Nhảy đến nội dung

Phương thuốc thần diệu

PHƯƠNG THUỐC THẦN DIỆU  (CN XIII/TN-B)

Cuộc đời con người trên trần thế không sao tránh khỏi vòng kim cô “sinh – lão – bệnh – tử”. Có bệnh thì tìm thầy chạy thuốc cũng là chuyện thường tình. Gặp được thầy thuốc hay thì chẳng nói làm gì, nhưng nếu không may gặp phải lang băm thì coi chừng bệnh đã không được chữa khỏi, mà còn có hy vọng “đi tàu suốt” nữa. Cũng chính vì không muốn “đi tàu suốt” nên có không ít những nhân vật tầm cỡ lo đi tìm thuốc “trường sinh bất tử”. Trường hợp Tần Thủy Hoàng (Trung Quốc) là một ví dụ: Sau khi chiến thắng lục quốc, Tần Chính lên ngôi lấy hiệu là Tần Thủy Hoàng Đế (Hoàng đế đầu tiên nhà Tần) rồi truyền lệnh người con kế vị phải lấy hiệu là Nhị Thế Hoàng Đế và cứ cha truyền con nối cho đến Vạn Thế Hoàng Đế. Nhà Tần sẽ truyền tử lưu tôn làm vua đến vạn đời. Một khát vọng không tiền khoáng hậu!!!

Chưa hết, Tần Thủy Hoàng còn muốn trường sinh bất tử, nên khi nghe viên quan nước Tề là Từ Phúc trình tấu ở biển Đông có 3 hòn đảo là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu, trên mỗi đảo có một ngọn núi do thần tiên cai quản. Cả 3 hòn đảo đều có thuốc trường sinh bất tử. Tần Thủy Hoàng rất mừng, liền phái Từ Phúc vượt biển tìm thuốc về cống nộp. Để chắc ăn, nhà vua chu cấp thuyền bè, lương thực dồi dào, còn thêm rất nhiều cung nữ phục dịch cho chuyến đi đặc biệt này. Tuy nhiên, Từ Phúc cùng với đoàn tùy tùng đã “một đi không trở lại” mang theo khát vọng trường sinh không tưởng của Tần Thủy Hoàng và của con người qua mọi thời đại. Âu đó cũng là một bài học đắt giá cho những kẻ tin vào thần linh, nhưng đã đặt niềm tin không đúng chỗ.

Bái Tin Mừng hôm nay (CN XIII/TN-B – Mc 5, 21-43) trinh thuật 2 sự kiện minh chứng người tin (tín hữu) đã đặt niềm tin đúng chỗ. Trường hợp thứ nhất, “Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: "Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống." (Mc 5, 22-23). Trường hợp thứ hai là người phụ nữ bị bệnh băng huyết 12 năm, đã “tán gia bại sản” vì tìm thầy chạy thuốc mà bệnh ngày càng nặng thêm; bà vừa phải chịu nỗi đau thể xác vì bệnh hoạn, lại vừa phải chịu nỗi đau tinh thần vì mọi người coi bà như kẻ dơ bẩn, bị phạt tội, và ai cũng muốn xa lánh. Trong cả 2 trường hợp, Đức Ki-tô đã nhấn mạnh đến liều thuốc chữa bệnh tuyệt vời có ngay ở nơi người bệnh, chớ không phải nơi người thầy thuốc. Với người phụ nữ bị bệnh băng huyết thì "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh." (Mc 5, 34); còn với con gái ông trưởng hội đường thì: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi." (Mc 5, 36).

Nói đến đức tin là nói đến vấn đề cốt tuỷ của tôn giáo nói chung và cách riêng của Ki-tô giáo. Ở đây xin không đề cập đến những tình huống tin mù quáng hay tin a dua, a tòng, hoặc mê tín dị đoan. Chỉ xin nói đến những trường hợp tin vì được chứng kiến tận mắt, hoặc do học hỏi tìm hiểu những chứng liệu, những dấu chỉ có giá trị lịch sử. Với niềm tin tôn giáo (tức là tin vào thần linh) thì làm thế nào để có thể trông thấy nhãn tiền? Đây là trường hợp rất hi hữu đã xảy ra với các ngôn sứ trong Cựu Ước (được thị kiến, được gặp và trò chuyện với Đức Chúa). Chỉ bước sang Tân Ước, các thánh Tông đồ mới được chứng kiến tận mắt Thiên Chúa mặc xác phàm. Tuy được “thực mục sở thị” nhưng cũng còn không ít trường hợp bán tín bán nghi (Mt 28, 17; Mc 15, 14); khi thì tuyên xưng Thầy mình là Thiên Chúa, khi thì lại tưởng Thầy là ma (Mt 14, 26; Lc 24, 36). Tin rằng Thầy là Thiên Chúa, nhưng vì thấy nhãn tiền Thầy đã chết treo khổ nhục trên thập giá, được chính tay mình liệm xác và táng trong hang đá, nên không tin Thầy đã sống lại khi chưa được xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Thầy (Ga 20, 24-25). Được thực mục sở thị mà còn vậy, huống hồ là chỉ được biết qua dấu chỉ, chứng liệu. Khó thật!

Khó, nhưng không bao giờ vượt quá sức của con người, bởi “… những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người.” (Rm 1, 20). Thiên Chúa luôn luôn muốn đến với con người bằng mọi cách để an ủi, để cứu vớt. Đó chính là những mạc khải, những thị kiến giúp con người có thể tiếp cận được với Thiên Chúa. Quả thật “phải nhìn nhận rằng đời sống Giáo Hội ngày càng nhạy cảm hơn về chủ đề Lời Chúa, với sự chú tâm đặc biệt đến mầu nhiệm Mạc Khải Ki-tô giáo, Truyền Thống sống động và Kinh Thánh.” (Tông huấn Lời Chúa "Verbum Domini", số 3). Vâng, và để thực sự hiểu được chân lý, con người không thể chỉ ỷ vào sức mình, mà còn cần – rất cần – cậy dựa vào Chúa Thánh Thần, Đấng hằng an ủi, soi sáng và hướng dẫn nẻo chính, đường ngay tìm về Chân Lý. Chỉ có như thế, "Dân Thiên Chúa, nhờ đức tin mà tin rằng mình được Thánh Thần Thiên Chúa là Ðấng bao phủ mặt đất hướng dẫn, cố gắng nhận định đâu là những dấu chỉ thực về sự hiện diện hoặc ý định của Thiên Chúa trong mọi biến cố, mọi yêu sách và ước vọng mà họ dự phần với những người đương thời." (Hc Tín Lý vè Mạc Khải “Dei Verbum”, số 11).

Trong cuộc sống hằng ngày, mối quan hệ của con người với con người cũng được dệt bằng sự tin tưởng lẫn nhau; nếu không, cuộc sống sẽ rất nặng nề vì ngờ vực và đố ky. Cao hơn nữa, trong tình bạn và trong cuộc sống gia đình, người ta còn đến với nhau bằng niềm tin sâu xa hơn, niềm tin bao hàm cả tình yêu và lòng trung thực, niềm tin khiến con người cởi mở cõi lòng cho nhau và nâng đỡ nhau trong mọi thăng trầm của cuộc sống. Như thế, niềm tin đã là một yếu tố căn bản và cần thiết cho cuộc sống con người. Đông Phương học đã xác định niềm tin có một vị thế đặc biệt trong cuộc sống cá vị của con nguời đối với cộng đồng, đối với quốc gia (人 無 信 不 立  "Nhân vô tín bất lập": người không có niềm tin (lòng tin) thì không đứng được ở đời – Khổng Tử; 信 為 國 之 寶  "Tín vì quốc chi bảo": trung tín là báu vật của quốc gia – Tấn Văn Công). Quả nhiên, trong xã hội, những người luôn sống trorng ngờ vực, đố kỵ, thì không thể hoà nhập với cộng đồng, họ sống co cụm trong một ốc đảo ích kỷ, nhỏ nhen. Nếu một quốc gia, từ các cấp chính quyền đến mọi tầng lớp nhân dân đều sống với nhau bằng sự trung thực và tin tưởng lẫn nhau, thì chắc chắn quốc gia đó sẽ là Bồng lai tiên cảnh, là Thiên đường tại thế. 

Đối với tôn giáo cũng vậy, không một tôn giáo nào không được xây dựng trên nền tảng đức tin. Với Ki-tô Giáo thì “Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người, thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa." (Thánh Au-gus-ti-nô). Cũng bởi vì “Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài (x. Ep 1, 9); nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2, 18; 2 Pr 1, 4). Vậy qua việc mạc khải này, Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15; 1 Tm 1,17), do tình thương chan hòa của Ngài, đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu (x. Xh 33, 11; Ga 15, 14-15) và liên lạc với họ (x. Br 3, 38) để mời gọi họ và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài. Nhiệm cục mạc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ biểu lộ và củng cố cả giáo huấn lẫn những thực tại được diễn tả bởi các lời; còn các lời thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó.” (Hiến chế “Dei Verbum”, số 2).

Điều đó cho thấy tin chính là đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Chính “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám: Nhờ đức tin, ông A-ben đã dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quý hơn hy lễ của ông Ca-in. Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết; Nhờ đức tin, ông Nô-ê được Thiên Chúa báo cho biết những gì người ta chưa thấy; Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Áp-ra-ham đã sẵn sàng hiến tế I-xa-ác, con một của mình. Các ông I-xa-ac, Gia cóp, Giu-se, Mô-sê, Ghít-ôn, Ba-rắc, Sam-sôn, Gíp-tác, Đa-vít, Sa-mu-en và các ngôn sứ, kể cả cô kỹ nữ Ra-kháp và các phụ nữ khác … nhờ đức tin mà thoát khỏi bệnh tật, vượt qua thử thách, chiến thắng ngoại xâm…, cũng như dân Do-thái nhờ đức tin mà vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất liền…” (Dt 11, 1-40). Chính là nhờ đức tin mà tất cả đều được Thiên Chúa ban ân sủng tuỳ theo từng trường hợp của mỗi người. Bước sang Tân Ước và trải dài theo lịch sử Giáo Hội cho đến hiện nay, thì không bút mực nào có thể liệt kê cho hết được những chứng liệu về một đức tin vững mạnh, trung kiên của mọi phần tử trong Hội Thánh Chúa.

Tâm lý thông thường của con người vẫn quan niệm sự quyết định cho một người bệnh khỏi hay không là ở thầy thuốc, thầy thuốc càng giỏi thì bệnh càng chóng khỏi, nhất là khi thầy thuốc đó lại là một kỳ nhân, một thần nhân. Vì thế, nên mới “có bệnh thì vái tứ phương” và không thiếu những trường hợp “tiền mất tật mang” khi gặp phải lang băm, thầy rờ, thầy vuốt… Ấy là chưa kể còn biết bao trường hợp núp dưới bóng thần linh, dựa vào hơi ma mị quỷ thần, các ông thầy, bà mụ tung ra những chiêu thức lừa đảo khiến bệnh nhân tán gia bại sản mà bệnh vẫn hoàn bệnh. Trở lại với bài Tin Mừng, rõ ràng là Đức Ki-tô đã dạy một bài học ngược lại với tâm lý chung của con người: Được chữa khỏi hay không là ở chính bệnh nhân tin hay không tin. Người Thầy Thuốc Chí Thánh không thể chữa được căn bệnh trầm kha của con người (do bị tội lỗi thống trị) nếu con người bất hợp tác vì không tin. Quả thật "Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài." (Thánh Au-gus-ti-nô).

Xem thế thì đủ biết: Bệnh nhân chỉ có thể được chữa khỏi nếu thực lòng tin vào thầy thuốc. Tuy nhiên, sẽ nảy ra một vấn nạn: Nhưng nếu thầy thuốc là những lang băm, thầy rờ, thầy vuốt, hoặc những ông đồng bà cốt lừa mị, thì sao? Mấu chốt vấn đề chính ở điểm này. Tin vào thầy thuốc nhưng thầy thuốc ấy phải là Thầy Thuốc chí nhân chí lành đã khẳng định: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” (Lc 5, 31),  là Đấng Ban Sự Sống, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu. Với người Ki-tô hữu, niềm tin vào Thiên Chúa không gì khác hơn là đặt trọn vẹn niềm tin vào Ðức Giê-su Ki-tô. Chỉ một mình Người biết Thiên Chúa và có thể chỉ cho người tín hữu thấy Thiên Chúa đích thực ("Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết." – Ga 1, 18). Vì thế, “tin là tin vào Thiên Chúa được tỏ ra trong Ðức Giê-su Ki-tô. Niềm tin ấy, con người không thể có nếu không được ở trong Thần Khí Thiên Chúa, vì "Không ai có thể nói rằng: Ðức Giê-su là Chúa, nếu người ấy không ở trong Thần Khí." (1Cr 12, 3). Chính Người là Ðấng "thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa ... Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa." (1 Cr 2, 10-11).

Vấn đề có thể quy kết: Con ông trưởng hội đồng, người phụ nữ bị bệnh băng huyết đã được chữa lành vì đã có được một "phương thuốc thần diệu": ĐỨC TIN. Vậy thì tại sao người Ki-tô hữu lại không  thể thông qua lời cầu nguyện để có thể sống một cuộc sống trên nền tảng đức tin như lời dạy của thánh Giu-đa: "Hãy xây dựng đời mình trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần." (Gđ 1, 20). Vâng, có bệnh thì cần thuốc chữa, bệnh nặng thì cần thuốc hay, đến như bệnh trầm kha thì phải có thần dược đặc trị. Nếu biết tìm đến với "phương thuốc thần diệu" Đức Tin, sẽ được chữa khỏi mọi bệnh tật, có thể vượt qua mọi sóng gió, thậm chí có thể chiến thắng mọi kẻ thù hung ác. Và để có thể có được thần dược đó, hãy học sống theo gương Tổ phụ Ap-ra-ham và nhất là Đức Mẹ. Tổ phụ Ap-ra-ham và Mẹ Maria là những mẫu mực tuyệt hảo của đức tin. Vì tin, các ngài đã trao phó trọn vẹn cuộc đời cho Thiên Chúa và trở thành những người cộng tác tích cực vào chương trình của Thiên Chúa: Vì tin, tổ phụ Ap-ra-ham đã vâng lời "ra đi mà không biết mình đi đâu" (Dt 11, 8), thậm chí cũng vì tin mà Tổ phụ sẵn sàng sát tế I-sa-ac là con trai độc nhất của mình (St 22, 1-19). Vì tin, Mẹ Maria đã thưa với sứ thần: "Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." (Lc 1, 38) và từ đó, Đức Mẹ đã đồng công với Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ trong suốt hành trình cứu chuộc nhân loại.

Ôi! Lạy Chúa! Con vẫn biết là nếu con có một đức tin vững mạnh thì con sẽ được chữa lành mọi bệnh tật; nhưng để có được một "phương thuốc thần diệu" như thế, con không thể dựa vào sức mình, mà phải biết cậy dựa vào Thần Khí Chúa. Cúi xin Chúa ban Thánh Thần thánh hóa và tăng thêm đức tin vững mạnh cho chúng con. Ôi! Lạy Chúa! Xin Chúa đừng bỏ rơi con, vì "CHÚA là thành che chở người bị áp bức, là thành che chở trong những lúc ngặt nghèo. Người nhận biết Thánh Danh, sẽ một niềm tin cậy, vì lạy CHÚA, Chúa chẳng bỏ rơi những ai kiếm tìm Ngài. Đàn ca lên mừng CHÚA, Đấng ngự giữa Xi-on, tường thuật cho muôn nước những kỳ công của Người." (Tv 9, 10-12). Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ được lành mạnh. Amen.            

JM. Lam Thy ĐVD.

Tác giả: