Nhảy đến nội dung

Người đầu tiên bảo vệ mầu nhiệm Thiên Chúa

NGƯỜI ĐẦU TIÊN BẢO VỆ MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA (Lễ “Thánh Giuse – Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria” – 19/3)

Ngày 19/3 hàng năm, Giáo Hội cử hành lễ kính “Thánh Giuse – Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria”. Đồng thời, Giáo Hội còn dành cả tháng Ba để kính nhớ vị Thánh đứng đầu các Thánh (ngoại trừ Đức Mẹ), vì thế mới có danh hiệu tôn xưng Ngài là “Thánh Cả”. Lời dẫn mở đầu tháng Ba trong Lịch Phụng vụ viết: “Thánh Giu-se là Bổn mạng của Giáo Hội và cũng là Bổn Mạng và gương mẫu của các người lao động và các gia trưởng. Ngài đã sống cuộc đời lao động để nuôi sống gia đình. Chính Chúa Giê-su, dù là Con Duy Nhất của Thiên Chúa, cũng được gọi là “con của bác thợ mộc” (xc “Những ngày Lễ Công Giáo”).

Nói về lòng sùng kính Thánh Cả Giuse trong Giáo Hội, thì ngay từ thế kỷ đầu tiên, các Giáo Phụ đã đi tiên phong bày tỏ lòng mến mộ Ngài, như Tông huấn Người Chăm Sóc Đấng Cứu Thế “Redemptoris Custos” (“Nhập đề”, số 1) cho biết: “Dựa vào Tin Mừng, các Giáo Phụ từ những thế kỷ đầu đã nhấn mạnh rằng, như Thánh Giuse đã thương yêu chăm sóc Mẹ Maria và vui vẻ tận tuỵ nuôi dưỡng Đức Giêsu Kitô thế nào, thì Ngài cũng coi sóc và bảo vệ Nhiệm Thể của Đức Kitô, là Giáo Hội, mà Mẹ Maria là hiện thân và khuôn mẫu như thế ấy.” Để minh họa, xin dựa vào “Bách khoa toàn thư mở – Wikipedia”, sơ lược về lòng sùng kính Thánh Cả Giuse của Giáo Hội (cụ thể là các Đức Giáo Hoàng):

* Năm 1870, tại Công đồng Vatican I, Chân phước GH Piô IX, đã long trọng tôn phong Thánh Cả Giuse làm Ðấng bảo trợ toàn thể Giáo hội Công giáo bằng Sắc lệnh "Quemadmodum Deus", công bố ngày 8/12/1870. Tới ngày 7/7/1871, ngài tiếp tục ban hành  Sắc lệnh "Inclytus Patriarcha Joseph" tôn phong Thánh Giuae là Thánh Cả. – * Năm 1889,  ĐGH Lêô XIII ra một thông điệp thời danh, được gọi là Hiến chương Thần học (Pluries Quamquam), tuyên dương sự vinh hiển của Thánh Giuse và truyền lấy tháng 3 làm tháng kính Thánh Cả. – * Từ năm 1950 có rất nhiều những nghiên cứu thần học về Thánh Giuse. Ba trung tâm được hình thành: 1- Trung tâm Valladolid (Tây Ban Nha); 2- Trung tâm Saint Joseph Oratory (Montréal – Canada); 3- Trung tâm Logate Viterbo (Italia). * Năm 1955,  ĐGH Piô XII thiết lập lễ kính Thánh Giuse vào 1/5, trùng vào ngày Quốc tế Lao động, nên thường gọi là lễ Thánh Giuse Thợ. – * Ngày 19/3/1961 Chân phước Gioan XXIII ban hành Tông thư "Le Voci" (các tiếng nói) tôn phong Thánh Cả Giuse làm Quan Thầy Công đồng chung Vatican II. – * Năm 1989,  Thánh GH Gioan Phaolô II ban hành Tông huấn Người Chăm sóc Đấng Cứu Thế “Redemptoris Custos”. * Ngày 19/12/2010, ĐGH Biển Đức XVI đã giao phó các linh mục trên toàn thế giới cho sự bảo trợ của Thánh Giuse.

* Riêng với ĐGH Phanxicô, ngài đã thể hiện lòng sùng kính đặc biệt đối với thánh Giuse trên huy hiệu của ngài: huy hiệu này mang chùm hoa cam tùng của Thánh Giuse (theo Thánh truyền, Thánh Giuse mang trên tay một cành cam tùng khi đến hỏi cưới Đức Maria, vì thế trên "cây gậy của Thánh Giuse" có một cành cam tùng). Hoa cam tùng tượng trưng sự trong sạch và tình yêu thương, nên được nhắc tới trong Thánh Kinh như dấu chỉ của tình yêu (Dc 1, 12; 4, 13-14; Mc 14, 3; Ga 12, 3). ĐGH Phanxicô bày tỏ lòng mộ mến Thánh Cả Giuse trong rất nhiều bài giảng, đặc biệt nhất là bài giảng vào ngày đầu tiên nhận sứ vụ Giáo hoàng (Thánh lễ “Khai mạc sứ vụ Phêrô của Giám mục Rôma” – 19/3/2013). ĐTC nhấn mạnh: “Trước hết, Thánh Giuse là mẫu gương sống Ðức Tin cho chúng ta. Như Tổ Phụ Ápraham, Thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa; vì thế Ngài là mẫu gương khích lệ, nhất là khi chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Chúa, dựa trên "Lời Người" đã phán, mà không nhìn thấy được rõ ràng Ý Ðịnh của Chúa. Hơn nữa, chúng ta được mời gọi noi gương Ngài, trong việc khiêm tốn thực thi sự vâng phục, một nhân đức chiếu sáng nơi Ngài trong nếp sống thinh lặng và trong việc làm ẩn khuất.”

Trong các văn kiện trên, tập trung nhiều nhất về Thánh Cả Giuse là Tông huấn Người Chăm Sóc Đấng Cứu Thế “Redemptoris Custos”. Chỉ cần lướt qua dàn ý của Tông huấn (I. DUNG MẠO QUA SÁCH TIN MỪNG; II. NGƯỜI BẢO VỆ MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA; III. VỪA LÀ NGƯỜI CÔNG CHÍNH VỪA LÀ NGƯỜI CHỒNG; IV. LAO ĐỘNG NHƯ MỘT CÁCH DIỄN TẢ TÌNH YÊU; V. SỰ ƯU VIỆT CỦA ĐỜI NỘI TÂM; VI. QUAN THẦY HỘI THÁNH NGÀY NAY), cũng đủ thấy Thánh Gioan Phaolô II biện giải về vai trò quan trọng của Thánh Giuse trong nhiệm cuộc cứu độ nhân loại của Thiên Chúa nơi Thánh gia Nadaret. Bằng cách này, Thánh GH đã phân tích vì sao Thánh Giuse trở thành tấm gương của một người cha đầy yêu thương và mẫu mực trong gia đình, trong lao động, đồng thời nêu bật vai trò “Người Bảo vệ Mầu nhiệm Thiên Chúa” (T/H “Redemptoris Custos”, Mục II, số 4-6). Xin cùng tìm hiểu:

1- Điều Thánh Giuse đã làm là một “sự vâng phục đức tin”: Giới thiệu về Thánh Giuse bạn trăm năm Đức Maria, Thánh sử Matthêu chỉ viết ngắn gọn: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse.” Tiếp theo là một tin gây sửng sốt: “Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai” (Mt 1, 18). Theo lẽ thường tình, gặp những trường hợp như vậy, thì chắc chắn người chồng sẽ làm ầm ĩ, rồi tố giác ra làng xã để xử (chiếu theo luật Mô-sê có thể bị ném đá cho đến chết), ấy là chưa kể ở thời đại ngày nay, anh chồng còn “tự xử án vợ” bằng cách thượng cẳng chân hạ cẳng tay hoặc “xin tí huyết” nữa. Đó chỉ là cách hành xử của thế thái nhân tình đang ngụp lăn trong vũng lầy tội lỗi. Nhưng với Thánh Giuse thì “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.” (Mt 1, 19).

Đó là tâm trạng Thánh Giuse khi biết tin vợ là Đức Maria đã có thai trước khi về chung sống với chồng; nhưng sau khi được sứ thần Thiên Chúa hiện đến báo mộng: "Này ông Giuse, con cháu Ðavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." Và thế là: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.” (Mt 1, 20-24). Như vậy, có thể nói điều Thánh Giuse làm đã liên kết một cách đặc biệt đức tin của Ngài với đức tin của Đức Maria. Cũng bởi vì Ngài đã tin nhận như là chân lý đến từ Thiên Chúa chính điều mà Mẹ Maria đã đón nhận vào lúc truyền tin.

Thật vậy, không lâu sau ngày Truyền tin, khi Đức Maria đến nhà ông Dacaria để thăm người bà con Êlisabét, vừa khi Mẹ cất tiếng chào, thì người chị họ “được đầy tràn Chúa Thánh Thần” (Lc 1, 41) và chúc tụng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em." (Lc 1, 42-45). Rõ ràng “vào lúc khởi đầu cuộc lữ hành, đức tin của Mẹ Maria gặp đức tin của Thánh Giuse. Nếu bà Êlisabét nói về Mẹ Đấng Cứu chuộc: “Phúc cho Bà là kẻ đã tin”, thì theo một nghĩa nào đó, sự chúc phúc này cũng có thể được áp dụng cho Giuse, vì Ngài đã tích cực đáp lời Thiên Chúa khi lời này được truyền đạt cho Ngài vào giây phút quyết định. Mặc dù đúng thật là Giuse đã không đáp trả lại lời truyền tin của sứ thần cùng một cách như Mẹ Maria, nhưng Ngài đã “làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”. Điều Ngài đã làm là một “sự vâng phục đức tin” rõ rệt nhất (x. Rm 1,5; 16,26; 2Cr 10,5-6).” (T/H “Redemptoris Custos”, số 4).

2- Thánh Giuse là người bảo vệ mầu nhiệm Thiên Chúa: Thánh Augustinô đã dạy thật chí lý: “Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người thì Đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa.“ Đáp trả lại điều Thiên Chúa mạc khải cho mình, con người sẵn lòng tin nhận, tự do tận hiến, phó thác hoàn toàn trí khôn và ý chí cho Thiên Chúa. Đó chính là “sự vâng phục của đức tin”, và “Nhờ sự vâng phục đó, con người phó thác toàn thân cho Thiên Chúa một cách tự do "dâng lên Thiên Chúa mạc khải sự qui phục hoàn toàn của lý trí và ý chí" (Hiến chế về Mạc khải “Dei Verbum”, số 5). Có thể nói điều Thánh Giuse làm đã liên kết Ngài một cách đặc biệt với đức tin của Đức Maria.

Suy niệm các đoạn văn Tin Mừng của cả Thánh Mátthêu và Luca, có thể thấy rõ Thánh Giuse là người đầu tiên chia sẻ đức tin của Mẹ Thiên Chúa, và khi chia sẻ như thế, Ngài nâng đỡ niềm tin của vị hôn thê vào lời truyền tin của Thiên Chúa. Ngài cũng là người đầu tiên được Thiên Chúa đặt trên đường “lữ hành đức tin” của Mẹ Maria. Đó là đoạn đường Mẹ Maria đi trước cách tuyệt hảo, đặc biệt là vào thời điểm ở trên Núi Sọ và khi Thánh Thần Hiện Xuống (ngày lễ Ngũ Tuần –Cv 2, 1-13). Trong tương quan với Mẹ Maria, Thánh Giuse cộng tác vào giai đoạn tự mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa trong Đức Kitô (Thánh Phaolô gọi giai đoạn này là “thới gian tới hồi viên mãn” – Gl 4, 4) và Ngài đã cộng tác như thế ngay từ buổi đầu. Cùng với Mẹ Maria, Thánh Giuse là người đầu tiên gìn giữ bảo vệ mầu nhiệm thiêng liêng này. Và vì thế, “Thánh Giuse trở thành người bảo vệ duy nhất của mầu nhiệm “đã được giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa” (T/H “Redemptoris Custos”, số 5).

3- Thánh Giuse vừa là người công chính vừa là người chồng: Khi trình thuật về thái độ của Thánh Giuse trước sự kiện thụ thai "lạ lùng" của Đức Maria, không còn từ ngữ nào xứng hợp hơn để diễn tả đức tính của Ngài, vì quả thật Ngài chính là “người công chính”. Theo từ nguyên thì công chính là công bằng ngay thẳng (“công minh chính trực”). Cụ thể, người có đức công chính là người thật thà, ngay thẳng, biết trả lại cho người khác những gì thuộc về họ (nói khác đi, là không dám nhận những gì không phải là của mình); đồng thời có lòng thương yêu rộng mở (bác ái). Người công chính là người “cái gì của Xê-da trả cho Xê-da, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mt 22, 21), liêm khiết trong mọi sự, công bằng trong mọi việc, hòa nhã với mọi người, yêu người như yêu chính mình (Mt 22, 39). Từ ngữ “người công chính” thật sự đã diễn tả được trọn vẹn đức tính chính yếu của Thánh Giuse. Cũng vì đức tính công chính như vậy, nên sau khi nghe lời sứ thần truyền tin, "Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu.” (Mt 1, 24-25).

Thánh Gioan Phaolô II đã dành cả Mục III (số 17-20) trong T/H “Redemptoris Custos” để lý giải về vấn đề “Thánh Giuse vừa là người công chính vừa là người chồng”. Như vậy, 2 yếu tố “người công chính” và “người chồng” gắn kết chặt chẽ với nhau trong cùng một nhân vật. Điều này không thể xảy ra với loài người nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa. Thực vậy, “Xuyên suốt cuộc lữ hành đức tin vốn là cuộc đời của mình, Thánh Giuse mãi luôn tin tưởng vào lời kêu gọi của Chúa cho tới cùng. Trong khi cuộc đời Mẹ Maria mang lại sự viên mãn cho lời xin vâng đầu tiên được thốt lên lúc Truyền tin, vào lúc Giuse được “truyền tin”, Ngài không nói gì; mà chỉ “làm như sứ thần Chúa dạy” (Mt 1,24). Và “việc làm” đầu tiên này khai mào cho “lộ trình của Giuse” (T/H “Redemptoris Custos”, số 17).

Cần phải hiểu sự thật này, vì nó chứa đựng một trong những bằng chứng quan trọng nhất liên quan đến thân thế và ơn gọi của Thánh Giuse. Trên tất cả, người “công chính” làng Nadarét có các tính chất rõ nét của một người chồng. Theo phong tục Do Thái, hôn nhân được hoàn thành qua 2 bước: Bước 1- Hôn nhân hợp pháp, còn gọi là hôn nhân đích thực được cử hành; và bước 2- Sau một thời gian nào đó, người chồng mới đưa vợ về nhà mình. Do đó, trước khi chung sống với Đức Maria, Thánh Giuse đã là “chồng” của bà rồi. Tuy nhiên, Mẹ Maria vẫn duy trì ước muốn sâu xa của mình là tận hiến cho Thiên Chúa (giữ trọn đức trinh khiết). Ước muốn này của Mẹ Maria không thể tương thích với việc “hôn nhân” được. Tất nhiên, phải có sự can thiệp của Thiên Chúa thì mọi sự mới thành toàn. Lời sứ thần nói với Thánh Giuse (“Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” – Mt 1, 20) rất có ý nghĩa, nó giải thích mầu nhiệm về người vợ của Giuse: Trong Mẹ, “Con của Đấng Tối Cao” mặc lấy xác phàm và trở thành “Con người”, và vì thế chức làm mẹ của Đức Maria không ảnh hưởng gì tới đức trinh khiết, Mẹ vẫn nguyên tuyền là một trinh nữ.

Kinh Thánh ghi nhận: “Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.” (Mt 1, 24-25). T/H “Redemptoris Custos” (số 18) lý giải: “Những lời này nói đến một nét thân mật khác trong hôn nhân. Sự mật thiết tinh thần sâu xa phát sinh từ hợp nhất hôn nhân và sự tiếp xúc liên vị giữa nam và nữ có nguồn gốc tối hậu trong Thánh Thần, Đấng ban sự Sống (x.Ga 6, 63). Khi tuân lời Thánh Thần, Thánh Giuse tìm thấy được trong Thánh Thần cội nguồn tình yêu, tình yêu vợ chồng mà Ngài trải nghiệm trong cương vị một người nam. Và mối tình chồng vợ này đã chứng thực là lớn lao hơn mức “người công chính” ấy có thể tưởng tượng được trong giới hạn trái tim nhân loại của Ngài.” Quả thật không còn một lý luận nào chính xác hơn lập luận: “Thánh Giuse vừa là người công chính vừa là người chồng”.

Tóm lại, Đấng Công Chính Giuse đã liên kết mật thiết với người vợ là Đức Trinh Nữ Maria cùng “vâng phục trong Đức Tin” điều Thiên Chúa đã mạc khải và vì thế trở nên 2 “Người bảo vệ mầu nhiệm Thiên Chúa” đầu tiên trong Hội Thánh (“Cùng với Mẹ Maria, Giuse là người gìn giữ đầu tiên mầu nhiệm thiêng liêng này.” – T/H  “Redemptoris Custos”, số 5). Ý thức được vấn đề, người Ki-tô hữu ngày hôm nay không những học tập và thực hành triệt để tấm gương mẫu mực nơi Thánh Cả Giuse, mà trên hết hãy cầu xin cho được ơn đức tin trọn hảo như Thánh Cả, để cùng với toàn thể Giáo Hội cộng tác với Đức Giê-su Thiên Chúa trong chương trình cứu độ nhân loại. Ước được như vậy.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã giao phó Ðức Giê-su cho thánh cả Giu-se và thánh nhân đã trung thành gìn giữ trong giai đoạn đầu của công trình cứu độ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, cho Giáo Hội luôn luôn cộng tác với Ðức Giê-su để hoàn tất công trình Người đã khởi đầu. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở, muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ “Thánh Giuse – Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria”).

JM. Lam Thy ĐVD.

Tác giả: