Trở về để được ôm lấy – Mùa Chay của người cha nhân hậu
- T7, 07/03/2026 - 02:27
- Lm Anmai, CSsR
7.3 Thứ Bảy Tuần II - Mùa Chay
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này :
11 “Một người kia có hai con trai. 12 Người con thứ nói với cha rằng : ‘Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.’ Và người cha đã chia của cải cho hai con. 13 Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.
14 “Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, 15 nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng ; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. 16 Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. 17 Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ : ‘Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói ! 18 Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người : ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, 19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ 20 Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.
“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. 21 Bấy giờ người con nói rằng : ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa ...’ 22 Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, 23 rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! 24 Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng.
25 “Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, 26 liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. 27 Người ấy trả lời : ‘Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.’ 28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. 29 Cậu trả lời cha : ‘Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. 30 Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng !’
31 “Nhưng người cha nói với anh ta : ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. 32 Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.’”
7. 3 Trở về để được ôm lấy – Mùa Chay của người cha nhân hậu
Trong hành trình Mùa Chay, phụng vụ hôm nay đưa chúng ta trở về với một dụ ngôn mà có lẽ ai trong chúng ta cũng đã nghe nhiều lần, nhưng mỗi lần nghe lại, trái tim vẫn không khỏi rung lên những cung bậc rất riêng. Đó là dụ ngôn người cha có hai người con, được ghi lại trong Tin Mừng theo thánh Luca, chương 15. Một câu chuyện tưởng như quen thuộc, nhưng càng suy niệm, ta càng thấy mình ở trong đó, thấy gia đình mình ở trong đó, và thấy cả khuôn mặt của Thiên Chúa được tỏ lộ cách rõ ràng nhất trong đó.
Khởi đầu câu chuyện là một bầu khí căng thẳng. Những người thu thuế và tội lỗi lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng, còn những người Pha-ri-sêu và kinh sư thì xầm xì: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Chính trong bối cảnh đó, Đức Giê-su kể dụ ngôn này. Nghĩa là dụ ngôn không chỉ để an ủi người tội lỗi, mà còn để đánh động những người tưởng mình công chính. Không chỉ để kéo người con hoang đàng trở về, mà còn để mời gọi người anh cả bước vào niềm vui của lòng thương xót.
Người con thứ xuất hiện với một yêu cầu gây sốc: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.” Trong văn hóa Do Thái, đòi chia gia tài khi cha còn sống là một điều xúc phạm nặng nề. Nó như một lời tuyên bố: con không cần cha, con chỉ cần của cải. Con muốn tự do, nhưng là thứ tự do không có cha. Bao nhiêu lần trong đời, ta cũng đã âm thầm nói với Thiên Chúa điều tương tự. Khi ta chọn ý riêng mình, khi ta quyết định sống theo đam mê, theo tính toán, theo cái tôi, mà không cần hỏi ý Chúa, không cần cầu nguyện, không cần lắng nghe Lời Người, ta cũng đang xin phần gia tài và rời khỏi nhà cha.
Người cha trong dụ ngôn không ngăn cản, không la mắng, không trói buộc. Ông chia của cải cho hai con. Tình yêu đích thực không cưỡng ép. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người, dù biết rằng tự do ấy có thể dẫn đến đau khổ. Và người con thứ đã trẩy đi phương xa. Phương xa ấy không chỉ là một địa lý, mà là một tình trạng tâm hồn. Phương xa là khi con người sống xa Thiên Chúa, xa giá trị, xa căn tính làm con.
Ở nơi xa đó, anh sống phóng đãng, phung phí tài sản. Của cải mau chóng tiêu tan. Rồi nạn đói ập đến. Khi tiền hết, bạn bè cũng biến mất. Khi sung túc qua đi, thực tại khắc nghiệt lộ diện. Anh phải đi chăn heo – một công việc ô uế đối với người Do Thái. Anh đói đến mức thèm ăn thức ăn của heo mà cũng không ai cho. Từ một người con trong gia đình khá giả, anh rơi xuống tận đáy. Tội lỗi bao giờ cũng hứa hẹn niềm vui, nhưng cuối cùng để lại sự trống rỗng và nhục nhã.
Nhưng chính nơi đáy sâu ấy, một điều quan trọng xảy ra: “Bấy giờ anh ta hồi tâm.” Mùa Chay là thời gian của hồi tâm. Hồi tâm không phải chỉ là hối hận vì hậu quả, mà là nhìn lại chính mình trong ánh sáng của sự thật. Anh nhớ đến cha. Anh nhớ đến căn nhà xưa. Anh nhớ đến những người làm công được cơm dư gạo thừa. Nỗi đói thể xác đánh thức cơn đói sâu hơn trong linh hồn – cơn đói được yêu thương, được thuộc về.
Anh quyết định đứng lên và trở về. Anh chuẩn bị lời thú tội: “Con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.” Anh không còn đòi quyền lợi, không còn nói về phần gia tài, chỉ xin được làm người làm công. Đó là bước ngoặt. Tội lỗi làm ta đánh mất phẩm giá, nhưng khi biết khiêm tốn nhìn nhận sự thật, ta đang mở cánh cửa cho ân sủng.
Thế nhưng điều làm ta xúc động nhất không phải là quyết tâm của người con, mà là hành động của người cha. “Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy.” Nghĩa là người cha vẫn chờ. Ông không khóa cửa, không quên con, không xóa tên con khỏi gia phả. Ông ngóng nhìn mỗi ngày. Khi thấy con, ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ và hôn lấy hôn để. Một người cha Do Thái lớn tuổi mà chạy giữa làng là điều hiếm thấy. Nhưng tình yêu không quan tâm đến thể diện.
Người con chưa kịp nói hết lời sám hối, thì người cha đã ra lệnh đem áo đẹp nhất, xỏ nhẫn, xỏ dép. Áo đẹp nhất trả lại phẩm giá. Nhẫn là dấu ấn của quyền thừa kế. Dép là dấu hiệu của người tự do, không còn là nô lệ. Người cha không phục hồi con ở mức người làm công, mà phục hồi trọn vẹn tư cách làm con. Lòng thương xót của Thiên Chúa không dừng ở tha thứ, mà còn nâng con người lên.
“Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” Mỗi lần một người trở về, trời đất mở hội. Mỗi lần ta quỳ xuống trong tòa giải tội, không chỉ là một thủ tục, mà là một cuộc phục sinh. Mùa Chay không phải là mùa của buồn bã, mà là mùa của niềm vui khi được tìm thấy lại.
Nhưng câu chuyện chưa kết thúc. Người anh cả xuất hiện. Anh ở ngoài đồng, chăm chỉ, trung thành. Khi nghe tin em về và cha mở tiệc, anh nổi giận, không chịu vào nhà. Anh kể công: bao nhiêu năm hầu hạ, chưa từng trái lệnh. Anh so sánh: chưa bao giờ được con dê để ăn mừng với bạn bè. Anh gọi em mình là “thằng con của cha đó.” Anh không gọi là em. Lòng ghen tị làm anh xa cách cả em lẫn cha.
Người anh cả là hình ảnh của những người tưởng mình ở trong nhà, nhưng lòng lại ở ngoài. Ở gần cha, nhưng không hiểu cha. Làm việc cho cha, nhưng không chia sẻ trái tim của cha. Mùa Chay không chỉ mời gọi ta trở về như người con thứ, mà còn mời gọi ta hoán cải như người anh cả. Bao lần ta khó chịu khi thấy người khác được tha thứ? Bao lần ta khắt khe với lỗi lầm của người khác, nhưng lại bao dung với chính mình?
Người cha lại bước ra. Ông không chỉ chạy ra với người con thứ, mà còn ra năn nỉ người con cả. Tình yêu của ông bao trùm cả hai. Ông nói: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.” Người anh cả không thiếu thốn gì, nhưng anh không sống trong niềm vui. Anh sống như người làm công chứ không như người con. Ở gần mà không cảm được tình yêu, đó là một bi kịch âm thầm.
Mùa Chay là lời mời gọi bước vào nhà. Không đứng ngoài vì tự ái, không khép lòng vì so đo. Niềm vui của Thiên Chúa là niềm vui khi một người tội lỗi được sống lại. Nếu ta thực sự là con, ta sẽ chia sẻ niềm vui ấy.
Dụ ngôn kết thúc mở. Không nói người anh cả có vào nhà hay không. Câu trả lời tùy thuộc nơi mỗi chúng ta. Ta có chấp nhận một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, hay ta muốn một Thiên Chúa chỉ thưởng phạt công bằng theo công trạng? Ta có dám tin rằng mình được yêu dù bất xứng, và người khác cũng được yêu như thế?
Trong Mùa Chay này, mỗi người hãy tự hỏi: tôi đang ở đâu trong câu chuyện? Tôi có đang ở phương xa, tiêu xài ân sủng Chúa mà quên Người? Tôi có đang chăn heo trong những thói quen tội lỗi, thèm khát những thứ không nuôi dưỡng linh hồn? Hay tôi đang ở trong nhà mà lòng lại khô cứng, khó chịu trước lòng thương xót dành cho người khác?
Hãy hồi tâm. Hãy đứng lên. Hãy trở về. Đừng sợ quãng đường xa. Đừng sợ quá khứ. Người cha vẫn chờ. Người cha vẫn nhìn ra phía xa. Và khi ta còn cách Người một khoảng, Người đã chạy đến.
Mùa Chay là mùa của cái ôm. Cái ôm không điều kiện. Cái ôm xóa nhòa mặc cảm. Cái ôm nói rằng: con vẫn là con. Dù con đã đi bao xa, dù con đã lạc bao lâu, cửa nhà vẫn mở.
Xin cho chúng ta đừng chỉ suy niệm dụ ngôn này như một câu chuyện đẹp, nhưng hãy để nó trở thành kinh nghiệm sống. Hãy can đảm bước vào tòa giải tội. Hãy tập tha thứ như người cha. Hãy tập vui khi người khác được phục hồi. Và hãy sống mỗi ngày như người con được yêu.
Để rồi, khi kết thúc hành trình Mùa Chay và bước vào ánh sáng Phục Sinh, chúng ta không chỉ nghe nói “đã chết mà nay sống lại,” nhưng chính cuộc đời mình trở thành chứng tá cho sự sống ấy.
Lm. Anmai, CSsR