Lời Chúa và Suy Niệm CN Phục Sinh
- T7, 04/04/2026 - 09:35
- Lm Nguyễn Ngọc Nga
Lời Chúa (Ga 20, 1-9) Và Suy Niệm CN Phục Sinh Năm 2026
+/ Suy Niệm Lời Chúa. Khi đọc đoạn Phúc Âm này chắc chắn mỗi người chúng ta đều nhận thấy rằng, tất cả ba người đều đến mồ, đều thấy cùng một sự kiện “mồ trống và khăn liệm để qua một bên”, nhưng chỉ có một mình Gioan là tin Chúa Giêsu đã sống lại. Thánh Gioan viết về chính mình rằng: “Tôi đã thấy và tôi tin”. Bản văn Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 20, 1-9) là trình thuật đầu tiên về biến cố phục sinh trong Tin Mừng thứ tư. Đoạn Tin Mừng này nối kết chặt chẽ với đoạn trước đó bởi từ ngữ và ý tưởng: ngôi mộ và chôn cất. - Hình ảnh đức Giêsu đã được chôn trong mồ, nối kết với việc cô Maria giờ đây không thấy xác Chúa ở trong ngôi mộ ấy. Ngôi mộ trống trong đoạn này chắc chắn có sự nối kết chặt chẽ với trình thuật những lần hiện ra của đức Giêsu sau đó, để làm lên một hệ thống chứng từ đầy đủ cho mầu nhiệm phục sinh của cộng đoàn Gioan.
+/ Giới hạn và cấu trúc
- Giới hạn: Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng dấu hiệu chuyển đoạn khá rõ ràng: Có một sự thay đổi về thời gian và cả nhân vật so với đoạn Tin Mừng trước đó. Thời gian là vào ngày đầu tiên trong tuần. Nhân vật mới là Maria Mađalêna, cùng với Simon Phêrô và người môn đệ Chúa yêu được nói đến sau đó. Nơi chốn là ngôi mộ và thời gian là vào sáng tinh sương lúc trời còn tối.
- Cấu trúc: Sự chuyển động của câu chuyện này có thể được định dạng theo nhiều chiều kích khác nhau. Theo không gian: Đi ra khỏi nhà – đến ngôi mộ – trở về nhà. Theo vận động của các nhân vật: Đi ra – chạy – dừng xem – đi về; theo thời gian: từ tối – đến sáng; theo nhân vật: từ Maria – hai môn đệ; theo cảm nghiệm thiêng liêng: từ nghi ngờ – tin.
- Tin Mừng chúa nhật Phục Sinh hướng chúng ta về ngôi mộ, nơi đã an táng đức Giêsu vào chiều thứ sáu tưởng niệm cuộc thương khó. Hành trình đi đến mộ đã bắt đầu từ những bước chân âm thầm có phần nặng nề của Maria Mađalêna. Đó là một trong những người phụ nữ đã theo Chúa từ Galilê, lên đến trên đồi Golgotha, vào lúc đức Giêsu chịu tử nạn, và cho đến lúc người được mai táng trong mộ.
- Hy vọng chẳng còn đối với cô vì thầy đã chết, nhưng tình thương cô dành cho Chúa thì vẫn còn nguyên vẹn. Khung cảnh thời gian buổi sáng tinh sương, lúc trời còn tối vừa là biểu tượng cho sự tối mờ trong khoảng thời gian đau thương của cô, vừa cho thấy sự háo hức đi viếng mộ thầy Giêsu ngay sau khi kết thúc kỳ lễ.
- Thế nhưng, niềm an ủi duy nhất của cô dường như cũng tan biến, khi cô thấy tảng đá đóng ngôi mộ đã bị ai đó lấy đi. Những bước đi âm thầm lập tức trở thành những bước chạy thoăn thoắt hoảng loạn: Người ta đã lấy Chúa ra khỏi mồ và chúng tôi không biết họ đã đặt Chúa ở đâu.
- Cách Maria dùng từ thật là tinh tế. Dù đức Giêsu đã chết, đã được chôn, thế nhưng cô vẫn gọi đó là Chúa, chứ không phải xác chết của Chúa. Đối với cô dù chết hay là sống thì đức Giêsu vẫn mãi mãi là Chúa của cô. Tuy nhiên, quan trọng hơn hết là sự tác động của thông tin giật gân mà cô mang lại. Nó đã khuấy động lòng các môn đệ. Họ đã chuyển từ trạng thái bất động sang trạng thái chuyển động. Từ trong nhà, họ đã đi ra khỏi và đến ngôi mộ.
- Từ đi họ chuyển qua chạy. Cũng như cô Maria, họ không thể không chạy trước một thông tin liên quan đến xác của thầy mình bị mất. Hành động đi và chạy của họ đều là những hành động kéo dài, bởi vì cả hai động từ đều được dùng ở thì chưa hoàn thành. Họ chạy cùng nhau, cùng điểm xuất phát, nhưng tốc độ không giống nhau. Người chạy trước kẻ chạy sau dẫn đến người đến trước kẻ đến sau. Cái mà họ thấy cũng hơi khác nhau, khi các động từ Gioan dùng để diễn tả hành động thấy của cả hai người, trong tiếng Hy Lạp, cũng khác nhau.
- Người môn đệ Chúa yêu chạy trước, chạy nhanh hơn và đã đến mộ trước. Đó không phải là nhờ vào sức mạnh thể lý và cơ bắp cho bằng sức khỏe tâm linh và tình yêu ông dành cho đức Giêsu. Sự trổi vượt về đức tin và mối tương quan giữa ông và đức Giêsu là không cần bàn cãi. Ngay cả cái tên đã cho thấy điều đó. Ngoài ra, ông là người duy nhất đã tựa đầu vào lòng đức Giêsu trong Tiệc Ly. Ông là người môn đệ duy nhất đi cùng Chúa đến tận dưới chân thập giá. Ông cũng là người được đức Giêsu tin tưởng trao gửi mẹ của mình trong phút lâm chung. Người đầu tiên nhận ra Chúa Phục Sinh trên bờ hồ Tiberia, cũng chính là ông.
- Tất cả những dẫn chứng ấy cho thấy ông chạy nhanh hơn Phêrô vì ông có động lực lớn hơn, có mối tương quan gần gũi hơn với thầy Giêsu. Sự nhanh nhẹn tuyệt vời nhất của thánh Gio-an trong đoạn Tin Mừng này là ông đã thấy và đã tin, trong khi cái nhìn thấy của Phêrô chỉ dừng lại ở những băng vải liệm và khăn che đầu được để riêng ra. Maria Mađalênê cũng thấy ngôi mộ trống như hai môn đệ Phêrô và người môn đệ Chúa yêu, nhưng cô vẫn chưa tin.
- Có thể nói rằng, cái nhìn thấy của người môn đệ Chúa yêu khác biệt, vì nó được mở rộng ra vô tận. Ông nhìn thấy và hồi tưởng lại tất cả những điều đức Giêsu dạy, những dấu lạ người làm cho dân, đặc biệt là biến cố tử nạn. Từ sự nhìn thấy và hiểu biết vô tận ấy ông vươn đến đức tin vô hạn, ông tin vào mầu nhiệm Phục Sinh, tin vào con người và giáo huấn của đức Giêsu.
+/ Đức tin của người môn đệ Chúa yêu chính là nền tảng cho đức tin của các Kitô Hữu sơ khai, và cho mỗi Kitô Hữu qua mọi thời đại, và cả chúng ta hôm nay nữa. Nhưng niềm tin đã phải diễn tả bằng đời sống hoàn thiện của người tín hữu. Về Đức Tin, ta hãy liên hệ với:
- Bài Thương Khó CN lễ Lá của Mt, có 2 lần nói đến hạn từ: Mặc Kệ. Lần Mặc Kệ trước phát ra từ miệng giới lãnh đạo Do-thái Giáo nói với Giu-đa bán Chúa. Thể hiện thái độ thiếu trách nhiệm đối với đồng đạo, và với người mình có liên hệ Việc Công. Chính nó đã đẩy Giu-đa sau khi đã hối hận, nhưng mà tiêu cực: Thắt cổ tự tự.
- Lời Mặc Kệ sau thốt ra từ miệng Phi-la-tô tổng trấn, quan chức nhà vua, có nhiệm vụ an ninh vùng Do-thái. Cùng với việc rửa tay của ông, đã để Chúa Giê-su phải bị kết án bất công thay cho kẻ gian ác.
- Thứ 2 Tuần Thánh, Tin Mừng Ga có nói đến Phí Phạm Cho Chúa của Ma-ria. Ngài dùng từ Nguyên Chất Hảo Hạng để nói đến phí phạm của cô, mà Giu-đa đặt giá trị: 30 đồng.
Cô phung phí cho Chúa những gì tốt nhất đắt đỏ nhất, để nói với ta rằng: Đừng có lăn tăn với Chúa như cư xử với thế gian. Mà hãy dành cho Chúa những gì quý nhất của mình như: Thời giờ, trí tuệ, khả năng và của cải, trong cuộc sống. Và nhất là trong Tuần Thánh này. Amen
LỜI CHÚA (Mt 28, 1-10) VÀ SUY NIỆM LỄ VỌNG PHỤC SINH NĂM A2026
+/ Ý Chính. Vào lúc bình minh ngày thứ nhất trong tuần, do lòng mến thôi thúc, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà Ma-ri-a khác đã cùng đi thăm mồ Đức Giê-su. Nơi đây, các bà đã chứng kiến một trận động đất và cảm thấy sợ hãi khi nhìn thấy thiên thần hiện ra. Thiên thần đã trấn an các bà và loan báo Tin Mừng Chúa Giê-su đã phục sinh. Thiên thần còn trao cho các bà sứ mệnh: Hãy loan báo Tin Mừng ấy cho các tông đồ. Các bà vui vẻ thi hành và sau đó các bà còn được chính Chúa Phục Sinh hiện ra. Một lần nữa, Người lại trao sứ mệnh cho các bà: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó”.
- Mt 28,1 nói về các cuộc hiện ra của Chúa Giê-su phục sinh ở đây cũng được viết theo thể văn khải huyền, với vị thiên thần sáng láng và một trận động đất mới. Nhưng Tin Mừng không muốn phác hoạ cuộc đi ra khỏi mồ của Chúa như một cảnh tượng đắc thắng. Chỉ những ai tin mới được thấy Chúa Giê-su Phục Sinh: các phụ nữ đi tìm Người sẽ thấy Người, những lính tráng và lãnh tụ tôn giáo Do Thái không tìm Người sẽ chẳng hiểu gì cả. Mt ghi tên bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, bà mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp là hai người “anh em của Chúa”, họ hàng gần nhất của Người. Bà là một người chị họ của Đức Ma-ri-a, thân mẫu Chúa Giê-su. Chúa Giê-su đón gặp các bà. Rõ ràng là Mt nhập hai biến cố khác nhau thành một; một bên là chuyện phát hiện ngôi mộ trống, và bên kia là cuộc hiện ra của Chúa, xảy ra sau này, với một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la, như Ga thuật lại ở Ga 20,11-18, để họ đến Ga-li-lê.
- Người chuyển đạt thông điệp Phục Sinh cho một người là một phụ nữ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la, như để cho thấy rằng, trong Giáo Hội, không phải nhất nhất đều là từ cấp trên truyền xuống. Thiên Chúa muốn ban ơn và thông tin cho ai Người muốn, và trao những thông điệp có tính cách ngôn sứ cho những người đơn sơ chất phác và cho phụ nữ hay bất cứ ai ngài muốn.
- Cần nhấn mạnh rằng: Sự phục sinh của Chúa Ki-tô là trung tâm điểm của Tin Mừng, nhưng trình thuật của Mt lại rất ngắn gọn. Tại sao vậy? Thưa bởi vì vào thời tác giả biên soạn, sự phục sinh được xem là một biến cố quá sức quan trọng để mà truyền tin qua chữ viết, nên phải nhường lời cho các nhân chứng kể lại thì hơn, và cũng không quên chứng từ của Thần Khí đang hoạt động trong các cộng đoàn Ki-tô hữu.
+/ Hoàn cảnh của cộng đoàn chúng ta có khác hơn thế không? Cộng đoàn chúng ta làm chứng hùng hồn về Chúa Phục Sinh chưa phải là một cộng đoàn đã có bề thế, vì mới 6 tuổi, nhưng mà là một cộng đoàn đã được phục sinh. Nhờ ơn Chúa chúng ta vẫn có thể làm chứng cho sự phục sinh của Chúa, Đấng đã cho chúng ta cũng được phục sinh như Người. Hiện đang có những người trong chúng ta đang ở trong nấm mồ tội lỗi, vẫn muốn ở lì trong con người cũ cùng với các thói hư, khiến chúng ta chưa đón nhận được niềm vui của Chúa Phục Sinh.
- Thư Hr 12,1-13: đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. 6 Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. 7 Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con…chúng ta có cha trần thế sửa dạy mà chúng ta vẫn tôn kính, thì chúng ta lại càng phải tùng phục Cha trên trời để được sống. 10 Cha trần thế sửa dạy chúng ta trong một thời gian ngắn, và theo sở thích của mình ; còn Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người.
- thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục: Kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng bảo tồn nhân loại, là kêu gọi họ từ chỗ sa ngã đứng lên và đưa họ trở về sống thân mật với Thiên Chúa mà họ đã lìa xa vì tội bất phục tùng. Vì lẽ đó, Đức Ki-tô đã đến trong thân phận xác phàm, đã sống như sách Tin Mừng thuật lại, đã phải sầu khổ, chịu đóng đinh trên thập giá, chịu mai táng trong mồ rồi sống lại, để ai được cứu độ nhờ noi gương Đức Ki-tô thì lấy lại được phúc làm nghĩa tử đã có khi xưa. Vì thế, muốn sống đời hoàn hảo thì cần phải noi gương Đức Ki-tô, không những noi gương hiền lành, khiêm nhường, nhịn nhục Người đã nêu lên trong đời sống, mà noi gương cả cái chết của Người nữa, như thánh Phao-lô, một người noi gương Đức Ki-tô, đã nói : Nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, mà có ngày tôi cũng được sống lại từ trong cõi chết…Vậy làm thế nào để chúng ta nên giống Người trong cái chết của Người ? Thưa, bằng cách cùng được mai táng với Người trong bí tích Thánh Tẩy. Vậy mai táng cách nào, và noi gương Người thì kết quả sẽ ra sao ? Trước hết, cần phải đoạn tuyệt với nếp sống cũ. Điều ấy không ai đạt được, nếu không sinh lại như Chúa nói. Vả chăng ngay chữ “sinh lại” cũng có nghĩa là bắt đầu một cuộc sống mới. Vì thế, trước khi bắt đầu đời sống mới, bạn phải chấm dứt đời sống cũ. Cũng như những người đã chạy hết chặng đường mà muốn quay trở lại, phải dừng chân và nghỉ ngơi cách nào đó, trước khi chuyển hướng ngược lại, thì trong việc đổi đời cũng vậy, xem ra cần phải chết cách nào đó giữa đời sống trước và đời sống sau, để vừa chấm dứt những gì thuộc về trước, vừa bắt đầu những gì thuộc về sau.
- Một tác giả thời xưa nói về mầu nhiệm Vượt Qua: Bất cứ ai biết Chiên Vượt Qua, Chúa Giêsu đã chịu hiến tế vì mình, thì phải hiểu rằng từ lúc Đức Kitô chịu hiến tế cho mình là lúc mình bắt đầu sống. Mà Đức Kitô chịu hiến tế vì người đó, khi họ nhận ra ân sủng Chúa ban và hiểu rằng sự sống bắt nguồn từ hy lễ đó. Một khi biết được như vậy, họ phải cố gắng bắt đầu một đời sống mới và đừng trở về với đời sống cũ đã hết thời.
+/ Sau hết, mời cộng đoàn nghe một số lời của Đức Thánh Cha trong Lễ Truyền Dầu, thứ Năm Tuần Thánh, 06/04/2023: xây dựng sự hòa hợp giữa chúng ta không phải là một phương pháp tốt để liên kết Giáo hội tiến triển tốt hơn…đó là một đòi hỏi nội tại của đời sống Thần Khí. Chúng ta phạm tội chống Thần Khí là Đấng hiệp thông khi chúng ta trở thành công cụ chia rẽ; rơi vào tay kẻ thù, ưa thích những tin đồn và bóng gió, xúi giục đảng phái, nuôi dưỡng hoài niệm quá khứ, ngờ vực, bi quan, sợ hãi. Amen
SUY NIỆM BÀI THƯƠNG KHÓ THỨ 6 TUẦN THÁNH 2026
1/ Trong phụng vụ tuần thánh hiện nay, ngày chúa nhật Lễ Lá, chúng ta đọc bài thương khó theo thánh Mát Thêu năm A, thánh Mác Cô năm B, thánh Luca năm C. Ngày thứ sáu tuần thánh thì năm nào cũng đọc bài thương khó theo thánh Gioan. Cũng là một phần trong các sách Tin Mừng, nhưng người đọc không công bố theo công thức hàng ngày rằng: Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, cũng không chào chúc: Chúa ở cùng anh chị em, mà xướng: Cuộc thương khó đức Giêsu Kitô theo thánh.
- Chúng ta đừng quên rằng cuộc thương khó cũng là Tin Mừng, và cùng với Tin Mừng Chúa Phục sinh làm thành cốt lõi của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.
2/ Lời rao giảng đầu tiên của các tông đồ là công bố mầu nhiệm Chúa Giêsu chết và phục sinh. Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu loan báo cái chết và sự phục sinh của Chúa như hai thì của một biến cố duy nhất mà chúng ta gọi là mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa Giêsu vượt qua cái chết để vào cõi sống và dắt chúng ta theo. Thời Trung Cổ, người ta thường vẽ Chúa Giêsu Phục Sinh bước ra khỏi mồ, một tay dắt ông Adong, một tay dắt bà Evà, hoặc một tay cầm thánh giá, một tay dắt ông Adong.
3/ Điều này giúp hiểu tại sao các sách Tin Mừng kể về cái chết của Chúa Giêsu với nhiều chi tiết diễn tả những đau đớn, nhục nhã nhưng không cay đắng, giận dữ, oán hận, trái lại rất điềm tĩnh, tế nhị và tinh vi, nêu lên những nét mà những người xét xử, hành hạ, sỉ nhục Chúa Giêsu tưởng mình thắng thế, nhưng lại vô tình làm theo những gì đã được báo trước trong Kinh Thánh. Chính yếu tố hợp như lời Thánh Kinh này giúp ta nhìn ra ý nghĩa thật của cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.
4/ Trong các sách Tin Mừng, trình thuật cuộc thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu nằm ở cuối sách, nhưng trong quá trình loan báo Tin Mừng thì đây là điểm khởi đầu. Những người nghe lời công bố Tin Mừng và tin nhận đức Giêsu Nadarét là đấng Kitô, là con Thiên Chúa, thì thống hối và chịu phép Rửa. Họ họp với các môn đệ thành cộng đoàn tín hữu đầu tiên chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Ở giai đoạn giảng dạy này các tông đồ mới đưa người tín hữu ngược dòng, tìm hiểu những lời giáo huấn và những việc Chúa Giêsu đã làm trước đó, dưới ánh sáng của biến cố chết và phục sinh, là biến cố làm cho người ta nhận ra Chúa Giêsu là đấng Kitô, là con Thiên Chúa, là đấng cứu độ trần gian. Sách Tin Mừng thu tập các yếu tố đã khai triển trong quá trình giảng dạy này và trình bày mạch lạc, nghĩa là giúp cho người đọc thấy được cuộc sống, hành động và lời rao giảng của Chúa và cuộc thương khó, cùng sự phục sinh của Chúa ăn khớp với nhau.
5/ Vì thế trình thuật cuộc thương khó và phục sinh trong mỗi sách Tin Mừng cũng có những tính cách riêng và phải đọc trong mạch văn của mỗi sách Tin Mừng mới hiểu được. Lý do là mỗi sách Tin Mừng có một cách nhìn riêng về Chúa Giêsu, cách nhìn này chi phối sự lựa chọn tư liệu, thứ tự và cách thức trình bày, ăn khớp với nhau từ đầu đến cuối. Điều rất quan trọng là đừng xào chung bốn bài thương khó với nhau, hay bài thương khó trong sách Tin Mừng này với các yếu tố trong toàn bộ sách Tin Mừng khác, vì sẽ tự gây những thắc mắc khó khăn.
6/ Chìa khóa vạn năng. Muốn hiểu và cảm nếm được mầu nhiệm cuộc thương khó và phục sinh theo cách trình bày của sách Tin Mừng Gioan, chúng ta cần phải nắm vững tương quan giữa Cựu Ước và Tân Ước như hai giai
đoạn không thể tách rời trong lịch sử cứu độ, và hai phần của cùng một Sách Thánh. Cựu Ước là giai đoạn chuẩn bị trong đó Tân Ước đã được loan báo qua các sự việc và lời ngôn sứ, và Chúa Giêsu đến là để thực hiện mọi lời hứa, mọi lời loan báo.
- Châm ngôn của các giáo phụ là: Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước hiện rõ trong Tân Ước, chỉ là phát biểu một nguyên tắc do chính Chúa Giêsu và các tông đồ để lại. Nhưng Tin Mừng thứ tư rất phong phú, có lẽ phải so sánh như một khối nhiều mặt, ta chỉ có thể nhìn từng mặt và để cho tất cả thấm nhập vào lòng trí ta, rồi trong thinh lặng tất cả sẽ tỏa sáng trong lòng, trong tim ta.
- CHÚA MẶC KHẢI KINH CHÌA KHÓA THIÊN ĐÀNG
CHO HAI THÁNH ELISAVE NHICHTIN VÀ THÁNH BRIGITTA. THÔNG ĐIỆP CỦA CHÚA CỨU THẾ, ĐIỀU CHÚA MẶC KHẢI CHO THÁNH ELISAVE NHICHTIN VÀ THÁNH BRIGITTA, VỀ NHỮNG SỰ ĐAU ĐỚN CỦA CUỘC TỬ NẠN THÁNH CỦA CHÚA. SAU KHI NGHE NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CÁC TÂM HỒN THÁNH THIỆN NÀY, ĐÃ HIỆN RA VỚI HỌ MÀ PHÁN:
"hỡi các chị em của Ta, hãy biết rằng Ta đã nhỏ ra cho các chị em 72.200 giọt nước mắt, và 97.300 giọt máu. Trong lúc Ta hấp hối nơi vườn Dầu Ôliu, ta đã nhận được 1.667 roi đòn trên mình Thánh của Ta, 110 cái vả trên 2 má của Ta, những kẻ man rợ được tha hồ hành hạ Ta. Từ 24 giờ đến 15 giờ: 107 đòn ở cổ, 380 đòn trên lưng, 43 đòn trên ngực, 85 đòn trên đầu, 38 đòn trên cạnh sườn, 62 đòn trên vai, 40 đòn trên cánh tay, 32 đòn trên đùi và bắp vế. Chúng đánh vào miệng Ta 30 lần. Khi đội mão gai đầu Ta bị chọc thủng 303 lỗ. Ta đã rên rỉ và thở dài cho anh chị em được ơn cứu độ và ơn hối cải 900 lần. Ta đã chịu những sự hành hạ có thể làm Ta chết đi được 162 lần, chịu đựng những nỗi lo lắng đến cùng độ như thể Ta đã chết rồi 19 lần. Từ nơi xử án tới núi Sọ,Ta vác thánh giá mà bước đi 1.321 bước.
Đền bù lại tất cả các sự việc đó, Ta chỉ nhận được một cử chỉ bác ái của Thánh Veronica đã lấy khăn tay mà lau mặt Ta, chiếc khăn đã được in dấu Thánh Nhan Ta đẫm máu quí báu của Ta. Trong khi vác Thánh giá, Ta có một vết thương sâu bằng 3 ngón tay và 3 xương bị lộ ra trên bả vai, vết thương này loài người không ai biết đến, đã gây cho Ta nhiều khổ não và đau đớn hơn tất cả các vết thương khác.
- Sau cùng, qua cái chết trên thập giá, Đức Giêsu cho thấy tình yêu lớn nhất của Ngài, tình yêu trao hiến cả Máu và Nước từ trái tim bị đâm thâu. Nhưng thập giá cũng cho thấy tình yêu của Cha khi ban Con Một cho ta. Đức Giêsu Kitô đã trở về với Cha bằng con đường khó đi.
- Người Kitô hữu cũng về với Thiên Chúa bằng con đường hẹp. Ước gì chúng ta sống cuộc Khổ nạn của mình với sự bình an, can đảm của Chúa Giêsu. Amen
LỜI CHÚA (Ga 13, 1-15) VÀ SUY NIỆM THỨ 5 TUẦN THÁNH NĂM 2026
- Suy Niệm Lời Chúa. Chiều hôm nay của hơn 20 thế kỷ trước, Chúa Giêsu đã làm 2 việc hết sức đẹp và trọng đại, hết sức giá trị, là Chúa thiết lập chức linh mục và phép Thánh Thể vì yêu thương cho đến cùng đối với nhân loại, cách riêng là cho người Công Giáo. Với kinh Vinh Danh được long trọng xướng lên trong thánh lễ chiều nay, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Tam nhật thánh. Chính trong bối cảnh này, Chúa Giêsu hiến mình làm của ăn của uống cho các môn đệ, và qua các môn đệ, Chúa Giêsu nuôi dưỡng ngàn thế hệ mai sau.
- Bài Tin Mừng Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh hôm nay trình thuật về Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su và các môn đệ. Giáo Hội hơn hai ngàn năm nay đã coi những lời Tin Mừng này là những lời trối trăng của Chúa, nên trong Lời nguyện nhập lễ chúng ta vừa nghe rằng: Trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người.
- Những lời Lối cao quý ấy chính là Ðức ái, Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðây là 3 chủ đề lớn nhất trước khi Chúa đi vào cuộc khổ nạn sinh ơn cứu độ loài người. Nhưng giữa Ðức Ái, Thánh Thể và Chức Linh Mục, Ðức Ái được cho là quan trọng và cần thiết hơn. Ðiều này được chứng minh bằng lời mà Chúa Giêsu đã nói với thánh Phêrô: Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy.
- Không được dự phần với Chúa đối với Phêrô lúc bấy giờ là không được lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Không được tham dự Lễ Vượt Qua với Chúa. Và cũng có nghĩa là không được thông phần thiên chức linh mục mà Chúa sắp sửa thiết lập. Không được dự phần với Chúa, là không được đón nhận Ơn Cứu Chuộc mà Ngài sắp sửa thực hiện qua cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài. Và vì thế, không được dự phần với Chúa là không được thông phần sự sống đời đời với Ngài.
- Việc thánh Phêrô không được dự phần với Chúa là việc hệ trọng. Nó có tính cách quyết liệt, và mang ý nghĩa đời đời. Có lẽ vì hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của hành động dự phần ấy, ông đã vội vàng thưa với Chúa: Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa.
- Như vậy, rửa chân đối với thánh Phêrô là một thái độ khiêm tốn đón nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho ông. Ðể cho Chúa Giêsu rửa chân, tức là để Ngài gột rửa linh hồn ông, khiến ông xứng đáng với Thánh Thể của Ngài. Xứng đáng với thiên chức linh mục mà Ngài sắp sửa mời gọi ông tham dự. Và xứng đáng trong việc chia sẻ cuộc khổ nạn, và sự Phục Sinh của Ngài.
- Đối với Phêrô cũng như tất cả mọi Kitô hữu sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ thực hành của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn mỗi người Kitô Hữu phải học nơi Ngài: Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con.
+/ Ðức ái và Thánh Thể. Suy ngắm về mầu nhiệm Thánh Thể và tưởng niệm sự hy sinh cao cả của Chúa khi ban mình làm của ăn, của uống nuôi dưỡng nhân loại trên hành trình đức tin và trong đời sống tâm linh. Câu hỏi được đặt ra, liệu chúng ta phải sống với sức sống Thánh Thể như thế nào? Ðời sống đạo của chúng ta có lột tả được ý nghĩa rửa chân mà Chúa Giêsu đã thực hiện và dạy chúng ta không? Chúng ta có để Chúa rửa chân như Phêrô đã để Ngài rửa chân, nhất là chúng ta có rửa chân cho nhau không? Nếu chúng ta đến với Chúa Giêsu Thánh Thể bằng tâm hồn khiêm tốn, và đón nhận Ngài vào cuộc đời mình, chúng ta cũng phải sống với mầu nhiệm Thánh Thể bằng việc rửa chân cho nhau, nghĩa là đón tiếp, giúp đỡ, và tha thứ cho nhau như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho ta.
- Thánh Thể là một biểu hiện tuyệt vời Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu biết những gì Ngài sẽ phải làm và những gì sẽ xảy ra cho Ngài như lời Thánh Ký ghi nhận. Ngài đã thiết lập phép Thánh Thể để duy trì tình yêu của Ngài đối với loài người, và cũng để nuôi dưỡng tình yêu con người bằng chính sức sống đến từ Thịt và Máu Ngài: Thịt Ta thật là của ăn. Máu Ta thật là của uống.
+/ Đức ái và chức Linh mục. Ngày Thứ Năm Tuần Thánh cũng là dịp để ta cùng ôn lại Bí Tích Truyền Chức Thánh mà Chúa Giêsu đã thiết lập, không chỉ việc duy trì và bảo tồn Thánh Thể. Bởi vì không có linh mục, thì không có Thánh Thể. Cũng có thể nói, Bí Tích Truyền Chức Thánh là một thể hiện tuyệt vời tình yêu Thánh Thể đối với nhân loại. Không ai xứng đáng với chức linh mục, nhưng chức linh mục lại chính là người phục vụ, người cúi xuống rửa chân, tức là phục vụ trong khiêm hạ cho anh chị em mình.
- Ðối với Chúa, vì yêu thương nhân loại, Ngài đã để lại Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðối với các linh mục, như Chúa Giêsu đã nói với Phêrô, là nếu không thông hiệp với Ðức Ái, tức là Tình Yêu của Ngài, nếu không sống đức ái ấy, thì không được dự phần với Ngài. Có thể nói, bí tích truyền chức gắn bó với bí tích Thánh Thể qua Ðức Ái trọn hảo.
- Cha thánh Gioan Vianay khẳng định rằng: Nếu không có linh mục, thì sự thương khó và sự chết của Chúa không giúp gì cho ta. Ngài nói tiếp: Nếu trong rương có đầy vàng mà không có ai mở ra, nào có ích gì? cũng vậy, nếu không có linh mục, sẽ không có Bí tích giải tội, không có Mình Thánh Chúa…ai là nguyên cớ để bánh trở nên Mình Thánh Chúa? Ai thanh tẩy tâm hồn ta? Ai dọn linh hồn người chết ra đi thanh thản…nếu không phải là linh mục.
- Chân phước linh mục Antone Chevrier (Pháp) đã nói: Xin hãy giúp tôi xây dựng một ngôi thánh đường. Chỉ có ngôi thánh đường này mới cứu được thế giới. Người ta ngạc nhiên bèn hỏi: - Thưa Cha, ngôi thánh đường nào vậy? Ngài nói tiếp: - Tôi muốn làm hết sức để xây một ngôi thánh đường mà nền móng là những linh mục thánh thiện, các cột đỡ cũng là những linh mục thánh thiện, nhà tạm cũng là những linh mục thánh thiện, tòa giảng cũng là những linh mục thánh thiện và bàn thờ cũng là những linh mục thánh thiện. Chỉ có ngôi thánh đường này mới cần thiết cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Do đó, xin cộng đoàn cầu nguyện cho tôi và chức vụ vương đế của người tín hữu chúng ta.
- Theo thánh công đồng Vaticanô 2, chức tư tế cộng đồng của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật (tức là chức linh mục thừa tác), tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về bản chất, song cả hai bổ túc cho nhau. Cả hai đều tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình. Nhờ ơn bí tích Thêm Sức, họ gắn bó với Giáo Hội cách hoàn hảo hơn, và được dư đầy sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần, do đó họ càng có bổn phận khẩn thiết hơn phải loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm như những chứng nhân đích thực của Chúa Kitô.
- Khi tham dự thánh lễ, nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo, ta dâng lên Thiên Chúa Lễ Vật thần linh và cùng với Lễ Vật ấy ta tự dâng chính bản thân mình. Khi dâng lễ cũng như khi hiệp lễ, không phải cách lộn xộn, nhưng mỗi người một cách góp phần vào việc cử hành phụng vụ. Hơn nữa, được bổ dưỡng bởi Mình Thánh Chúa Kitô trong thánh lễ, ta biểu lộ cách cụ thể sự hiệp nhất của Dân Thiên Chúa, sự hiệp nhất ấy được diễn tả đầy đủ và cách kỳ diệu trong bí tích cực trọng này.Amen
https://thuongvietngheo.blogspot.com/2026/02/xin-giup-nhung-ke-tung-thieu-e-noi-theo.html
Linh mục Gb Nguyễn Ngọc Nga