Bên bờ giếng giữa trưa
- T7, 07/03/2026 - 07:29
- Lm Anmai, CSsR
Chúa Nhật Tuần III - Mùa Chay
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ ... 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”
39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”
8.3.
Chúa Nhật Tuần III - Mùa Chay BÊN BỜ GIẾNG GIỮA TRƯA – HÀNH TRÌNH TỪ CƠN KHÁT ĐẾN NIỀM TIN
Giữa hành trình Mùa Chay, phụng vụ dẫn chúng ta đến một khung cảnh rất đời thường mà lại vô cùng sâu thẳm: một bờ giếng giữa trưa nắng, một người phụ nữ lặng lẽ đi lấy nước, và một người lữ hành mệt mỏi ngồi nghỉ chân. Tin Mừng theo thánh Gio-an kể rằng Đức Giê-su đến thành Xy-kha xứ Sa-ma-ri, gần thửa đất tổ phụ Gia-cóp đã cho con mình. Ở đó có giếng Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt nên ngồi xuống bờ giếng. Lúc ấy vào khoảng mười hai giờ trưa.
Mười hai giờ trưa là giờ nắng gắt nhất trong ngày. Người ta thường ra giếng vào sáng sớm hay chiều mát. Nhưng người phụ nữ này lại đi vào giữa trưa. Có lẽ chị muốn tránh ánh mắt dò xét của người đời. Có lẽ quá khứ của chị khiến chị chọn giờ vắng vẻ. Mùa Chay cũng là lúc chúng ta nhìn lại những “giữa trưa” trong đời mình – những khoảng thời gian khô khát, cô đơn, né tránh, khi ta không muốn ai biết về những vết thương và sai lầm của mình.
Đức Giê-su mở đầu bằng một lời rất đơn sơ: “Chị cho tôi xin chút nước uống.” Một Thiên Chúa lại đi xin nước nơi một con người. Một người Do-thái lại xin nước của một phụ nữ Sa-ma-ri. Bao rào cản văn hóa, tôn giáo, giới tính bị vượt qua chỉ bằng một lời xin. Thiên Chúa chủ động bước vào câu chuyện đời ta bằng sự khiêm tốn. Ngài không áp đặt, không kết án ngay, nhưng xin ta một điều rất nhỏ: một chút nước, một cánh cửa mở, một sự lắng nghe.
Người phụ nữ ngạc nhiên: “Ông là người Do-thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?” Câu hỏi ấy phản ánh những chia rẽ sâu xa. Nhưng Đức Giê-su không dừng lại ở nước giếng. Người nói về “ân huệ Thiên Chúa ban” và “nước hằng sống”. Nước giếng Gia-cóp dù quý giá vẫn chỉ giải cơn khát tạm thời. “Ai uống nước này sẽ lại khát.” Câu nói ấy như chạm đến chính kinh nghiệm của chúng ta. Bao nhiêu lần ta tìm thỏa mãn nơi tiền bạc, danh vọng, thú vui, tương quan chóng vánh… nhưng rồi lại khát. Cơn khát của linh hồn không thể được lấp đầy bằng những nguồn nước hữu hạn.
“Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Đức Giê-su không chỉ ban nước, Người biến con người thành nguồn nước. Đó là lời hứa của Thánh Thần, của sự sống mới, của ân sủng tuôn trào từ bên trong. Mùa Chay là thời gian trở về với nguồn mạch ấy, để không sống lay lắt bằng những thỏa mãn tạm bợ, nhưng để cho ân sủng làm mới tâm hồn.
Người phụ nữ xin: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy.” Lời xin còn pha lẫn hiểu lầm, nhưng đã mở ra một cánh cửa. Và Đức Giê-su chạm đến điều sâu kín nhất: “Chị hãy gọi chồng chị.” Cuộc đối thoại chuyển hướng bất ngờ. Nước hằng sống không thể đổ vào một tâm hồn chưa sẵn sàng đối diện sự thật. “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su xác nhận: chị đã có năm đời chồng, và người đang sống với chị không phải là chồng. Không có lời kết án. Chỉ có sự thật được nói ra trong ánh sáng.
Gặp gỡ Thiên Chúa luôn đi kèm với việc được soi chiếu. Mùa Chay không phải là mùa tự hành hạ mình, nhưng là mùa can đảm nhìn vào sự thật đời mình. Chúng ta có thể che giấu trước người khác, nhưng không thể che giấu trước Đấng biết “tất cả những gì tôi đã làm”. Điều kỳ diệu là Người biết hết mà vẫn ngồi đó, vẫn xin nước, vẫn đối thoại.
Người phụ nữ chuyển đề tài sang chuyện thờ phượng: nên thờ ở núi này hay tại Giê-ru-sa-lem? Có lẽ chị muốn tránh vết thương vừa bị chạm tới. Nhưng Đức Giê-su nâng cuộc trò chuyện lên tầm cao mới: “Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật.” Thờ phượng không còn bị giới hạn bởi địa điểm, nhưng bởi tương quan. Không còn chỉ là nghi thức bên ngoài, nhưng là thái độ nội tâm. “Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.”
Trong Mùa Chay, chúng ta gia tăng cầu nguyện, ăn chay, bố thí. Nhưng nếu thiếu thần khí và sự thật, mọi thực hành ấy có thể trở nên hình thức. Thờ phượng trong thần khí là để Thánh Thần hướng dẫn, làm sống động. Thờ phượng trong sự thật là sống chân thành, không giả dối, không che đậy. Người phụ nữ đã bắt đầu bước vào sự thật, và chính sự thật ấy mở đường cho mạc khải lớn lao: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
Đây là một trong những lần hiếm hoi Đức Giê-su trực tiếp xưng mình là Đấng Mê-si-a. Không phải trước thượng tế, không phải trước học giả Kinh Thánh, nhưng trước một phụ nữ Sa-ma-ri có quá khứ phức tạp. Điều đó cho thấy ơn cứu độ không dành riêng cho ai, và không ai bị loại trừ nếu mở lòng.
Khi các môn đệ trở về, họ ngạc nhiên. Còn người phụ nữ thì để vò nước lại. Chi tiết ấy rất đẹp. Vò nước – lý do chị ra giếng – giờ không còn quan trọng nữa. Chị đã tìm thấy nguồn nước khác. Chị vào thành và nói: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.” Từ một người né tránh đám đông, chị trở thành người loan báo. Từ một người mang mặc cảm, chị trở thành chứng nhân.
Mùa Chay đích thực không dừng lại ở sự thống hối cá nhân, nhưng dẫn tới sứ vụ. Ai đã thực sự gặp Chúa không thể giữ cho riêng mình. Lời chứng của chị làm nhiều người Sa-ma-ri tin. Họ đến gặp Đức Giê-su, xin Người ở lại, và Người ở lại đó hai ngày. Từ chỗ tin vì lời kể, họ tiến tới tin vì chính mình nghe và biết. Đức tin trưởng thành khi ta đi từ kinh nghiệm gián tiếp đến gặp gỡ cá vị.
Trong khi đó, Đức Giê-su nói với các môn đệ về lương thực của Người: “Thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy.” Người sống bằng việc hoàn tất công trình của Chúa Cha. Đồng lúa đã chín vàng. Mùa gặt đang tới. Có những người gieo và những người gặt. Người phụ nữ như người gieo; các môn đệ được sai đi gặt. Trong kế hoạch cứu độ, mỗi người có vai trò, nhưng tất cả cùng chung một niềm vui.
Nhìn lại đời mình, có lẽ mỗi chúng ta đều mang một cơn khát. Có khi là khát được yêu thương, được công nhận, được tha thứ. Có khi là khát bình an giữa bao bộn bề. Đức Giê-su không khinh thường cơn khát ấy. Người không bảo ta đừng khát, nhưng mời ta uống đúng nguồn. Nếu ta chỉ quanh quẩn bên những chiếc giếng cạn, ta sẽ mệt mỏi mãi. Nhưng nếu ta để Người chạm vào sự thật đời mình, ta sẽ khám phá một mạch nước vọt lên từ bên trong.
Chúa Nhật III Mùa Chay mời gọi chúng ta ngồi lại bên bờ giếng tâm hồn. Hãy để Đức Giê-su nói với ta. Hãy để Người xin ta một chút nước – một chút thời gian cầu nguyện, một chút lắng nghe, một chút thành thật. Và rồi hãy để Người ban lại cho ta nước hằng sống.
Có thể ta đã nhiều lần ra giếng giữa trưa, tránh né ánh nhìn của người khác. Có thể ta đã sống với những tương quan đổ vỡ, những lựa chọn sai lầm. Nhưng không có quá khứ nào quá nặng để Chúa không thể biến thành cơ hội gặp gỡ. Điều quan trọng là ta có dám để Người nói sự thật về ta và đón nhận sự thật ấy trong khiêm tốn hay không.
Cuối cùng, dân Sa-ma-ri tuyên xưng: “Người thật là Đấng cứu độ trần gian.” Không chỉ cứu một dân tộc, không chỉ cứu những người đạo đức, nhưng cứu trần gian – cứu cả ta. Mùa Chay hướng về Phục Sinh, nơi dòng nước và máu từ cạnh sườn Chúa tuôn chảy, trở thành nguồn mạch cứu độ.
Xin cho chúng ta biết khát Chúa hơn khát những điều chóng qua. Xin cho chúng ta biết thờ phượng trong thần khí và sự thật. Xin cho chúng ta, như người phụ nữ năm xưa, dám để lại chiếc vò nước cũ kỹ của mình và trở thành chứng nhân của niềm vui gặp gỡ.
Lm. Anmai, CSsR