14 Bài 14
BÀI 15 :PHỎNG VẤN LINH MỤC EMILIANÔ TARDIF
Trích trong tác phẩm ĐỨC GIÊSU LÀ ĐẤNG THIÊN SAI
Lm Phêrô Hoàng Minh Tuấn CSsR chuyển ngữ
Thu thập những lời phỏng vấn tại nhiều nơi trên thế giới, chúng tôi đã chọn trong số đó những câu hỏi liên quan đến những vấn đề chúng tôi thấy có vẻ là lý thú nhất. Chúng tôi thuật lại ở đây kèm theo những câu trả lời của Cha Tardif.
1. Ơn chữa lành hệ tại đích xác cái gì?
Ơn chữa bệnh, cũng như mọi đặc sủng khác, là một sự biểu thị của Chúa Thánh Thần.
Thánh Phaolô quả quyết: “Việc Thần Khí biểu thị ra như vậy được ban xuống cho mỗi người để mưu ích lợi chung”. Ngay đó, thánh nhân kể ra 9 điều: “Người thì được Thần Khí ban cho lời khôn ngoan..., người thì lời trí tri, lòng tin, đặc ân chữa bệnh tật..., kỳ công phép lạ, ơn tiên tri, biện phân các thần khí, ơn nói các thứ ngôn ngữ, ơn diễn giải các ngôn ngữ” (1C 12.7-11).
- Thưa Cha, nhưng người ta nói rằng những đặc sủng phi thường ấy chỉ dành cho thời đầu của Hội Thánh..., còn ngày nay, chúng không còn nữa...
Nhưng ai nói thế? Nếu vậy, “lòng tin” mà Thánh Phaolô nêu ra trong bản danh sách ấy cũng chỉ dành cho thời đầu của Hội Thánh thôi ư?
Công đồng Vaticăng II nói về những đặc sủng phi thường ấy như thành phần của đời sống Giáo Hội ngày nay (xem Hiến Chế “Ánh sáng muôn dân”, số 4 và 12).
Đàng khác, trong quyển “Đàm đạo về đức tin” của Ngài, Đức Hồng Y Ratzinger khẳng định:
“Trong lòng thế giới đã bị một thứ chủ nghĩa hồ nghi, duy lý làm khô cằn, đã nảy sinh một kinh nghiệm mới về Chúa Thánh Thần; nó đã bành trướng thành một phong trào canh tân có tầm cỡ quốc tế. Những gì Tân Ước nói về các đặc sủng, vốn xuất hiện như những dấu hiệu thấy được của Thần Khí, không chỉ thuộc về lịch sử cổ thời, đã lui vào quá khứ: lịch sử ấy lại trở thành chuyện thời sự nóng hổi ngày hôm nay”.
2. Tại sao Giáo hội Công giáo chưa chấp nhận các đặc sủng như một yếu tố thông dụng, bình thường trong đời sống tôn giáo, đang khi nhiều Giáo Hội Tin Lành lại chấp nhận?
Tôi xin gợi ra đây vài khía cạnh khác nhau:
• Tôi thấy hình như bởi vì Giáo Hội chúng tôi dạy giáo lý nhiều mà rao truyền Tin Mừng ít. Các dấu lạ thường đi kèm theo việc rao truyền Chúa Yêsu đang sống, nhưng không xảy ra được bằng thế khi người ta chỉ dạy các chân lý hay đạo lý của đức tin.
Ngày nào lại sống dậy việc loan báo minh bạch Chúa Yêsu là Cứu Chúa và Chúa Tể, chúng ta sẽ thấy các điềm thiêng trên trời và các dấu lạ dưới đất. Đối với tôi, vấn đề không phải là thiếu vắng đặc sủng. Đặc sủng chỉ là hiệu quả của việc loan báo kia.
Gốc rễ của vấn đề là ở chỗ chúng ta đã ngưng loan báo cái chết cứu chuộc và sự sống lại vinh hiển của Chúa chúng ta, Đức Yêsu Kitô.
• Mặt khác, chúng tôi đã sa vào chước cám dỗ của tinh thần duy tự nhiên (pélagiaanisme),(*) chỉ dùng những phương thế nhân loại và chỉ dựa vào những phương thế tự nhiên, để thực hiện công việc của Thiên Chúa.
Khi người ta phân tích thực tại, người ta quên cậy vào quyền năng của Đấng đã làm cho Đức Yêsu sống lại từ kẻ chết. Công việc của Hội Thánh là một sứ vụ bất khả kham, vượt trên tất cả sức lực loài người. Làm sao thực hiện nó mà không cậy vào quyền năng của Thánh Thần?
Không có khoa học nào, kỹ thuật nào có thể thay thế cho hoạt động của Thần Khí. Ta đừng quên: “Nếu Chúa không xây nhà, thì thợ nề vất vả cũng là luống công” (Tv 127.1).
• Cách xử sự của Giáo Hội Công giáo nêu trên cũng có thể là một phản ứng, trước những cái thái quá mà đôi khi người ta đã gặp. Tôi cũng vậy, tôi chống lại những sự méo mó như thế, song đừng để vì có lẫn cỏ lùng mà ta được phép nhổ cả lúa.
• Người ta thấy sống dậy một cái mà người ta đã chôn vùi, và bây giờ, khi cái ấy xuất hiện lại, người ta không biết phải làm gì với nó và không biết sử dụng nó thế nào. Nhưng chẳng bao lâu, cái ấy sẽ thành chuyện bình thường thôi. Tôi hi vọng rằng: chày kíp, sẽ là chuyện bất bình thường, nếu một ngày kia người ta không thấy phép lạ chữa lành, và người ta sẽ ngạc ngiên vì sao lúc ấy quyền năng Thiên Chúa không thể thi thố ra được!
• Sau hết, tôi có thể nói đã có nhiều Đức Giám Mục cởi mở chấp nhận những biểu thị của các đặc sủng ấy. Tôi chỉ xin trích ra 3 trường hợp:
1) Đức Cha Rafael Bello, Tổng Giám Mục Acapulcô, đã viết một thư luân lưu mục vụ về vấn đề “Cuộc rao truyền Tin Mừng mới của năm 2000”, nhân dịp lễ kỷ niệm 15 năm thành lập phong trào Canh Tân trong tổng giáo phận của ngài. Cái nét khác biệt với các thư mục vụ khác là ở chỗ người ta đánh giá nó, đang khi Đức Tổng Giám Mục, trong thư Ngài, thì lại muốn thông chia cái kết quả mà bản thân Ngài đã nhận được từ cuộc canh tân ấy. Đoạn 54 nói thế này:
Có rất nhiều những vị giảng truyền Tin Mừng hoạt động dưới sức tác động của Chúa Thánh Thần. Tôi sung sướng kể ra trong số đó có Cha Tardif, đã được khắp thế giới công nhận như vậy. Vì Cha rất thường đến rao giảng Tin Mừng ở Mêxicô, và cũng chính là người bạn đã giảng kỳ tĩnh tâm đặc sủng cho linh mục tại Acapulcô năm 1984.
Chủ đề của các bài giảng, của các thư riêng hay luân lưu, cũng như của các cuộc chuyện trò của Cha là: thật dễ dàng và hiệu quả, nếu rao truyền Tin Mừng có sự trợ giúp của quyền năng Chúa Thánh Thần! Bao nhiêu nước đã được nghe Cha “nói về những việc lạ lùng của Chúa và ai nấy đều kinh ngạc” (x. Cv 2,11-12). Cha có đặc sủng chữa bệnh phi thường, điều đó đã lôi cuốn hàng ngàn vạn người đến nghe, và Cha đã lợi dụng cơ hội ấy mà rao truyền Tin Mừng không biết mỏi mệt. Cha nghĩ như Phaolô: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1C 9.16).
Tôi hết sức khuyến khích hãy lấy cuốn sách “Đức Yêsu đang sống” mà học tập trong các nhóm. Cha Emilianô thuyết phục ta rằng: cuộc Canh Tân là một sức lực rao truyền Tin Mừng, bởi vì nó khéo léo làm các thành viên biết mở lòng đón nhận quyền lực của Thần Khí, đón nhận các ân điển và các đặc sủng của Ngài.
Đức Hồng Y Renard thú nhận với Cha Tarrdif rằng: Cuộc Canh Tân đã giúp các linh mục và giám mục nhìn nhận rõ rằng: sự cứng tin và óc duy lý đã gây chướng ngại cho việc tông đồ gặt được kết quả phong phú. Đức Hồng Y nói thêm: “Chúng ta đặt đường rầy cho Chúa Thánh Thần để Ngài phải đi theo, song Ngài bay vọt ra cao xa. Chúa Thánh Thần không theo những chương trình mục vụ của ta.”
Hiển nhiên là ta cần một chương trình mục vụ, nhưng bất cứ chương trình nào cũng đều phải mềm dẻo để Thánh Thần có thể sử dụng nó, và ngay cả biến đổi nó. Giáo Hội là một cuộc Hiện xuống thường xuyên, chứ không phải là một việc suy lý triền miên”.
2) Đức Hồng Y Ratzinger, trong sách đã dẫn trên kia, tuyên bố:
“Có một cái làm dấu hiệu hi vọng trong tất cả Giáo Hội toàn cầu - và ngay chính giữa khủng hoảng của Giáo Hội trong thế giới Tây phương - đó là sự ra đời những phong trào mới mà trước đó chẳng có ai đã vạch ra kế hoạch, và cũng chẳng có ai đã mời gọi chúng tới; nhưng đơn giản chúng đã trổ sinh từ sức sống bên trong của chính lòng tin. Nơi chúng, thấy phác họa - dù rằng không ồn ào - cái làm ta liên tưởng tới buổi rạng đông của cuộc Hiện Xuống trong Giáo Hội. Tôi liên tưởng chẳng hạn đến phong trào Đặc sủng, đến tổ chức Tái-Dự-Tòng (néocatéchu-ménat), đến Cur-sillo, Focolaré, Thông Hiệp và giải phóng, v.v…” (x. Tuần san Công giáo và Dân tộc, số 849, ngày 22-3-92, trang 8, bài của Linh Mục Mai Văn Hùng, có nhắc đến lời này của Đức Hồng Y - Lời dịch giả).
3) Để kết thúc, những Vị Giáo Chủ gần đây nhất đã nói những điều rất tốt đẹp về cuộc Canh Tân. Câu tốt đẹp nhất là của Đức Giáo Chủ Phaolô VI, khi Ngài nói về Cuộc Canh Tân như là “một cơ may cho Giáo Hội và cho thế giới” (19/5/1975).
3. Cha nói đến những thái quá trong các đặc sủng, vậy đó là những chuyện gì?
Vấn đề chính là khi chúng ta tách chúng ta khỏi văn mạch của chúng:
- Trong trình thuật của Máccô, đi trước câu bảo đặt tay cho bệnh nhân để họ được lành, là câu dạy hãy đi công bố Lời: “Hãy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo!” (16,15-18); nghĩa là những dấu lạ đi kèm theo việc loan báo Tin Mừng. Các dấu lạ không đứng lẻ loi, nhưng đi chung với việc loan báo ơn cứu độ trong Đức Yêsu Kitô.
- Về phần Matthêô, ông kết luận lời Đức Yêsu sai đi sứ vụ bằng câu: “...thanh tẩy cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (28.18-19); nghĩa là sau khi chữa lành phải có đời sống bí tích đi theo.
Như vậy là có một thế liên hoàn của 3 chuyện: Lời - chữa lành - Bí tích. Nếu không như thế, nó sẽ giảm mất hiệu lực.
Hồi đầu tác vụ của tôi, một linh mục đến thăm tôi ở Canada để mời tôi dự Hội Nghị mà ông tổ chức.
Tôi ngây thơ nhận lời. Nhưng trong suốt hội nghị, ông điều khiển lời nguyện, ca hát, ông giảng dạy. Ông cử hành Thánh Lễ, giảng Kinh Thánh và cũng kiêm luôn cả việc rao thông cáo... Chỉ đến cuối ngày, ông mới mời tôi cầu nguyện cho bệnh nhân.
Chính ở đấy tôi học biết: đừng cầu nguyện cho bệnh nhân, khi tôi chưa thể công bố cuộc vinh thăng của Chúa Yêsu trên thập giá, và cuộc khải hoàn của Ngài sống lại.
4. Làm sao Cha đã nhận định được Cha có đặc sủng chữa lành?
Sau khi tôi đã cầu nguyện cho các bệnh nhân trong nhiều nhóm cầu nguyện. Ngày 18/11/1973, một bệnh nhân mắc chứng đau khớp xương và rỉ khớp đến xin tôi cầu nguyện cho. Sau khi đã cầu nguyện, người ấy bắt đầu đi được, bỏ lại cái gậy ông chống. Ông hoàn toàn được khỏi.
Sau đó, tôi nhận thấy Chúa Yêsu chữa lành bệnh nhân càng ngày càng nhiều hơn làm sao. Như thế đã khởi sự cho tôi cuộc đời đầy những ngạc nhiên: tôi không hề bao giờ nghĩ trước được rằng Chúa sẽ dẫn tôi đi đến đâu.
Phần khác, tôi tin rằng công vụ của tôi là rao truyền Tin Mừng. Nhưng khi người ta loan báo Chúa Yêsu, khi người ta công bố lời rao giảng đầu tiên (Kerygme),(*) thì tức khắc các dấu lạ xuất hiện.
5. Một đặc sủng, có phải nhờ học tập mà được không? Có kỹ thuật gì riêng để thực hành?
Tôi không nói là nhờ học tập mà có được đặc sủng, nhưng mà làm nó triển nở. Càng đem nó phục vụ bệnh nhân, nó càng phát triển. Nhưng bản chất nó vốn là một ơn huệ dưng không, song nếu người ta không đem sử dụng, nó sẽ không triển nở. Còn nếu người ta đem nó phục vụ các bệnh nhân, nó sẽ mạnh mẽ thêm và sẽ biểu lộ ra nhiều hơn. Tôi thấy được ngày nay nhiều việc chữa lành hơn là cách đây 5 năm, dù cũng trong những hoàn cảnh tương tự. Sử dụng đặc sủng còn làm cho chúng ta tăng tiến trong đức tin, càng được thấy nhiều việc chữa lành bao nhiêu, ta càng chắc những người khác cũng sẽ được chữa lành bấy nhiêu.
6. Cái gì cản trở các đặc sủng hơn cả?
Tôi cho rằng đó là cái tính sợ mất mặt, mất thể diện. Các đặc sủng là một thập giá, và nhiều người không sẵn lòng vác lấy. Khi thực hành đặc sủng, ta bị người khác coi mình là khùng, kẻ nọ người kia cười nhạo ta, nhiều người đánh giá xấu, dèm pha hoặc làm khốn ta. Nếu ta không sẵn sàng chết cho mình, cho đến cả từ bỏ các đặc quyền, đặc lợi và danh tiếng của mình, ta không thể lãnh lấy các đặc sủng ấy. Tôi nhớ rõ ràng đến một Cha sở xứ đạo bên cạnh, ông chế diễu các đặc sủng, và trong các bài giảng Chúa nhật, ông còn khẳng định rằng: có một vài người nói tiếng lạ, đó là bởi họ thiếu sinh tố...
Tôi sẽ kể cho bạn một giai thoại mà tôi đã thuật ở kỳ tĩnh tâm toàn thế giới cho các linh mục, do phong trào Canh Tân Đặc Sủng tổ chức tháng 10/1984 ở Rôma: ở đó có chừng 6.500 linh mục, hơn 80 giám mục và nhiều Hồng Y.
Tôi nói với thính giả: “Sẽ có rất nhiều linh mục được lãnh nhận đặc sủng cao quí, nếu các vị ấy đã không quá sợ mất danh tiếng, và không quá bận tâm về chức tước, địa vị của mình. Tính nể nang và sợ dư luận đã khép kín lòng ta trước tác động của Thần Khí. Phải chết cho chính mình, để cho Thần Khí mới đi ngang qua ta được”. Rồi tôi kể cho họ:
“Một hôm, trong buổi tĩnh tâm, chúng tôi đầy hoan lạc trong Thánh Thần. Tất cả được diễn ra trong niềm vui lớn, nhưng đồng thời trong bình an do Chúa ban. Để kết thúc buổi tĩnh tâm, chương trình có hoạch định một Thánh Lễ, do Đức Giám mục địa phận ấy chủ sự. Ngài Giám mục ấy không thích những bài ca phấn khởi, và không thích các đặc sủng. Ngài đã mạnh mẽ nói chống lại các việc ấy, hậu quả là giáo dân đâm ra sợ Ngài.
Khi Ngài đến, đàn ghi-ta thôi gẩy, những bài ca ngợi khen im tiếng, những cánh tay đang giơ lên tức khắc hạ xuống. Thế rồi tất cả mang bầu khí nghiêm nghị và nghi thức.
Đúng lúc Ngài bắt đầu cử hành Thánh Lễ, thì thiết bị âm thanh trục trặc. Mọi người lo lắng cuống cuồng. Ông Thủ tự soát lại các cầu chì, một người khác bật và tắt micro xem thử, đang lúc một người khác kiểm tra lại bộ khuếch âm.
Nhà thờ đầy nghẹt người, nóng lòng sốt ruột, chờ đợi trong bầu khí căng thẳng, Đức Giám Mục nói lớn tiếng:
- Hình như máy phóng thanh bị một trục trặc nhỏ…
- “Và ở cùng Cha” - giáo dân đáp lại.
Vì nghe lầm, mọi người tưởng Đức Giám Mục cử hành Thánh Lễ.
Nhiều người chúng ta cũng bị bận tâm với các máy phóng thanh, mà không để dành chỗ thênh thang cho Thần Khí tự do hoạt động. Người ta muốn nhốt Ngài vào trong những khuôn đã đúc sẵn, và không để cho Ngài tự do như gió muốn thổi đâu tùy ý. Những ai quá bận tâm với các máy phóng thanh, chính là vì họ quá lo lắng sợ dư luận sẽ nói gì.
Nếu chúng ta bớt lo lắng sợ mất danh tiếng, chúng ta sẽ mở đón Chúa Thánh Thần nhiều hơn. Sợ quê, sợ bị cười sẽ cản trở ta mở đón các đặc sủng của Thần Khí. Đã hẳn các đặc sủng hay làm ta bị hạ nhục. Chúng dẫn ta tới thập giá. Chính vì thế mà nhiều người sợ chúng, còn những người khác từ khước chúng. Thế là hết những giờ giấc nghỉ ngơi, giấc ngủ cũng bị rút ngắn. Đàng khác, danh tiếng không tăng lên, trái lại còn bị dồn dập chê cười, chỉ trích, châm biếm cay độc... Nhưng tựu trung tất cả đều có thể vượt qua, khi nào người ta không quá bận tâm với các máy phóng thanh.
7. Một đặc sủng như thế có nguy hiểm không?
- Trước tiên, đó là một ơn huệ, tức là một quà tặng nhưng không của Thiên Chúa. Việc chữa lành là công việc của riêng mình Thiên Chúa, thi hành qua khí cụ nhân loại.
- Mặt khác, nó là để phục vụ lợi ích chung, chứ không lợi ích của người có đặc sủng ấy.
Thật vô cùng nguy hiểm khi muốn chiếm đoạt vinh quang của Thiên Chúa cho một mình mình. Còn thấy cả lời kết án kẻ có đặc sủng chữa bệnh:
“Trong ngày ấy, nhiều kẻ sẽ nói với ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, há chúng tôi đã không nhân danh Người mà nói tiên tri, nhân danh Người mà trừ quỉ, nhân danh Người mà làm nhiều phép lạ đó sao?’. Và bấy giờ Ta sẽ tuyên bố với chúng rằng: Ta không hề biết các ngươi, hãy xéo đi xa Ta, hết thảy phường tác quái!” (Mt 7.22-23).
Nếu ta đem nó phục vụ cộng đoàn, nó là ân huệ quí báu. Nếu ta nhìn nhận mình chỉ là một dụng cụ, ta sẽ được tài bồi.
Nhưng, lợi ích lớn nhất mà tôi thấy được là nó làm tăng tiến đức tin của cộng đoàn, nó thức tỉnh những kẻ ngủ mê và nó hồi phục sinh khí cho tác vụ rao giảng Tin Mừng, cho thấy Chúa Yêsu đang sống giữa chúng ta.
8. Thưa Cha, nếu Thánh Phaolô nói rằng điều cốt thiết là đức mến, tại sao Cha lại gán cho các đặc sủng tầm quan trọng đến thế?
Không phải tôi đã gán tầm quan trọng ấy, mà là chính Đức Yêsu (x. Mt 4, 23t: “Ngài rảo khắp xứ Galilê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao truyền Tin Mừng về Nước và chữa lành mọi tật nguyền, bịnh hoạn trong dân...”). Thánh Phaolô nói rằng: “Các dấu lạ” là đặc trưng của vị tông đồ chân chính. (x. 2C 12.12). Đúng hơn, phải cho tôi được quyền hỏi: Tại sao có một số người lại giảm thiểu cái mà - đối với Đức Yêsu - có một ý nghĩa lớn như thế?
Buồn thay, chúng ta đối chọi cái chỉ là phụ thuộc. Không có chuyện tình yêu trừu tượng! Thực hành một đặc sủng - bất cứ nó loại nào - là một sự phục vụ ích lợi cộng đồng, và vì thế, đó là tình yêu (x. Yacôbê 2.14-26; 1C 13.4-7).
10. Có phải chỉ mình Cha, giữa cộng đoàn rao truyền Tin Mừng ấy, có đặc sủng chữa bệnh?
Nhiều người trong chúng tôi có đặc sủng chữa bệnh thể xác, người khác thì chữa bệnh nội tâm. Trong số 87 người, có
11 người được đặc sủng nói lời trí tri, nhiều người được ơn nói tiên tri hoặc ơn giải thoát. Tôi sẽ kể cho bạn một chuyện xảy ra cho một giáo lý viên của nhà chúng tôi:
“Một hôm, một người chống nạng đi đến, hầu như không còn đi nổi nữa, ông tìm gặp Cha Tardif để xin cầu nguyện cho được lành. Giáo lý viên đón tiếp ông ta, cho ông ấy biết là Cha Tardif vắng nhà. Người bệnh rất buồn và thất vọng, nhưng thầy giáo nói với ông ta:
- Bạn xem, tôi chẳng có vàng, có bạc, nhưng có gì tôi cho bạn cái nấy. Hãy đến nhà nguyện, ở đó có trưng bày Mình Thánh Chúa. Chính Ngài sẽ chữa cho bạn.
Người bệnh đến đó. Sau 15 phút cầu nguyện, ông đi ra, hai chân cứng cáp, không cần chống nạng.
11. Nhiều người coi Cha E. Tardif là ông thánh, Cha nghĩ sao?
Tôi tức cười chứ nghĩ sao. Đôi khi có một mình và sắp đi ngủ, tôi tự nói: “Nếu người ta biết tôi là thế nào, chắc họ sẽ để cho tôi yên”. Tôi vẫn luôn chỉ là một cha sở ở nhà quê, trong một đảo nhỏ mất hút giữa biển Caraibes.
Tôi không thể nghĩ tôi là cái gì hơn con lừa của ngày Chúa nhật Lễ Lá đã mang Chúa Yêsu trên lưng. Tôi biết rằng: khi người ta tới tấp phủ lên trên tôi những lời biết ơn, và khi người ta trải áo lót đường trước mặt tôi, chính là người ta chúc tụng Chúa Yêsu mà tôi đang mang trên lưng.
Khi tôi đã mang Ngài đến cho họ, họ lại dắt tôi trở về chuồng. Lúc trở về, chẳng còn áo choàng, chẳng còn hoa lá, chẳng còn lời cám ơn. Tôi vào lại trong thâm cung lòng tôi và tôi nói: “Ôi Chúa! Chúa thật là vĩ đại!”
Việc con lừa trở về nhà như thế là điều giữ cho chúng tôi khiêm nhường. Sự cô tịch và đối diện với Chúa Yêsu không cho phép chúng tôi ngộ nhận. Khi tôi quỳ gối và tuyên xưng các kỳ công của Thiên Chúa qua các lời Thánh vịnh, tôi nghĩ rằng: nếu người ta biết Thiên Chúa hơn, chắc người ta sẽ bớt chú ý đến tôi.
Cộng đoàn tôi biết rõ tôi không là ông thánh, nhưng tôi ước ao nên thánh. Đó là ơn gọi của bất cứ ai đã chịu Phép Thanh Tẩy. Nhưng có điều chúng ta hay tưởng tượng ông thánh như một người, mà người ta có thể đặt tượng ảnh lên bàn thơ,̀ hay làm được các phép lạ. Đối với tôi, nên thánh là cái gì còn hơn thế: tức là nên như Chúa Yêsu, xem thế ai chẳng muốn nên thánh?
Hơn nữa, từ ngày chịu Phép Rửa tội, bởi vì tôi đã được dìm vào trong sự chết và sống lại của Chúa Yêsu Kitô, nên tôi mang trong mình mầm giống thánh thiện, bởi việc Thiên Chúa đã ban dưng không cho tôi Thánh Thần, dù tôi chẳng có công lênh gì.
Ơn chữa bệnh không phải là dấu sự thánh thiện, đó là một ơn ban nhưng không. Nếu tôi đem nó phục vụ các bệnh nhân với một lòng kiên nhẫn và yêu thương, thì việc đó có thể giúp tôi nên thánh, bởi vì thánh hóa đơn giản là thực hành yêu thương; tuy vậy, việc ấy cũng nặng nề lắm!
Một hôm, có người nói với tôi: “Emiliano, Cha không sợ người ta phong thánh sống cho Cha, vì đã làm bao phép lạ sao?”. Tôi đáp: “Thà người ta coi tôi là một ông thánh, tôi thích hơn người ta coi tôi là một tướng cướp”.
12. Cha có nghĩ là khi giảng cho đám đông, có xảy ra những biểu lộ do chứng loạn thần kinh tập thể không?
Có những biểu lộ cuồng nhiệt mà tôi không gọi là chứng loạn thần kinh, nhưng là một sự phấn khích bình thường trước sự hiện diện thi ân cứu độ của Thiên Chúa.
Tỉ dụ, các Thánh vịnh có đầy những lời phấn khởi cỡ đó.
Nhưng phần các Ký lục và Biệt phái lại coi là thái quá những lời hoan hô “Hosana” dành cho Con Vua Đavít. Tôi tự hỏi: Tại sao ở sân vận động, dân chúng có thể la hò và phấn khởi trước cuộc thắng trận của đội banh mà họ cổ động, mà lại không thể biểu lộ lòng xúc động của họ trước Đấng duy nhất đã toàn thắng sự chết? Tại sao người ta có thể khóc vì xúc động trước tài năng diễn xuất của một nghệ sĩ, mà lại không thể khóc vì hân hoan trước vị Chúa trên các Chúa?
Đành rằng tôi chắc có một vài người đã đi quá mức trong khi biểu lộ xúc cảm, tôi còn nghĩ rằng có những người khác còn chưa tự do biểu lộ tình cảm của mình.
- Nhưng đôi khi đã có những khích động quá đáng và cảm xúc sướt mướt...
Tôi thích gặp những người phấn khích như thế, còn hơn là gặp những kẻ chết. Người ta có thể sửa đổi và giáo hóa một kẻ khích động, nhưng kẻ đã chết thì còn làm gì được?
13. Tại sao có một số người được khỏi, còn số khác không?
Có những người xét theo bên ngoài có vẻ có một đức tin rất mạnh, và có thể nói là xứng đáng được khỏi lại không khỏi. Trái lại, có những trường hợp những người không ai dám ngờ rằng khỏi thì lại được khỏi.
ở đây có hai chuyện phải phân biệt. Chuyện thứ nhất là tại sao người ta được khỏi, và chuyện thứ hai, tại sao người ta không được khỏi.
- Vấn đề thứ nhất: tôi xin kể cho bạn một việc đã xảy ra cho chúng tôi cách đây khá lâu:
“Trong một cuộc hội thảo, chúng tôi bàn cãi xem lý do căn bản nào khiến Chúa chữa lành chúng ta. Người thì đưa ra một lập luận Kinh Thánh, người khác căn cứ vào lời hứa của Chúa, và v.v…
ở đó, có một bạn trẻ vẻ bên ngoài hơi lẩn thẩn, muốn góp ý kiến mà không ai để cho anh làm. Cuối hết, khi chúng tôi đã cạn hết các lý lẽ thâm sâu của chúng tôi trên chủ đề, người bạn trẻ ấy mới nói với một cung giọng ôn tồn: “Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa chữa lành ta vì ta bị bệnh”. Sau khi suy nghĩ đủ mọi khía cạnh trong đầu về vấn đề ấy, cuối cùng, tôi cũng đi đến cùng một kết luận: Thiên Chúa là một người Cha tốt lành, Người cảm thương sự đau đớn của con cái Người”.
- Còn về điều thứ nhì: lý do tại sao có những người khác không được khỏi, tôi không biết tại sao hết. Nhưng khi nào tôi về trời, đó là điều thứ nhất mà tôi hỏi Thiên Chúa. Một điều chắc là ngay cả những người ngoại đạo không có đức tin cũng đã được khỏi... Tôi đã từng thấy ở Phi châu và Ấn Độ.
“Đó là trong một chiến dịch rao truyền Tin Mừng ở Mbandaka thuộc xứ Zaire. Một buổi chiều, có chừng 20.000 người tụ họp trong sân vận động, để dự Thánh Lễ cầu cho bệnh nhân. Một em nhỏ ngoại đạo đi ngang qua đó, rồi hoàn toàn vì tò mò, em bước vào xem người ta đang làm cái gì. Đúng vào lúc rước lễ.
Sau đó là lúc cầu nguyện chữa lành. Em nhỏ 12 tuổi ấy bị bệnh tim đập nhanh (tachycardie) từ khi ra khỏi lòng mẹ. Hầu như tức khắc, nó cảm thấy một sức nóng như lửa xâm chiếm cả thân thể, như thể một luồng điện. Chính là Thần Khí Thiên Chúa hằng sống, đã phục sinh thân thể Đức Yêsu trong mồ, nay đến tràn đầy trong nó và chữa lành nó.
Sau Thánh Lễ, nó hoàn toàn khỏi bệnh tim. Y sĩ khám nghiệm và xác nhận việc xảy ra không phải do trí tưởng tượng mà được, song đích thực một sự chữa lành bệnh tim. Ngày bế mạc, đức trẻ 12 tuổi ấy lên nói lời chứng một cách dạn dĩ làm ai cũng ngạc nhiên, và kết luận bằng một lời tạ ơn Chúa như sau: “Cháu không là người Kitô hữu, nay cháu muốn trở thành Kitô hữu”.
Bạn thấy đó, chúng ta đụng tới một mầu nhiệm của tình thương Thiên Chúa. Nếu quả Chúa chỉ chữa một số người, thì Ngài hiến cho tất cả mọi người sự chữa lành chung cuộc: đó là sự sống đời đời. ở đó không còn bệnh tật, tang tóc, khóc lóc (x. Kh 21.4). Chữa lành là một ơn huệ nhưng không mà ta lãnh được. Nhưng nào ta là ai mà dám hỏi Thiên Chúa: tại sao Ngài lại chữa người này mà không chữa người nọ? Người ta được chữa lành không vì người ta xứng đáng, đó là một ơn huệ Thiên Chúa ban cho ai tùy ý.
Bà Josefina Guzman ở Zapotilic (Mêxicô) cho ta thấy Chúa chữa ta “vì ta bị bệnh”, chứ không phải ta có công nghiệp việc lành phúc đức mà đáng được đâu. Đó là hành vi của tình yêu dưng không của Chúa:
“Từ vài năm nay, tôi bị một chứng bệnh làm tôi cứ yếu nhược lừ đừ suốt ngày. Tôi như hụt hơi nên không thể làm việc nội trợ trong nhà. Chồng tôi rất bực bội và la tôi là yểu điệu. Tôi thất vọng và buồn rầu.
Tôi đi bác sĩ khám, ông chẩn bệnh xong thì bảo tôi bị áp huyết thấp. Ông khuyên tôi nên uống mỗi sáng một ly nhỏ rượu Cô-nhắc, nhưng vì không có tiền mua Cô-nhắc, tôi uống la-de vậy. Quả nhiên, tôi thấy mình khỏe hơn. Hôm sau, tôi uống nhiều hơn và tôi thấy khỏe hơn nữa. Ít lâu sau, tôi uống một ly lúc sáng mới dậy và ly khác đầu buổi chiều. Tôi uống thêm ly thứ ba để đi ngủ. Không ngờ, tôi đã đâm nghiền rượu. Tôi không muốn là kẻ nghiền rượu, song một trật, tôi không thể thôi uống.
Một đàng tôi cảm thấy mình yếu nhược, đàng khác, cái bệnh nghiền rượu lại đưa tôi tới gần mồ chôn. Tôi nhận thấy rõ ràng trong thân xác tôi, tội lỗi hoành hành trên thân thể mình như thế nào. Tôi vừa bị bệnh thể xác, vừa bị bệnh tâm hồn.
Tôi đến gặp hội “những người nghiện rượu nặc danh”.(*) ở đó, họ bảo tôi rằng: cái làm hại nhất là ly rượu đầu tiên. Như vậy, tôi ở trong thế kẹt: nếu tôi không uống, tôi không thể làm việc; mà nếu tôi không làm việc, chồng tôi sẽ đánh tôi.
Tôi chỉ còn trông chờ một phép lạ mới là cái duy nhất đem tôi ra khỏi hố sâu này. Nhưng phép lạ, đó là chuyện của thời xưa và dành cho người tốt, chứ đâu có cho người nghiện rượu như tôi. Đang như thế, tôi khởi sự tham dự các buổi họp của một nhóm cầu nguyện của phong trào Canh Tân, nơi mà tôi nghe nói là Chúa còn làm phép lạ. ở đó, tôi nghe đọc Lời Chúa dạy rằng: tội lỗi là gốc rễ của mọi sự dữ và bệnh tật. Lúc ấy, tôi mới nhủ mình rằng: tôi cần phải đi xưng tội một lần hết sức tử tế, và tôi đã đến lãnh Bí Tích hòa giải, nhân dịp năm Thánh toàn xá 1983.
Dần dần, sức khỏe tôi càng xấu đi. Tôi đến nhờ Bác sĩ Ismael Espejo khám, ông rọi kính chẩn bệnh cho tôi ngày 24/5/1984. Kết quả của trắc nghiệm là: ung thư tử cung đã đến giai đoạn cuối cùng, nên y khoa đành bó tay để mặc tôi chờ chết. Nếu y khoa đã không thể làm gì được cho tôi nữa, thì đối với tôi, Chúa là nhất.
Một hôm, người ta bảo cho chúng tôi biết Cha Tardif đến Guadalajara, và Cha sẽ cử hành một Thánh Lễ cầu nguyện cho bệnh nhân trong Giảng Đường của thành phố. Trong lúc cầu nguyện cho bệnh nhân, tôi cảm thấy một bàn tay nhẹ nhàng đặt trên vai trái tôi.
Tháng 11 cùng năm ấy, có một cuộc hội nghị nữa ở sân vận động Jalisco. Chúng tôi họp nhau có đến 60.000 người ở đó, để ngợi khen Chúa vì các sự lạ lùng Người đã làm.
Sau rước lễ, Cha Emilianô bắt đầu cầu nguyện xin Chúa chữa lành, và bảo rằng Chúa Yêsu sẽ chữa nhiều bệnh nhân, nhưng không phải tất cả. Tôi mới nhủ thầm: “Mày, mày thuộc số những kẻ không được chữa lành, vì mày nghiện rượu và không đáng được ơn ấy”.
Sau đó, tôi giao phó mình tôi trong tay Đức Trinh Nữ Maria, để Người giới thiệu tôi cho Con cực thánh Người.
Cha Emilianô nói, nhờ bởi một lời Thiên Chúa thông tri, rằng: 5 người được chữa lành ung thư, trong số đó một phụ nữ bị ung thư ở bụng. Tôi tin chắc vào Chúa, tôi bèn đứng lên khỏi ghế và la lớn tiếng: “Chính tôi đây!”. Dân chúng quay lại nhìn tôi, người thì tỏ vẻ hoài nghi, người thì lộ ra vui mừng. Phần tôi, tôi chắc chắn là Chúa vừa chữa tôi lành.
Ngày 4/2/1985, người ta khám bệnh lại cho tôi. Kết quả thật tuyệt vời! Hết ung thư, không còn một dấu vết nào! Bác sĩ không biết cắt nghĩa làm sao chuyện đã xảy ra, vì chính ông đã khám phá một ung thư cấp 5, lan rộng khắp cả vùng xương chậu. Nhưng tôi thật đã được khỏi bệnh hoàn toàn. Tôi lặp lại cho ông lời Cha Tardif: “Đức Yêsu là Chúa, Ngài có thể làm những điều không có thể”.(*)
Tôi vẫn còn phải đợi lần khám cuối cùng ngày 10/ 7/86 để xác nhận chung kết.
Tôi không cần rượu nữa. Hết chuyện uống các ly la-de. Bây giờ, tôi tìm lại được sức của thời thanh xuân. Thành lũy của tôi, chính là Chúa! Ngài là khiên mộc cho tôi! Chúa đã chữa lành hồn tôi, chữa lành xác tôi! Tôi sẵn sàng đưa hồ sơ xét nghiệm y khoa của tôi cho ai muốn xem. Tôi bây giờ không cần nó nữa. Đúng hơn, tôi thích dọn mình để ra trước tòa phán xét chung thẩm, khi Chúa Yêsu sẽ hỏi tôi đã làm gì cho những người nghèo khổ hơn tôi.
14. Cha cảm thấy gì trong lòng khi một người mù được thấy, hay người bất toại chỗi dậy khỏi băng ca?
Việc ấy làm tôi tràn đầy hân hoan, như thể chính tôi đã được Chúa chữa lành.
Tôi sẽ kể cho anh chỉ hai trường hợp chữa lành, chứng tỏ tình yêu xót thương của Thiên Chúa, rồi anh sẽ nói cho tôi xem chúng có làm anh tràn đầy vui sướng không:
Tôi giảng một cuộc tĩnh tâm trong tỉnh Québec. Chiều đầu tiên, đang buổi cầu nguyện chữa lành, tôi nhận được lời thông tri của Chúa báo rằng Ngài đang chữa lành một người điếc tai trái.
Tôi mới hỏi cử tọa: người ấy là ai, và một viên cảnh sát đứng lên, cảm động nói: “Chính tôi. Tôi không nghe gì bên tai trái, và bây giờ tôi nghe rõ hoàn toàn”.
Chiều thứ nhì, cũng một lời cầu nguyện chữa lành nữa. Lời thông tri cho tôi biết có một người đã gặp tai nạn và bị đau cột sống dữ dội, bây giờ được chữa lành.
Tôi hỏi thính giả xem ai là người đang cảm thấy một sức nóng như đốt trong lưng: “Bạn ấy hãy đứng dậy và bạn sẽ nhận thấy rằng đau đớn đã biến tan”. Thế là cũng viên cảnh sát hôm qua đứng lên. Nước mắt tràn mi, ông nói: “Chính tôi, tôi không còn cảm thấy chút đau đớn nào!”
Chiều thứ ba, một lời thông tri báo: “ở đây có một người đau dưới móng các ngón chân. Bạn sẽ thấy chân nóng lên, rất nóng, và Chúa chữa lành chân bạn”.
Tôi hỏi người ấy là ai, cũng viên cảnh sát đứng lên lần thứ ba và nói: “Cũng lại chính tôi”. Đó là lần thứ ba ông được chữa lành. Ông bị bệnh thống phong (goutte), nhưng tôi không biết tên bệnh ấy lại gọi là thế.
Sau chuyện ấy, dân chúng không muốn viên cảnh sát đến dự ngày thứ tư, sợ rằng ông bao thầu hết các việc chữa lành của tuần lễ. Tôi bảo họ: “Đừng! Vì về việc chữa lành thì không giống như chuyện ở đời. Quyền năng của Chúa đủ cho mỗi người. Như ở Cana, Chúa đã biến nước thành bao nhiêu lít rượu, nhiều đến nỗi người ta có thể mở một tiệc cưới nữa. ở đây, Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót đặc biệt cho một người anh em chúng ta, để chúng ta thêm lòng trông cậy vào tình thương của Người. Thiên Chúa chúng ta có sẵn mọi phúc lành cho tất cả các con cái Người”.
Mười lăm ngày sau, chúng tôi giảng một tuần tĩnh tâm ở Montréal; ở đó, viên cảnh sát lên làm chứng về ba lần được chữa lành: hết điếc, hết đau cột sống và hết thống phong. Ông ấy vốn vẫn sống xa Chúa, nay sống một đời hoàn toàn biến đổi đến nỗi bây giờ - tôi mới gặp lại ông trong kỳ giảng ở thành phố ông ở - ông, tên là Lasarre, trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào Canh Tân trong địa phận, và cả hai vợ chồng ông đều tham gia rất tích cực.
Ba lần chữa lành đã đánh động lòng cả gia đình để biến đổi tâm hồn của họ. Đây là chứng tá tốt đẹp nhất.
Thiên Chúa không hề bủn xỉn. Nhiều khi, người ta đau một loạt đủ thứ bệnh, nhưng chỉ dám xin Chúa chữa lành một bệnh, làm như thể chữa bệnh là điều khó nhọc lắm đối với Chúa. Phải có lòng trông cậy hoàn toàn và dám xin tất cả. Thiên Chúa luôn luôn ban cho ta vượt quá lòng ta trông đợi (x. Ep 4.20).
Một chứng từ khác rất ngộ nghĩnh, cho thấy Thiên Chúa rất hóm hỉnh.(*) Câu chuyện xảy ra ở Santiago de Estero bên Ác-hen-tina năm 1984, trong một sân vận động đầy nghịt 30.000 người đến dự một cuộc rao giảng Tin Mừng 5 ngày.
Sau bài giảng, chúng tôi cử hành Thánh lễ. Một bà mẹ dẫn theo đứa con 5 tuổi, bị bại liệt đã 2 năm. Lúc rước lễ, vì biết con mình không thể nhúc nhích, nên bà đã để con ngồi ở ghế và đi lên rước lễ. Vì đông quá, nên bà phải mất một thời gian khá lâu mới trở về chỗ được. Đến cuối lễ, bà lên máy phóng thanh khóc lóc, xin ai đã bắt cóc con mình bị liệt ngồi trên ghế đem đi, xin trả lại cho bà. Có người nào đó nhận ra thằng bé “tưởng đã mất” đang ngồi chơi với mấy đứa nhỏ khác ở phía sau, và báo cho bà. Chúa đã chữa lành nó trong lúc cầu nguyện chữa lành, và nó đã tụt khỏi ghế rồi chạy đi chơi với bạn.
15. Và cha cảm thấy thế nào khi dân chúng không ai được lành?
Cái đó làm tôi đầy thương cảm, nhưng tôi không thấy rằng họ đã mất mát một cái gì cả. Tôi xin nhấn mạnh: Chúa Yêsu không bao giờ nói rằng tất cả mọi bệnh nhân đều sẽ được khỏi, nhưng nói rằng Ngài sẽ cho chúng ta những dấu chỉ để rao truyền Tin Mừng (cho người ta dễ tin hơn). Các việc chữa lành là những dấu lạ đi kèm theo việc loan báo Tin Mừng, nên không cần thiết tất cả mọi người đều được khỏi thì người ta mới tin vào Lời Thiên Chúa.
Có ký giả kia một hôm nói với tôi: “Tôi nghĩ là nên đình chỉ các cuộc hội họp như thế này, bởi vì có nhiều người đến với hi vọng được chữa lành, lúc ra về vẫn mang bệnh. Bị thất vọng là điều còn tồi tệ hơn là không bao giờ hi vọng”. Tôi đáp: “Thế thì cũng phải đóng cửa các bệnh viện, bởi vì rất nhiều người vào đó rồi ra giữa 6 tấm ván đến nghĩa địa”.
Chúng tôi không nhìn vấn đề như thế. Tôi tin rằng: tất cả mọi bệnh nhân đến với các cuộc hội họp, nếu họ không được lành phần xác, vẫn lãnh được những ơn khác. Sự phục hồi hay chấn hưng đức tin, đối với nhiều người, là một sự chữa lành còn quan trọng hơn. Cho dù bệnh nhân không được lành, họ cũng lãnh được một chúc lành của Chúa. Phóng sự sau đây, đề tựa là “Sống lại”, đã được viết rất linh động do cây bút của José M. Troche, ký giả nhật báo “El Diario” của tỉnh Assomption ở Paraguay, ngày 22/4/1988:
“Anh ngồi đó, ủ rũ như một đóa hoa vào độ thu tàn. Buồn! Đợi chết! Năm tháng cứ trôi qua, mà cái chết anh chờ đợi như một sự giải phóng các đau khổ, sao mãi không đến. Anh cảm thấy bị giam hãm, song đâu có lưới nào bủa giăng để cản trở anh vượt ngục! Thế mà anh đâu có thể làm được, dù anh có muốn đi nữa. Không có nhà tù nào buồn cho bằng nhà tù của chiếc xe lăn, ngày ngày chuyên chở một hình hài bất lực, bi đát...
Anh không chịu đựng nổi nữa! Bốn mươi tuổi đời, thế mà bị cột chặt vào chiếc ghế và lệ thuộc vào gia đình. Họ dẫn anh tới nơi mà anh không muốn: họ đưa anh ra phố đang lúc anh muốn ở nhà, họ bắt anh đi ngủ đang lúc anh muốn dạo chơi. Chẳng ai dành giờ cho anh. Thử nghĩ xem: suốt 20 năm, anh đã làm việc như một tên khổ sai, nhặt nhạnh từng xu, cho đến khi mở được một cửa hàng buôn bán, nhờ đó họ có thể sống không còn phải lo lắng gì. Vậy mà bây giờ anh không thể điều hành cửa hàng ấy.
Mỗi ngày - kể từ buổi chiều Chúa nhật đó cách đây 5 năm - anh thức giấc cũng với một nỗi khắc khoải như lần ấy: Anh loay hoay trong đầu xem có thể làm gì để chỗi dậy, nhưng đôi chân anh không tuân theo lệnh anh nữa. Anh bíu lấy những cái móc mà người ta gắn ở đầu giường, lúc ấy anh mới chỗi dậy được. Anh nhìn xuống chân: đôi chân to mạnh, đầy bắp thịt rắn chắc của một lực sĩ, nhưng giờ thì chúng nằm liệt như hai khúc gỗ. Tai nạn xe hơi thật dễ sợ, nhưng may mắn anh đã sống sót.
Người kia - một thiếu niên 17 tuổi - đã chết. “Tại sao tôi không chết thay cho nó?”, anh than vãn, đau khổ vì thấy mình chẳng khác nào một kẻ dở sống dở chết. Anh chán ngấy cảnh này rồi! Lần cuối cùng tôi gặp anh, thấy anh còn rã rượi hơn bao giờ. Anh muốn chết, nhưng không có can đảm tự hủy mình.
Nhưng... có một cái gì đó đã xảy ra, cách đây không lâu. Như mọi Chúa nhật, đứa con trai đầu lòng đẩy xe lăn của anh tới nhà thờ dự lễ. Tôi gặp anh hết sức tình cờ. Tôi chờ nghe bài Kinh cầu than vãn đều đều của anh, nhưng đây là một con người khác! Anh tươi cười như bao nhiêu năm chưa từng mỉm cười. Anh mặc áo sơ mi trắng, và đã bỏ chiếc áo vét xám buồn bã. Người anh tỏa ra mùi nước hoa của Pháp - dấu hiệu rõ ràng anh đã sống lại, trở về cuộc sống đời thường. “Tại sao bạn ngẩn mặt ra thế kia, hử ông bạn của tôi?”, anh nói ngay với tôi thế.
Không biết, mặt tôi lúc ấy ngẩn ra như thế nào khi nhìn anh. Chắc chắn không phải cái mặt thương cảm mọi khi, hay cái gì đó giống vậy. Đúng ra là cái mặt đờ ra, ngạc nhiên... và cặp mắt tôi chằm chằm nhìn anh, chắc thế, như muốn hỏi cái gì đã xảy ra?
Anh vẫn cười. Một phép lạ, tôi nghĩ bụng. “Phải, một phép lạ, anh bạn thân mến của tôi ơi!” - anh nói như thể đã đọc thấy câu hỏi trong trí tôi, và anh kể cho tôi tất cả câu chuyện. Thực tình, anh nghĩ mình đã chết, vì tâm hồn anh đã chết. Không hi vọng, không chấp nhận tình trạng tàn tật của mình, quên hẳn rằng thân xác còn có những cơ quan khác quan trọng hơn hai chân.
Anh nói: “Phép lạ xảy ra vào một tối kia. Con cái đã dẫn tôi đến sân vận động, thương hại cho tôi, chúng nghĩ rằng tôi muốn đến xem đá banh như trước kia. Nhưng anh biết là không phải. Bên ngoài anh thấy tôi vẫn hình như chẳng khác trước. Nhưng tất cả đã biến đổi, từ cái đêm ấy”.
Từ đêm ấy, anh cảm thấy anh là một người có ích, mạnh mẽ, dù anh vẫn không đi được bước nào, và đầy sức sống. Từ đêm ấy, anh đã sống lại. Đêm ấy, anh hiểu anh không cô đơn và bệnh liệt bại đôi chân không là gì so với bệnh ung thư của hồn anh. Đêm ấy, anh lành bệnh, bệnh tâm hồn, bệnh bi quan, và anh chẳng thấy cần khỏi đôi chân nữa”.
17. Cái lời thông tri nhờ đó Cha biết Thiên Chúa đang làm gì, cái đó vận dụng ra sao?
Tôi không thấy hay cảm thấy gì cả. Nhưng tôi chắc chắn trong lòng rằng một người nào đó đang được lành bệnh gì. Sự chắc chắn ấy được xác nhận, khi tôi khẳng quyết rằng người bệnh thực sự đã được chữa lành.
Đấy là một sự thúc giục bên trong, một thúc đẩy của Thần Khí. Nó cũng giống như đối với Thánh Phêrô được thúc đẩy nhảy xuống biển để đi trên sóng nước.
Một hôm, Chúa có nói cho một nữ tu thuộc dòng chiêm niệm kia rằng: “Mỗi lần con nói một điều trí tri, con phải làm một hành vi tin như khi nhìn nhận Ta đang hiện diện trong Bánh Thánh Thể”. Cái đó cũng giống như khi người ta đi vào một con đường mù sương: bắt đầu, người chỉ thấy cái gì trước mặt, nhưng càng đi, người ta càng thấy xa hơn.
Chẳng hạn, tôi chắc chắn có một người đang được chữa lành tai. Càng lúc tôi càng nói, thì tôi thấy ra đó là một phụ nữ, đang cảm thấy một sức nóng và tôi còn nhận thấy cả tuổi họ... Nếu tôi không chắc rằng cái đó từ Chúa mà đến, tôi sẽ không bao giờ dám nói tuổi của một phụ nữ...
Đây là một chứng từ rất hay mà nữ tu Regina Catteeuw thuật lại, trong thư đề ngày 10/10/1988:
“Kính gửi Cha Tardif,
Thật là một nỗi vui mừng và biết ơn lớn lao khi được viết cho Cha để báo một tin vui: Lucas đã chào đời. Đó là đứa con đầu lòng của anh con và chị dâu Maria Rosa, kết bạn từ ngày 22/8/1975.
Hôm 14/11, ở Gand, Cha có nói một lời thông tri áp cuối như sau: “ở đây, có một cặp vợ chồng kết hôn đã 12 năm mà không có con. Sang năm, họ sẽ ẵm bồng một em bé trong tay”.
Ngày 22/8, đúng ngày kỷ niệm 13 năm hôn phối của họ, một bé trai tóc đen chào đời, cân nặng 3,650kg. Khi anh con ẵm đứa bé trong tay, anh đã thốt lên với giọng âu yếm:
“Con đã được ấp ủ lâu năm trong lòng mong đợi và ước mơ của chúng ta. Mỗi năm, mùa xuân rồi mùa đông về, nhưng con, con không đến với ba má. Nhưng nếu con chưa đến sớm hơn, đó là bí mật giữa Thiên Chúa và con”.
Lòng tin của cả gia đình đã tăng trưởng. Chị dâu Maria Rosa, anh Luca con và thằng bé Lucas chào Cha thắm thiết.
Ký tên: Nữ tu Regina Catteeuw”.
Việc thực hành các đặc sủng là một con đường tăng trưởng trong lòng tin: Mỗi lần tôi nói một lời thông tri, là tôi gieo mình xuống nước, bụng đinh ninh rằng Chúa sẽ không để tôi hụt chân. Nó cũng là con đường của lòng mến vì nó phục vụ cộng đồng. Mọi đặc sủng đều để phục vụ ích chung, và vì lý do ấy, chúng là những biểu lộ của một đặc sủng lớn nhất: lòng mến.
Lời trí tri là một hành vi tin, cả về phía người nói lẫn phía người bệnh đang nghe. Và Thiên Chúa, Đấng ban đức tin, sẽ đáp ứng lòng tin ấy.
18. Cha làm các phép lạ ư?
Một hôm, một ký giả người Côlombi đặt cho tôi một câu hỏi tương tự. Tôi đáp: “Không, hoàn toàn không phải thế! Đơn giản là thế này: tôi cầu nguyện và Chúa Yêsu chữa lành”. Hôm sau, ông ấy đăng một bài trên nhật báo với tít đề: “Ông Cha Tardif cầu nguyện và Đức Yêsu chữa lành”. Khi tôi đọc báo, tôi thốt lên: “Cuối cùng, đã có một ký giả hiểu đúng chuyện!”
Ơn chữa lành là để cho người khác, không cho mình. Có đôi khi tôi ngã bệnh, nếu ơn chữa bệnh ấy là để cho tôi, tôi sẽ đặt hai tay lên đầu tôi rồi cầu nguyện và tôi sẽ khỏi. Nhưng công chuyện lại không phải như vậy.
Trong một cuộc tĩnh tâm cuối tuần cho 2.000 người Tây Ban Nha ở Tucson miền Arizona, Chúa chữa nhiều bệnh nhân, kể cả những người bệnh rất nặng, phần nhiều là bệnh sưng khớp và liệt bại. Hai giờ chiều ngày Chúa nhật, tôi lên cơn sốt nặng. Tôi bị cảm lạnh và rất khó nhọc mới giảng được bài cuối cùng. Sau cuộc tĩnh tâm, tôi phải nằm đau mất một ngày rưỡi. Tôi tự nhủ: “Nếu ơn chữa lành là dành cho tôi, thì tôi sẽ tự đặt tay cho mình và chữa mình ngay một cái là có thể đứng dậy khỏi giường bệnh”. Nhưng Chúa đã cho tôi thấy một lần nữa là không phải tôi chữa nhưng chính Ngài.
19. Xin Cha thuật lại một việc chữa lành đã làm Cha chú ý bởi một nét gì đặc biệt.
Tôi sẽ kể cho bạn nghe nhiều việc chữa lành cho thấy tính hài hước của Thiên Chúa.
Năm 1984, tôi giảng một kỳ tĩnh tâm trong thành phố Monterrey. Trong buổi Thánh Lễ, rất khó trao Mình Thánh Chúa, vì tất cả mọi lối đi đều tắc nghẽn những người là người. Với sự trợ lực của vài nhân viên trật tự, tôi đi về phía cuối. Khi tôi đi qua giữa đám đông, có nhiều người muốn sờ đụng đến tôi, người khác đánh bạo xin tôi cầu nguyện cho họ. Tôi nghĩ: “Nếu đích thân Chúa Yêsu có thể chữa lành họ, tôi không hiểu tại sao họ lại tìm kiếm ông Cha Tardif làm gì?”. Giữa đoàn lũ đông đảo ấy, tôi thấy một phụ nữ đang khóc lóc. Bà bế một đứa con trai nhỏ. Đứa bé nhìn tôi một cách trìu mến. Tôi chợt nhớ đến người bất toại ở đảo Bethesda (Yn 5.) không thể lê mình xuống ao nước phép lạ, vì không có ai giúp ông.
Tôi tiến đến gần em bé và hôn nó. Nó mỉm cười. Tôi tiếp tục việc trao Mình Thánh Chúa. Bình thường, tôi không hôn ai đang lúc trao Mình Thánh Chúa, nhưng vào lúc ấy, tôi lại cảm thấy muốn làm điều đó và tôi đã làm...
Hôm sau, bà mẹ lên máy phóng thanh trước đám đông mà nói: “Hôm qua, lúc cho chịu lễ, Cha Emilianô đi qua chỗ chúng tôi đứng. Bất thần, Cha quay lại và hôn đứa con trai nhỏ tôi một cái. Nó lên hai tuổi và hoàn toàn điếc đặc. Tôi muốn dâng lời cảm tạ, vì từ hôm qua, con tôi đã nghe được. Thiên Chúa đã chữa lành nó. Vinh danh cho Người!”
Từ khi ấy, chuyện đó gây thêm rắc rối cho đời tôi. Ai ai cũng muốn tôi hôn họ. Nhưng tôi nói: “Không được, hôn chỉ dành cho các em nhỏ. Còn các bà thì chỉ có chồng mới hôn được thôi!”
Tuy vậy, điều dạy dỗ đã mang lại kết quả: tôi không chữa lành ai cả. Nụ hôn tuy là một dấu yêu thương, cũng không thể chữa dù chỉ là bệnh nhức đầu. Câu chuyện xảy ra là thế này: tôi mang Mình Thánh Chúa trong tay, và chính Chúa Yêsu đã chữa lành đứa nhỏ điếc. Tôi chỉ là con lừa mang Chúa Yêsu trên lưng, và vì vậy Ngài tiếp tục chữa các bệnh nhân. Thật tồi tệ nếu người ta dán mắt nhìn vào con lừa, mà không vào Đấng nó mang trên lưng.
Ngày nào chúng ta nhận thức được mình chỉ là kẻ mang Đức Yêsu Kitô, ngày ấy, tác vụ của chúng ta sẽ biến đổi: chúng ta sẽ không nói nhiều quá về Chúa Yêsu, tôi sẽ để Ngài hành động bằng tất cả quyền năng của Ngài.
Cách thức Đức Yêsu chữa lành thì rất “kỳ lạ”, đến nỗi chúng tôi không thể bỏ qua không thuật điều đã xảy ra ở Montê Maria, nơi tụ họp đến hơn 50.000 người để cử hành Thánh Lễ mỗi Chúa nhật. Trong dịp ấy, Cha Gilberto Gomez cầu nguyện cho các bệnh nhân.
Có lần kia, cũng trong buổi hành lễ ấy, cán cờ tòa thánh Vaticăng rơi xuống nhằm trúng một người vốn đã sẵn bị bệnh còng lưng, và đánh người ấy ngã xuống. Thật tội nghiệp! Ai cũng buồn vì thấy cái cán cờ vừa to vừa nặng như thế lại rơi trúng ngay người đang bị bệnh.
Trước sự kinh ngạc của mọi người, người bệnh ấy tự đứng thẳng dậy. Cán cờ đã chữa thẳng lưng ông. Đến hôm nay, ông ấy vẫn đi đứng thẳng người như vậy.
Đường lối Thiên Chúa quả thực khôn dò, gây nhiều bất ngờ. Lúc thì Thiên Chúa chữa ta bằng nụ hôn, lúc khác bằng “cú cán cờ”.
Một việc chữa bệnh khác “rất kỳ cục”, bắt đầu làm tôi bối rối, nhưng sau làm tôi phá lên cười. Việc ấy xảy ra ở Pérou, năm 1985.
Trong lúc cầu nguyện cho bệnh nhân, lời trí tri hầu hết tôi nhận được và thông báo ra là thế này: “Giờ đây, Chúa chữa một người bất toại”. Rồi tôi nói thêm bằng một giọng mạnh mẽ: “Nhân danh Chúa Yêsu, con hãy đứng dậy!”. Không ai trong số những bệnh nhân ngồi xe lăn dám liều một bước trong đức tin... Rồi tôi nói rõ hơn: “Chúa chữa một người bất toại trong lúc này. Cái dấu để người đó nhận biết đó là mình, và để cho người ấy biết là chính Chúa chữa lành mình, đó là bạn nhận thấy một sức nóng nơi đôi chân và run rẩy cả mình. Anh em nào cảm thấy sức nóng ấy, hãy đứng lên, nhân danh Chúa”... Vẫn không ai nhúc nhích!
Một sự im lặng căng thẳng bao trùm tất cả hội trường. Một lần nữa, tôi nhấn lại, bằng lời nói chậm và rõ ràng: “Người bất toại nào được Chúa chữa, hãy đứng dậy!”. Chẳng ai đứng dậy cả: Trước con mắt hoài nghi của những kẻ ngờ vực, xem ra lần này chẳng có gì xảy ra cả.
Lúc ấy, tôi nói: “Thôi được, sau này bạn ấy sẽ lên làm chứng”, và tôi tiếp tục thông báo những lời trí tri khác. Nhưng câu nói vừa rồi của tôi, trước mắt lắm kẻ, xem như một câu chữa thẹn. Dù các lời trí tri sau đều được các chứng tá lên xác nhận là xảy ra đúng, nhưng lời đầu tiên kia vẫn còn như chặn họng tôi.
Để chấm dứt buổi cầu nguyện, tôi loan báo: “Chúa đang mở tai cho một người điếc”. Vào lúc ấy, một người điếc đang ngồi xe lăn, đứng thẳng dậy và kêu to: “Cha ơi, tôi nghe được! Tôi nghe được rồi! Trước đây, tôi không nghe được gì cả!” Lúc ấy, tôi công bố: “À thì ra, anh bạn là người bất toại mà Chúa đã chữa lành lúc nãy. Nhưng vì bạn lại cũng bị điếc nữa, nên bạn đã không nghe thấy lời bảo đã được Chúa chữa lành bệnh bất toại: nhân danh Chúa, hãy đứng dậy mà đi!...”
Và người ấy bắt đầu bước đi giữa tiếng vỗ tay, vui cười và hân hoan của đoàn dân...
Sau cùng, tôi nói với họ: “Mỗi ngày, người ta lại học được thêm một chuyện gì nữa. Từ nay trở đi, tôi sẽ xin Chúa khởi đầu chữa cho người điếc trước, để tránh cho chúng ta những hoàn cảnh bối rối mà Ngài đặt chúng ta vào...”
20. Xin hỏi Cha, kết quả vào đã gây nơi Cha khi đã gần gũi quyền năng Thiên Chúa như vậy? Chẳng phải dễ mà làm quen với việc Chúa tự tỏ mình ra hằng ngày như vậy?
Cũng xảy ra một nguy hiểm y hệt cho ai cử hành Thánh Lễ hằng ngày. Cũng như chúng ta có nguy cơ lãnh đạm, lạnh nhạt lúc cử hành Thánh Thể như thế nào, thì chúng ta cũng có thể lờn quen với tác vụ này như thế. Lòng tin cứ phải đổi mới mỗi ngày.
May thay, các chứng tá có đó để gây hưng phấn cho chúng tôi. Nếu chúng tôi không được thấy xác nhận những việc Chúa làm, tôi chắc rằng chúng tôi đã bỏ cuộc từ lâu rồi. Đôi khi có thể chán nản, nhưng những chứng tá đến tăng sức cho chúng tôi để tiến bước. Chính nhờ thấy niềm vui của những người được khỏi bệnh, mà tôi tìm lại được can đảm mà cầu nguyện cho bệnh nhân.
21. Phải chăng các việc chữa lành làm người ta quên mất giá trị của sự đau khổ?
Tôi trả lời cho bạn bằng một việc xảy ra đời thường:
Một hôm, phi cơ của tôi có sự chậm trễ và tôi đến chậm trong việc giảng tĩnh tâm. Đức Giám Mục tiếp đón tôi với vẻ sốt ruột, vì Ngài sắp phải đi có việc, và đã phải chờ đợi tôi để ra một vài chỉ thị cho tôi.
Thoạt tôi vừa có mặt, Ngài hầu như không kịp chào tôi, và Ngài nói cách nghiêm nghị: “Thưa Cha, sự đau khổ và bệnh tật cũng có phần trong chương trình Thiên Chúa, chúng ta không được đánh mất giá trị của đau khổ do bệnh tật gây nên. Tôi xin Cha vui lòng đừng tổ chức việc chữa lành trong buổi Thánh Lễ”. Rồi, nhìn đồng hồ, Ngài nói thêm: “Xin lỗi Cha vì tôi không ở lại dự bài giảng của Cha, ông nha sĩ đang đợi tôi từ nửa giờ rồi...”
Tôi chỉ đơn giản đáp lời rằng: “Thưa Đức Cha, thế thì bệnh đau răng của Đức Cha lại chẳng phải là một đau khổ có giá trị trước Thiên Chúa ư? Vậy tại sao Đức Cha nhờ ông ấy chữa mà không nhờ Chúa Yêsu?”
Cuối cùng, cho tôi hỏi một câu: Thế giới có thiếu đau khổ không? Trong thế giới quá nhiều đau khổ này, chúng ta có cần phải thêm thập giá hay quyền lực của thập giá, để đem lại cho chúng ta tất cả hoa trái của công việc Cứu chuộc không? Chúng ta không được quên lời tiên tri nói về Chúa Yêsu: “Chính các bệnh tật của chúng tôi, Ngài đã mang; các đau khổ của chúng ta, Ngài đã vác... Và nhờ những vết hằn Ngài chịu, mà chúng tôi có phương được lành” (Ys 53.4-5).
Trong một đại hội ở Lộ Đức, xảy ra rất nhiều việc chữa lành khiến một linh mục đến bên tôi thì thầm: “Tôi xem thấy hình như có quá nhiều phép lạ chữa lành”. Tôi khoát tay, trỏ cho ông ấy cả một hàng dài những người lên nói lời chứng vì đã khỏi bệnh và hỏi: “Ai trong số những người này, Cha muốn loại ra?”
22. Có phải Cha đã chứng kiến những việc lạ lùng đủ mọi loại?
Tôi nghĩ rằng chúng tôi chưa thấy gì cả. Chúa dành cho chúng tôi những sự ngạc nhiên mỗi ngày mỗi lạ lùng hơn.
Cuộc Hiện Xuống mới chỉ bắt đầu. Chúng ta sẽ còn được thấy những việc vĩ đại hơn. Một thời kỳ vinh hiển đã đến, như chưa từng thấy từ xưa đến nay. Thế giới cần đến Chúa Yêsu hơn bao giờ hết, và Ngài sẽ tỏ mình ra với tất cả quyền năng của Thánh Thần Ngài.
Trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma ngày 19/5/1975, ông Ralph Martin (một người lãnh đạo nổi tiếng của phong trào Canh Tân Đặc Sủng - lời dịch giả) có nói ra một lời tiên tri:
“Đã đến một thời kỳ rao giảng Tin Mừng như chưa từng thấy trong Giáo Hội chúng ta”.
Tiên tri Yoel đã loan báo những điềm thiêng trên trời và dấu lạ dưới đất (Yô 3.1-5; Cv 2.16-21), và chúng tôi được thấy:
- Tháng 3/1987, hồi 5 giờ chiều, tôi đang giảng ở Coatzacoalcos, bỗng mặt trời bị che mờ bởi một đám mây đang di chuyển. Bởi thế, nó có ấn tượng là mặt trời múa. Chúng tôi lúc ấy cả thảy là 15.000 người được thấy. Thiên Chúa thật lớn lao!
- Lễ Chúa Kitô-Vua năm 1984 ở Montê Maria bên Mêxicô, nhiều đám mây họp thành hình thập giá vĩ đại trên nền trời. Và ngay sau đó tiếp đến hai hình thập giá khác ở hai bên.
- Tại Zaire, tôi giảng bằng tiếng Pháp, một người đàn bà chỉ biết tiếng bản địa Lingala lại hiểu hết bài giảng ấy.
Thiên Chúa muốn cho chúng ta những dấu lạ chứng tỏ Ngài đang sống và có quyền phép cứu thế giới. Chúng ta sẽ còn thấy những điều lớn lao hơn nữa.
23. Và nếu một ngày kia không còn xảy ra các việc chữa lành nữa thì sẽ ra sao?
Nếu không còn một việc chữa lành nào nữa, thì tôi sẽ rất băn khoăn, và tôi tự hỏi cái gì trục trặc trong tôi, bởi vì Chúa không thể ngưng thực hiện các lời hứa của Ngài (x. trong các Tin Mừng). Mà Ngài đã hứa rằng: dấu lạ và kỳ công sẽ kèm theo lời rao giảng (x. Mc 16.15-20).
24. Có phải Cha cũng đã chịu bắt bớ và từ rẫy?
Phải, tôi đã bị chỉ trích, nhiều khi cách cay chua, ngay cả bởi các linh mục. Những khi khác, tôi bị chế riễu..., nhưng những cái đó là thành phần của tác vụ của tôi. Còn có những Giám Mục không cho phép làm tác vụ chữa lành. Các Ngài cho rằng đó là chuyện cuồng tín.
Nhưng, cái đó lại nằm ở trung tâm Tin Mừng, như là dấu chỉ kèm theo việc rao giảng Tin Mừng. Những chỉ trích không làm cá nhân tôi đau đớn. Cái làm tôi đau, là nhìn thấy con tim người ta khép kín trước tình yêu hay thương xót của Chúa Yêsu, muốn tỏ mình qua những dấu lạ và kỳ công.
26. Khi người ta được chữa lành, điều gì sẽ xảy ra cho họ sau đó?
Người được chữa lành cần được tiếp tục theo dõi trong tiến trình rao giảng Tin Mừng cho họ. Thật ta sai lầm biết bao, khi không còn săn sóc đến họ sau lúc họ được chữa lành!
Chính việc chữa lành không ban cho họ đức tin, nhưng nó chuẩn bị cho họ một cách tuyệt diệu để đón nhận Lời Chúa, cái này làm nảy sinh đức tin. Nếu chúng ta không lợi dụng thời gian tối hảo đó để trình bày Chúa Yêsu cho người được chữa lành, chúng ta đã mất cơ hội tuyệt hảo nhất để rao giảng Tin Mừng cho họ.
Có nhiều người đã sống kinh nghiệm một việc lành bệnh tốt đẹp, nhưng sau đó không ai đi kèm họ cả. Họ đã lãnh hạt giống với một niềm vui và hạnh phúc lớn lao. Nhưng nếu hạt giống ấy không được tưới và bón, nó sẽ hư hỏng vì thiếu săn sóc. Việc chữa lành không thay thế việc rao giảng Tin Mừng, nhưng đi kèm theo nó.
Tháng 10/1988, tôi đã đi giảng ở 5 nước thuộc Châu Phi với Cha Jo Heglin, M.S.C. Một trong mấy nước đó là Burkina Faso. Có hơn 400 người lãnh đạo cuộc Canh Tân họp tại đó trong suốt một tuần lễ... Nhưng mỗi chiều của cuộc Tĩnh Tâm, chúng tôi tất cả đi đến trước nhà thờ chánh tòa để dự Thánh Lễ lúc 18 giờ, cũng có nhiều người Hồi giáo đến dự. Những người này tin có Thiên Chúa (Allah), nhưng coi Đức Yêsu Kitô chỉ như một tiên tri mà thôi. Một việc chữa lành đánh động tôi nhiều đó là trường hợp một phụ nữ Hồi giáo, 45 tuổi, bị liệt nửa mình bên phải. Một bà bạn đã mời bà đến dự Thánh Lễ cầu cho bệnh nhân: “Chiều nay, nhiều người bệnh sẽ được lành. Mời bà đi với chúng tôi!”. Bà ấy đến dự Thánh Lễ của bệnh nhân và trong giờ cầu nguyện, Chúa đã chữa bà lành.
Hôm lễ bế mạc, bà lên làm chứng trước hàng bao ngàn người: “Các bạn hãy mở lòng cho Chúa Yêsu, Ngài đang sống. Tôi xin làm chứng: Tôi bị bệnh liệt nửa mình bên phải. Tôi đã nằm nhiều bệnh viện mà người ta không chữa nổi, nhưng có bà bạn rủ tôi đến dự lễ cầu cho bệnh nhân chiều thứ ba vừa rồi. Tôi theo Hồi giáo, dầu vậy tôi đã đến, và Chúa Yêsu đã cứu chữa tôi. Tôi tên là Zenabo, nhưng từ hôm nay, tôi muốn trở thành Kitô hữu và đặt tên là Catarina”.
Chúa Thánh Thần, trong vài phút, đã thuyết phục bà tin rằng: Chúa Yêsu là Đấng Thiên Sai cứu thế,(*) và không có Danh nào khác được ban xuống cho loài người để nhờ đó mà ta được cứu thoát.
Những gì xảy đến sau việc lành bệnh luôn luôn rất tuyệt diệu. Cách chung, sự chữa lành là như một vụ nổ, nó phát sinh một phản ứng dây chuyền để biến đổi không những người được lành, mà còn cả những người ở chung quanh họ. Đây là bằng chứng được ghi nhận trong chứng tá sau đây:
“Guadalajara, Jal. 11/10/1984.
Tôi tên là Maria Guadalupe Lopez de Preciado. Chồng tôi, Armando Preciado, là phóng viên nhật báo “El Occidental”. Chúng tôi lấy nhau đã 13 năm, có hai mặt con, một trai và một gái. Qua chứng từ này, chúng tôi muốn ngợi khen, chúc tụng và tôn vinh Chúa, vì Ngài đã làm những việc lạ lùng trong đời chúng tôi, mặc dù chúng tôi đã hầu như quên Ngài.
Ngày 3/7/1984, chúng tôi phải đưa đứa con gái Claudia đi điều trị tại dưỡng đường 14 của Cục An Ninh xã hội, để giải phẫu cái mà người ta nghĩ là bệnh sa ruột (hernie). Hôm sau, chúng tôi đến nhà thương sớm để thăm con xem bệnh tình ra sao. Chúng tôi ngạc nhiên vì thấy bảng trên đầu giường nó, có ghi lời bác sĩ bảo phải rọi quang tuyến để khám nghiệm; cái đó hơi lạ, nhất là bệnh nhân lại vừa mới bị mổ. Bác sĩ, rất bi quan, nói với chúng tôi rằng: ông thấy hình như cháu Claudia có ung thư. Họ đã làm cho cháu một cuộc xét nghiệm sinh thiết (biopsie), và chờ tuần sau sẽ có kết quả. Nếu kết quả cuộc xét nghiệm là xác thực, phải tái giải phẫu ngay lập tức.
Ngày 11, buổi trưa, chúng tôi chờ đợi kết quả trong niềm lo lắng, xót xa. Bác sĩ Barragan xác nhận với chúng tôi là cháu quả bị một ung thư, nhưng không thể mổ được. Kết quả cuộc xét nghiệm cho thấy một u nguyên bào thần kinh bụng (neurro-blastome abdominal) giai đoạn III (không thể mổ được): đó là hai ung sang lấn chiếm hết vùng bụng. Chỉ có phép lạ mới cứu con chúng tôi được. Chúng tôi cùng nhau đến nhóm cầu nguyện để xin Chúa chữa. Sau đó, cháu được chuyển sang khu chuyên về khối u (oncologie) của một bệnh viện khác, dưới quyền bác sĩ Juan Arroyo, ông này cũng xác nhận tình trạng trầm trọng của cơn bệnh. Chúng tôi tiếp tục cầu nguyện, Chúa cho chúng tôi được phúc dự Thánh Lễ do Cha Tardif dâng ở Giảng Đường ngày 28/6, lúc 17 giờ. Mặc dù bao khó khăn, chúng tôi cũng đã có thể lọt vào được.
Thật là một đại lễ! ở đó, Chúa chữa nhiều anh chị em được khỏi bệnh phần xác hay phần hồn. Cha rao lên những ai được khỏi bệnh, và chúng tôi thất vọng, vì chẳng thấy đá động gì đến trường hợp của con chúng tôi cả. Cuối lễ, tôi nói với Cha: “Cha ôi, con gái con bị bệnh ung thư hầu như hết thuốc chữa. Nếu nó chết, con cũng muốn chết theo. Nó là con gái độc nhất của con”. Với một giọng ôn tồn và ấm lòng, Cha nói với tôi: “Bà đừng khóc nữa. Nhân danh Chúa, con bà sẽ được khỏi”. Nói xong Cha đặt tay trên đầu cháu Claudia và cầu nguyện 5 giây. Từ đó đến nay đã là 3 tháng. Các cuộc điều trị bằng hóa học trị liệu đều đã xong, mà không thấy nơi cháu có phản ứng gì là còn bị bệnh. Chúng tôi xin đưa cho các bạn xem hồ sơ bệnh lý của cháu. Trong đó có một tờ đề ngày 12/11, viết rõ ràng: “Các ung độc đã biến tan. Bệnh nhân có thể về nhà”.
Sau phép lạ kỳ diệu ấy của Chúa, đời sống chúng tôi biến đổi. Sự hiệp nhất trong gia đình càng thêm chặt chẽ. Nhiều bạn hữu chúng tôi gia nhập các nhóm cầu nguyện. Phần chúng tôi, chúng tôi tham dự phần học hỏi về “cuộc sống trong Thần Khí”.
Chính để ngợi khen và vinh hiển cho Chúa mà chúng tôi nói lời chứng này. Nó là bằng chứng tỏ tường của sự hiện diện Chúa Kitô - Đấng đang sống, Đấng yêu thương chúng ta, và nhìn đến chúng ta với đôi mắt đầy cảm thông và thương xót”.
27. Cha có sử dụng một phương pháp nào hay một đường lối nào không?
Phương pháp nào ư? Không! Tôi luôn luôn rao giảng về Đức Yêsu trước tiên, và khuyến khích lòng tin. Rồi tôi cầu nguyện xin Chúa chữa họ khỏi tội lỗi bởi việc ăn năn trở lại. Và cuối cùng, tôi cầu nguyện xin chữa bệnh phần xác.
Không một kỳ tĩnh tâm nào mà tôi không chứng kiến những việc chữa lành thấy được sờ sờ. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả bệnh nhân đều phải lành. Các phép lạ là những dấu chỉ của quyền năng Thiên Chúa, chúng cho thấy Chúa Yêsu đang sống, và chúng giúp vào việc tăng cường đức tin chúng ta. Vì Thiên Chúa không chỉ muốn ta được khỏi bệnh, nhưng toàn diện được chữa lành: hồn và xác, và ngay cả mối quan hệ của ta với tha nhân.(*)
28. Cha sẽ có lời khuyên gì cho những người cũng làm tác vụ chữa lành này?
Tôi có lời nhắn nhủ này: Đừng cầu nguyện chữa lành mà không rao giảng Tin Mừng! Ta không nên bắt đầu cầu nguyện chữa lành phần xác ngay, mà không lo lắng đến đời sống thiêng liêng của bệnh nhân. Nếu người ta cảm thấy đã sống xa Thiên Chúa lắm, chúng ta phải giúp họ ăn năn hối cải.
Trường hợp kể trong Tin Mừng về người bất toại được Đức Yêsu tha tội trước đã, rồi mới được chữa lành thể xác (x. Macco 2.1-12) là mẫu điển hình để thực hành tác vụ này.
Nếu ta chỉ cầu cho khỏi bệnh phần xác mà thôi, và không lo lắng gì để người tật bệnh được ăn năn hoán cải, thì chúng ta đã làm công việc của viên thú y: ông này chỉ lo chữa thể xác mà thôi!
Phải lo lắng cho họ được ơn tha tội và được chũa lành bên trong. Nếu tác vụ chữa lành này chỉ giản lược vào chuyện chữa thể xác, không màng lo đến sự sống đức tin, thì chẳng bỏ công được đặc sủng này làm chi!
29. Người ta đồn rằng Cha quen biết những nhân vật quan trọng trong mọi địa hạt: Vua, Tổng Thống và ngay cả các Hồng Y cũng xin Cha cầu nguyện cho, và mời Cha dâng Thánh Lễ riêng cho họ. Vậy nhân vật quan trọng nhất nào mà Cha đã quen biết?
Đối với tôi, nhân vật quan trọng nhất là Chúa Yêsu. Còn chúng ta, ai cũng đều quan trọng cả, vì chúng ta là con cái Thiên Chúa. Chẳng có danh tước nào quan trọng trên đời này cho bằng tước vị con cái Thiên Chúa.
Mỗi người đều giá trị như thế cả, bởi vì Chúa Yêsu đã hi sinh mạng sống vì họ (x. Rm 8.11-12; 1Phêrô 1.18-19). Chúng ta đã được chuộc bằng giá máu châu báu của Chúa Yêsu Kitô.
Bất cứ ai tôi gặp đều quan trọng, nhưng người quan trọng nhất là Đức Yêsu, Chúa trên hết các Chúa.
- Đã đành là thế, những người mà chúng tôi muốn nói đây là người đang sống hiện nay…
Đức Yêsu đang sống! Từ khi Ngài sống lại ngày thứ ba khỏi mồ, Ngài đang sống và không bao giờ chết nữa. Không chỉ từng ấy: Ngài có sự sống ban cho tất cả những ai tin vào danh Ngài.
Bạn cũng có thể gặp Ngài như bất cứ ai khác. Ngài ở đó, và Ngài gõ cửa lòng bạn. Nếu bạn nghe tiếng Ngài và mở cửa cho Ngài, Ngài sẽ vào và mời bạn dự bàn tiệc của Vương quốc...
30. Sứ điệp của Cha là gì?
Tôi chỉ rao giảng Chúa Yêsu là Đấng duy nhất được trời sai, và chúng ta không phải chờ đợi người nào khác. Cốt yếu trong lời giảng của tôi là bày tỏ ra Đức Yêsu đang sống ngày hôm nay, trong Giáo Hội của Ngài.
Tôi tin rằng càng ngày tôi càng không cần nói nhiều nữa, vì tôi nhận định được rằng: cái cốt yếu là làm chứng nhân về những điều chúng ta mắt thấy tai nghe. Mỗi ngày, tôi lại thêm nhận thức rằng: điều quan trọng không phải là nói về Chúa Yêsu cho bằng để Ngài hoạt động, với tất cả quyền năng của Thánh Thần Ngài.
31. Cuối cùng, xét rằng đặc sủng chữa bệnh càng ngày càng trở nên quan trọng, và cũng vậy, số người đến dự Thánh Lễ - ở đó người ta cầu cho bệnh nhân -; thế thì Thiên Chúa muốn nói gì cho chúng tôi qua các dấu chỉ ấy?
Qua các dấu chỉ ấy, Chúa muốn bày tỏ cho chúng ta thấy việc toàn thắng của Ngài. Chúa Yêsu đã đến giải thoát dân Ngài khỏi tội lỗi. Nhưng chưa hết, còn có những hậu quả ác hại của nó là bệnh tật và sự chết. Nên Chúa Yêsu cho những dấu chỉ về sự toàn thắng trọn vẹn của Ngài trên tội lỗi, bằng cách chữa lành các bệnh nhân và làm kẻ chết sống lại.
Đức Yêsu đã sống lại vinh hiển ra khỏi mồ: đó chính là các dấu chỉ chung quyết của cuộc toàn thắng của Ngài. Vì sự chết đã vào trần gian do bởi tội lỗi, như thánh Phaolô đã khẳng định (Rm 5.12; x. Kn 3; Kng 2.24).(*)
Tôi nghiệm thấy mỗi lần chữa lành là một dấu chỉ rõ ràng về cuộc toàn thắng của Chúa Yêsu. Nhưng đó cũng là một sự bày tỏ tình thương của Thiên Chúa. Phải nhớ lại lời Đức Yêsu đã nói với người bất toại: “Tội của con đã được tha”. Sau đó, Ngài nói thêm: “Để cho các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất, - Ngài quay sang nói với người bất toại - Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà đi về nhà!” (Mc 2.9-11).
Đối với tôi, đó là câu nói minh bạch nhất để cắt nghĩa lý do việc chữa lành: chứng tỏ sự toàn thắng của Chúa Yêsu trên tội lỗi: Ngài có quyền tha tội, và do đó, có quyền triệt tiêu các hậu quả ác hại của nó luôn.
Tất cả những dấu lạ ấy lặp lại một điều này: Chúa Yêsu là Đấng Thiên Sai, cứu thế giới này, và chúng ta không phải đợi ai khác nữa. Đấng Thiên Sai ấy đang sống ngày nay, và Ngài ban sự sống cho những ai tin vào danh Ngài.
Kết luận
Tôi muốn kết thúc chương “Phỏng vấn tác giả”này bằng câu chuyện xảy đến với tôi một hôm kia, nhân một vụ phỏng vấn.
Một ký giả của Tuần báo Pháp V.S.D. (Thứ sáu, thứ bảy, Chúa nhật) xin gặp tôi để viết một bài báo, (báo này xuất bản tới 400.000 tờ). Ông ta viết: “Để trả lời cho biết bao câu hỏi của vô số người không thể gặp ông Cha”, ông đã hóa thành “nhà thám tử để lục lọi khắp trời, đất và biển cả suốt hai tháng trời, trước khi tìm được chỗ ở của Cha Tardif, và điện thoại xin ông Cha một buổi nói chuyện ở Santo Đomingô”.
Rồi ông ta kể cuộc hành trình ở Bể Caraibes và cuộc du hành băng qua Sabaneta: “Một cái nhà thờ quét vôi trắng và một dúm những nhà nhỏ bé màu hồng và màu lam, bên sườn dãy núi xanh... Và chính bởi vì chốn ấy là nơi bị phụ bạc nhất trên đất, ông Cha Tardif mới thăm nom nó, để nó không bị mất nước thiên đàng”.
Tiếp theo, ông ta cho in hình Cha Tardif, miệng mỉm cười, ngồi trên lưng lừa đi trên một con đường của đảo Caraibes; rồi dưới hình, ông viết lòng chữ này: “Trên lưng lừa, Cha Tardif rao giảng Tin Mừng cho dân quê”.
Không lâu sau khi bài phóng sự ấy ra mắt độc giả, tôi sang Paris, và rất nhiều người nói với tôi rằng: họ vô cùng ngạc nhiên tại sao tôi lại để cho một tờ báo như thế phỏng vấn. Tờ báo ấy không phải báo Công giáo, hơn thế, lại thường đăng những chuyện chơi bời trắc nết. Họ lấy làm gương xấu, khi thấy đăng hình tôi giữa những tên phàm phu tục tử và các bài báo chẳng mấy đạo đức.
Tôi không đáp lại các lời chỉ trích của họ, nhưng tôi nghĩ: nếu Đức Yêsu ngồi ăn cùng bọn thu thuế và để cho những gái điếm đi theo Ngài, thì có gì phải sợ cái hoàn cảnh cắc ké của tôi đó.
Một năm sau, tôi giảng ở Strasbourg, và tôi phải đến Dijon sau đó. Anh Roger, thành viên của cộng đoàn “Giếng Yacob”, mời tôi lên xe anh chở đi. Dọc đường, tôi hỏi anh làm sao anh đã gặp Chúa, và anh bắt đầu kể cho tôi câu chuyện đời anh, tại sao anh đã sống lâu năm xa đức tin, xa mọi tiếp xúc với Giáo Hội. Anh nói tiếp:
“Nhưng xảy ra là có một hôm cuối tuần, tôi mua tờ tuần báo V.S.D., tôi đọc thấy một bài viết về một linh mục, ngẫu nhiên cũng trùng tên là Tardif với Cha!
Tôi thấy bài viết ngồ ngộ, vì ông Cha ấy nói đến một Thiên Chúa tuyệt vời mà tôi không biết. Cái đó lôi kéo chú ý của tôi, đến nỗi tôi hỏi xem tôi có thể tìm được một nhóm Canh Tân ở đâu không.
Rồi tôi theo một tuần hội học về ‘Sống trong Thần Khí’, trong đó tôi đã được gặp Chúa Yêsu, Ngài đã biến đổi đời tôi. ở đó, tôi đã gặp vị Thiên Chúa đã yêu thương tôi, và muốn tỏ cho tôi thấy Người sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi tôi. Tôi ăn năn hối cải và mở lòng đón Chúa đến cứu vớt tất cả những gì đã mất. Tôi đi xưng tội và từ đó tôi là một người khác”.
Tôi nói với anh:
- Ông Cha Tardif của tờ tuần báo V.S.D. ấy là tôi!
- Sao? Cha là người ở Santo Đomingô à?
- Bằng tâm hồn, phải! Còn tôi sinh tại Canada.
Thế rồi chúng tôi cảm tạ Thiên Chúa, Người đã sử dụng tất cả mọi phương tiện, ngay đến cả thứ tuần báo loại đó, để đến gần con cái Người, cho họ kinh nghiệm được tình yêu chân thật, và không uống dọc đường những giếng nước rạn vỡ, song uống nước nguồn sống chân thật.
Nếu tôi để người ta đăng bài phóng sự kia về tôi trong “Công báo của Bộ Truyền bá đức tin”, thì Roger chắc không bao giờ gặp được Chúa, đơn giản vì đó không phải là loại báo mà anh mua để giải trí.(*) Ôi Chúa thật lớn lao! Đường lối của Ngài không phải đường lối của ta, và các tiêu chuẩn của Ngài không phải như của ta (x. câu phỏng vấn số 19).