Thơ Phúc Âm tuần ngày 1/2 - ngày 7/2, 2026
- T7, 31/01/2026 - 19:27
- Phạm Hùng Sơn
Tuần Ngày 1 tháng 2, 2026 -- Ngày 7 tháng 2, 2026
==
Chủ nhật 1/02/2026
Chúa nhật IV Thường niên Năm A
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Matthêu. Mt 5, 1-12a
Phúc cho người có tinh thần nghèo khó
Trần gian kho tàng chóng phai,
Của người nghèo khó – lòng đầy niềm tin.
Không vương của cải phù sinh,
Mà nghe tiếng Chúa gọi mình yêu thương.
Tay không đón ánh thiên đường,
Giữa bao bão tố, đoạn trường hân hoan.
Phúc thay kẻ sống bình an,
Nước Trời mở lối, triều quang rạng ngời.
Nghèo mà chẳng thiếu nụ cười,
Vì ơn Thiên Chúa sáng soi linh hồn.
Tinh thần khiêm tốn vẹn tròn,
Chính trong yếu đuối, sức luôn mạnh bền.
Dẫu đời thử thách truân chuyên,
Phúc là hạt giống bình yên gieo hoài.
Nghèo trong tâm, Chúa ngự nơi,
Nước Trời là của – muôn đời phúc thay.
==
In French:
Bienheureux ceux qui ont l’esprit pauvre
Les biens du monde sont passagers,
Le cœur pauvre espère, et Dieu vient apaiser.
Sans l’or ni gloire illusoire,
Il entend la voix de l’Amour qui rejoint.
Les mains vides, l’âme en chemin,
Sous vents et peines, il garde la joie sainte.
Heureux le cœur pur et sans crainte,
Le Ciel s’ouvre à lui, sa lumière l’atteint.
Pauvre, il garde un doux refrain,
Car Dieu seul éclaire son âme sereine.
Humble esprit, force certaine,
Dans la faiblesse même, Il se fait soutien.
Quand l’épreuve ferme le chemin,
La paix germe encore au fond du destin.
Pauvre en esprit, Dieu te choisit,
Son Royaume est tien — pour l’éternité.
==
In English
Blessed Are the Poor in Spirit
All earthly treasures fade away,
The poor in spirit trust and pray.
No wealth of dust, no fleeting gain,
They hear God’s voice call out their name.
With empty hands they seek the skies,
Through storms they walk with joyful eyes.
Blest are the hearts that live in peace,
Heaven’s doors for them never cease.
Poor, yet rich in holy grace,
God’s own light shines on their face.
Humble souls, though frail they seem,
Find in weakness strength redeemed.
When sorrow shadows every side,
Still peace and hope in hearts abide.
Poor in spirit, pure and bright—
Theirs the Kingdom, theirs the light.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Matthêu. Mt 5, 1-12a
Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:
"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời".
==
Thứ hai 2/02/2026
Thứ Hai IV Thường niên Năm A
Lễ dâng Chúa Giê-su trong Đền thánh
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Luca. Lc 2,22-40
Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ
Ô hay ánh sáng diệu huyền,
Soi trong nhân thế, xua miền tối tăm.
Một Hài Nhi nhỏ âm thầm,
Lại mang ơn cứu đến trăm muôn đời.
Tay run bồng Chúa trên tay,
Tôi tớ bình an, lệ đầy vui tươi.
Mắt này được ngắm Con Trời,
Lời xưa đã hứa, giờ đây vẹn toàn.
Ngài là Cứu Chúa muôn dân,
Chiếu soi lương quốc, vinh Thần Israel.
Simeon khấn tạ ơn đền,
Thần Linh hướng dẫn, lòng bền tin yêu.
Maria lặng giữa sớm chiều,
Gươm đau tiên báo dắt dìu niềm thương.
Ơn Trời khởi sự phi thường,
Mắt người đã thấy ánh hương cứu đời.
==
In French:
Mes yeux ont vu ton salut
Ô douce lumière du matin,
Tu chasses la nuit, tu rends grâce aux humains.
Un Enfant faible, en pauvre lieu,
Porte au monde entier le salut de Dieu.
Entre ses bras tremblants de foi,
Siméon bénit l’enfant roi.
Ses yeux comblés, son cœur en paix,
L’oracle ancien s’accomplit désormais.
Voici la clarté des nations,
Et d’Israël la consolation.
Le vieil homme chante, ébloui,
Car Dieu a tenu ce qu’il a promis.
Marie garde en son destin,
L’épée annoncée, douloureux chemin.
Par ce mystère s’ouvre au jour,
Le salut offert à tout être d’amour.
==
In English
My Eyes Have Seen Salvation
O wondrous light from heaven’s air,
You pierce the dark with tender care.
A tiny Child in humble grace,
Brings God’s salvation to the race.
Old Simeon lifts the Holy One,
His trembling hands embrace the Son.
His eyes behold, his heart finds rest,
God’s faithful word fulfilled and blessed.
Light to the nations, clear and bright,
Glory of Israel, born this night.
Joy fills his soul, his vigil done,
Peace now calls God’s servant home.
Mary listens, still and wise,
A sword foreseen will pierce her sighs.
Yet through her pain new hope shall bloom—
Salvation dawns beyond the tomb.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Luca. Lc 2,22-40
Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa”. Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu con.
Và đây ở Giêrusalem, có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết, trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
“Lạy Chúa, giờ đây, Chúa để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã phán: vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là Ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa”.
[ Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: “Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!”
Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.
Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo Luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. ]
==
Thứ ba 3/02/2026
Thứ Ba IV Thường niên Năm A
Thánh Blasiô, Giám mục, Tử đạo (Đ). Thánh Ansgariô, Giám mục (Tr)
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 5, 21-43
HỠI EM BÉ, HÃY CHỖI DẬY
Bờ kia sóng lặng chiều hôm,
Giê-su vừa cập, dân ôm bốn bề.
Gia-ia sấp mặt não nề,
Van xin Người đến cứu lê thân gầy.
“Con tôi hấp hối từng giây,
Xin Ngài đặt tay, cho nay được lành.”
Chúa đi, đám chúng vây quanh,
Chen vai lấn bước, đường thành sóng xô.
Giữa đoàn có kẻ bơ vơ,
Mười hai năm bệnh, xác xơ phận người.
Tiền tan, thuốc cạn, lệ rơi,
Càng tìm càng khổ, chẳng nguôi nỗi sầu.
Nghe danh Giê-su nhiệm mầu,
Bà len phía sau, chạm tà áo ai.
Thầm tin một chạm đủ rồi,
Nguồn ơn tuôn chảy, bệnh rời thân đau.
Chúa hay sức lực nhiệm mầu,
Xuất từ nơi Chúa, thấm sâu cõi người.
“Có ai vừa chạm đến tôi?”
Môn đồ thưa lại: “Đông vơi thế này!”
Bà run sợ, bước ra ngay,
Phủ phục thú nhận tháng ngày đắng cay.
Chúa rằng: “Hỡi con, đứng dậy,
Đức tin chữa khỏi, an bày mà đi.”
Chưa tan lời Chúa thầm thì,
Tin buồn ập đến: “Con kia mất rồi.”
Chúa liền bảo kẻ rối bời:
“Đừng sợ, hãy vững một lời tin thôi.”
Vào nhà tiếng khóc tơi bời,
Chúa rằng: “Em ngủ”, người cười chê bai.
Đuổi ra, còn lại ít ai,
Cha mẹ, môn đệ kề vai lặng thầm.
Tay em Chúa nắm dịu êm,
Lời Aram thốt rất mềm mà thiêng:
“Ta-li-tha, kum, đứng lên!”
Em liền trỗi dậy, bước liền chẳng lâu.
Mười hai tuổi, ánh nhiệm mầu,
Cả nhà sững sờ trước màu sống ban.
Chúa răn giữ kín ơn lành,
Và cho em bé ăn nhanh, dưỡng người.
Lời xưa vọng đến muôn đời:
Giữa đêm tuyệt vọng, Chúa mời đứng lên.
Ai tin, dù chết não nề,
Cũng nghe tiếng gọi bước về sự sinh.
==
In French:
« Petite enfant, je te le dis : lève-toi »
Sur l’autre rive, la mer se tait,
Jésus accoste, la foule l’entoure.
Jaïre se prosterne, brisé d’angoisse :
« Ma fille agonise, viens, pose ta main. »
Il part avec lui, la foule presse,
Les pas s’emmêlent sur le chemin.
Au milieu, une femme blessée par la vie,
Douze ans de sang, de peine et d’errance.
Médecins, remèdes, tout a fui,
L’argent épuisé, l’espoir aussi.
Mais ayant entendu parler de Jésus,
Elle se glisse derrière et touche son manteau.
« Si je le touche seulement, je serai guérie. »
Aussitôt le mal s’arrête, la vie revient.
Jésus sent la force sortir de lui :
« Qui m’a touché ? »
Les disciples s’étonnent :
« La foule te presse de toutes parts… »
La femme, tremblante, s’avance et confesse.
Jésus lui dit :
« Ma fille, ta foi t’a sauvée. Va en paix. »
Tandis qu’il parle, un message arrive :
« Ta fille est morte, n’importune plus le Maître. »
Mais Jésus dit à Jaïre :
« Ne crains pas, crois seulement. »
Dans la maison, cris et lamentations.
« Pourquoi pleurer ? L’enfant dort. »
On se moque de lui.
Il fait sortir tout le monde.
Il entre avec les parents et les disciples.
Il prend la main de l’enfant et dit :
« Talitha koum. »
— « Petite enfant, je te le dis : lève-toi. »
Aussitôt elle se lève et marche,
Elle avait douze ans.
Tous sont saisis d’émerveillement.
Jésus ordonne le silence
Et demande qu’on lui donne à manger.
Ainsi la Parole traverse la mort :
Au cœur de la nuit, Dieu appelle à la vie.
Celui qui croit, même dans l’abîme,
Entend encore la voix qui relève.
==
In English
“Little Child, I Say to You, Arise”
Across the silent shore He came,
And crowds closed in on every side.
Jairus fell at Jesus’ feet and pleaded:
“My daughter is at the point of death.
Come, lay Your hand upon her,
That she may live.”
Jesus went with him,
The crowd pressing hard along the way.
Among them walked a woman,
Twelve long years wounded by bleeding,
Her wealth spent, her strength gone,
Her suffering only increased.
She said within herself,
“If I but touch His cloak, I shall be healed.”
She reached from behind—
At once the flow ceased,
And she felt life return within her.
Jesus knew power had gone out from Him.
He turned and asked,
“Who touched My garments?”
The disciples said,
“You see the crowd pressing in—
How can You ask?”
Trembling, the woman came forward,
Fell before Him, and spoke the truth.
Jesus said to her,
“Daughter, your faith has saved you.
Go in peace, and be healed.”
While He was still speaking,
Messengers arrived:
“Your daughter is dead.
Why trouble the Teacher any longer?”
Jesus said to Jairus,
“Do not fear—only believe.”
In the house were cries and loud weeping.
He said,
“Why do you mourn?
The child is not dead, but sleeping.”
They laughed at Him.
He put them all outside.
Taking the child’s hand, He said,
“Talitha koum.”
Which means:
“Little child, I say to you, arise.”
At once she stood and walked—
She was twelve years old.
All were overcome with amazement.
He charged them to tell no one,
And told them to give her something to eat.
Thus, in the face of death,
The Word calls life back.
And whoever believes,
Even in the darkest hour,
Hears the voice that raises the fallen.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
Hỡi em bé, Ta bảo em hãy chỗi dậy”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 5, 21-43
Khi ấy, Chúa Giê-su đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển. Bỗng có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đến. Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: “Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống”. Chúa Giê-su ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía.
Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giê-su, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: “Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành”. Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giê-su nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: “Ai đã chạm đến áo Ta?” Các môn đệ thưa Người rằng: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi “Ai chạm đến Ta?” Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người bảo bà: “Hỡi con, đức tin con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh”.
Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: “Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?” Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: “Ông đừng sợ, hãy cứ tin”. Và Người không cho ai đi theo, trừ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, em Gia-cô-bê. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Và Chúa Giê-su thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: “Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó”. Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: “Ta-li-tha-kum”, nghĩa là: “Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!” Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy, và bảo họ cho em bé ăn.
==
Thứ tư 4/02/2026
Thứ tư IV Thường niên Năm A
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6,1-6
Tiên tri nơi quê hương
Người về lặng giữa thôn xưa,
Bao năm dấu mộc – nụ cười thân quen.
Tay người xây mái nhà nghèo,
Giờ tay ấy chữa bao điều khổ đau.
Dân làng nhìn, mắt nghi ngờ,
Nghe lời chân lý mà lòng chẳng tin.
“Con bà thợ mộc, thế thôi,
Sao dám rao giảng Nước Trời nhiệm sâu?”
Giêsu nhẹ bước ưu sầu,
“Quê mình – tiên tri nào đâu được tôn.”
Không làm phép lạ cho dân,
Chỉ thương vài kẻ bệnh thân, khổ hồn.
Ra đi khắp chốn thôn thôn,
Người gieo Lời Thánh, dẫu hồn cô đơn.
Bị khinh, vẫn ngước mắt lên,
Chiều nay ánh sáng trải bên lối đời.
==
In French:
Le Prophète dans son village
Il revient au pays natal,
Les siens le regardent d’un air inégal.
Ses mains jadis sciaient le bois,
Portent aujourd’hui la grâce et la loi.
Il parle et les cœurs sont troublés,
Mais leurs doutes étouffent la vérité.
« N’est-ce pas l’enfant de Marie,
Le fils du menuisier d’ici ? »
Jésus soupire et dit tout bas :
« Nul prophète, chez lui, ne croît. »
Il guérit quelques cœurs meurtris,
Puis s’en va prêcher d’autres vies.
Seul au milieu de l’incrédulité,
Lumière qu’aucun refus n’éteint jamais.
Celui qu’on rejette en chemin
Porte pourtant la paix des lendemains.
==
In English
The Prophet in His Hometown
He came once more to fields of clay,
Where first His hands had worked and stayed.
The same rough wood His fingers knew,
Now bears the grace that shines anew.
He spoke — the truth was calm yet clear,
But hearts grew hard, closed by their fear.
“Is this not Mary’s son we know,
The carpenter from long ago?”
He sighed and softly made reply,
“A prophet finds no home nearby.”
Few were healed where faith was small,
Then on He walked, still loving all.
Amid the doubt, the scorn, the pain,
He sowed God’s Word through dust and rain.
Despised, yet crowned with mercy’s flame,
He bore forgiveness in His name.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6,1-6
Khi ấy, Chúa Giê-su trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người.
Ðến ngày Sa-bát, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sủng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: “Bởi đâu ông nầy được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Ma-ri-a, anh em với Gia-cô-bê, Giuse, Giu-đa và Si-mon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?”
Và họ vấp phạm vì Người.
Chúa Giê-su liền bảo họ: “Không một tiên tri nào mà không bị kinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình”.
Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin.
Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.
==
Thứ năm 5/02/2026
Thứ năm IV Thường niên Năm A
Thứ năm đầu tháng. Thánh Agatha, Trinh nữ, Tử đạo
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6, 7-13
NGƯỜI BẮT ĐẦU SAI CÁC ÔNG ĐI
Người gọi mười hai thân thương,
Sai đi từng cặp, lên đường sớm hôm.
Quyền thiêng thắng quỷ u ám,
Trao tay các ông sứ mệnh cứu đời.
Dọc đường chẳng gánh của cải,
Gậy tre làm bạn, nhẹ vai hành trình.
Không mang bánh, túi, bạc tiền,
Chân mang dép mỏng, áo liền một manh.
Vào nhà ai mở lòng tin,
Ở yên cho trọn nghĩa tình Chúa trao.
Nơi nào khước từ Lời Rao,
Phủi chân làm chứng, gửi trao phán truyền.
Các ông rảo bước không ngơi,
Rao mời sám hối khắp nơi mọi miền.
Quỷ ma khuất bóng ưu phiền,
Dầu xức chữa bệnh, bình yên lan tràn.
Lên đường theo lệnh Giê-su,
Tay không, lòng đầy tín trung, cậy trông.
Quyền năng chẳng bởi giàu sang,
Nhưng do vâng phục, cậy trông Thánh Ngài.
==
In French:
IL COMMENÇA À LES ENVOYER
Il appela les Douze, au matin de clarté,
Les envoya par deux sur les routes du monde ;
Il leur donna pouvoir sur l’ombre et l’impureté,
Pour libérer les cœurs des chaînes les plus profondes.
« En chemin, ne portez ni pain ni sac d’argent,
Qu’un bâton pour la route et la sandale légère ;
Un seul manteau suffit, marchez pauvres et francs,
La confiance en Dieu sera votre lumière.
Là où l’on vous reçoit, demeurez en ce lieu,
Jusqu’au jour du départ, en paix et en silence.
Mais si l’on vous refuse et n’écoute pas Dieu,
Secouez la poussière en signe de conscience. »
Ils partirent alors prêcher la conversion,
Chassant les mauvais esprits, semant la guérison ;
Par l’huile ils relevaient les corps meurtris, souffrants,
Et la grâce avançait au pas des envoyants.
Aller sans rien garder, sinon l’appel du Christ,
Pauvres de biens, mais riches d’espérance et de foi :
La force de l’Évangile naît du « me voici »,
Quand l’homme se remet tout entier à sa voix.
==
In English
HE BEGAN TO SEND THEM OUT
He called the Twelve at break of day,
And sent them forth, two by two;
He gave them power over unclean spirits,
Authority born of trust in Him.
“Take nothing for the road,” He said,
“No bread, no bag, no coin of gold;
Only a staff to guide your steps,
Sandals on feet, one cloak to wear.
Wherever a door is opened wide,
Remain in peace within that home;
But where your word is not received,
Shake off the dust and journey on.
They went and preached repentance true,
They cast out demons, far and near;
With healing oil they touched the sick,
And mercy followed where they went.
Sent forth with nothing but His call,
Their poverty became their strength;
For God’s own power walks the road
With those who trust and go in faith.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Người bắt đầu sai các ông đi“.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6, 7-13
Khi ấy, Chúa Giê-su gọi mười hai tông đồ và sai từng hai người đi, Người ban cho các ông có quyền trên các thần ô uế. Và Người truyền các ông đi đường đừng mang gì, ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép, và đừng mặc hai áo. Người lại bảo: “Ðến đâu, các con vào nhà nào, thì ở lại đó cho đến khi ra đi. Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ”. Các ông ra đi rao giảng sự thống hối. Các ông trừ nhiều quỷ, xức dầu chữa lành nhiều bệnh nhân.
==
Thứ sáu 6/02/2026
Thứ sáu IV Thường niên Năm A
Thứ sáu đầu tháng. Thánh Phaolô Miki và các bạn, tử đạo
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6, 14-29
==
In French:
« C’EST JEAN-BAPTISTE QUE J’AI FAIT DÉCAPITER »
La renommée de Jésus parcourait les royaumes,
Hérode en fut troublé, le cœur plein de frissons.
Les uns disaient : « Jean vit, revenu de la tombe »,
D’autres : « C’est Élie », ou prophète à sa façon.
Le roi murmura, l’âme lourde de remords :
« C’est Jean que j’ai fait taire par le glaive et la mort. »
Car il l’avait lié, jeté dans une prison,
Pour avoir proclamé la loi et la raison.
« Il ne t’est pas permis de prendre la femme d’un frère » —
Ainsi parlait Jean, droit, fidèle à la vérité.
Hérodiade enrageait, nourrissant sa colère,
Voulant sa mort, sans pouvoir l’exécuter.
Hérode craignait Jean, juste et consacré à Dieu,
Il l’écoutait souvent, partagé, anxieux.
Vint le jour d’anniversaire, festin des grands du lieu,
Officiers et notables remplissaient le palais somptueux.
La fille d’Hérodiade entra, dansa avec grâce,
Plut au roi, aux convives, aux regards enflammés.
Le roi jura : « Demande, je t’accorde ta grâce,
Fût-ce la moitié du royaume, je te la donnerai. »
Conseillée par sa mère, elle revint sans détour :
« Je veux, sur un plat, la tête de Jean, aujourd’hui. »
Le roi fut saisi de tristesse et d’un lourd désamour,
Mais l’honneur de son serment l’enchaîna malgré lui.
Aussitôt un garde alla dans la sombre prison,
Trancha la tête du juste, la posa sur un plateau.
La jeune fille la prit, la donna à sa mère sans nom,
Et le sang du prophète cria dans le silence d’en haut.
Les disciples vinrent prendre le corps du témoin,
Le déposèrent au tombeau, dans la douleur et l’espoir.
La voix qu’on avait tue résonne encor plus loin,
Appelant les cœurs à la justice et à la foi.
==
In English
“IT IS JOHN THE BAPTIST, WHOM I BEHEADED”
The name of Jesus spread afar,
And troubled Herod’s restless mind;
Some said, “John lives, returned from death,”
Others, “Elijah, sent by God,”
Or, “One more prophet, like the rest.”
But Herod said, with shaken voice,
“It is John, whose head I struck away—
The one I bound and cast in chains
For speaking truth without delay.”
For John had said, “It is not right
To take your brother’s lawful wife.”
Herodias burned with hidden rage
And sought his death to end his life.
Yet Herod feared the righteous man,
He knew him holy, just, and true;
He listened, torn by doubt and fear,
Yet found a strange delight in him too.
The day arrived—his birthday feast,
With lords and captains gathered near;
The daughter danced and pleased the court,
And stirred the king with boastful cheer.
“Ask what you will,” the king then swore,
“Even half my realm I give to you.”
She asked her mother what to seek—
“The Baptist’s head,” her mother knew.
She hurried back and spoke her plea:
“Give me John’s head upon a plate.”
The king grew sorrowful at heart,
Yet bound by oath and guests of state.
At once a guard went to the cell,
Cut off the head of God’s true seer;
He brought it back upon a dish,
And gave it to the girl in fear.
She took it to her waiting mother;
The prophet’s blood in silence cried.
His disciples came, took up his body,
And laid him in a tomb where hope abides.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Ðó chính là Gio-an Tẩy Giả trẫm đã chặt đầu, nay sống lại”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6, 14-29
Khi ấy, vua Hê-rô-đê nghe nói về Chúa Giê-su, vì danh tiếng Người đã lẫy lừng, kẻ thì nói: “Gio-an Tẩy giả đã từ cõi chết sống lại, nên ông đã làm những việc lạ lùng”; kẻ thì bảo: “Ðó là Ê-li-a”; kẻ khác lại rằng: “Ðó là một tiên tri như những tiên tri khác”. Nghe vậy, Hê-rô-đê nói: “Ðó chính là Gio-an trẫm đã chặt đầu, nay sống lại”. Vì chính vua Hê-rô-đê đã sai bắt Gio-an và giam ông trong ngục, nguyên do tại Hê-rô-đi-a, vợ của Phi-líp-phê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gio-an đã bảo Hê-rô-đê: “Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình”. Phần Hê-rô-đi-a, nàng toan mưu và muốn giết ông, nhưng không thể làm gì được, vì Hê-rô-đê kính nể Gio-an, biết ông là người chính trực và thánh thiện, và giữ ông lại. Nghe ông nói, vua rất phân vân, nhưng lại vui lòng nghe. Dịp thuận tiện xảy đến vào ngày sinh nhật Hê-rô-đê, khi vua thết tiệc các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ Ga-li-lê-a. Khi con gái nàng Hê-rô-đi-a tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hê-rô-đê và các quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: “Con muối gì, cứ xin, trẫm sẽ cho”, và vua thề rằng: “Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước, trẫm cũng cho”. Cô ra hỏi mẹ: “Con nên xin gì?” Mẹ cô đáp: “Xin đầu Gio-an Tẩy Giả”. Cô liền vội vàng trở vào xin vua: “Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu Gio-an Tẩy Giả đặt trên đĩa”. Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức, vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gio-an và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục chặt đầu Gio-an, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ. Nghe tin ấy, các môn đệ Gio-an đến lấy xác ông và mai táng trong mồ.
==
Thứ bảy 7/02/2026
Thứ bảy IV Thường niên Năm A
Thứ bảy đầu tháng
PHS Suy niệm Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6, 30-34
HỌ NHƯ ĐÀN CHIÊN KHÔNG NGƯỜI CHĂN
Đoàn con tản mác bơ vơ,
Giữa đồng gió táp, mịt mờ lối đi.
Dặm dài lữ thứ thầm thì,
Nghe tim khát tiếng từ bi gọi về.
Chúa nhìn muôn nẻo sơn khê,
Động lòng thương xót não nề đàn chiên.
Không người dẫn lối bình yên,
Lang thang giữa chốn ưu phiền thế gian.
Người mời Tông Đồ nghỉ an,
Vào nơi thanh vắng, nhẹ mang phận người.
Nhưng dân kéo đến không nguôi,
Khát Lời Hằng Sống, khát nguồn yêu thương.
Chúa quên mỏi mệt đoạn trường,
Dạy bao chân lý, mở đường niềm tin.
Chiên nghe tiếng Mục Tử hiền,
Lòng bừng ánh sáng, đời liền nở hoa
==
In French:
COMME DES BREBIS SANS BERGER
Ils erraient, foule lasse et dispersée,
Au vent des jours, sans chemin assuré.
Leurs pas cherchaient, au creux du silence,
Une voix douce, une présence.
Jésus les vit au bord du rivage,
Son cœur s’émut devant leur visage.
Ils étaient là, pauvres et perdus,
Comme un troupeau sans guide aperçu.
Il avait dit : « Venez, reposez-vous,
À l’écart, loin du tumulte des foules. »
Mais les cœurs affamés accouraient déjà,
Assoiffés de Parole et de paix.
Alors, oubliant fatigue et faim,
Le Maître ouvrit un chemin.
Il leur enseigna longuement,
Semant l’espérance au présent.
La brebis reconnut la voix,
Le Berger parlait : elle crut.
Et sous le soleil de sa loi,
La vie refleurit, enfin vécue.
==
In English
LIKE SHEEP WITHOUT A SHEPHERD
They wandered, weary, scattered wide,
Across the fields where hopes had died.
No guiding voice, no path in sight,
Their days were long, their nights had no light.
When Jesus stepped upon the shore,
He saw the crowd—and felt much more:
A heart moved deep with tender care
For sheep alone, without a prayer.
He said, “Come away, rest for a while,
Leave noise behind, be still, be child.”
Yet hungry souls came running fast,
For living words that ever last.
So He forgot His need for rest,
And fed their minds, their souls, their quest.
He taught them truths both deep and plain,
And hope arose where there was pain.
The sheep at last knew well the voice,
The Shepherd spoke—they could rejoice.
Where He now leads, no heart is lost;
Love is the path, and grace the cost.
===
Tin Mừng ngày hôm nay
“Họ như đàn chiên không người chăn”.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Marcô. Mc 6, 30-34
Khi ấy, các tông đồ hội lại bên Chúa Giê-su và thuật lại với Người mọi việc các ông đã làm và đã giảng dạy. Người liền bảo các ông: “Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút”. Vì lúc ấy dân chúng đến tấp nập đến nỗi các tông đồ không có thì giờ ăn uống. Vậy các ngài xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh. Thấy các ngài đi, nhiều người hiểu ý, và từ các thành phố, người ta đi bộ kéo đến nơi đó và tới nơi trước các ngài. Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giê-su thấy dân chúng thật đông, thì động lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều.