Thơ Phúc Âm Tuần Ngày 1/3 tới ngày 7 /3, 2026
- T7, 28/02/2026 - 07:09
- Lm Anmai, CSsR
Thơ Phúc Âm Tuần Ngày 1 tháng 3, 2026 -- , Ngày 7 tháng 3, 2026
==
Chủ nhật 1/03/2026
Chúa Nhật II Mùa chay Năm A
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Matthêu. Mt 17, 1-9
HIỂN DUNG TRÊN NÚI CAO
Núi cao gió cuộn mây trôi,
Mặt Người chiếu sáng như trời thái dương.
Áo Người trắng tựa tuyết sương,
Hào quang Thiên Chúa tỏa hương muôn trùng.
Môsê, Êlia đi cùng,
Đàm tâm Đấng Thánh, rạng lừng đức tin.
Phêrô ngây ngất giữa miền,
Thưa Thầy xin dựng ba miền lều con.
Trong mây tiếng Chúa rền vang:
"Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Cha Ta.
Hãy nghe lời Người từ xa,
Đường Thánh soi bước bao la cõi trần."
Các môn đệ sấp mặt ngân,
Nghe xong khiếp sợ, lòng dâng tin lành.
Chúa thương động chạm an lành,
"Dậy đi, đừng sợ, mong manh phận người."
Ngước lên chỉ thấy ánh tươi,
Còn riêng Thầy đó — nụ cười nhiệm sâu.
Từ non bước xuống qua cầu,
Giảng ơn cứu thế, nhuộm màu tình thương.
==
In French:
TRANSFIGURATION SUR LA MONTAGNE
Sur la montagne, flottent les vents,
Le Visage luit tel le soleil brûlant.
Son vêtement, plus blanc que neige,
Rayonne en Dieu, parfum du sacré siège.
Moïse et Élie sont présents,
Parlent au Seigneur d’un air bienveillant.
Pierre s’écrie, l’âme émerveillée :
« Maître, dressons trois tentes pour Vous abriter. »
Dans un nuage, la voix retentit :
« Voici mon Fils, mon Bien-Aimé, ma Vie !
Écoutez-Le, Lui seul vous conduit,
Sa lumière éclaire le cœur et la nuit. »
Les disciples tombent, effrayés,
Mais Jésus s’avance, les relève en paix :
« Relevez-vous, n’ayez plus peur,
Car l’Amour de Dieu demeure en vos cœurs. »
Ils lèvent les yeux, ne voient plus rien,
Sinon le Maître, doux et divin.
Descendant du mont, silencieux,
Ils gardent le secret du Ciel lumineux.
==
In English
TRANSFIGURATION ON THE HIGH MOUNTAIN
High on the mountain, clouds drift by,
His face shines radiant as the sky.
His garments gleam, surpassing snow,
God’s light and fragrance softly flow.
Moses and Elijah stand near,
In holy talk the Lord they hear.
Then Peter speaks, his heart amazed:
“Lord, three small tents we shall have raised.”
A shining cloud then wraps them round,
A voice resounds, a sacred sound:
“This is My Son, My heart’s delight,
Listen to Him—your way, your light.”
The trembling friends fall to the sand,
But Jesus touches them with hand:
“Rise up, have peace, and do not fear—
Love’s grace is strong; I’m always near.”
They lift their eyes—the vision gone,
Save Christ the Lord, pure light alone.
Down from the mount in silence deep,
They guard the secret God would keep.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Mặt Người chiếu sáng như mặt trời”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Matthêu. Mt 17, 1-9
Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia”. Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Ðây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ”. Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”
==
Thứ hai 2/03/2026
Thứ Hai II Mùa chay Năm A
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Luca. Lc 6, 36-38
HÃY THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THA
Con ơi, Cha dạy ân tình,
Hãy nhân như Chúa – quang minh giữa đời.
Đừng đem xét đoán đôi lời,
Kẻo lòng khép chặt, rạng trời phôi pha.
Hãy tha thứ để được tha,
Như Cha từ ái thứ tha muôn lần.
Giọt sầu tan ánh nhật quang,
Tình thương gội xuống dịu dàng lòng con.
Ai cho, sẽ nhận chẳng mòn,
Bát đầy, người đong trả tròn nhân duyên.
Phúc ân không đếm bạc tiền,
Mà trong tha thứ – bình yên nở đầy.
Nẻo đời thêu chỉ ơn thay,
Dẫu mang thương tích, vẫn hay thứ người.
Tha cho kẻ khiến lệ rơi,
Thì tim con cũng sáng trời bao dung.
==
In French:
PARDONNE, ET TU SERAS PARDONNÉ
Mon enfant, le Père t’enseigne l’amour,
Sois miséricorde, éclaire les jours.
Ne juge point, ne condamne personne,
La paix du ciel à ton âme résonne.
Pardonne, et Dieu t’accordera grâce,
Comme un doux vent qui jamais ne lasse.
La peine s’efface au soleil du matin,
L’amour du Seigneur descend sur ton chemin.
Qui donne reçoit, sa coupe déborde,
La bonté revient, fidèle récompense.
Le vrai trésor n’est pas d’or ni d’argent,
Mais d’un cœur qui pardonne en aimant.
Sur la route, blessure et croix peut-être —
Mais pardonner, c’est renaître.
À celui qui t’a fait pleurer,
Offre la lumière de ta bonté.
==
In English
FORGIVE, AND YOU SHALL BE FORGIVEN
My child, the Father whispers near:
Be kind as Heaven’s love sincere.
Judge not, lest judgment fall on you,
Condemn no one, and grace shines through.
Forgive — and mercy will return,
Like dawn’s soft light for hearts that yearn.
The sorrow fades, the soul grows bright,
When love pours down its holy light.
Give, and your gift will overflow,
A measure pressed and full shall grow.
Not gold nor gain defines your way,
But peace that blooms where hearts obey.
Though life brings wounds that test your care,
Forgiving heals the cross you bear.
And when you pardon those who wrong,
Your heart joins Heaven’s endless song.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Hãy tha thứ thì các con sẽ được thứ tha”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Luca. Lc 6, 36-38
Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ. Ðừng xét đoán thì các con khỏi bị xét đoán; đừng kết án thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được tha thứ. Hãy cho thì sẽ cho lại các con: Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào, thì cũng được đong trả lại bằng đấu ấy!”
==
Thứ ba 3/03/2026
Thứ Ba II Mùa chay Năm A
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.. Mt 23, 1-12
NÓI MÀ KHÔNG LÀM
Nghe lời họ dạy mà theo,
Đừng noi việc họ, gieo neo kiêu lòng.
Miệng rao nhân nghĩa vang trong,
Mà tim khép chặt giữa vòng lợi danh.
Buộc người gánh nặng, chẳng đành,
Ngón tay chẳng động, tự thành vênh vang.
Thẻ Kinh nới rộng khoe sang,
Tua dài áo trắng mênh mang kiêu ngạo.
Thích ngồi đầu giữa tiệc tao,
Ưa người cúi chào, hư ảo hư danh.
Nhưng ai tự nhắc thân mình,
Sẽ sa vực thẳm, bóng tình ngã nghiêng.
Người nào hạ xuống thật hiền,
Sẽ nên cao quý trước miền Thiên cung.
Phục vụ — đó chính đường chung,
Theo Thầy khiêm hạ, vui cùng phục nhân.
==
In French:
ILS DISENT, MAIS NE FONT PAS
Écoute leurs mots, fais le bien,
Mais n’imite pas leur chemin hautain.
Ils parlent d’amour, de vertu,
Mais leurs cœurs se ferment à l’inconnu.
Ils chargent les autres de fardeaux,
Sans lever le doigt, fiers et beaux.
Leurs rubans saints flottent au vent,
Leurs tuniques brillent pour les passants.
Ils aiment les places d’honneur,
Le salut public, l’apparat, la grandeur.
Mais quiconque veut s’élever haut,
Tombera vite, tel l’ombre sur l’eau.
Heureux l’humble, simple et discret,
Que Dieu élève en sa clarté.
Servir, voilà le vrai chemin —
Suivre le Maître, aimer l’humain
==
In English
THEY SAY, BUT DO NOT DO
Hear what they teach — keep what’s right,
But walk not their path of pride and light.
Their lips proclaim the law of love,
Yet hearts stay cold to God above.
They bind up burdens, heavy, sore,
Yet lift no finger, nothing more.
Their tassels long, their robes so wide,
They flaunt their faith in public pride.
They love the seats where honors gleam,
The greetings loud, the crowns of dream.
But those who lift themselves on high
Shall fall, as shadows cross the sky.
The meek, the humble, small and still,
God raises up beyond the hill.
To serve, to love — the chosen way,
To walk with Christ in peace each day
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Họ nói mà không làm”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.. Mt 23, 1-12
Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: “Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên tòa Mô-sê: vậy những gì họ nói với các ngươi, hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta, còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy, vì thế họ nới rộng thẻ Kinh, may dài tua áo. Họ muốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là “thầy”. Phần các ngươi, các ngươi đừng muốn được người ta gọi là thầy, vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các ngươi đều là anh em với nhau. Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là cha, vì các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời. Các ngươi cũng đừng bắt người ta gọi là người chỉ đạo, vì các ngươi có một người chỉ đạo, đó là Ðức Ki-tô. Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi. Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”.
==
Thứ tư 4/03/2026
Thứ tư II Mùa chay Năm A
Thánh Casimirô
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.. Mt 20, 17-28
Họ đã lên án tử cho Người
Người đi về chốn kinh thành,
Giêrusalem – ngập nắng và xanh thánh đường.
Mười hai môn đệ theo cùng,
Lắng nghe lời Thầy, lòng rung tiếng buồn.
Người nói: “Đường Thánh giá suôn,
Con Người phải chịu đớn muôn khổ hình.
Nhạo báng, đòn vọt, thương tình,
Ba ngày phục sinh, quang vinh sáng ngời.”
Người Mẹ xin chỗ bên Người,
Hai con được ngự trong trời Nước Cha.
Thầy dạy: “Chén khổ đường xa,
Các con nếm hết mới là hiến thân.”
Thầy bảo: “Kẻ muốn vươn phần,
Thì nên phục vụ, ân cần yêu thương.
Ai làm lớn chớ kiêu vương,
Hãy nên tôi tớ, mở đường khiêm nhu.”
Người hiến mạng sống đền bù,
Cho nhân thế được thiên thu giải hòa.
Lên án tử – chính là hoa,
Nở từ đau khổ, chan hòa tình yêu.
==
In French:
Ils L’ont condamné à mort
Vers la cité sainte Il s’en va,
Jérusalem l’attend, baignée d’un clair éclat.
Douze disciples, près de Lui,
Marchent en silence, le cœur plein d’appuis.
Il leur dit : « Je vais vers ma Croix,
Le Fils de l’Homme souffrira, sous la loi.
Railleries, coups, sang versé,
Mais le troisième jour, la vie va triompher. »
Une mère implore humblement,
Que ses deux fils siègent près du Tout-Puissant.
Le Maître répond doucement :
« Buvez ce calice, si grand est votre sang. »
Puis Il dit : « Qui veut régner,
Doit se faire serviteur, aimer et donner.
Le Fils de l’Homme, Roi d’humains,
Est venu servir, sauver les siens. »
Oui, condamné — mais pour la paix,
Son sang versé fleurit en éternité.
Sous la croix, l’amour profond
Transfigure la mort en résurrection.
==
In English
They Have Condemned Him to Death
He walks toward the holy place,
Jerusalem shines — calm and full of grace.
Twelve disciples walk behind,
Silent hearts now heavy in mind.
He says, “The Cross awaits My way,
The Son of Man will suffer and obey.
Scorned and beaten, bruised and torn,
Yet on the third day, new life will be born.”
A mother kneels with humble plea,
“That my two sons may one day sit by Thee.”
The Teacher answers, calm, yet deep:
“Can you drink the cup that I must keep?”
He says, “Who seeks to lead or reign
Must serve with love, through loss and pain.
For I, the Son of Man on earth,
Have come to serve — the souls’ rebirth.”
Condemned to die — yet through His pain,
His blood would bloom to break sin’s chain.
From death arose love’s endless breath:
A gift of life beyond all death.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Họ đã lên án tử cho Người”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.. Mt 20, 17-28
Khi ấy, Chúa Giêsu đi lên Giê-ru-sa-lem, đem riêng mười hai môn đệ đi theo. Dọc đường, Người nói với họ: “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem và Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”.
Bấy giờ bà mẹ các con ông Giê-bê-đê cùng với hai con đến gặp Người. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: “Bà muốn gì”. Bà ta thưa lại: “Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài”. Chúa Giê-su đáp lại: “Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp uống chăng?” Họ nói với Người: “Thưa được”. Người bảo họ: “Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được”. Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em: Chúa Giê-su gọi họ lại mà bảo: “Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người”.
==
Thứ năm 5/03/2026
Thứ năm II Mùa chay Năm A
Thứ năm đầu tháng
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 16, 19-31
Ladarô và người phú hộ
Một người phú hộ sống sang,
Gấm hoa, lụa tía ngập tràn phòng tiệc.
Cổng nhà có kẻ đói điếc,
Tên là La-da-rô – thân liệt nhọc nhằn.
Nằm bên song cửa – tấm thân,
Ghẻ chốc phủ kín, chỉ mong miếng thừa.
Chó đến liếm vết thương chưa,
Lòng người đóng kín, chẳng thừa thương ai.
Rồi ngày hai kẻ đều phai,
Người nghèo về chốn thiên đài yên vui.
Còn kẻ giàu – lửa thiêu vùi,
Ngước nhìn thấy chốn xa xôi sáng ngời.
Kêu lên: “Cha Áp-ra-ham ơi,
Xin thương con chút, cho rơi giọt nước.”
Cha liền đáp: “Đời con trước,
Hưởng bao điều lành – còn được gì hơn?
Ladarô chịu khổ buồn đơn,
Nay trong lòng Chúa, an nhàn phúc ân.
Giữa đôi bờ vực hãi hằn,
Không ai vượt được, gọi gần cũng xa.”
Biết mình sa chốn đoạ đày,
Xin cho anh em trở về biết tin.
Cha rằng: “Đã có Thánh hiền,
Nếu chẳng nghe họ, kẻ về cũng quên.”
Ngẫm đời – một thoáng phù vân,
Phú quý nào giữ được chân tâm người.
Chỉ ai biết sống yêu đời,
Mới cùng Chúa hưởng muôn lời phục sinh.
==
In French:
Lazare et le riche
Un homme riche, vêtu d’orgueil,
Sous la soie et l’abondance, festin à son seuil.
Près du portail, un pauvre gît,
Lazare — couvert d’ulcères, sans pain, sans abri.
Les chiens léchaient ses plaies sans fin,
Mais nul cœur d’humain ne lui tendit la main.
Les deux moururent — la terre est vaine,
Lazare en paix, le riche en peine.
Du feu brûlant, le riche cria :
« Ô Père Abraham, prends pitié de moi !
Que Lazare trempe son doigt léger
Pour rafraîchir ma langue desséchée. »
Abraham dit : « Souviens-toi bien,
Tu eus tes biens, tes joies sans fin.
Lazare souffrit en ce vieux monde,
Maintenant la paix son âme inonde. »
« Un gouffre immense nous sépare,
Nul ne franchit, ni d’ici, ni de là.
Tes frères ont la Loi, les prophètes de Dieu,
Que leurs cœurs écoutent, sinon… adieu. »
Ô vie humaine, souffle et brume,
Or et festins sont poussière et fumée.
Heureux celui qui s’incline et aime,
Car l’amour seul porte à la lumière suprême.
==
In English
Lazarus and the Rich Man
A wealthy man lived in delight,
Robes of silk shimmering night after night.
Beside his gate, the beggar lay,
Lazarus — in sores and pain day by day.
The dogs would lick his wounds so bare,
Yet no kind hand nor crumb was there.
Both men died — as all must part,
The rich to flame, the poor to heart.
Within the fire, the rich man cried,
“O Father Abraham, turn aside!
Send Lazarus — his finger wet,
To cool my tongue from this fierce threat.”
Abraham spoke: “In life, my son,
You had your joy, your pleasures won.
Lazarus suffered, poor and torn,
Now he is healed — to peace reborn.
Between our sides a deep gulf lies,
None may cross, no tears, no cries.
Your brothers have prophets and Law divine —
If they hear not them, no sign will shine.”
So fleeting is life’s golden breath,
Wealth fades away in light of death.
Only love endures and saves,
Guiding the soul beyond the graves.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Con đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 16, 19-31
Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng những người biệt phái rằng: “Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là La-da-rô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy. Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Áp-ra-ham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Áp-ra-ham và La-da-rô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng:
“Lạy Cha Áp-ra-ham, xin thương xót tôi và sai La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này. Áp-ra-ham nói lại: “Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn La-da-rô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ La-da-rô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ. Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được”.
Người đó lại nói: “Ðã vậy, tôi nài xin cha sai La-da-rô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này”. Áp-ra-ham đáp rằng: “Chúng đã có Mô-sê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài”. Người đó thưa: “Không đâu, lạy Cha Áp-ra-ham! Nhưng nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải”. Nhưng Áp-ra-ham bảo người ấy: “Nếu chúng không chịu nghe Mô-sê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu”
==
Thứ sáu 6/03/2026
Thứ sáu II Mùa chay Năm A
Thứ sáu đầu tháng
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.. Mt 21, 33-43. 45-46
Dụ ngôn vườn nho
Chủ kia có mảnh vườn xinh,
Rào quanh, ép rượu, dựng đình canh xa.
Ông giao cho kẻ thuê nhà,
Rồi qua phương khác, trăng tà lặng yên.
Đến mùa, ông chủ sai liền
Đầy tớ đến trước, thu miền hoa hương.
Tá điền nổi ác vô lường,
Kẻ thì chúng đánh, kẻ vương đá liền.
Chủ sai thêm kẻ trung hiền,
Nhưng lòng con người vẫn điên lọc lừa.
Sau cùng — Con Trẻ chủ đưa,
Nghĩ rằng họ sẽ kính như chính mình.
Thấy Con, chúng bảo nhau nhanh:
“Người thừa tự đó, giết quanh lấy phần!”
Rồi đưa ra khỏi vườn thân,
Họ đem giết chết, cướp dần cơ ngơi.
Chủ về — hỏi: “Chúng đền đời?”
Người đáp: “Diệt hết, cho nơi khác làm,
Để khi đến vụ mùa vàng,
Nộp hoa lợi chín — nhẹ nhàng lòng dân.”
Chúa rằng: “Đá Thợ bỏ lần,
Nay thành Đá Góc — muôn phần lạ thay.
Nước Trời sẽ cất khỏi tay,
Ban cho dân khác, trổ đầy ân thiêng.”
Kẻ nghe — lòng cũng ưu phiền,
Âm mưu bắt Chúa, sợ triền dân gian.
Ôi đời — vọng lợi phủ màn,
Giết Con Thừa Tự, đoạn tan chính mình.
==
In French:
La parabole de la vigne
Un maître avait, sur la colline,
Un beau vignoble ceint de pierre divine.
Il creusa cuve, bâtit la tour,
Puis loua son bien — partit sans retour.
Quand vint le temps de la vendange,
Il envoya ses serviteurs en échange.
Mais les vignerons, fous et durs,
Battirent, lapidèrent sans mesure.
Le maître envoya d’autres gens,
Mais la violence monta, pire encore qu’avant.
Enfin, dit-il : « J’enverrai mon fils,
Ils le respecteront, car c’est mon héritier. »
Mais dès qu’ils le voient s’approcher,
Ils murmurent : « Le voilà, l’héritier !
Tuons-le, prenons son trésor,
Et la vigne sera notre bien d’or. »
Ils le traînent hors du domaine,
Et le tuent — le sang marque la plaine.
Que fera le maître courroucé ?
Il viendra punir, tout remplacer.
« La pierre qu’ont rejetée les bâtisseurs,
Est devenue pierre d’angle, honneur des cœurs. »
Ainsi parla le Fils béni,
Promettant le Royaume à ceux qui portent fruit.
Les prêtres, l’entendant, frémirent,
Voyant qu’Il parlait d’eux, et se retirent.
Car le peuple voyait le Prophète en Lui,
Lumière offerte, que la haine détruit.
==
In English
The Parable of the Vineyard
A master owned a field of vine,
He fenced it round, his work divine.
He built a tower, a press for wine,
Then journeyed off to lands benign.
When harvest came, he sent his men,
To claim his fruit, as due again.
But greedy tenants seized them near,
Beat some, slew others — none held dear.
He sent yet more, but still they fell,
To hearts of stone and hands as well.
At last he said, “My son I’ll send,
They’ll honor him — he’s heir and friend.”
But seeing him, they whispered low,
“The heir has come—his life must go!
Let’s kill the son, the wealth shall be
Our own by right, eternally.”
They dragged him out beyond the field,
And took his life — his fate was sealed.
“What will that master do?” they cried,
“He’ll judge the wicked, take their pride.”
“The stone once spurned,” the Lord replied,
“Becomes the cornerstone — dignified.
God’s kingdom shall be taken hence,
And giv’n to hearts that bear its sense.”
The priests and elders, hearts grown cold,
Could see His story theirs foretold.
They sought His life, yet fear was near —
The crowd still called the Prophet dear.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em, chúng ta hãy giết nó”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.. Mt 21, 33-43. 45-46
Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: “Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào? Các ông trả lời: “Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi”. Chúa Giê-su phán: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh sao:
“Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?” Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”.
Các Thượng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri.
==
Thứ bảy 7/03/2026
Thứ bảy II Mùa chay Năm A
Thứ bảy đầu tháng. Thánh nữ Perpêtua và thánh nữ Fêlicita, tử đạo
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.. Lc 15, 1-3. 11-32
Người Cha và Đứa Con Hoang
Cha hiền có hai con thơ,
Một đứa em đến thưa cha dịu dàng:
“Phần con gia nghiệp sẵn sàng,
Xin cha chia trước cho con phần này.”
Cha đành thuận ý, chia ngay,
Rồi con thu góp, tìm ngày ra đi.
Phương xa lạc nẻo sân si,
Tiêu tan của cải, chẳng khi nào còn.
Đói nghèo, hèn hạ mỏi mòn,
Ra đồng chăn lợn — lòng con xót nhiều.
Thức ăn dành lũ heo kêu,
Con thèm mà chẳng ai chiều lòng thương.
Hồi tâm, con nhớ cố hương,
Bao người làm mướn vẫn thường đủ no.
“Con nay tội lỗi thật to,
Xin cha nhận lại, cho con thân làm.”
Từ xa, cha đã vội vàng,
Chạy ra ôm lấy, lệ tràn khóe môi.
Áo lành, nhẫn quý trao rồi,
Bê con làm tiệc rạng ngời lòng cha.
“Con ta đã mất phương xa,
Nay về sống lại — chan hòa hồng ân.”
Người anh nghe tiếng đàn ngân,
Giận lòng ganh tị, chẳng gần bước vô.
Cha ôn tồn bảo thật thà:
“Con ơi, mọi sự đều là của con.
Nhưng nay ta phải mừng son,
Vì em con chết — sống còn lại đây.”
==
In French:
Le Père et le fils prodigue
Un père avait deux fils chéris,
L’un dit : « Mon bien, Père, donne-le-moi, je m’enfuis. »
Le père partage sans un mot,
Et le plus jeune s’en va, rêvant là-bas, là-haut.
Au loin, il vit dans le plaisir,
Dépensant sans mesure, oubliant l’avenir.
Puis vint la faim, le vent, la nuit,
Gardant les porcs, sans pain, sans abri.
Son cœur se brise — il pense alors :
« Chez mon père, jusqu’aux serviteurs, il y a du pain d’or.
Moi, ici, je meurs oublié…
Je rentrerai, humble et désespéré. »
De loin, le père l’aperçut,
Le cœur bouleversé, il court, l’aima, l’étreignit.
« Vite, la plus belle des robes !
L’anneau, les sandales ! Qu’on fête son retour. »
« Mon fils était mort, le voici,
Vivons la joie, la grâce et la vie !
Perdu, il fut retrouvé hier,
Mort, il renaît à la lumière du Père. »
L’aîné, dehors, plein de colère,
Refuse d’entrer, le cœur trop amer.
Le père dit : « Mon fils, comprends,
Tout ce qui est à moi t’appartient vraiment.
Mais il faut fêter ce grand pas,
Car ton frère mort revit, ton frère est là.
Perdu jadis, retrouvé enfin,
Chante la paix, ô mon enfant divin. »
==
In English
The Path of the Heart
The river flows through morning dew,
The old bamboo whispers, calm and true.
A weary child walks home once more,
Bare feet recall the paths before.
The sun leans low, the clouds drift slow,
The heart finds peace where winds still blow.
Each pain once burned, now gently fades,
As faith returns through golden shades.
The Father waits with arms so wide,
No fault too grave, no love denied.
The son kneels down, the tears release,
The home once lost becomes his peace.
O soul, remember, when you roam,
No step’s too far to lead you home.
For mercy blooms where hearts contrite —
The dead shall rise, the dark find light.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Em con đã chết nay sống lại”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.. Lc 15, 1-3. 11-32
Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giê-su để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng”. Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:
“Người kia có hai con trai. Ðứa em đến thưa cha rằng: “Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con”. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: “Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha”. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: “Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa”. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: “Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.
“Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: “Ðó là em cậu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở về mạnh khoẻ”. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào, nhưng anh trả lời: “Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn; còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó”. Nhưng người cha bảo: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.