công bố sự xuất hiện và tỏ lộ sự hiện diện; chính Người đã ban cho chúng con niềm vui được bước vào mầu nhiệm Giáng Sinh để khi Người đến, Người có thể thấy chúng con đang chờ đợi trong cầu nguyện và tràn đầy niềm vui”.



c. Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng



“Chúc tụng Chúa nhờ đấng có phúc hơn mọi phụ nữ; chúc tụng Chúa vì ngài đã tin; chúc tụng Chúa đã để nữ tì Chúa mở lòng ra chào đón lời Chúa và cưu mang Đấng đã tạo dựng nên thế giới; chúc tụng Chúa vì nhờ ngài, Con Chúa đã có thể mặc lấy xác phàm của chúng con và dâng lên của lễ duy nhất hữu hiệu: ‘Này đây, Con đến để làm theo Ý Cha’” (Lời nguyện Phụng Vụ Chúa Nhật, Lutheran Domestic Mission, 1991).


d. Kinh tưởng niệm (anamnesis), Lễ Giáng Sinh



“Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cử hành việc xuất hiện của Con Cha. Giống Đức Maria, chúng con tưởng niệm trong tâm hồn chúng con việc Người sinh ra. Chúng con tưởng nhớ các lời Người nói, các việc Người làm, cuộc thống khổ và thập giá của Người. Sự sống hiện nay của Người là niềm vui của chúng con và việc Người trở lại là niềm hy vọng của chúng con. Nhân danh Người, chúng con dám nguyện rằng: Lạy Cha chúng con ở trên trời…”



3. Các Kinh của Giáo Hội Cải Cách



a. Phụng vụ của Giáo Hội Cải Cách Pháp (1996)



“Lạy Cha, Cha là Đấng đã mặt đối mặt nói với Môsê,

Là đấng đã làm cho các tiên tri vui mừng và khóc lóc,

Là Đấng đã phát sinh ra các thánh vịnh nơi dân Cha và thỏ thẻ sự khôn ngoan của phương châm cho họ.



Cha, Thiên Chúa hằng sống, là Đấng đã đặt Kinh Magnificat vào môi miệng Đức Maria và lời tuyên xưng Chúa Kitô trên môi miệng Thánh Phêrô,



Cha là Đấng đã thốt Lời Cha thành lời nhân bản trong đời sống Con Cha: nhờ Chúa Thánh Thần, Cha đã làm các lời này thành sinh động vào lúc này; xin cho chúng trở thành Lời Cha cho chúng con. Amen”



b. Kinh Bữa Tiệc Ly



“Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con tạ ơn Cha: từ nguyên thủy, nhờ Lời của Cha và hơi thở của Thần Trí Cha, Cha đã làm cho thế giới và những huy hoàng của nó hiện hữu. Cha đã tạo nên con người giống hình ảnh Cha và ký giao ước với họ; Cha đã chọn một dân tộc cho riêng Cha để qua họ, mọi dân tộc trên thế giới được chúc phúc.



“Nhờ Chúa Thánh Thần, Cha đã làm cho Con Cha được Trinh Nữ Maria sinh hạ; Người đã trở nên người anh của chúng con và đã sống cuộc sống yêu thương Cha cho tới chết trên thập giá. Nhờ quyền lực của Thần Trí Cha, Cha đã làm Người trỗi dậy từ cõi chết; Cha đã đặt Người làm đầu Giáo Hội và là Cứu Chúa của thế gian…” (Phụng Vụ thực nghiệm “Cam” của Giáo Hội Cải Cách Pháp, 1982).


c. Các thánh ca của Giáo Hội Cải Cách Pháp: Số 171: Tôi Tán Tụng Thiên Chúa (Magnificat)



1. Tôi tán tụng Thiên Chúa và hân hoan ca hát,
Vì Cứu Chúa đã cúi xuống phận mỏng dòn tôi;
Người đã đoái xem để từ nay
mọi người sẽ mãi mãi khen nữ tì Người có phúc.



2. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều kỳ diệu.
Danh Người là thánh! Tình yêu Người thiên thu vạn đại.
Cánh tay quyền năng của Người luôn hành động
Cho những ai thực hiện thánh ý Người.



3. Người phá tan suy nghĩ của kẻ kiêu căng
Hạ những kẻ hợm hĩnh khỏi bệ vàng;
Người nâng người nghèo dậy và nuôi sống họ;
Kẻ giầu, Người đuổi khỏi tay không.



4. Đối với Israel, Thiên Chúa luôn yêu thương trìu mến;
Trung thành với lời hứa, Người luôn trợ giúp họ;
Với Ápraham và miêu duệ,
Thiên Chúa mãi mãi là Cứu Chúa đến tận cùng (Arc en Ciel Nos Coeurs te chantent, Tháng 7, 1994)



d. Trích Kinh Nguyện Thánh Thể, Tiệc Cưới Cana



Lạy Chúa, đơn thành và tín thác biết bao là lời Đức Maria biểu lộ!
- Chỉ một vài lời đủ cho Chúa thấy tình thế làm ngài lo âu: “họ hết rượu rồi”.
- Chỉ một vài lời đủ cho gia nhân hiểu sự tín thác của ngài: “hãy làm bất cứ điều gì Người bảo anh em”.


 

Ấy thế mà chúng con lại lải nhải trong lời cầu nguyện của chúng con, không nhìn thấy dấu chỉ Chúa hiện diện nào.



Này đây, chúng con đang được mời dự bữa ăn của Chúa, nhưng chúng con biết được gì về sự sống của Chúa trong mẩu bánh này và trong chén rượu này?



Chúng con biết được gì về ơn thánh Chúa dành cho chúng con ?



Xin sai Thần Khí Chúa xuống


- để chúng con nhìn thấy Chúa hiện diện tại tâm điểm bữa ăn này
- để chúng con nghe thấy lời Chúa vang vọng trong Tin Mừng
- để chúng con nhận ra mình và máu Chúa trong bánh và rượu này… (Mục sự Antoine Nouis, La Galette et le cruche, Nhà Xuất Bản Réveil, 1993).



Phụ Lục III: Danh sách các vị hợp soạn tác phẩm này trong các năm 1991-1997

Linh Mục Jean-Noel Aletti                                        Mục Sư Guy Lasserre

Mục Sư Francois Altermath                                       Linh Mục Pierre Lathuilière

Linh Mục René Beaupère                                           Linh Mục Marie Leblanc

Mục Sư André Benoit                                                 Mục Sư Michel Leplay

Mục Sư Alain Blancy                                                 Mục Sư Louis Lévrier

Mục Sư Daniel Bourguet                                            Linh Mục Robert Liotard

Mục Sư Marc Chambron                                            Linh Mục Guy Lourmande

Linh Mục Bruno Chenu                                              Mục Sư Alain Massini

Linh Mục Henri Denis                                                Mục Sư Alain Martin

Linh Mục Michel Fédou                                             Mục Sư Willy-René Nussbaume

Mục Sư Flemming Fleinert-Jensen                            Mục Sư Jacques-Noel Pérès

Mục Sư Michel Freychet                                            Linh Mục René Remise

Mục Sư Daniel Fricker                                               Mục Sư Antoine Reymond

Linh Mục Paul Gay                                                    Linh Mục Bernard Sesboué

Linh Mục Claude Gerest                                            Linh Mục Damien Sicard

Linh Mục Étienne Goutagny                                      Mục Sư Jean Tartier

Linh Mục Pierre Gressot                                            Mục Sư Danis Vatinel

Mục Sư Gottfried Hammann                                      Mục Sư Jean-Marc Viollet

Linh Mục Joseph Hoffmann                                       Linh Mục Pierre Vuichard

Linh Mục Maurice Jourjon                                         Mục Sư Gaston Westphal

Phụ Lục IV: Các chữ viết tắt trong các chú thích

CO                             Calvini opera quae supersunt omnia do Baum, Cunitz và Reuss hiệu đính. Corpus    Reformatorum. Braunschweig: Schwetske, 1963-1900.

DC                             La Documentation Catholique, Paris

DS                             Enchiridion Symbolorum, definitionum et declarationum de rebus fidei et morum,        do H. Denzinger và A. Schonmetzer hiệu đính. Tái bản lần thứ 32, Freiburg:          Herder, 1963.

DSp                             Dictionnarie de spiritualité. Paris: Beauchesne

LG                             Lumen Gentium: Hiến Chế của Công Đồng Vatican II về Giáo Hội

Mansi                        Sacrorum conciliorum nova et amplissima collectio. Florence và Venice, 1959-98.            In lại và tiếp tục bởi J.-B. Martin và L. Petit. 53 cuốn. Paris: Welter, 1901-27.

ND                             The Christian Faith in the Doctrinal Documents of the Catholic Church, doJ.            Neuner và J. Dupuis hiệu đính. Ấn bản đã duyệt lại. Staten Island, NY: Alba     House, 1982.

PG                             Patrologia Graeca, do J.-P. Migne hiệu đính, Paris.

PL                             Patrologia Latina, do J.-P. Migne hiệu đính, Paris

RAM                          Revue d’ascétique et de mystique. Toulouse.

SC                             Sources chrếtiennes. Lyons-Paris: Cerf.

TRE                           Theologische Realenzyklopadie. Berlin-New York: de Gruyter.

UR                             Unitatis redintegratio: Sắc lệnh của CĐ Vatican II về Đại Kết

WA                            Weimarer Ausgabe: Trọn bộ tiếng Đức các công trình của Luther. Weimar: H.          Bohlaus, 1883.

***************************************

CHÚ THÍCH



Chương 1

(1) Thánh Inhaxiô thành Antiokia (chết khoảng năm 117), Thư Êphêsô 18, 2 (SC 10bis, 87); xem Thư Mácnêxiô 11; Trallianô 9,1; Smyrnô 1,1-2.


(2) Thánh Irênê thành Lyons, Chứng Minh Lời Giảng Tông Đồ 33 (SC 406, 31)


(3) Thánh Irênê, Chống Lạc Giáo 1, 10.2, Bản tiếng Pháp của A. Rousseau (Paris: Cerf, 1984) 66.


(4) Chữ Hy Lạp ICHTHYS, “cá”, là các chữ đầu (trong tiếng Hy lạp) của tước hiệu “Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế”. Do đó, cá trở thành cách biểu tượng để gọi tên Chúa Kitô và là cách chơi chữ khắc của người xưa. Văn bia của Abercius có ghi: “Đức tin là hướng dẫn của tôi ở khắp nơi và là lương thực nuôi tôi ở khắp chốn: cá từ suối trường sinh, rất lớn và rất sạch, đã được thánh Nữ Trinh bắt được’. Văn bia của Pectorius: “Bạn đã tiếp nhận cá trong lòng bàn tay bạn”. Những bản khắc này đã được phiên dịch trong cuốn sách của L. Deiss: Springtime of the Liturgy: Liturgical Texts of the First Four Centuries (Collegeville: Liturgical Press, 1979) 260-2.


(5) Xem đoạn văn của Thánh Inhaxiô Thành Antokia: Thư Êphêsô 18, 2.


(6) Thánh Irêne, Chống Lạc Giáo 3, 24, 4 (Rousseau, 377)


(7) Thánh Augustinô, Holy Virginity 6,6; do R. Kearney dịch sang tiếng Anh, Marriage and Virginity (The Works of Saint Augustine I, 9; Hyde Park, N.Y.: New City Press, 1999) 71.


(8) Nhất là Tertulianô.


(9) Origen, Chú Giải Thánh Gioan 1,4 (SC 120, 71).


(10) DS 427; dịch trong ND 620/6.


(11) Nhất là trong dịp kỷ niệm 1,500 năm CĐ Êphêsô (1931) và dưới hình thức một ngày lễ (11 tháng 10) mà nay đã được đặt trở lại vào ngày truyền thống xưa là ngày 1 tháng 1.


(12). Thánh Augustinô, Holy Virginity 6,6


(13) Thánh Anataxiô, Thư Cho Các Trinh Nữ; xem RAM 31 (1955) 144-71.


(14) Thánh Augustinô, Holy Virginity 5,5


(15) Thánh Augustinô, Tự Nhiên và Ơn Thánh 36,42; bản dịch tiếng Anh của R.J. Teske, Answer to The Pelagians (The Works of Saint Augustine I, 23; Hyde Park, N.Y.: New City Press, 1997) 246.


(16) Vừa dẫn.


(17) Xem G. Joussard, “L’interprétation par Cyrille d’Alexandrie de la scène de Marie au pier de la Croix” trong tuyển tập Virgo immaculata (Rome, 1955) 32.


(18) Thánh Augustinô, Unfinished Work in Answer to Julian 4, 134; bản dịch tiếng Anh của R.J. Teske, Answer to the Pelagians, III (The Works of Saint Augustine I, 25; Hyde Park, N.Y.: New City Press, 1999) 500.


(19) Anrê thành Creta, Bài Giảng về Sinh Nhật Đức Maria 1 (PG 97:812A).


(20) Thánh Gioan Đamaxênô, Bài Giảng Thứ Hai về (Đức Maria) Thiếp Ngủ 3 (SC 80, 132-33).


(21) Bản papyrus tại thư viện John Rylands; có lẽ có trước CĐ Êphêsô (431).


(22) Người ta “không nên ngồi” (akathistos) khi hát 24 câu này. Đây là ít câu: “Kính chào! sự cứu chuộc toàn thể thế giới. Kính chào! Sự tốt lành của Chúa cho nhân loại” (V); “Kính chào! Đấng đã loại bỏ khỏi vương quốc Người kẻ thù của con người… Kính chào! Đấng cứu ta khỏi những nghi lễ ngoại đạo” (IX); “Kính chào! Tảng đá đã giải cơn khát trần đời… Kính chào! Thực phẩm thay thế manna” (XI). Bản dịch của G.G. Meersserman, O.O., The Acathistos Hymn: Hymn of Praise to the Mother of God (Fribourg, Switzerland: University Press, 1958) 39, 47, 51.


(23) Thánh Ambrôxiô thành Milan, Về Phúc Âm Thánh Luca 10, 132 (SC 52, 200); cũng xem Thư 63, 110 (PL 16: 1218C).


(24) Thánh Irênê, Chống Lạc Giáo 3, 22, 4 (Rousseau, 385-86).


(25) Vừa dẫn, 5, 19, 1 (Rousseau, 626).


(26) Thánh Gioan Kim Khẩu, một vị “chiểu tự” (literalist), từng viết: “luật này có giá trị khắp trong Sách Thánh: bất cứ khi nào Sách Thánh sử dụng phúng dụ (allegory), nó cũng đều giải thích phúng dụ ấy, ngõ hầu giữ cho những người yêu phúng dụ một cách bừa bãi khỏi ngây thơ sai lạc và ở chỗ nào cũng thấy nó” (Chú Giải Isaia 5,3).


(27) Tại Rôma, khoảng năm 700 có các lễ Truyền Tin, Thiếp Ngủ, Sinh Nhật, Thanh Tẩy. Phương Đông cử hành cả 4 lễ này nhưng thêm lễ ngày 9 tháng 12 kính việc Thánh Anna chịu thai Đức Maria. Về nguồn gốc lễ Thiếp Ngủ, nghiên cứu của Simon Claude cho ta một chút ánh sáng về nguồn gốc của nó: Dormition et Assomption de Marie, histoire des traditions anciennes (Paris: Beauchesne, 1995).


(28) Ta nên tránh việc xác định nền văn chương ngoại thư Kitô Giáo trong tương quan với qui điển Tân Ước, như thể nền văn chương này tạo nên một bộ tác phẩm cạnh tranh với hoặc chỉ bổ túc cho Tân Ước. Ngày nay, người ta có khuynh hướng coi nền văn chương này đúng hơn là hình thức viết của một thời kỳ đặc thù trong các truyền thống lịch sử hay một bộ dã sử không có được thế giá của qui điển thánh kinh.


(29) Xem Tin Mừng Đầu Hết Của Giacôbê 8, 1, trong W. Schneemelcher, chủ biên, New Testament Apocrypha I (Louisville: Westminster/John Knox Press, 1991)429; The Questions of Bartholomew II, 15 (đã dẫn, 544).


(30). Xem Tin Mừng Đầu Hết Của Giacôbê 20, 1 (Schneemelcher I, 434); Tin Mừng của Ngụy-Matthêu 13,4.


(31) Xem Gregory Palamas, Bài Giảng 18 về Các Phụ Nữ Mang Mộc Dược 5.


(32) Xem Lịch Sử Thánh Giuse Thợ Mộc 20,8.


(33) Xem Minoui, Dormition et Assomption (ghi chú 27 trên đây)


(34) Các bản văn này hiểu “thiếp ngủ” là sự qua đời của Đức Maria, có các tông đồ vây quanh, trong khi một thiên thần tiếp nhận linh hồn ngài và đưa linh hồn ngài về vinh quang, còn thân xác ngài nằm trong mồ. Trong khi “mông triệu”, tự nó, không hàm nghĩa sự qua đời của ngài, nhưng trên thực tế có thể xẩy ra sau sự qua đời này; tuy nhiên, nó nhấn mạnh tới việc cả hồn lẫn xác ngài được nâng lên hưởng vinh quang, mà không đề cập gì tới việc chôn cất.


(35) H. Gore, “Maria/Marienfrommigkeit”, TRE 22, 123-24.


(36) Ta sẽ trở lại chủ đề này ở chương 2.


(37) Lời quả quyết này từng được gán cho Thánh Bernard thành Clairvaux, nhưng không nhắc tới bất cứ đoạn văn minh nhiên nào. Nền thần học của Thánh Bernard về Đức Maria, nghịch lý thay, lại chỉ chú trọng tới đức khiêm nhường của mẹ Chúa Kitô hơn là sự hiển dương ngài. Dù sao, lời quả quyết này cũng đã mô tả được lòng sùng kính khá lan tràn vào thời này.


(38) Grote (ghi chú 35) 126-28.


(39) Mansi 29, 182f.; DTC 7/1. 1113.


(40) Đức Sixtô IV, Về Sự Vô Nhiễm Thai; bản văn trong DS 1400.


(41) Xem chú thích 9 chương 2.


(42) Xem Bài Giảng của ngài về Ngày Truyền Tin của Chúa (PL185/1:115ff); Bài Tán Tụng Về Trinh Nữ Diễm Phúc, Mẹ Thiên Chúa (PL 184: 1009ff. và 1020). Trong các bài này, Thánh Bernard ca ngợi Trinh Nữ Maria là Trinh Nữ Của Mọi Trinh Nữ, là Sự Khôn Ngoan, là Mẹ Tình Yêu Kiều Diễm, Mẹ Nhân Từ, Đức Bà (mi Domina hay Domina Mea), Hiền Thê, Mẹ Thiên Chúa, Đấng Trung Gian, Dầu Thơm Dịu Dàng, Hoa Hồng Trắng Khiết Trinh, Hoa Hồng Đỏ Đức Ái. Nhưng ngài có được các tước hiệu này là do Chúa Giêsu. Theo Thánh Bernard, ta chỉ có một mẹ trên trần gian cũng như chỉ có một Cha trên trời. Xem R. Winling, The Carmelites of Mazille, và A.-G. Hamman, Le Cantique des cantiques d’Origène à Saint Bernard (Paris: Desclée de Brouwer, 1983) 183-88.


(43) Xem Grote (chú thích 35)

(44) Thời kỳ này bắt đầu có các phong trào như Giáo Hội và Phụng Vụ (Église et liturgie) tại Thụy Sĩ nói tiếng Pháp và Huynh Đoàn Thánh Michel (St Michael Confraternity) tại Đức. Việc canh tân phụng vụ và thánh mẫu học của phái Luthêrô hay Cải Cách này nhằm mục đích tiến tới cuộc đối thoại đại kết.


(45) Walter Tappolet, Das Marienlob der Reformatoren (Tubingen, 1962); Max Thurian, Mary, Mother of All Christians, bản dịch của N. Cryer (New York, 1963).


(46) “Các mục tử đừng nên cải vã nhau về các ngày lễ này. Mỗi người được tự do cử hành ngày lễ nào giáo dân trong xứ muốn. Hãy để họ kính, trước hết, các Chúa Nhật, các lễ Truyền Tin, Thanh Tẩy, và Thăm Viếng, các lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Michael, các Thánh Tông Đồ, và Thánh Maria Mađalêna” (WA 9, 625.22).


(47) Xem WA 27, 242.4 (1528); 27, 475.25-26 (1528); 29, 169.8 (1539).


(48) “Chúng ta cũng được Chúa Thánh Thần làm cho mang thai và tiếp nhận Chúa Kitô vào trong ta một cách thiêng liêng nhờ đức tin” (WA 9, 625.22).


(49) WA 32, 296.16-19.


(50) “Die Gottesmutter” 7, 572.33-573.1; xem Tappolet (chú thích 45 trên đây) 110ff.


(51) Xem WA 7, 575.8-12.


(52) Xem WA 49, 492-98.


(53) “Niềm an ủi và lòng tốt dạt dào của Thiên Chúa vĩ đại đến nỗi những con người nhân bản, nếu chịu tin, đều có thể lợi dụng được kho tàng này: Đức Maria thực sự là mẹ của họ, Chúa Kitô là anh của họ, và Thiên Chúa là Cha của họ” (WA 10/I, 72.19-73.2).


(54) WA 1, 107.22-25


(55) WA 4, 234.5-8


(56) Xem M. Lienhard, Au coeur de la foi de Luther: Jésus Christ (Paris: Desclée, 1991) 59.


(57) WA 10/III, 331.4-11.


(58) WA 10/III, 268,13-18.


(59) Xem WA 52, 681.6-31 (1544).


(60) Xem WA 10/I/1, 62.1763.10.


(61) Theo Luther, lòng sùng kính Đức Maria của thời ông không may đã trở nên một sản phẩm bị bóp méo của Kitô học: Chúa Kitô, bị coi như “quan tòa và lý hình” (WA 10/III, 357.231), đã khiến phát sinh ra một Đức Maria “tuyệt đối dịu ngọt và yêu thương”.


(62) Bênh Vực, điều XXI: “Về việc kêu cầu các thánh” trong A. Birmelé và M. Lienhard, La foi des Églises luthériennes (Paris: Cerf; Geneva: Labor et Fides, 1991) số 278.


(63) Vừa dẫn, số 369.


(64) Vừa dẫn, số 278.


(65) Vừa dẫn, số 390.


(66) “Phép lạ là ngài đồng trinh trước và sau khi sinh [Chúa Kitô]” (Zwingliss Werke 6/1, 288.10-289.5). Cũng như nơi Luther, học lý qui Kitô của Zwingli cũng hàm nghĩa một lòng sùng kính Đức Maria phát sinh từ việc thờ kính và tôn kính Chúa Kitô (ZW 5, 188.10-14). Xem Tappolet (chú thích 45 trên đây) 251.


(67) ZW 1, 412.1-8.


(68) Đừng để Đức Maria làm cho các tín hữu quay mặt khỏi thân phân xã hội khốn cùng của “các thiếu nữ và các phụ nữ bị đặt vào thế nguy hiểm chỉ vì thiếu sắc đẹp hay nghèo khổ” (ZW 3, 52.14).


(69) Calvin cũng áp dụng câu “và Đức Maria giữ mọi điều ấy trong lòng” (Lc 2:51) cho cả Thánh Giuse nữa (CO 46, cột 481).


(70) Xem Các Thể Chế Của Kitô Giáo, bản dịch tiếng Anh của F.L. Battles (Library of Christian Classics 20-21; Philadelphia: Westminster, 1960) IV, 1, 4; ngài là “mẹ tất cả những ai được Thiên Chúa vui lòng tụ họp con cái của Người trong lòng họ” (IV, 1,1;); ngài luôn “chăm sóc và hướng dẫn ta” (IV, 1, 4); chúng ta “được nuôi dưỡng nhờ sự giúp đỡ và thừa tác vụ của ngài” (IV, 1,1).


(71) CO 46, cột 111.


(72) Cả các tông đồ cũng là học trò của ngài; xem CO 46, cột 63. Theo Calvin, vai trò đào luyện của Đức Maria được chỉ rõ tại tiệc cưới Cana: “Hãy làm bất cứ điều gì Người bảo anh em!”. Là một cô giáo giỏi, ngài qui chiếu người ta tới Chúa Kitô và lời Người giảng dạy; ta cũng nên làm như vậy: “Như thế, noi gương Đức Trinh Nữ, ta hãy học cùng một cách biết lắng nghe điều dạy bảo ta trong lời Chúa và đọc lời này với một lòng nhiệt thành đến độ có thể dành cho nó một nơi cư ngụ trong tâm hồn ta và để nó bén rễ trong đó” (CO 46, cột 482).


(73) Cajetan. Ba Mươi Chín Điều về Việc Ngợi Khen và Tôn Kính Trinh Nữ Maria (1525); xem Handbuch der Marienkunde, do W. Beinert và H. Petti chủ biên (Regensburg: pustet 1984) 206.


(74) Xem Michel de Saint-Augustine (chết năm 1684), và cuốn sách của ông tựa là Vita mariaeformis et mariana in Maria propter Mariam, ấn hành năm 1669; theo tác phẩm này, “Đức Maria là phương thế và là mối dây mạnh mẽ nhất liên kết linh hồn với Chúa” (chương 12).


(75) Xem DSp 10 (Paris: Beauchesne, 1980) các cột 461-62.


(76) Henri-Marie Boudon (1624-1702), Dieu seul, ou le saint esclavage de l’admirable Mère de Dieu (Paris, 1667) trong bộ Oeuvres complète của ông, hiệu đính của Migne, 2(1857) cột 378.


(77) Xem DSp 10, các cột 460 và tiếp theo.


(78) Vừa dẫn, các cột 462, 464.


(79) Thí dụ, xem Thư Thứ Chín Viết Cho Một Người Ở Tỉnh Từ Một Trong Các Bạn Hữu Của Ông Ta (tháng 7 năm 1656), trong Pascal, Oeuvres complètes (Paris: Pléiade, NRF, Gallimard, 1954) 753ff.


(80) Trong bài giảng của ông về Việc Tượng Thai Thánh Nữ Đồng Trinh (ngày 8 tháng 12, 1669); xem DSp 10, cột 463.


(81) Antoine Godeau, trong cuốn của ông tựa là L’Assomption de la Vierge; xem DTC 6 (1920) các cột 1470-71.


(82) Xem cuốn sách của Thánh de Montfort Traité de la vraie dévotion à là Sainte Vierge (viết trước năm 1716 nhưng chỉ ấn hành vào thế kỷ 19), trong bộ Oeuvres complètes của ngài (Paris, 1966).


(83) Thành viên nói tiếng Pháp của các Giáo Hội Cải Cách (như các tín hữu Luthêrô chẳng hạn) vẫn gọi mình là “Công Giáo” cho mãi tới đầu thế kỷ 19. Ta thấy một điển hình trong Tuyên Tín Hậu Helvetic (1556) với trang bìa có dòng chữ sau đây: “Tuyên Tín và Trình Bày Thẳng Thắn chân lý đích thực và các điều khoản công giáo” của các giáo hội Thụy Sĩ, và ở tựa đề chương 18: “Về Giáo Hội Thánh Thiện và Công Giáo của Thiên Chúa” . Theo cái nhìn lịch sử, “công giáo tính” chỉ về giáo hội duy nhất điều mà “Cải Cách” (hay “Luthêrô”) chỉ về giáo hội tuyên tín; điều này đúng đối với Giáo Hội “Công Giáo Rôma” bắt đầu từ thế kỷ 16.


(84) Xem Émile G. Léonard, Histoire générale du protestantisme II (Paris: Presses universitaires de France, 1961) 320.


(85) Năm 1639, nhà thần học Pháp André Rivet (chết năm 1651), khoa trưởng phân khoa thần học tại Leiden (Hòa Lan) và được công nhận là người gìn giữ nền chính thống của Cải Cách, đã viết một tác phẩm bằng tiếng Latinh về Trinh Nữ Maria, trong đó, ông khai triển các chủ đề y hệt Drelincourt: tác phẩm của Rivet tựa là Apologia pro sanctissima virgine Maria matre Domini, adv. Veteres et novos antidicomarianitas, Collyridianos et Christiano-categoros, Lib. II absoluta.


(86) De ingeniorum moderatione in religionis negotio (Paris, 1714); xem DTC 10/2 cột 1551, và DSp 10, cột 467.

(87) Về tình thế này, xem R. Laurentin, La question mariale (Paris: Seuil, 1963).


(88) Signum magnum, 1967 (DC, số 1495 [1967] 961-72) và Marialis cultus, 1974 (DC số 1651 [1974] 301-9)


(89) Thí dụ, xem J. Bosc, P. Bourget, P. Maury, và H. Roux, Le protestantisme et la Vierge Marie (Paris: “Je sers”, 1950); P. Petit, Lourdes, les protestants, la tradition chrétienne (Paris: Les Bergers et les mages, 1958).


(90) Ở đây, chúng tôi chỉ phúc trình hoàn cảnh lịch sử mà thôi; việc phân tích sự bất đồng về các điểm này sẽ được trình bày ở chương ba.


(91) Xem A. và F. Dumas, Marie de Nazareth (Geneva: Labor et Fides, 1989).


(92) Tài liệu này lẫn lộn vô nhiễm thai với việc chịu thai đồng trinh Chúa Giêsu. Xem chú thích 10, chương 4.


(93) A. Wohlfahrt, Le cep et les sarments. Catéchisme à l’usage de l’Église de la Confession d’Augsburg (Strasbourg: Éd. Oberlin, 1965).


(94) Liturgie des dimanches et fêtes de l’ANELF (1983) 195, 197, 219; Liturgie expérimentale de l’ERF (phụng vụ “Cam”), Kinh Bữa Tiệc Ty, tr. 44.

*************************

Chương 2
 

(1) Ở đây, “kinh tin kính” chỉ cả Kinh Tin Kính Các Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nixêa và Constantinốp.


(2) Theo quan điểm của Freud, một số ước (thèm) muốn luôn nằm ở gốc rễ cả việc “thăng hoa hóa” lẫn việc “lý tưởng hóa”. Tuy nhiên, trong thăng hoa hóa, thèm muốn chấp nhận việc mất đối tượng tức khắc của nó, và bằng lòng chuyển qua một đối tượng khác; nó phóng chiếu lên đối tượng sau các yếu tố của khoái lạc hay tốt đẹp từng được gán cho đối tượng khởi thủy. Trái lại, trong lý tưởng hóa, thèm muốn không tách rời khỏi đối tượng tức khắc của nó; chủ thể không chấp nhận việc mất mát này, và được thúc đẩy bởi ý muốn kiểm soát, đã chế ra một đối tượng phù hợp với các đặc điểm của đối tượng khởi thủy. Xem S. Nobécourt-Granier, “Các phụ nữ không trở nên thánh hay phù thủy trong đức tin vào Thiên Chúa” (Ni saintes, ni sorcières, les femmes deviennent dans la foi en Dieu), đăng trong Incroyance et Foi, số 39 (Mùa Thu, 1986) 19-29; cùng tác giả, “Freud và sự đồng trinh” (Freud et la virginité) trong tuyển tập La première fois (Paris: Ramsay, 1981) 401-43; Dominique Stein, “Các khuôn mạo Đức Maria và các lời khấn của vô thức” (Figures de Marie et voeux de l’inconscient” đăng trong Femmes et hommes dans l’Église (Bulletin international) số 7 (tháng 12, 1981).


(3) Xem F. Quéré, Marie (Paris: Desclée De Brouwer, 1996) 55-58.


(4) Ở đây nên nhớ rằng trong Cựu Ước, Sách Các Vua rất thường hay nhắc tới bà mẹ các vua của triều đại Đavít (xem 1V 2:19; 11:26; 14:21; v.v…)


(5) F. Quéré, Jésus enfant (Paris: Desclée, 1992)130.

(6) Xin trích dẫn ở đây Cv 1:14, đây là đoạn duy nhất của Sách này có nhắc tới Đức Maria, dù khung cảnh này, đúng ra, liên quan tới giáo hội, và thuộc điều thứ ba của Kinh Tin Kính.


(7) Thánh Mátthêu trích dẫn Is 7:14 từ bản Bẩy Mươi, là bản dịch chữ almah của Hípri là “trinh nữ”.


(8) Nền văn chương ngoài Sách Thánh có một tác phẩm giúp ta có thể nối kết giữa các truyền thống Do Thái và việc sinh hạ Chúa Giêsu mà vẫn còn đồng trinh. Cuốn (Khải Huyền) Enoch (Bằng Tiếng Slav) thuật lại việc Spanim, thân mẫu Menkixêđê, thụ thai mà không có sự can thiệp của đàn ông (2Enoch 71); xem bản văn của J.H. Charlesworth (chủ biên), The Old Testament Pseude-pigrapha 2 (New York: Doubleday, 1983) 204.


(9) Đức Maria được kecharitômenê, “được đổ ơn thánh” (filled with grace) chứ không phải “đầy ơn thánh” (full of grace), là đặc ân của một mình Ngôi Lời nhập thể, Đấng “đầy ơn thánh và sự thật” (plêrês charitos kai alêtheias, Ga 1:14).


(10) Cuộc tranh luận tín lý về các anh chị em của Chúa Giêsu sẽ được bàn ở chương 3.


(11) Động từ “giữ” (têreô) trong Lc 2:51 cũng là một với động từ trong 2:19, nhưng tiền từ có khác (diatêreô thay vì syntêreô).

(12) Tuy không loại trừ các hình thức thờ phượng khác, ở đây dùng chữ “phụng vụ” để chủ yếu chỉ nghi thức hay việc thờ phượng trong Thánh Lễ (lời và bí tích); việc này hầu như đồng nhất trong mọi nghi lễ và tín phái.
(13) Xem phụng vụ vĩ đại trên thiên quốc trong Khải Huyền 4-5.
(14) Xem Lễ Qui Rôma trong phụng vụ Rôma.


(15) Hình ảnh cuộc đua trong Thư Do Thái 12:1-2 nói tới sự trợ giúp của những người đã chết: các vị vẫn bao quanh ta, để biểu lộ sự quan tâm và trợ giúp của các vị đối với cuộc chiến đấu mà ta đang vẫn còn phải chịu đựng. Các chứng nhân này không hề cạnh tranh, theo bất cứ nghĩa nào, với vai trò độc nhất của Chúa Kitô, Đấng vừa là khởi điểm vừa là đích đến của cuộc đua.


(16) Kinh Communicantes (Hiệp cùng hội thánh) có từ thế kỷ thứ 6. Thánh Ambrôsiô Thành Milan là chứng tá cho một bản văn mà cho tới thời ngài, Kinh Communicantes vẫn chưa là một thành phần (De sacramentis 4.21-29; SC 25bis [Paris, 1961] 114-16). Nhưng trong các bài giáo lý của ngài, thánh nhân có nhắc tới Trinh Nữ Maria trong ngữ cảnh Thánh Thể khi ngài so sánh việc dâng tiến bánh rượu của Menkixêđê với việc dâng tiến của Chúa Giêsu (4.12; tr.109).

***************************

Chương 3

(1) Về nghĩa của chữ này, xin xem chú thích số 38 dưới đây.


(2) Năm 1992, ủy ban đối thoại Luthêrô-Công Giáo tại Mỹ có công bố tài liệu The One Mediator, the Saints, and Mary. Lutherans and Catholics in Dialogue VIII dưới sự chủ biên của H. George Anderson, J. Francis Stafford, và Joseph A. Burgess (Minneapolis: Augsburg). Tài liệu này cho hay: “Mục tiêu của đối thoại đại kết không phải để loại bỏ mọi dị biệt, mà là để chắc chắn rằng các dị biệt còn lại phù hợp với sự đồng thuận căn bản trong đức tin tông truyền, và do đó, hợp pháp hay ít ra cũng khoan dung được. Hòa giải là một diễn trình công nhận nhiều mức độ khác nhau, dẫn tới việc hiệp thông trọn vẹn trong đức tin, trong việc thờ phượng có tính bí tích, và trong sinh hoạt có cơ cấu của giáo hội. Do đó, điều quan trọng là phải nắm chắc các dị biệt này ảnh hưởng ra sao… đối với thứ hiệp thông vừa trình bầy” (số 90). Ta sẽ nhắc tới tài liệu này nhiều lần nữa. Nó tuy độc lập với công trình của Nhóm Dombes nhưng đồng qui với công trình này. [Bản văn tài liệu này cũng thấy trong cuốn Growing Consensus. Church Dialogues in the United States, 1962-1991, do J.A. Burgess và J. Gors chủ biên (New York: Paulist Press, 1995) 374-451.


(3) K. Barth, Kirchliche Dogmatik I, 2 #15 (Zurich: EBZ, 1939, tr.154). Như thế, bản tiếng Đức có trước việc định nghĩa Mông Triệu.


(4) Vừa dẫn, IV, 3, 2 #71 (Zurich:EBZ, 1939, tr. 691).


(5) Đức Gioan Phaolô II, TĐ Redemptoris Mater (25 Tháng 3, 1987) số 13.


(6) K. Barth, Kirchliche Dogmatik I, 2 #15 (Zurich: EBZ, 1939, tr.160)


(7) Jean Bosc, “La Constitution Lumen Gentium” trong Vatican II, Points de vue protestant (Paris: Cerf, 1967) số 64, tr. 44.


(8) Jean Bosc, Le dialogue catholique-protestant (Paris: La Palatine, 1960) 49.


(9) Một ủy ban mới đây, do Tòa Thánh thiết lập để trả lời một số lời yêu cầu công bố các tước hiệu mới cho Đức Maria, đã phát biểu như sau: “Ta không nên từ bỏ đường hướng thần học của Vatican II, một đường hướng không muốn công bố bất cứ tước hiệu nào trong số này… Hạn từ “Đấng Đồng Công Cứu Chuộc” vốn không được các văn kiện quan trọng sử dụng trong giáo huấn của các đức giáo hoàng, kể từ thời Đức Piô XII. Đã có nhiều chứng từ cho thấy thực sự vị giáo hoàng này đã cố ý tránh việc sử dụng hạn từ này… Sau cùng, các nhà thần học, nhất là các nhà thần học không Công Giáo, tỏ ra khá nhậy cảm trước các khó khăn đại kết rất có thể do việc công bố các tước hiệu này gây ra”.


Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Thánh Mẫu lên tiếng về lời phát biểu trên như sau: “Câu đáp của Ủy Ban, tuy cố ý vắn vỏi, nhưng là câu đáp nhất tề của Ủy Ban và chỉ nhằm điểm này: từ bỏ đường hướng của Công Đồng Vatican II để hướng tới việc công bố tín điều mới là điều không thích đáng”. Hàn Lâm Viện còn tỏ ra ngạc nhiên trước lời yêu cầu công bố thành tín điều “một tước hiệu mà huấn quyền rất dè dặt và tránh né một cách có hệ thống” (DC số 2164 [1997] 693, 694 và 696).
(10) The One Mediator, the Saints, and Mary, số 56.


(11) Vừa dẫn, số 70: “Cả hai [giáo hội chúng ta] đều nhất trí về tư cách trung gian duy nhất của Chúa Kitô (solus Christus) và sự công chính hóa dành cho người có tội (sola gratia) do Chúa Kitô đem lại; hai giáo hội sử dụng học lý này làm ‘tiêu chuẩn ấn định sự chân chính” của các thực hành liên quan tới các thánh và Đức Maria. Tuy nhiên, vấn đề là làm thế nào khẳng định được tư cách trung gian duy nhất của Chúa Kitô mà mọi ‘việc trung gian’ trong Giáo Hội của Người không những không đi trệch ra ngoài mà còn thông truyền và triển dương tư cách trung gian duy nhất này nữa”.


(12) Xem Chương 3, I, 1 trên đây (về sự cộng tách của Đức Maria).


(13) Xem Eph 5:25-27. Câu của Thánh Phaolô nói về giáo hội; Luther áp dụng câu ấy vào các tín hữu và vào Đức Maria trong khảo luận The Freedom of a Christian, Martin Luther: Selection from His Writings do J. Dillenberger hiệu đính (New York, 1962) 60.


(14) Vừa dẫn, 75-77.


(15) Thánh Augustinô, Thư 195, 5, 19 (PL 33, 880). Đoạn này đã trở thành một phần trong kinh tiền tụng đầu tiên lễ Các Thánh trong phụng vụ Công Giáo. Cũng nên xem Tự Thuật của ngài, 9, 13, 14 (BA 14, 134); Các Bài Giảng về Phúc Âm Gioan 3, 10 (BA 71, 229).


(16) Xem The One Mediator, the Saints, and Mary, số 60: “Trong giáo huấn Công Giáo, sự cộng tác của Đức Maria và các vị khác hàm nghĩa: từ thuở đời đời, Chúa Cha đã quyết định cứu rỗi vì công nghiệp Chúa Kitô và bằng cách có sự can dự tự do của con người…. Các điển hình can dự hay cộng tác này… hữu hiệu vì (a) Chúa Cha ban ơn cứu rỗi trong Chúa Thánh Thần chỉ là nhờ một mình Chúa Giêsu Kitô mà thôi; (b) sự hữu hiệu của Đấng Trung Gian duy nhất này lớn lao đến nỗi các môn đệ cũng có thể dự phần một cách tự do và tích cực vào công trình cứu rỗi này”.


(17) Thánh Ambrôsiô Thành Milan, Về Tin Mừng Thánh Luca 10, 132 (SC 52, 200).


(18) Vatican II, Lumen Gentium, số 58.


(19) Xem Luther, The Freedom of a Christian: “Khi việc thờ phượng chân thực đối với Thiên Chúa được thực hiện, thì linh hồn đồng thuận với ý chí của họ. Rồi linh hồn hiển dương thánh danh của Người và tự trao phó để Chúa hoàn toàn muốn xử trí nó ra sao tùy thích, vì một khi bám chắc vào lời Chúa hứa, linh hồn nào còn hoài nghi chi việc Đấng vốn chân thực, công chính và khôn ngoan sẽ làm, sẽ vứt bỏ và cung cấp mọi sự một cách tốt đẹp. “Há một linh hồn như thế lại không nhờ đức tin của mình mà hết lòng vâng theo Thiên Chúa trong mọi sự hay sao? Còn có điều răn nào mà đức vâng lời như thế lại không hoàn toàn chu toàn cho được? Còn có chu toàn nào hoàn toàn hơn là đức vâng lời trong mọi sự? Tuy nhiên, đức vâng lời này không có được là do việc làm mà chỉ do đức tin mà thôi” (Dilleberger, 59).


(20) Alexandre Vinet, Homilétique, ou Théorie de la prédication (Paris: 1853) 27-8.


(21) Thánh Augustinô, Bài Giảng 169, 11, 13.


(22) The One Mediator, the Saints, and Mary số 61: “Vai trò cộng tác được Chúa Giêsu Kitô ban cho các môn đệ trên trần gian qua mọi thế kỷ là hoa trái của việc làm trung gian của Người và góp phần vào việc lãnh nhận ơn thánh nơi người khác cũng do Người làm trung gian”.


(23) Xem Luther, The Freedom of a Christian: “Bởi thế, tại sao tôi lại không nên tự do, hân hoan, với cả tâm hồn và ý chí mau mắn làm tất cả những gì tôi biết là đáng hài lòng và đáng chấp nhận đối với một người Cha vốn dư ban cho tôi thật nhiều châu báu không thể nào ước lượng được như thế hay sao? Cho nên, tôi sẽ hiến mình cho người lân cận như một Đấng Kitô, ý hệt như Chúa Kitô đã hiến mình cho tôi… “Do đó, như Cha trên trời của ta đã tự ý đến cứu giúp ta trong Chúa Kitô thế nào, ta cũng phải tự ý giúp đỡ người lân cận ta bằng chính thân xác ta và việc làm của nó, và mỗi người chúng ta hãy trở nên như thể một Đấng Kitô cho người khác… Ta hoàn toàn không biết gì về chính danh xưng của mình và không biết tại sao ta lại là Kitô hữu hay tại sao ta mang danh Kitô hữu. Dĩ nhiên, ta được gọi theo tên của Chúa Kitô, không phải vì Người xa vắng ta, mà chính vì Người ở trong ta, nghĩa là, vì ta tin nơi Người và ta là Đấng Kitô lẫn cho nhau và làm cho người lân cận mọi điều như Chúa Kitô đã làm cho ta” (Dillinger, 75-76).


(24) Nên đọc điều Alexandre Vinet viết về giáo hội: “Giáo hội không tự mình làm điều gì hết, nhưng qua Người, giáo hội làm mọi sự Người từng làm trên trần gian. Giáo hội tiếp tục việc làm của Người, nhưng làm qua Người và cho Người. Giáo Hội là toàn diện nhiệm thể, không phải chỉ có đầu” (trong Le fidèle achevant la souffrance du Christ. Fragment d’un discours de M. Vinet [Lausanne, 1848] 5).


(25) Xem các kết luận về điểm này trong phần nói về Sự Hồi Tâm Tín Lý của Công Giáo và của Thệ Phản.


(26) Thí dụ, xem lời tuyên bố của Ủy Ban Hỗn Hợp Công Giáo - Thệ Phản Pháp: “Giáo Hội có khả năng cho đi chỉ vì trước nhất giáo hội đã lãnh nhận. Nó chỉ có thể là người hòa giải vì đã được hòa giải trước đó. Giáo hội luôn là người trước nhất thụ động tiếp nhận ơn thánh của Thiên Chúa. Mọi sự giáo hội làm đều qui chiếu trở lại nguồn cội vốn không thuộc về giáo hội này và với nguồn cội ấy, giáo hội phải thật trong sáng… Cho nên, sự khác nhau giữa chúng ta liên quan tới sự kiện này: giáo hội là dụng cụ thông truyền ơn cứu rỗi, nhưng về bản chất của tính dụng cụ này, có phải giáo hội được thánh hóa đến độ tự mình trở thành một chủ thể thánh hóa hay không? (Ủy Ban Hỗn Hợp Công Giáo-Thệ Phản Tại Pháp, Đồng Thuận Đại Kết và Dị Biệt Căn Bản [Paris: Centurion, 1987] số ii, các tr.19-20).

(27) Xem các số 185-89.

(28) Xem F. Refoulé, Les frères et soeures de Jésus: frères ou cousins? (Paris: Desclée de Brouwer, 1995); P. Grelot, Jésus de Nazareth, Christ et Seigneur I (Paris-Montréal: Cerf/Novalis, 1997) 294-301; cùng tác giả, “Les noms de parenté dans le livre de Tobie” Revue de Qumran 17 (1996) 327-37; F. Quéré, Les femmes de l’Évangile (Paris: Seuil, 1982); E. Cuvillier, Qui donc es-tu, Marie? Les différents visages de la mère de Jésus dans le Nouveau Testament (Paris: Éditions du Moulin, 1994).

(29) Hạn từ Hy Lạp adelphos có thể có nghĩa một liên hệ gần gũi như anh em họ chẳng hạn; như thế, trong Bản Bẩy Mươi, Lot được gọi là “em trai” của Ápraham (St 13:8), và Laban và Giacóp được gọi là “anh em” (St 29:15). Ta cũng không nên quên rằng Cựu Ước dùng chữ “anh em” để chỉ cả thành viên của dân Chúa nữa (Xh 2:11; v.v…). Philo cũng từng chứng thực cho nghĩa rộng này. Tân Ước dùng chữ này để chỉ các thành viên của cộng đoàn, y như người thời nay dùng trong thuật ngữ “huynh đoàn” (brotherwood) vậy. Theo Kittel, “trong một vài giới không phải Kitô Giáo, chữ ‘anh em’ có thể chỉ các thành viên của một cộng đoàn vốn không có liên hệ máu mử, như tại Memphis, chẳng hạn, căn cứ trên một bản khắc Hy Ngữ (Inscriptiones Graecae, 1873ff, XIV 956 B, 11f alpha).”

(30) Xem Chương 1, phần nói về Đức Maria trong Văn Chương Giáo Phụ.

(31) Một cách chuyên biệt hơn, xin xem Calvin (CO 45 [1891] cột 70), người đã cho rằng không nên biến điểm này thành “vấn đề tò mò ngược lại với Sách Thánh”. Năm 1553, ông cũng nhận xét như sau về câu trong Gioan 2:12 như sau: “Dù sao, ai cũng biết rất rõ rằng , trong tiếng Hípri, chữ ‘anh em’ áp dụng cho mọi anh em họ và họ hàng” (Commentaires sur le Nouveau Testament II. Évangile selon saint Jean [Geneva: Labor et Fides, 1968] 61-62). Về quan điểm của Luther, xin xem Chương 1, phần nói về Phong Trào Cải Cách Và Đức Maria.

(32) Xem A. Schlatter, Marien-Reden (Velbert i. Rheinland: Freizeiten Verlag, 1927); H. Asmussen, Maria die Mutter Gottes (Stuttgart: Evangelisches Verlagswerk, 1950) 28ff; W. Stahlin, “Maria die Mutter des Herrn, Ihr biblisches Bild” trong Symbolon. Gesammelte Aufsatze I, 222-35 của ông; M. Thurian, frère de Taizé, Mary, Mother of All Christians, bản dịch của N.B. Cryer (New York, 1963); L. Vischer, Okumenische Skizzen (Frankfurt a. M. : Lembeck, 1972) 109-23; H. Ort, “steht Maria zwischen den Konfessionen?” trong In necessariis unitas (Paris: cerf, 1984) 305-19.

(33) Xem các kết luận về điểm này ở phần về Sự Hồi Tâm Tín lý của Công Giáo và Thệ phản về sự trọn đời đồng trinh của Đức Maria.

(34) Ở Phụ Lục I của sách này, độc giả sẽ thấy các bản văn của lời tuyên bố về Vô Nhiễm Thai và Mông triệu, cùng một vài nhận xét có tính giải thích.

(35) Xem P.N. Trembelas, Dogmatique de l’Église orthodoxe catholique II (Chevetogne: Éditions de Chevetogne, và Paris: Desclée de Brouwer, 1967) 229-33; A. Kniazeff, La Mère de Dieu dans l’Église orthodoxe (Paris: Cerf, 1990) 124ff.

(36) Về sự phân biệt giữa hai hạn từ này, xin xem Chương 1, phần nói về Đức Maria trong Văn Chương Ngoại Thư.

(37) Xem J. Meyendorff, Initiation à la théologie byzantine (Paris: Cerf, 1990) 124ff.

(38) “Trong cuộc đối thoại đại kết… Các nhà thần học Công Giáo nên nhớ rằng trong học thuyết Công Giáo, có một trật tự hay ‘phẩm trật’ các chân lý, vì chúng thay đổi trong tương quan của chúng với nền tảng đức tin Kitô Giáo” (UR 11). Tại Công Đồng Vativan II, khi Đức Cha Pangrazio giải thích ý niệm ‘phẩm trật’ các chân lý, ngài phân biệt một bên là các chân lý thuộc trật tự cùng đích (như Chúa Ba Ngiô) và một bên là các chân lý thuộc trật tự phương tiện (như cơ cấu có tính phẩm trật của Giáo Hội). Tuy nhiên, bản văn của Công Đồng, đúng hơn, đã nhấn mạnh tới mối tương quan của từng chân lý đối với “nền tảng” của đức tin, tức là, mạc khải của Thiên Chúa trong tư cách Cứu Chúa trong Chúa Giêsu Kitô nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Do đó, vị trí của các học thuyết trong “phẩm trật” các chân lý phải được quyết định trước hết qua mối tương quan của chúng đối với Sách Thánh và các quả quyết trong các kinh tin kính.

“Tương tự như thế, người Thệ Phản phân biệt một bên là các điểm chính của đức tin, thuộc lãnh vực tuyên tín (status confessionis) và một bên là các giáo huấn; đặc biệt trong truyền thống Luthêrô, sự công chính hóa nhờ một mình đức tin mà thôi thường được coi là tiêu chuẩn phán định giá trị của một học thuyết. Luther và Melanchton cho rằng có một phẩm trật trong đó, các điều khoản của đức tin liên quan đến cứu thế học (soteriology), tức việc cứu rỗi, các Tin Mừng, vị vị trí cao hơn các điều liên quan đến giáo hội học và đạo đức học (việc làm, Lề Luật). Tuyên Tín Helvetic sau này của các nhà Cải Cách phân biệt một bên là các sự việc phiếm định (indifferent) một bên là các chân lý rút ra từ việc tuyên xưng đức tin: “[Đó là lý do] tại sao khi các sự việc phiếm định được thêm vào việc tuyên xưng đức tin, chúng không còn để mặc cho tự do của ta nữa” (Confessions et catéchismes de la foi reformée, Ch.27, tr.300).

(39) Ở đây, thiển nghĩ nên nhắc lại, dưới nhãn quan tín lý, một số điểm đã trình bày ở phần lịch sử.

(40) Thánh Cyril Thành Alexandria đã đưa ra một nhận định khá nặng về sự thiếu niềm tin của Đức Maria dưới chân thập giá; ngài còn dùng cả hạn từ “vấp ngã” nữa: “Người mẹ đáng thương này chắc hẳn đã nghĩ rằng: ‘mình đã sinh ra người này, người mà người ta đang chế diễu trên thập giá. Người này từng nói rằng mình đích thực là Con Thiên Chúa, là Chúa Tể của vũ trụ, nhưng rõ ràng người này tự lừa dối mình. Ta phải cho rằng người này tự lừa dối mình khi nói: ‘Ta là sự sống’ Chứ sao lại để mình bị đóng đinh ở chốn này?’… Khi nói tới lưỡi gươm, Simêong có ý nói tới độ sắc bén và độ mạnh mẽ của nỗi đau đớn đến nỗi có lẽ đã khiến Đức Maria có những ý nghĩ không thích đáng đó, và do đó đã cho thấy một tâm trí phụ nữ yếu đuối của ngài trên nẻo đường không đúng… Tôi xin nói thêm rằng ngay cả mẹ Người cũng chới với và vấp ngã. Ngài thấy mình mất hướng, có những ý nghĩ lẫn lộn… Vì biết rõ ý nghĩ của ngài, nên Chúa Giêsu đã ủy thác ngài cho người khai tâm tốt nhất là môn đệ của Người” (Chú Giải Tin Mừng Gioan 12 [PG 74, 661b], do M. Joussard trích dẫn trong “L’interprétation par Cyril d’Alexandrie de la scène de Marie au pied de la croix” trong Virgo Immaculata [Rome: Academia Mariana Internationalis, 1955] 28-47)

(41) Công Trình Dở Dang Để Trả Lời Cho Julian (Unfinished Work in Aswer to Julian) 4, 122 (PL 45, 1418).

(42) Xem Chương 1, phần nói về Đức Maria Trong Giáo Hội Trung Cổ.

(43) DS 1425-26. Nên nhớ năm 1439, Công Đồng Basel đã định nghĩa Vô Nhiễm Thai và đã lập ngày l ễnày vào ngày 8 tháng 12 rồi; xem Chương 1, phần nói về Đức Maria Trong Giáo Hội Trung Cổ.

(44) Công Đồng Trent, Phiên 5, ch. 6 (DS 1516; ND 513).

(45) DS 2015-17.

(46) Nhưng thực ra của Paschase Radbert, PL 30:122-42.


(47) PL 40:1141-48.


(48) Xem Chương 1, phần nói về Đức Maria Trong Thế Kỷ 20 (trong GH Công Giáo).


(49) Trong số 1181 câu trả lời, 1169 thuận, 22 chống; trong số 22 này, 16 câu trả lời chỉ thách thức tính hợp thời của việc định nghĩa mà thôi.


(50) Thực ra, dù tín điều không có chủ trương gì về điểm này, nhưng ngày nay, liệu ta có thể nghĩ được rằng Đức Maria không kinh qua cái chết, điều mà mọi con người nhân bản khác đều phải kinh qua, và chính Con của ngài cũng đã chấp nhận? Xin xem diễn văn của Đức GH Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung ngày 25 tháng 6 năm 1997: “Một số nhà thần học chủ trương rằng Đức Trinh Nữ được miễn trừ cái chết và ngài từ cuộc sống dương gian bước lên thẳng vinh quang trên trời.

Nhưng ý kiến này không ai biết tới cho mãi đến thế kỷ 17, trong khi ấy, truyền thống chung vẫn cho rằng Đức Maria được đưa vào vinh quang trên trời qua ngả sự chết” (DC 2164 [1997] 656-57).


(51) G. Greshake, Plus fort que la mort (Paris: Mame, 1979) 92.


(52) Tín điều Mông Triệu của Công Giáo cũng hàm nghĩa rằng Mẹ Chúa Giêsu không phải kinh qua sự hư nát trong mồ: vì được gìn giữ khỏi tội, ngài cũng được gìn giữ khỏi hư nát là điều luôn đi theo sự chết (vì chết luôn được hiểu là hậu quả của tội lỗi).


(53) Cần ghi chú rằng người Chính Thống đề cập tới việc “cứu chuộc” này theo nghĩa “thanh tẩy” chứ không theo nghĩa “gìn giữ” khỏi tội.


(54) Xem lời nguyện mở đầu Thánh Lễ Vô Nhiễm Thai của Công Giáo: “Lạy Cha, Cha đã chuẩn bị cho Đức Maria xứng đáng làm Mẹ Con Cha. Cha đã cho ngài được chia sẻ trước ơn cứu rỗi do Chúa Kitô mang lại nhờ cái chết của Người, và gìn giữ ngài khỏi tội ngay từ giây phút đầu tiên ngài được tượng thai”.


(55) Phân từ thụ động “được đổ ơn phúc” (kekharitômene) trong Lc 1:28 chỉ xuất hiện ở chỗ này trong Tân Ước, nên ta thấy trong nó một dấu chỉ hồng phúc độc đáo của Đức Maria. Tuy nhiên, cũng một động từ này đã được dùng trong Eph 1:6 để nói về các Kitô hữu được Thiên Chúa ban ơn thánh (echaritôsen). Thời ta, điều đáng mong là nên tránh thành ngữ “đặc ân của Đức Maria” khi đề cập tới Vô Nhiễm Thai (và Mông Triệu), để đừng bỏ qua ý nghĩa của các tín điều này đối với toàn thể nhân loại nói chung.


(56) Xem các kết luận về điểm này trong chương 4, phần nói về Việc Hồi Tâm Tín Lý của cả Công Giáo và Thệ Phản (Sự Cộng Tác của Đức Maria).

(57) Luther, Bài Giảng về Kinh Kính Mừng (1523; WA 11, 61).


(58) Calvin nói về đoạn Luca 2:15-19 trong bài giảng thứ 25 của ông về Sự Hoà Hợp Của Các Tin Mừng, trích dẫn trong La Revue réformée số 32 (1957, số 4) 37: “Những người theo giáo hoàng xưng Đức Maria là 'giữ kho ơn thánh'; nhưng quả họ đã xúc phạm tới Thiên Chúa… khi muốn ngài có chức vụ chuyên biệt của một mình Chúa Giêsu mà thôi”.


(59) Xin đơn cử một thí dụ cho thấy sự quá đáng trong lối phát biểu mà chính tác giả hình như không ý thức được: Trong cuốn L’Immaculate Conception (Brussels, 1857), Đức Cha J. Malou xưng Đức Maria là “một ngôi Thiên Chúa”, “Ngôi thứ bốn của Thiên Chúa Ba Ngôi” và ngài làm thế là “theo các giáo phụ”: xem R. Laurentin, Court Traité sur la Vierge Marie (in lần thứ 5; Paris: Lethielleux, 1967) 87. Xem ý kiến ngược lại trong lời phát biểu của Newman, Apologia pro vita sua, chương 4: “Những biểu hiện sùng kính như thế đối với Đức Mẹ vốn là điều khó hiểu (crux) nhất của tôi đối với Đạo Công Giáo; tôi xin thành thực nói rằng: cho đến lúc này, tôi vẫn không hoàn toàn chấp nhận được chúng. Người ta rất có thể đã giải thích và bênh vực chúng đầy đủ; nhưng tình cảm và ý thích không đi đôi với luận lý; chúng thích hợp với nước Ý, chứ không thích hợp với nước Anh” (do C.F. Harrold chủ biên [New York, 1947] 176).


(60) Xem các kết luận về điểm này ở chương 4, phần nói về Sự Hồi Tâm Tín Lý của cả Công Giáo lẫn Thệ Phản (cầu nguyện, hiện ra, thuyết giảng và dạy giáo lý)

****************************

Chương 4

(1) Mary in the Churches, H. Kung và J. Moltmann chủ biên (Concilium 168; New York, 1983) xii.


(2) Encyclopédie du protestantisme (Paris: Cerf et Genève: Labor et Fides, 1995) 950.


(3) Xem Tuyên Ngôn Đại Kết Malta trong Unité des chrétiens, số 69 (Tháng 1, 1988) 18.


(4) Xem tài liệu đã tích dẫn nhiều lần: The One Mediator, and the Saints, and Mary. Lutherans and Catholics in Dialogue VIII.


(5) Nghĩa là, không thể chủ trương có một sự “thông truyền bản vị” (hypostatic communication) của Chúa Thánh Thần cho Đức Maria như L. Boff từng chủ trương trong cuốn Trinité et société (Paris: Cerf, 1990) 247.


(6) Đức Bênêđíctô XVI, lúc còn là Hồng Y Ratzinger nhiều lần áp dụng chính nguyên tắc này vào cuộc đối thoại với Phương Đông về quyền tối thượng của đức giáo hoàng: “Khi nói tới học thuyết tối thượng, Rôma không cần phải hỏi Phương Đông ngoài những điều đã được công bố và thực hành trong thiên niên kỷ thứ nhất” (Les principes de la théologie catholique[Paris: Téqui, 1985] 222). Ngài cho biết tiếp: do đó, một đồng thuận có thể đạt tới, trên căn bản hỗ tương nhìn nhận quan điểm liên hệ của nhau là “chính đáng và chính thống”


(7) Thí dụ, há đoạn sau đây của thông điệp Mortalium animos công bố năm 1928 không đúng hay sao? “Trong các vấn đề thuộc đức tin, người ta không được phép phân biệt một bên là các điều căn bản và bên kia là những điều được mệnh danh là không căn bản, như thể những điều đầu phải được mọi người tin, còn những điều sau thì tín hữu có tin hay không là tùy ở họ… Bởi thế, tất cả những ai thực sự thuộc về Chúa Kitô đều tin tín điều Vô Nhiễm Thai bằng cùng một đức tin như họ tin mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi” (Bản tiếng Anh của R.A. McGowan trong Sixteen Encyclicals of His Holiness Pius XI (1926-37) (Washington, D.C.: National Catholic Welfare Conference, không niên hiệu) 13.


(8) Xem tuyên bố của Đức GH Piô IX trong lời công bố tín điều Vô Nhiễm Thai năm 1854: “Bởi thế, nếu bất cứ ai dám nghĩ, xin Chúa đừng để họ nghĩ như thế, khác với điều được ta xác định, thì họ nên biết rõ rằng họ bị chính phán xét của họ lên án, họ đánh đắm đức tin của mình và tách mình ra khỏi sự hợp nhất của Giáo Hội” (DS 2804; ND 2804). Những tuyên bố như thế không thể ngỏ với các Kitô hữu Chính Thống hay Thệ Phản.


(9) Xem Nhóm Dombes, Pour la conversion des Églises (Paris: Centurion, 1991) số 59 và chu thích 1 (tr.41).


(10) Lòng sùng kính bình dân thường lẫn lộn việc tượng thai đồng trinh Chúa Giêsu và sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria.


(11) Xem Chương 1, phần về Cải Cách Thệ Phản Và Đức Maria (quan điểm Luther).


(12) Đức GH Phaolô VI, Tông Huấn Marialis Cultus về Lòng Sùng Kính Trinh Nữ Diễm Phúc Maria (2 tháng 2, 1974).


(13) Lời kinh như sau:


Đức Chúa Trời sai thánh thiên thần truyền tin cho Rất Thánh Đức Bà Maria.
Đáp: Và Rất Thánh Đức Bà chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần.
Kính mừng Maria….

Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời.
Đáp: Tôi xin vâng như lời Thánh Thiên Thần truyền.
Kính mừng Maria…

Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người.
Đáp: Và ở cùng chúng con.
Kính mừng Maria…

Lạy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin cầu cho chúng con.
Đáp: Đáng chịu lấy những sự Chúa Giêsu đã hứa.



Lời nguyện: Lạy Chúa chúng con, xin Chúa ban ơn xuống trong linh hồn chúng con, là kẻ đã nhờ lời Thánh Thiên Thần truyền, mà biết thật Chúa Kitô đã xuống thế làm người, thì xin vì công ơn Chúa chịu nạn chịu chết trên cây Thánh Giá, cho chúng con ngày sau khi sống lại được đến nơi vinh hiển, cũng vì công nghiệp Chúa Kitô là Chúa chúng con.
Đáp: Amen.

***************************************


(14) Kinh Mân Côi gồm 5 chục kinh, mỗi chục gồm 1 Kinh Lạy Cha, 10 Kinh Kính Mừng và 1 Kinh Sáng Danh. Vừa đọc mỗi chục, người ta vừa suy niệm một trong các mầu nhiệm của Chúa Kitô. Các mầu nhiệm này được gom thành 4 loại: các mầu nhiệm vui (truyền tin, thăm viếng, sinh nhật, dâng Con vào Đền Thờ, tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thờ); các mầu nhiệm sáng (chịu phép rửa, phép lạ Cana, công bố Nước Trời, biến hình, lập Thánh Thể); các mầu nhiệm buồn (thương) (hấp hối, bị đánh, đội mão gai, vác thập giá, chịu đóng đinh); các mầu nhiệm vui (sống lại, lên trời, Chúa Thánh Thần hiện xuông, Đức Maria lên trời, Đức Maria được thưởng)


(15) Xem Vatican II, Dei Verbum 4.


(16) Thánh Gioan Thánh Giá, Ascent of Mount Carmel II, 20: “Sau khi đã ban cho ta Con của Người, vốn là Lời của Người, Người không còn lời nào khác để ban cho ta nữa. Người đã nói hết mọi sự, một lần cho tất cả, trong chính một Lời này; như thế, Người đâu còn gì để nói với ta nữa… Điều chỉ nói một phần với các tiên tri, Người đã nói trọn vẹn trong Con của Người bằng cách ban cho ta trọn Con của Người. Đó chính là lý do tại sao lúc này đây, bất cứ ai muốn chất vấn Người hay muốn có một thị kiến hay mạc khải không những điên rồ mà còn xúc phạm đến Chúa nữa vì đã không chịu chăm nhìn vào một mình Chúa Kitô mà thôi, không cần tìm điều gì khác hay điều gì mới lạ ở nơi khác nữa” (trích trong Phụng Vụ Các Giờ Kinh, vol.I, tr.212).


(17) Đức GH Bênêđíctô XIV, De servorum Dei beatificatione II, 32, 11.


(18) B. Bobrinskoy, trong tuyền tập Vraies et fausses apparitions dans l’Église (Paris: Lethielleux-Bellarmin, 1976) 109.


(19) Há Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã chẳng phản đối rằng: “Ta không được nói (về Đức Maria) những điều không chắc có thật (improbable) hoặc ta không biết… Một bài giảng muốn làm tôi vui và sinh ích cho tôi, thì phải cho tôi thấy đời sống đích thực của ngài, chứ không phải một đời sống giả tưởng; và tôi chắc chắn rằng đời sống đích thực của ngài hết sứ đơn giản. Các vị giảng thuyết trình bày ngài như đấng chót vót không ai tới gần được; các vị ấy nên nói về ngài như người dễ bắt chước, làm nổi bật các nhân đức của ngài, cho ta hay ngài sống bằng đức tin như chính chúng ta, và chứng minh điều đó bằng tin mừng, trong đó, ta đọc thấy ‘các ngài không hiểu điều Người nói với các ngài’… Ta thực sự biết rằng Trinh Nữ rất thánh là Nữ Vương trời và đất, nhưng ngài là mẹ hơn là nữ vương, và ta không nên nói rằng vì các đặc ân của mình, ngài che mất hết vinh quang của các thánh, như thể mặt trời mọc làm các ngôi sao phải biến đi. Lạy Chúa quí yêu! Con quả nói điều kỳ dị thay!” (J’entre dans la vie. Derniers entretiens [Paris: Cerf/Desclée De Brouwer, 1973) 140-41.

(20) Xem chương 1, phần nói về Đức Maria trong các giáo hội thoát thai từ Cải Cách trong thế kỷ 19.


(21) P. Maury, “La Vierge Marie dans le catholicisme contemporain”, Bulletin Fac. Théol. Prot. (Paris: 1946) 6.


(22) K. Barth, “Quatre études bibliques”, Foi et Vie, số 85-86 (1936) 487.


(23) S. De Diétrich, “Rôle de Vierge Marie” Cahiers d’Orgemont, số 58 (1966) 27.


(24) A. và F. Dumas, Marie de Nazareth (Geneva: Labor et Fides, 1989) 98-99.


(25) Luther, Bài Giảng Năm 1522; xem Kirchenpostille (WA 10/1/1).


(26) Tuy Calvin từ khước việc gọi Đức Maria là “người giữ kho ơn thánh” theo nghĩa của truyền thống Trung Cổ, nhưng ông đã tái giải thích ý nghĩa của tước hiệu này theo quan điểm Cải Cách: “Theo một nghĩa khác, Trinh Nữ quả là người giữ kho ơn thánh. Vì ngài gìn giữ học lý có sức mở cửa nước trời cho ta ngày nay và dẫn ta tới Chúa Giêsu, Chúa chúng ta; ngài gìn giữ học lý ấy như một kho tàng, và rồi nhờ ngài, ta lãnh nhận được học lý ấy và ngày nay, ta được bồi đắp nhờ học lý này. Như vậy, bạn hãy chiêm ngắm vinh dự Chúa ban cho ngài; hãy xem xem ta nên nghĩ ra sao về ngài: không ngưng lại nơi ngài cũng như không biến ngài thành ngẫu tượng, nhưng để, nhờ ngài, ta được dẫn tới Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì đó chính là nơi ngài sẽ sai ta đến” (Bài Giảng thứ 25 về Sự Hoà Hợp của Tin Mừng, trích dẫn trong La Revue réformée, số 31 [1957/4] 37).


(27) A. Piepkorn, “Mary’s Place Within the People of God” Marian Studies 18 (1967) 82.


(28) Xem Chương 4, phần nói về Sự Hồi Tâm Tín Lý của Công Giáo (nhận định của Nhóm Dombes).


(29) Xem Chương 3, phần nói về Sự Cộng Tác của Đức Maria (hướng tới một hoà giải)


(30) Xem Ch.Drelincourts, The Honor Due to the Holy and Blessed Virgin Mary.