Tại sao Chúa Giê-su lại phải chết?
- T2, 09/03/2026 - 13:23
- Lm Anmai, CSsR
Tại sao Chúa Giê-su lại phải chết?
Trong Thiên Chúa giáo, chết là hậu quả của tội. Nhung tại sao Chúa Giê-su vô tội lại phải chết để Thiên Chúa cất đi tội lỗi của chúng ta? Hãy cẩn trọng, việc chúng ta đặt câu hỏi tại sao Thiên Chúa không đơn giản tìm ra “một cách khác” để làm điều gì đó cũng mang ngụ ý rằng cách Ngài đã chọn không phải là cách tốt nhất. Thông thường, điều chúng ta cho là phương pháp “tốt hơn” là phương pháp mà chúng ta cho là đúng. Tuy nhiên, trước khi có thể hiểu được bất cứ điều gì Đức Chúa Trời làm, chúng ta nên thừa nhận rằng đường lối của Ngài không phải là đường lối của chúng ta, tư tưởng của Ngài không phải là tư tưởng của chúng ta. Chúng cao hơn tư tưởng của chúng ta, theo lời Thiên Chúa phán qua tiên tri Ê-sai,“Vì trời cao hơn đất, nên đường lối của Ta cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cao hơn tư tưởng của các ngươi” (Ê-sai 55:8).
Lịch sử đã ghi lại các bằng chứng Chúa Giê-su vô tội đã đổ máu và chết trên thập tự giá. Ngoài ra, Kinh Thánh ghi lại rằng Chúa Giê-su được gọi là Vua của người Do Thái ngay cả từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc cuộc đời ngài: Khi Chúa Giê-su sinh ra, các nhà thông thái từ phương Đông đi tìm đến Do Thái gọi ngài là "Vua dân Do Thái" (Ma-thi-ơ 2:1) khiến vua Hê-rốt nổi giận ra lệnh tàn sát những bé thơ vô tội; Khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, quan Phi-lát ra lệnh treo tấm biển "Giê-su người Na-xa-rét, Vua dân Do Thái" bằng cả ba thứ tiếng trên thập tự giá ngài – tiếng Do Thái, tiếng La-tinh và tiếng Hy Lạp (Gioan 19:19-20). Quan trọng hơn cả, Kinh Thánh ghi lại: "Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Kinh Thánh, ngài đã được chôn cất, và ngài đã sống lại trong ngày thứ ba" (1 Cô-rinh-tô 15:3-4), và Kinh Thánh giải thích rằng cái chết (và sự phục sinh) của Chúa Giê-su là con đường duy nhất dẫn đến Thiên Ðàng.
Hình phạt cho tội lỗi là sự chết.
Sự bất tuân, hay tội lỗi của A-đam, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả con cháu người. Từ đó đến nay, mọi người đều phạm tội bất tuân luật lệ công chính của Đức Chúa Trời, “Vì mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất vinh quang của Thiên Chúa” (Rô-ma 3:23). Tội lỗi không chỉ là những điều lớn lao như giết người hay phạm thượng, mà còn bao gồm lòng tham tiền bạc, thù hận kẻ thù, dối trá và kiêu ngạo. Vì tội lỗi mà mọi người đều đáng phải chết. Ngay cả những việc làm tốt cũng không thể bù đắp cho những điều sai trái chống lại Thiên Chúa thánh khiết, bởi vì so với lòng tốt của Ngài, “Mọi sự công chính của chúng ta đều như giẻ rách bẩn thỉu” (Ê-sai 64:6b). Tội lỗi phải trả giá bằng sự chết, và nếu không có sự thay đổi trong lòng người do Đức Chúa Trời định đoạt, sự chết sẽ chiến thắng linh hồn của một người – luôn luôn là như vậy.
Lời hứa đòi hỏi một cái chết vô tội.
a) Thiên Chúa đã thiết lập lời hứa cứu chuộc của Ngài thông qua “Dòng dõi của người nữ”.
Thiên Chúa hứa Ngài sẽ sai một Đấng Cứu Thế, là dòng dõi của người phụ nữ, đến để đánh bại con rắn: “Đức Giê-hô-va Chúa Trời phán cùng con rắn rằng: ‘Ta sẽ đặt sự thù nghịch giữa ngươi và người nữ, giữa dòng dõi ngươi và dòng dõi người nữ; người sẽ nghiền nát đầu ngươi, còn ngươi sẽ cắn gót chân người ’.” (Khởi Nguyên 3:15). Câu Kinh Thánh này – thường được gọi là “Phúc Âm Tiên Phong” (từ Hy Lạp “protos” nghĩa là “đầu tiên” và “euaggelion” nghĩa là “Phúc Âm”) – chứa đựng lời hứa đầu tiên về một Đấng Cứu Chuộc cho nhân loại sa ngã. Mặc dù thoạt nhìn bạn có thể không nhận ra, nhưng Chúa Giê-su được bày tỏ trong câu này. Ngài là Đấng Cứu Thế, người cuối cùng sẽ “phá hủy công việc của ma quỷ” (1 Gioan 3:8) bằng cách nghiền nát đầu con rắn. Trong quá trình cứu con người ra khỏi sự chết đời đời, “gót chân” của ngài sẽ bị thương trên thập tự giá, bởi vì ngài gánh lấy lời nguyền rủa mà Thiên Chúa đã đặt trên họ do tội lỗi.
b) Đức Chúa tái khẳng định lời hứa về lễ vật hy sinh với Áp-ra-ham.
Thiên Chúa ban cho Áp-ra-ham một người con trai, Í-sa-ác – đã được Ngài hứa do Sa-ra sinh ra khi bà đã quá tuổi sinh nở (Khởi Nguyên 18:11). Ngài truyền lệnh cho Áp-ra-ham dâng người con trai đó làm lễ vật chuộc tội, nhưng Ngài đã ngăn Áp-ra-ham lại trước khi ông kịp giết cậu con, phán rằng: “Ngươi chớ đặt tay lên đứa trẻ, chớ làm hại nó, vì bây giờ Ta biết ngươi kính sợ Thiên Chúa, vì ngươi không giữ lại con trai duy nhất của ngươi mà không dâng cho Ta” (Khởi Nguyên 22:12), và Ngài đã nhân từ ban cho một con chiên thay thế cho con trai của Áp-ra-ham làm vật tế lễ (Khởi Nguyên 22:13).
Sách Khởi Nguyên đã cho chúng ta biết rằng đây là một thử thách đức tin của Áp-ra-ham: Đức tin là chìa khóa ở đây, chứ không phải sự vâng phục mù quáng; vì Chúa đã không để Áp-ra-ham dâng con người làm lễ vật, một hành động mà con người không thể dung hòa với lương tâm của họ. Thay vào đó, Thiên Chúa đã bằng lòng đổi chỗ với người cha ấy, để hi sinh Con Một của Ngài làm của lễ chuộc tội thay cho một người phàm như I-sa-ác. Đây chính là sự bày tỏ mầu nhiệm về việc Đức Chúa Cha ban Con Một mình để chết vì tội lỗi của thế gian. Con trai hoàn hảo của Đức Chúa Trời đã hoàn thành trọn vẹn yêu cầu hoàn hảo của luật pháp hoàn hảo của Đức Chúa Trời, “ Thiên Chúa đã khiến Đấng ấy (Chúa Giê-su), là Đấng không hề phạm tội, trở nên tội lỗi vì chúng ta, để chúng ta nhờ ngài mà trở nên sự công chính của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21).
c) Đức Chúa Trời tái khẳng định lời hứa về Lễ vật Hy Sinh với ông Môi-se.
Trong tai họa cuối cùng của mười tai họa giáng xuống Ai Cập, Thiên Chúa bảo ông Môi-se ra lệnh cho các gia đình Is-ra-ên dâng một con chiên làm lễ vật; thịt chiên phải được ăn và máu phải được rắc lên khung cửa để đánh dấu mỗi nhà, hầu cho con trai đầu lòng của họ được tha khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa – tức là sự chết. “Ðó là lễ vật Vượt qua dâng kính Yavê, Ðấng đã nhảy ngang qua nhà con cái Israel ở Ai cập và tha nhà chúng ta khi Ngài đánh phạt dân Ai Cập.” (Xuất Hành 12:27). Những chỉ dẫn này là luật lệ vĩnh viễn mà họ và con cháu họ phải tuân giữ mãi mãi (Xuất Hành 12:25). Sau đó, dân Is-ra-ên sẽ làm “lễ vật Vượt Qua” vào đêm trước Lễ Vượt Qua, rơi vào ngày 14 tháng Nisan, để dâng lễ vật chuộc tội đến Đền Thánh Giê-ru-sa-lem (cho đến khi Đền Thánh bị phá hủy vào năm 70 sau Công nguyên).
Lễ vật Vượt Qua trong Cựu Ước chắc chắn là hình ảnh báo trước về Chúa Giê-su Kitô. Cũng như sự thoát khỏi từ sự chết vào sự sống đã đến với dân Is-ra-ên qua việc đổ và rắc huyết của con chiên, huyết của Chúa Kitô bảo vệ những người tin ngài khỏi sự phán xét của Thiên Chúa, “Vì anh em biết rằng, không phải bằng những của cải hư nát như bạc hay vàng mà anh em được chuộc khỏi lối sống hư không truyền lại từ tổ phụ mình, nhưng bằng huyết quý báu của Đấng Kitô, là con chiên không tỳ vết, không khuyết điểm. Ngài đã được chọn trước khi sáng tạo thế giới, nhưng đã được tỏ mình ra trong những thời kỳ cuối cùng này vì lợi ích của anh em.” (1 Phi-e-rơ 1:18-20)
d) Chúa Giê-su Kitô đã được sai đến như là Lễ vật Vượt Qua tối thượng.
“Đấng Kitô là Chiên Con của Đức Chúa Trời” (Gioan 1:29), và Chiên Con của Đức Chúa Trời này “đã bị giết từ thuở sáng thế” (Khải Huyền 13:8). Chúa Giê-su Kitô đã phán với người Do Thái: “Thật vậy, thật vậy, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt và uống huyết Con Người, thì các ngươi không có sự sống trong mình. Ai ăn thịt ta và uống huyết ta thì có sự sống đời đời, và ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng” (Gioan 6:53-54). Ngay trước ngày lễ Vượt Qua, ngày mà ngài sẽ bị hành quyết, Chúa Giê-su đã tiên tri không chỉ về cái chết của ngài mà còn cả cách thức chết của ngài qua lời cầu nguyện: “‘Nhưng vì mục đích này mà con đã đến vào giờ này. Lạy Cha, xin làm vinh hiển danh Cha.’ Bấy giờ có tiếng từ trời phán rằng: ‘Ta đã làm vinh hiển danh Ta rồi, và Ta cũng sẽ làm vinh hiển danh Ta nữa.’ Đức Chúa Giê-su phán tiếp: ‘Nếu ta được cất lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến với ta.’ (Ngài nói điều này để chỉ về cái chết mà ngài sẽ chịu).” (Gioan 12:27-33). Và khi đọc về việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, nhiều người khó có thể tin vào mắt mình: Ngày ngài bị đóng đinh là ngày 14 tháng Nisan theo lịch Do Thái, cũng chính là ngày mà các chiên con Lễ Vượt Qua phải bị giết (Lê-vi 23:5). Thêm nữa, cả bốn sách Phúc Âm cũng đều đề cập rằng Chúa Giê-su bị giết ngay vào thời điểm Lễ Vượt Qua.
Như Chúa Giê-su đã từng nói với các môn đệ: “Thịt của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta và hoàn thành công việc của Ngài.” (Gioan 4:34 KJV) (một số bản dịch khác dịch là “thức ăn” thay vì “thịt”), trong bữa tiệc ly, Chúa Giê-su cũng giải thích rằng ngài đã hiến dâng thân thể để chúng ta được nuôi dưỡng, và cho phép huyết mình đổ ra để chúng ta được tha thứ. Ngài đã hi sinh mạng sống mình để chuộc chúng ta khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa – khỏi lời nguyền rủa của luật pháp và sự phán xét của hỏa ngục. “Vậy nên, hiện nay chẳng còn sự phán xét nào cho những người ở trong Đấng Giê-su Kitô, vì nhờ Đấng Giê-su Kitô, lề luật của Đấng Thần Linh ban sự sống đã giải thoát anh em khỏi lề luật của tội lỗi và sự chết.” (Rô-ma 8:1-3)
e) Cái chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá đã hoàn thành lời tiên tri cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước.
Một điềm báo về sự đóng đinh của Chúa Giê-su được thuật lại trong sách Dân số chương 21: Để giải thoát dân Is-ra-ên khỏi ách nô lệ ở Ai Cập, Thiên Chúa hướng dẫn họ đóng trại bên Biển Đỏ theo hướng có biển ở một bên và có vùng sa mạc ở phía trước. Vì vậy, vua Pha-ra-ô đã để họ đi trước, vì nghĩ rằng họ không thể trốn thoát nếu ông ta đuổi theo. Tiếp theo, Thiên Chúa đã đưa dân Is-ra-ên vượt qua Biển Đỏ an toàn trong khi nhấn chìm toàn bộ quân đội Ai Cập đang đuổi theo họ. Sau đó, trong sa mạc, Thiên Chúa đã cung cấp cho họ manna, một thứ thức ăn kỳ diệu xuất hiện trên mặt đất như sương mai. Tuy vậy, dân Is-ra-ên trở nên mất kiên nhẫn và không tin tưởng Thiên Chúa, “Dân chúng nói nghịch lại Đức Chúa Trời và Môi-se rằng: ‘Tại sao các người đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập để rồi chết trong hoang mạc? Vì không có thức ăn và không có nước, và chúng tôi ghê tởm thứ thức ăn vô ích này’.” Vậy nên Đức Chúa Trời sai rắn độc đến giữa họ để trừng phạt họ. Vì vậy nên dân chúng tìm đến gặp Môi-se và thú nhận tội lỗi của mình, rồi xin Môi-se: “Cầu nguyện xin Yavê cất rắn khỏi chúng tôi”. Đáp lại lời cầu nguyện của Môi-se, Đức Chúa Trời phán bảo ông: “Hãy làm một con rắn bằng đồng, dựng trên cây sào; hễ ai bị rắn cắn, khi nhìn thấy nó thì sẽ sống”. (Dân số 21:5-8)
Chúa Giê-su đã đề cập đến sự việc này liên quan đến sứ mệnh của ngài. Chính ngài phán rằng: “Như Môi-se đã giương cao con rắn đồng trong đồng vắng, thì Con Người cũng phải được giương cao lên như vậy, để ai tin ngài thì không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Gioan 3:14-15).
Cách chết khủng khiếp của Ngài, khi ngài bị “đâm xuyên” vì tội lỗi của chúng ta (Ê-sai 53:5), đã được tiên tri Ê-sai báo trước: “Nhiều người kinh ngạc khi thấy ngài. Mặt ngài biến dạng đến nỗi dường như không còn là người nữa, và nhìn bề ngoài, người ta khó mà biết ngài là người” (Ê-sai 52:14). Vua Đa-vít cũng đã tiên tri về cái chết kinh hoàng này: “Tôi như bị đổ ra như nước, xương cốt tôi lìa khỏi khớp; lòng tôi như sáp, tan chảy trong lồng ngực; sức lực tôi cạn kiệt như mảnh vỡ đồ gốm, lưỡi tôi dính vào hàm… Chúng đã đâm thủng tay chân tôi – tôi đếm được hết xương cốt mình – chúng nhìn chằm chằm và hả hê trước tôi; chúng chia nhau áo quần của tôi, và chúng bắt thăm để lấy áo tôi” (Thánh Vịnh 22:14-18). (Như vậy, Thánh Vịnh 22 mô tả một cuộc đóng đinh, nhưng vào thời vua Đa-vít, hình thức hành quyết này chưa được biết đến. Chỉ nhờ sự soi dẫn của Thiên Chúa mà Đa-vít mới có thể mô tả những việc sẽ xảy tới với Chúa Giê-su). Tiên tri Za-cha-ria viết: “Ðấng hằng hữu Yavê , Đấng giăng các tầng trời, lập nền móng cho trái đất, và tạo nên linh hồn cho con người, phán rằng: ‘Ta sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem thành một chén khiến cho mọi dân chung quanh phải choáng váng … Họ sẽ đứng xem Ta, là Đấng họ đã đâm, và sẽ khóc thương ngài như người khóc con một, khóc đắng cay như khóc con đầu lòng. ’ ” (Za-cha-ria 12:10). Đoạn Kinh Thánh này không chỉ tiên tri về cách thức chết của đấng cứu tinh Mê-sia, mà còn khẳng định người họ sẽ giết chết cũng chính là Chúa.
Thật vậy, Chúa Giê-su cũng đã báo trước về cái chết của ngài với những người Do Thái khăng khăng đòi đóng đinh ngài: ‘Hãy phá hủy đền thờ này đi’; ta sẽ cho phép các ngươi phá hủy nó. “Ta sẽ làm cho nó sống lại trong ba ngày.” (Gioan 2:19). Như vậy, ngài đã báo trước sự phục sinh của mình bằng quyền năng của chính mình; Chúa Giê-su cũng đã báo trước cho các môn đệ của ngài Chúa sẽ lấy lại mạng sống của mình: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta. Vì ta sống, các ngươi cũng sẽ sống.” (Gioan 14:19).
Các tiên tri đã báo trước về cái chết của Chúa Kitô.
Trong suốt lịch sử, Thiên Chúa đã sai các tiên tri đến để hướng dẫn dân Ngài đi đúng đường, cảnh báo họ về hình phạt của tội lỗi, và báo trước về Đấng Mê-sia sắp đến “để đưa họ trở lại cùng Yavê” (2 Ký Sự 24:19). Tiên tri Ê-sai đã mô tả và ví sự hy sinh của đấng sắp đến như một con chiên bị giết vì tội lỗi của người khác: “ Ai tin được điều chúng ta đã nghe, và cánh tay Yavê đã được tỏ bày cho ai biết? Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi non, như cái rễ mọc ra từ đất khô, không có hình dáng oai vệ hay uy nghi nào bắt chúng ta phải để ý, cũng không có vẻ bề ngoài nào thu hút chúng ta mến chuộng. Người đã bị người ta khinh khi và phế bỏ, từng trải đớn đau và những ốm o xo bại, đã bị khinh như người mà có gặp thì người ta lo giấu mặt đi; và chúng ta cũng chẳng thèm đếm xỉa. Thật chính người đã mang các bệnh tật của chúng ta, chính các đau khổ của chúng ta người đã vác; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà chịu vết hằn, vì sự gian ác chúng ta mà chịu thương tích. Bởi người chịu sự sửa phạt chúng ta được bình an, người mang lằn roi chúng ta có phương được lành bịnh... Huyệt người, người ta đặt chung với kẻ ác, nhưng khi chết, Người được chôn với kẻ giàu, dẫu rằng người không hề làm điều hung ác, và dối trá chẳng có trong miệng người. Đức Yavê lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến người gặp sự đau đớn. Sau khi đã dâng mạng sống người làm hy tế chuộc tội, người sẽ được thấy dòng giống, sẽ thọ trường niên, và ý chỉ Yavê nhờ tay người được thạnh vượng. Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn. Tôi tớ công bình của Ta sẽ lấy sự thông biết của mình làm cho nhiều người được xưng công bình; và người sẽ gánh lấy tội lỗi họ. Vậy nên người sẽ được phân bổ phần cùng với những người vĩ đại, và người sẽ phân chia vô số chiến quả, chính vì người đã thí mạng mình không màng cái chết, và đã bị liệt vào hàng những kẻ ngỗ nghịch, là đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và đứng ra bầu chữa cho những kẻ ngỗ nghịch.” (Ê-sai 53:1-12)
Hàng trăm năm sau, lời tiên tri của Ê-sai đã được ứng nghiệm nơi con trẻ Giê-su sinh ra bởi trinh nữ Ma-ria. Như tiên tri Ê-sai đã báo trước, Chúa Giê-su bị đóng đinh giữa hai tên tội phạm nhưng được chôn cất trong mộ thuộc sở hữu của một người giàu có nổi tiếng, Giô-sép người A-ri-ma-thê. Bởi vì Thiên Chúa chấp nhận sự hy sinh của Chiên Con Ngài, Chúa đã ứng nghiệm một lời tiên tri khác bằng cách làm cho người sống lại từ cõi chết. “Người sẽ tiêu diệt sự chết đời đời” (Ê-sai 25:8); “Vì Chúa sẽ không bỏ mặc linh hồn con trong âm phủ, cũng không để Đấng thánh của Chúa thấy sự hư nát” (Thánh Vịnh 16:10). “Hỡi những người ở trong bụi đất, hãy thức dậy và hát mừng! Vì sương của ngươi là sương của ánh sáng, và đất sẽ sinh ra người chết” (Ê-sai 26:19).
Chúa Kitô là “tổng kết và tóm lược” duy nhất vô nhị của toàn bộ Kinh Thánh.
Mọi điều trong Kinh Thánh đều hướng về Chúa Kitô, từ cuộc sống tiền trần thế của ngài cho đến triều đại ngàn năm vinh hiển của ngài. Nếu không có Chúa Kitô, Kinh Thánh sẽ không còn ý nghĩa. Kế hoạch cứu rỗi qua Con Đức Chúa Trời được ghi rõ trong Kinh Thánh, cả trong Cựu Ước và Tân Ước. Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng ngài đã hiện hữu từ thuở tạo dựng thế giới. Ngài phán với dân Do Thái: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi Áp-ra-ham sinh ra, ta đã có rồi!” (Gioan 8:58). Trong sách Khải Huyền, Chúa Giê-su được thấy “có ghi trên áo và trên đùi ngài: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA” (Khải Huyền 19:16); Và ngài cũng tự xưng “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi đầu và Kết thúc, là Đầu tiên và Cuối cùng” (Khải Huyền 22:13) – cùng một cách tuyên bố mà Y-saác đã nghe từ Đức Chúa Trời: “ Này đây Yavê, Vua của Is-ra-ên và Đấng Cứu chuộc người, Yavê vạn quân phán rằng: Ta là Đầu tiên và Ta là Cuối cùng; chẳng có thần nào khác ngoài Ta.” (Ê-sai 44:6).
Những lời tiên tri về sự giáng lâm của Chúa Kitô là độc nhất vô nhị.
Sự ra đời của Chúa Kitô là sự kiện duy nhất được tiên tri ít nhất 4.000 năm trước khi xảy ra. Dòng dõi đặc biệt của người phụ nữ đã được Yavê tiên tri với con rắn: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” ( Khởi Nguyên 3:15); Dấu hiệu đặc biệt đã được tiên tri – về trinh nữ: “Chính Chúa sẽ ban cho các ngươi dấu hiệu. Này! Trinh nữ sẽ thụ thai một đứa con! Nàng sẽ sinh một con trai và đặt tên cho nó là Emmanuel (nghĩa là 'Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta').” (Ê-sai 7:14); Và địa điểm đặc biệt đã được công bố – Bê-lê-hem: “Nhưng ngươi, Bê-lê-hem Ép-ra-tha, dù ngươi nhỏ bé giữa các chi phái Giu-đa, từ ngươi sẽ xuất hiện một người làm vua Is-ra-ên, người có nguồn gốc từ thuở xưa, từ thời cổ đại” (Mi-ca 5:2).
Những lời ca ngợi dành cho Chúa Kitô cũng rất độc đáo. Khi tiên tri Gioan Báp-tít thấy người, ông đã kêu lên: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian đi!” (Gioan 1:29). Lại có một người đàn ông già tên là Si-mê-ôn, được ơn Chúa Thánh Thần mặc khải rằng ông sẽ không chết trước khi thấy Đấng Kitô của Chúa (Lu-ca 2:26). Khi vừa thấy hài nhi Giê-su, được mẹ Ma-ria và ông Giô-sép đem đến đền thờ, Si-mê-ôn tuyên bố: “Mắt tôi đã thấy sự cứu rỗi của Chúa, là điều Chúa đã sắm sẵn cho mọi người, là ánh sáng để tỏ cho dân ngoại, và là vinh quang cho dân Is-ra-ên của Chúa” (Lu-ca 2:30-32); Rồi Si-môn nói tiên tri với mẹ Ma-ria: “Một thanh gươm sẽ đâm thấu linh hồn bà nữa” (Lu-ca 2:35). Cũng có một nữ tiên tri già tên là An-na, “lúc ấy bà tiến lên, tạ ơn Đức Chúa Trời và nói về Hài nhi cho tất cả những người đang chờ đợi sự cứu chuộc Giê-ru-sa-lem” (Lu-ca 2:36-38). Ngoài ra, còn có những lời tiên tri vô thức đáng kinh ngạc về những điều sẽ xảy ra nhiều hơn nữa, hoặc đã được Chúa Giê-su hoàn thành trọn vẹn: Đó là lời tiên tri của thầy tế lễ thượng phẩm Caiaphas, khi ông nói với Tòa Công luận: “Các ông chẳng biết gì cả! Các ông không nhận ra rằng thà một người chết vì dân còn hơn là cả dân tộc bị diệt vong sao?” (Gioan 11:49-50); Đó là ánh sáng đã soi rọi vào hành động của quan Phi-lát, khi ông treo dòng chữ mang danh hiệu của Ðấng cứu tinh “Đây là Vua dân Do Thái” trên thập giá Chúa Giê-su (Lu-ca 23:28).
Chủ đề trọng tâm của Kinh Thánh là kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã có kế hoạch sai Con Một của Ngài xuống chết cho tất cả tội nhân để giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết thuộc linh. Con Một của Thiên Chúa Ba Ngôi “đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta, và chúng ta đã thấy vinh quang của Ngài, vinh quang của Con Một của Đức Chúa Cha, đầy ân điển và chân lý” (Gioan 1:14). Con của Đức Chúa Cha đã từ trời xuống và trở thành người phàm, trở thành Chúa Giê-su – Con Người, trong lòng bà Ma-ri, để hoàn thành lời tiên tri trong Kinh Thánh về Đấng Kitô, Đấng đã chết trên thập tự giá, sống lại từ cõi chết và thăng thiên lên trên tất cả các tầng trời, vào nơi ở của Thiên Chúa, được vinh hiển như ngài đã có từ trước khởi nguyên. Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Cha, cầu thay cho chúng ta (Máccô 16:19).
Kinh Thánh dạy chúng ta về thân phận và sứ mệnh của Chúa Giê-su Kitô, Con Một của Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế và Đấng Chuộc Tội của chúng ta. Bất cứ điều gì Thiên Chúa làm cho chúng ta, ban cho chúng ta, hoặc nhận lấy từ chúng ta, đều là bởi Con của Ngài (Gioan 14:6). Nhờ đức tin vào Chúa Giê-su Kitô, chúng ta được cứu khỏi sự phán xét của Thiên Chúa về tội lỗi và hậu quả của nó, đó là sự chết đời đời. “Vậy, bởi đức tin mà chúng ta được xưng công chính, nên chúng ta được hòa thuận với Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su Kitô, Chúa chúng ta” (Rô-ma 5:1).
Chúa Giê-su đến để trải nghiệm và để thi hành cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
Hầu hết mọi người thích nghĩ và nói về tình yêu của Thiên Chúa và không muốn nghĩ đến cơn thịnh nộ của Ngài chút nào. Đây là cách suy nghĩ không đầy đủ về Thiên Chúa, vì cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là một chân lý nổi bật trong Kinh Thánh và xuyên suốt lịch sử. Vì Thiên Chúa của chúng ta hoàn toàn công chính và thánh khiết, nên cơn thịnh nộ của Thiên Chúa là sự ghê tởm đời đời của Ngài đối với mọi sự bất công.
Gioan Báp-tít là vị tiên tri cuối cùng trong Cựu Ước, người đã nói về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời liên quan đến việc Đấng Kitô đến thế gian theo hai cách. Thứ nhất, Gioan nói về việc Đấng Kitô đến để trải nghiệm cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời; Thứ hai, ông nói về Chúa Kitô là Đấng sẽ thi hành cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Khi Gioan thấy Chúa Giê-su đến gần mình tại sông Giô-đan, ông đã nhận ra Chúa Giê-su là Đấng gánh tội, Đấng sẽ trải nghiệm cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời với tư cách là Chiên Con của Đức Chúa, “Kìa, Chiên Con của Thiên Chúa Đấng cất tội lỗi thế gian đi!” (Gioan 1:29). Ngược lại, khi Gioan thấy những người Pha-ri-siêu và Sa-đúc đến sông để chịu phép báp-têm, ông đã nói về Đấng Kitô sắp đến như là Đấng sẽ thi hành cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Gioan phán cùng họ: “Hỡi dòng dõi rắn độc, ai đã cảnh báo các ngươi chạy trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến? Vậy hãy sinh hoa trái xứng đáng với sự ăn năn; chớ tưởng rằng chúng ta có thể tự nhủ: ‘Chúng ta có Áp-ra-ham làm tổ’; vì ta nói cho các ngươi biết, Đức Chúa Trời có thể từ những hòn đá này dựng nên con cái cho Áp-ra-ham. Cái rìu đã đặt ở gốc cây rồi; vậy, cây nào không sinh trái tốt thì sẽ bị chặt xuống và ném vào lửa. Còn ta, ta làm phép rửa cho các ngươi bằng nước để ăn năn, nhưng Đấng đến sau ta thì quyền năng hơn ta, ta không xứng đáng cởi dép cho Ngài; Ngài sẽ làm phép rửa cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa. Cái sào của Ngài ở trong tay Ngài, và Ngài sẽ sàng sạch sân đập lúa của Ngài; Ngài sẽ thu lúa mì vào kho, còn trấu thì Ngài sẽ đốt bằng lửa không hề tắt.” (Ma-thi-ơ 3:7-12).
Thật vậy, mặc dù mục đích chính của Chúa Giê-su trong lần đến thứ nhất không phải là thi hành cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, nhưng ngài đã bày tỏ cơn thịnh nộ của Đức Chúa trong một số dịp – chẳng hạn như khi ngài quở trách các thầy dạy luật và người Pha-ri-siêu giả hình: “Khốn cho các ngươi, hỡi các thầy dạy luật và người Pha-ri-siêu, những kẻ giả hình! Hỡi các ngươi là rắn độc, hỡi dòng dõi rắn hổ mang, làm sao các ngươi thoát khỏi hình phạt của hỏa ngục? ” (Ma-thi-ơ 23:29) – hoặc như khi ngài quở trách những kẻ gây vấp ngã: “Khốn cho thế gian vì những sự vấp ngã của nó! Vì sự vấp ngã là điều không thể tránh khỏi; nhưng khốn cho người nào gây ra sự vấp ngã cho người ấy!” (Lu-ca 17:1); hoặc như khi ngài quở trách những kẻ nhận ân sủng của Đức Chúa Trời cách vô ích: “Khốn cho ngươi, Chorazin! Khốn cho ngươi, Bethsaida! Vì nếu những phép lạ đã xảy ra ở Tyre và Sidon như đã xảy ra ở giữa các ngươi, thì họ đã ăn năn từ lâu rồi, mặc áo vải gai và rắc tro lên đầu” (Ma-thi-ơ 11:21); hoặc như khi ngài quở trách những kẻ phản bội Con Người: “Con Người sẽ đi, như đã chép về ngài; nhưng khốn cho người nào phản bội Con Người! Thà người ấy đừng sinh ra thì hơn.” (Ma-thi-ơ 26:24).
Lời kết
Tại sao Chúa Giê-su lại phải chết? Đức Chúa Trời không thể để tội lỗi không bị trừng phạt. Những kẻ tội lỗi sẽ phải chịu sự phán xét của Thiên Chúa trong ngọn lửa địa ngục. Chúa Giê-su phải chết vì Ngài là người duy nhất có thể gánh chịu hình phạt cho tội lỗi của chúng ta. Cái chết của Chúa Giê-su cũng chứng minh rằng con người có thể trung thành với Đức Chúa Trời ngay cả khi đối mặt với những thử thách khắc nghiệt nhất (Hê-bơ-rơ 4:15).
Một người khôn ngoan xưa kia từng nói: Tôi sẽ kinh ngạc trước một người biết nhìn thấy tội lỗi của chính mình, mặc dù không ai có thể sống mà không có tội lỗi. Ít người biết cách ăn năn để tội lỗi của họ được tẩy sạch như lông cừu trắng, nhưng có một điều mà tất cả chúng ta đều có thể làm: khi chúng ta không thể tránh khỏi tội lỗi, cũng không thể ăn năn thật lòng, thì chúng ta có thể gánh vác gánh nặng của tội lỗi, gánh vác nó một cách kiên nhẫn, gánh vác nó trong đau đớn, gánh vác nó mà không làm gì để tránh khỏi nỗi đau đớn và thống khổ của nó, gánh vác nó như thể đang vác một cây thập giá – không phải thập giá của Chúa Kitô, không phải thập giá của các môn đệ chân chính, mà là thập giá của tên trộm bị đóng đinh bên cạnh Ngài. Chẳng phải tên trộm đã nói với đồng bọn đang phỉ báng Chúa rằng: Chúng ta chịu đựng vì đã phạm tội; còn Ngài chịu đựng cách vô tội... Và chính vì hắn đã chấp nhận hình phạt, nỗi đau đớn, sự thống khổ, hậu quả của điều ác hắn đã phạm, của bản chất con người hắn, mà Chúa Kitô đã phán rằng: ‘Ngươi sẽ ở với Ta hôm nay trong Thiên Đàng.’
Ai hiểu rõ hơn Con Thiên Chúa về cơn thịnh nộ của Cha Ngài đối với tội lỗi và những kẻ phạm tội? Đó có thể là lý do tại sao Chúa Giê-su nói trong vườn Ghết-xê-ma-ni: “Lòng ta đau buồn khôn xiết, đến nỗi muốn chết…” (Ma-thi-ơ 26:38). Tuy nhiên, Ngài đã vâng phục ý muốn của Cha Ngài để chịu đựng cơn thịnh nộ đó thay cho những kẻ phạm tội. Nỗi thống khổ lớn lao của Chúa Giê-su cũng được thể hiện qua những lời ngài phán khi ngài bị treo trên thập tự giá: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” (Thánh Vịnh 22:1; Ma-thi-ơ 27:46), khi Đức Chúa Trời trút cơn thịnh nộ của Ngài về tội lỗi lên Chúa Giê-su thay vì lên những kẻ phạm tội.
Vì không có gì khó khăn hơn việc gánh lấy tội lỗi của chính mình, tạ ơn Thiên Chúa đã hứa và đã sai Con Một của Ngài làm Chiên Con hoàn hảo để gánh lấy tội lỗi của những người tin cậy vào ngài để chúng ta được tha tội và nhận được sự sống đời đời.
Đức Chúa Trời là Thiên Chúa của Công Lý và là Thiên Chúa của Tình Yêu. Do đó, vẻ đẹp và sự hài hòa hoạt động của Tình Yêu và Công Lý trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại của Chúa nằm ở chỗ: Chính Chúa, vì tình yêu thương dành cho tất cả những người Ngài đã tạo dựng, đã trả giá bằng cách mang lấy hình hài con người để chuộc tội cho nhân loại khỏi hình phạt mà họ đáng phải chịu vì tội lỗi của mình. “Chính Ngài là của lễ chuộc tội cho tội lỗi chúng ta, không chỉ cho tội lỗi chúng ta mà thôi, mà còn cho tội lỗi của cả thế giới nữa.” (1 Gioan 2:2). Cái chết của Chúa Giê-su không phải là một thất bại mà là một phần trong kế hoạch cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa ngay từ khởi nguyên.
Chúa Giê-su phán với chúng ta: “Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai mệt mỏi và gánh nặng, Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi” (Ma-thi-ơ 11:28). Hãy đến và đặt tất cả những vấn đề, tất cả nỗi đau của bạn dưới chân ngài. Và nếu bạn đi đến một lúc, một điểm mà bạn cần phải tìm đến sự giúp đỡ từ bên ngoài, khi bạn nhận thấy quyền năng không nằm trong tay bạn, hãy gõ cửa, và cửa sẽ mở ra cho bạn, quyền năng của Chúa Kitô sẽ bao phủ bạn. Nếu Chúa đang cho bạn thấy được nhu cầu cần Chiên Con của Thiên Chúa cất đi tội lỗi của bạn, hãy cầu nguyện với Ngài: "Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, con cầu nguyện.... Lạy Chúa, xin mở mang tâm trí và tấm lòng con để tin vào Ngài. Con không thể gánh vác mọi gánh nặng, nhưng con biết Ngài có thể và sẽ làm được. Xin tha thứ tội lỗi của con và đồng hành cùng con vượt qua những thử thách và giông bão, ngay cả trong giờ phút đen tối nhất. Xin ở lại với con, lạy Chúa, con đặt trọn niềm tin vào Ngài."