01 Bài 01
Phần I: Đọc Lịch Sử và Thánh Kinh theo đại kết
Trong lời nói đầu của phần này, Mục Sư Alain Blancy và Linh Mục Maurice Jourjon, đồng chủ tịch của Nhóm, nhấn mạnh rằng: Đức Maria không bao giờ từng là nguyên nhân gây chia rẽ giữa các giáo hội. Trái lại, ngài trở thành nạn nhân của các chia rẽ ấy. Kết quả là một số nhân tố tạo chia rẽ đã được phân cực chung quanh ngài và trở thành hiển hiện nơi ngài. Cho nên, Nhóm muốn tập trung nghiên cứu nhân vật vốn có tính biểu tượng đối với đức tin và truyền thống Kitô giáo này. Để mong trả lời được câu hỏi: liệu các bên có thể nói cùng một ngôn từ và cổ vũ việc cùng nhau thay đổi tâm hồn hay không.
Nhóm nhất trí cho rằng kế hoạch Thiên Chúa, như đã được mạc khải trong Thánh Kinh và được đức tin tiếp nhận trong các tuyên tín nhất là 3 điều của Kinh Tin Kính, đã nối kết việc thụ thai đồng trinh và chức phận làm mẹ lại với nhau: Đấng chết thời Phôngxiô Philatô đã được sinh ra từ Trinh Nữ Maria.
Đức tin của giáo hội lúc chưa bị phân chia, là giáo hội hiện vẫn đang hiện hữu trong mỗi người chúng ta, đã đem lại sự hợp nhất cho giáo hội và làm cho hiệp thông các thánh trở thành một thực tại trong toàn bộ tính đầy huyền nhiệm của nó: Ơn cứu rỗi do Chúa Giêsu đem lại hành động không phải do xác tín nhân bản mà là do quyền năng Thiên Chúa. Này, người đàn bà son sẻ đang hạ sinh và Trinh Nữ đang thụ thai! Trong biến cố này, người nghèo đã được nghe tin mừng. Ở hừng đông thiên niên kỷ thứ ba, liệu có nơi nào tuyên tín vào Chúa Kitô Cứu Thế mà lại bác bỏ lòng thủy chung đối với tin mừng này không?
Đức Maria trong các tuyên tín không hề khác với Đức Maria trong Thánh Kinh. Các Tin Mừng thời Thơ Ấu đối với các Tin Mừng Nhất Lãm cũng giống như Tự Ngôn đối với Tin Mừng Gioan, nghĩa là, không hẳn là lịch sử hay tiền sử về Chúa Giêsu cho bằng là chứng tá cho việc hạ mình của Đấng sẽ được nâng lên cao và được gọi là Chúa vì vinh quang Thiên Chúa Cha (xem Pl 2:6-11). Bởi thế, ta hãy cùng nhau lắng nghe sứ điệp ngỏ với Đức Maria và Kinh Magnificat của ngài, vì cùng với chúng, ta tuyên xưng rằng Chúa Giêsu được “xuống thai bởi Chúa Thánh Thần và được sinh ra bởi Trinh Nữ Maria”.
Nhóm đã có thể thanh thản làm việc với nhau nhờ khả năng biết biện phân giữa những gì được đức tin đòi hỏi và những gì lòng sùng kính cho phép. Sự biện phân căn bản này luôn hiện diện suốt trong tài liệu này. Một số tác giả thời Trung Cổ có thể viết: “Về Đức Maria, không bao giờ nói cho đủ được”; nhưng đồng thời, điều không kém quan trọng là phân biệt giữa tự do sùng kính (trong các giới hạn của luật đức tin) và điều duy nhất cần thiết. Về điều duy nhất cần thiết này, Tuyên Tín Augsburg (1530/1580) nhắc đến nguyên tắc Satis est (“Đã Đủ Rồi”): nghĩa là, đã đủ cho sự hiện hữu của giáo hội và sự hợp nhất của giáo hội: “giảng dạy đúng tin mừng và trung thành ban phát các bí tích”. “Phẩm trật các chân lý” được Công Đồng Vatican II đề cập tới cũng phần lớn nói về cùng một quan tâm. Như sẽ thấy, điểm khởi hành là tuyên tín chung như đã thấy trong các kinh tin kính của giáo hội thời sơ khai. Cả Kinh Tin Kính Các Tông Đồ lẫn Kinh Tin Kính Nixêa-Constantinốp (381) đều minh nhiên nhắc đến Đức Maria và tương phản ngài với Philatô, một đàng là lúc sinh một đàng là lúc chết, một đàng là tham dự vào mầu nhiệm nhập thể, một đàng là đồng loã với khổ nạn.
Tính chất tích cực của kết quả đạt được ở phần này là một dấu chỉ đầy khích lệ. Nhóm hân hoan nhận ra rằng các bất đồng của nhóm, tuy còn, nhưng không theo các đường nét cứng cỏi từng chia rẽ các tuyên tín nữa. Kitô hữu từ nay có thể có những xúc cảm bản thân và các thái độ tôn trọng, thậm chí cả sùng kính nữa, đối với Mẹ Chúa Cứu Thế.
Nhóm tạ ơn vì đã có thể làm việc với nhau về một chủ đề từng gây chia rẽ và hiện vẫn còn đang gây chia rẽ. Vì tuy Đức Trinh Nữ Maria là nốt nhạc cần thiết trong bản hòa tấu cứu chuộc, nốt nhạc ấy vẫn chưa nhất thiết tạo được hòa âm nơi chúng ta. Nhưng nguyên sự kiện Nhóm có thể nhìn nhận điều ấy cũng đã là một điều gì đó rồi, nhưng nhất định không phải là việc thú nhận thất bại. Tương lai vẫn đầy hứa hẹn cho đức tin hôm nay.