Nhảy đến nội dung

Bên Giếng Giacóp

 

 

Bên Giếng Giacóp

 

Giữa trưa nắng đổ trời vàng,
Chúa đi mỏi bước dừng ngang miệng giòng.
Một người Samaria trong,
Đến múc nước, giữa mênh mông nắng tràn.

 

Ngài khẽ nói: “Hỡi nữ nhân,
Cho Ta ngụm nước dừng chân giữa ngày.”
Nàng kinh ngạc hỏi liền ngay:
“Người Do-thái đó, sao này nói tôi?”

 

Ngài cười dịu ánh môi côi:
“Nếu ngươi hiểu được ơn Trời nhiệm ban,
Thì ngươi sẽ ngỏ lời van,
Ta cho nước sống chứa chan muôn đời.”

 

Nàng thưa: “Giếng thẳm quá trời,
Ngài lấy đâu nước, Ngài ơi, nói cùng?
Tổ tiên Giacóp đã dùng,
Cả con cháu, súc vật chung giếng này.”

 

Ngài rằng: “Uống nước nơi đây,
Rồi còn sẽ khát tháng ngày như xưa.
Ai uống nước sống Ta đưa,
Sẽ không còn khát, lòng chưa dạt dào.”

 

Nàng nghe mừng rỡ bước vào:
“Xin cho con nước ngọt ngào ấy đi,
Để con khỏi phải khổ chi,
Ngày ngày đến giếng nắng thiêu thân này.”

 

Ngài rằng: “Hãy gọi chồng đây.”
Nàng thưa: “Con chẳng có ai làm chồng.”
Ngài thương ánh mắt bao dung:
“Ngươi năm đời chồng, nay không chính tình.”

 

Nàng run xúc động tâm linh:
“Ngài là tiên tri rất thánh tịnh rồi!”
Ngài rằng: “Đến lúc đến nơi,
Thờ Cha chẳng chốn, chẳng nơi riêng gì.

 

Ai thờ trong Thánh Thần đi,
Ấy là chân thật, hợp nghi cùng Trời.”
Nàng nghe biết ánh mặt trời:
“Con mong Đấng Thánh đời đời sẽ qua.”

 

Ngài phán nhẹ: “Chính Ta ta,
Ngươi mong Đấng đó, nay là chính Ta.”
Nàng buông vò xuống vội ra,
Chạy về loan báo mọi nhà gần xa.

 

“Đến xem Người nói thật thà,
Biết bao điều ẩn trong ta mọi ngày!
Phải chăng Đấng Cứu Thế đây?”
Bao người vội bước, sum vầy đến nghe.

 

Giếng xưa rực sáng trưa hè,
Tình thương cứu rỗi tràn về muôn nơi.
Ai say nguồn nước Ngài Trời,
Chẳng khát đời nữa — chỉ cười bình an.

 

==

In  French:

 

AU PUITS DE JACOB

 

Sous le midi d’un ciel d’or pur,
Jésus, las du chemin, s’assit, humble et sûr.
Une femme arrive en chemin,
Puisant de l’eau claire au puits du lointain.

 

Il dit: « Ô femme, donne un peu
D’eau de ton cruchon pour apaiser le feu. »
Elle s’étonne, l’air discret:
« Toi, Juif, me parles-tu, moi, de Samarie? »

 

Il sourit d’un éclat de paix:
« Si tu connaissais le Don du Très-Haut,
Tu me prierais, et je te verserais
L’eau vive — qui coule au-delà des flots.

 

Car l’eau de ce puits rend encore soif,
Mais l’eau que je donne abolit tout manque.
Qui boit de mon eau, son âme s’ouvre,
Jaillissant en vie éternelle et blanche. »

 

La femme dit, le cœur bercé:
« Donne-moi, Seigneur, cette eau bénie,
Afin que je n’aie plus à marcher
Sous le soleil lourd, chercher la vie. »

 

« Va, dit-il, et cherche ton époux. »
« Je n’en ai point », murmura-t-elle.
« Tu dis vrai, répondit-il doux,
Car cinq furent tiens, et nul n’est fidèle. »

 

Saisie, elle dit: « Prophète saint!
Nos pères priaient sur cette montagne,
Mais vous, Juifs, dites qu’en Sion seul vain
Est culte au Seigneur, selon vos campagnes. »

 

Jésus parla d’une voix de miel:
« L’heure est venue, et déjà elle est là.
Dieu veut qu’on L’adore en esprit réel,
Non sur ce mont, ni là-bas, à Juda.

 

Car Dieu est Esprit, pur et vrai;
Et ceux qui L’adorent doivent le faire ainsi. »
Elle dit: « Le Messie viendra, je le sais,
Lui nous dira toute vérité. »

 

Alors Jésus dit: « C’est moi,
Celui que tu attends, debout devant toi. »
Elle laissa sa cruche et courut,
Criant: « Venez voir Celui qui m’a tout dit! »

 

Les gens accoururent, pleins d’émoi,
Et beaucoup crurent à sa voix.
La source jaillit dans leurs cœurs ouverts:
Voici la paix, la lumière, la vie offerte.

==

In English

 

AT JACOB’S WELL

 

Beneath the noonday’s golden flame,
The Savior weary, to the well He came.
A woman of Samaria drew
Her jar for water, pure and true.

 

He spoke: “Dear woman, give to Me
A drink, if you would charity.”
She said in wonder, soft, amazed:
“You, a Jew, ask me — whom none have praised?”

 

He smiled with light serene and mild:
“If you but knew God’s gift, My child,
You’d ask of Me — and I would pour
The living stream forevermore.

 

For all who drink of Jacob’s well
Shall thirst again — as time will tell.
But those who taste the gift I give
Will never thirst — for they shall live.”

 

She said: “Then give me, Lord, that stream,
That I may thirst no more in dream.”
He said: “Go, call thy husband nigh.”
She whispered low: “I have none, I.”

 

“You’ve spoken true,” the Lord replied,
“For five you’ve had, and now beside,
The man you live with is not thine.”
She trembled, knowing truth divine.

 

She said: “O Lord, I see in You
A prophet holy, pure, and true.
Our fathers worshiped on this hill,
But yours say Zion shows God’s will.”

 

He said: “The hour comes, and is now,
When hearts shall worship — not by vow
To mountain high or temple dome,
But Spirit pure shall be their home.

 

For God is Spirit, true and free,
And truth must crown His liturgy.”
She said: “I know the Christ shall come,
The promised One — God’s Holy Son.”

 

He said with tenderness and grace:
“I am He — who speaks in this place.”
She left her jar, her heart made new,
And ran to tell what she now knew.

 

“Come, see the Man who told my ways —
Could He be Christ?” her voice did raise.
The people came with faith and zeal,
And heard His words — their souls made real.

 

The well of old shone bright as day,
God’s mercy poured in boundless ray.
Who drinks His gift from Heaven’s hand
Shall thirst no more — but ever stand.

 

===

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

“Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gioan.    Ga 4,5-42 

 

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.

Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.