Đời còn ai thông cảm kiếp đoạn trường
- T2, 02/03/2026 - 01:30
- Mai Tá
Suy tư Tin Mừng Chúa Nhật 4 mùa Chay năm A 08/3/26
Trước nhất, là Tin Mừng Ga 4: 5-42
“Khi ấy, Đức Giêsu đến một thành xứ Samari, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giuse.6 Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước.
Đức Giêsu nói với người ấy:
-Chị cho tôi xin chút nước uống!"8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.9 Người phụ nữ Samari liền nói:
-Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?
Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Samari.10
Đức Giêsu trả lời:
-Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: "Cho tôi chút nước uống", thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.
11 Chị ấy nói:
- Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Giacóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy."
13 Đức Giêsu trả lời:
-Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát
nữa.
Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống
đời đời."
15 Người phụ nữ nói với Đức Giêsu:
-Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước."
16 Người bảo chị ấy:
-Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.17
Người phụ nữ đáp:
-Tôi không có chồng.
Đức Giêsu bảo:
-Chị nói:
-Tôi không có chồng là phải,18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.
19 Người phụ nữ nói với Người:
Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. .20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa."21
Đức Giêsu phán:
-Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem.22 Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái.23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật."25 Người phụ nữ thưa: "Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự."26 Đức Giêsu nói: "Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây."
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi: "Thầy cần gì vậy?" Hoặc "Thầy nói gì với chị ấy?"28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta:29 "Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao? "30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: "Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa."32 Người nói với các ông:"Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết."33 Các môn đệ mới hỏi nhau: "Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?"34
Đức Giêsu nói với các ông: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.35 Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái!36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng.37 Thật vậy, câu tục ngữ "kẻ này gieo, người kia gặt" quả là đúng!38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ."
39 Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm.40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày.41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa.42 Họ bảo người phụ nữ: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian."
Và, tiếp theo là lời bình giảng do Linh mục kể có thơ văn như sau:
“Đời còn ai thông cảm kiếp đoạn trường”
Em biền biệt như một loài chim biển,
Anh quay về kiếp gối đất màn sương,
Đời còn ai thông cảm kiếp đoạn trường,
Anh khẽ vuốt sợi tóc mềm ngấn lệ” (thơ Thanh Tâm)
Lại một nhà thơ có tâm tình ngấn lệ. Lệ đã ngấn, cùng với kiếp gối đất màn sương như người mù đã chịu được kể trong trình thuật, diện kiến Chúa hôm nay.
Tin Mừng hôm nay, là đoạn truyện kể về việc Chúa chữa lành cho người mù thuở mới sinh. Một chữa lành, tạo ưu tư/thắc mắc giữa các tông đồ, luật sĩ cùng thủ lĩnh cao sang, vào thời ấy. Thắc mắc ưu tư hôm xưa, về nguyên do của mù loà. Về, việc Chúa chữa lành dẫn đến niềm tin. Niềm tin của người mù.
Và, của người chứng kiến việc Chúa làm.
Các tông đồ, luật sĩ đã chứng kiến rồi mà còn thắc mắc, là bởi họ luôn để trong đầu quan niệm rất sai khi nghĩ là: có ràng buộc giữa tội lỗi và tật nguyền. Có người lại coi đây như hình phạt gửi từ Trên, do lỗi phạm của con người. Của cha mẹ và người thân! Dù, đã hơn một lần, Đức Giê-su từng bảo: “Lỗi của chị được tha thứ, và đã cất đi!”. Trình thuật hôm nay, Chúa còn thay đổi lối nhìn của người thắc mắc, với một khẳng định:
“Làm thế, là để thiên hạ nhìn thấy được công trình của Thiên Chúa
hiện rõ nơi anh.” (Ga 9: 3)
Là để ta thấy rõ công trình của Chúa, là phân biệt ánh sáng với cõi tối tăm. Là, biết được việc Chúa chữa lành người mù, tức: đưa người ấy vào cuộc sống mới. Cuộc sống, biết phân biệt sự sáng với tối tăm.
Là, biết nhận ra không chỉ ánh sáng của đời thường, mà còn nhận ra chính Ngài là “ánh sáng cho muôn dân.”
Khởi đầu trình thuật, ai cũng hiểu: người mù từ bẩm sinh là người khất thực, sống ngoài Đạo.
Không được đứng chung với cộng đoàn dân con Đức Chúa. Anh thuộc nhóm người, bị né tránh. Nhưng khi
lành lặn, anh được phép gia nhập cộng đoàn kẻ tin, trở nên môn đệ trung kiên của Chúa. Điều này cho
thấy: theo quan niệm Tin Mừng, người được chữa sẽ không ở trong tăm tối nữa, nhưng đã ngập tràn ánh
sáng của Chúa. Ngập tràn hồng ân Chúa ban. Hồng ân làm môn đệ, rất kiên vững.
Tin mừng kể: Đức Giê-su dùng bùn đất và nước miếng, để chữa lành. Bùn và nước miếng Chúa
dùng, là lối chữa dân gian, không để xác nhận lối chữa lành nhờ phù phép, nhưng để nhắc nhở người nghe về quyền uy Đức Chúa, qua việc tạo dựng. Tạo dựng, là đem sự sống mới đến với con người. Sự sống nơi người mới, khác với A-đam đầy lỗi phạm. Sự sống Chúa ban,là xác nhận mà thánh Phaolô gọi là
Thanh tẩy. Thanh lọc và tẩy rửa nơi hồ Silôam, biểu hiện sức sống mới nhờ Thánh Thần.
Thánh thần Chúa chữa lành ngày sa-bát, tuy vi phạm luật Do Thái, nhưng như thế càng chứng tỏ Thiên tính của Đức Giêsu, Đấng bẻ gãy thói tật người xưa chỉ tuân giữ lề luật vị lề luật. Chữa lành ngày Sa-bát, còn chứng tỏ Đức Giêsu không chỉ là một phàm nhân tội lỗi, giống mọi người. Bởi, họ đều rõ: “nếu là người tội lỗi, sao Ông Ta có thể làm được như vậy” (Ga 9: 16). Việc Ngài làm, đã gây tranh cãi và thắc mắc kéo dài, là để xác minh về Thiên tính của Đức Giêsu.
Tranh cãi và biện luận kéo dài, vì Chúa đã bẻ gẫy thói tật người xưa chỉ tuân giữ lề luật vì lề luật.
Và, họ lo sợ rằng Chúa sẽ lôi cuốn những người lưng chừng về với niềm tin rằng Ngài đích thực là Đấng Thiên Sai. Ý đồ và hành động của những người tự-cho-mình-là người-giữ-Luật là công việc của con cái sự tăm tối, như xác định của thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai, hôm nay: “Anh chị em hãy ăn ở như con cái sự sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.. Đừng cộng tác vào việc vô bổ của con cái sự tối tăm, nhưng phải vạch trần việc ấy ra mới đúng.” (Êp 5: 10)
Người mù nay được sáng đã làm như thế. Anh đã tin “vào Người Con là Đấng Thiên Sai, đang đứng trước mặt và nói chuyện với anh” (Ga 9: 35), nên anh được cứu chữa. Cả về mặt thần tính. Chính vì anh tin, nên ta có được lời minh xác về Thiên tính, từ Đức Giê-su ngay lúc đó: “Tôi đến thế gian, chính là để xem xét: cho người không nhìn được thấy, và kẻ vẫn thấy lại nên đui mù.” (Ga 9: 39). Và, đui mù cùng nhìn thấy, nay được liên kết với người vô tội và kẻ tội lỗi.
Từ đó, theo định nghĩa, ta lại có hai loại người chính thức trong xã hội:
1-kẻ đui mù thể xác, chấp nhận lời của Chúa, nay trở thành chiên con được Ngài dẫn dắt.
2-nhóm Pharisêu cho mình sáng suốt đã không tin, nên vẫn cứ nghịch chống Đức Giêsu.
Nói khác đi, những kẻ tội lỗi, từ chối không chịu nghe, hoặc tự hào về đầu óc sáng suốt đã thực sự là người đui mù hoặc tự làm mình mù đui. Hoặc, nhóm Pha-ri-sêu những tưởng mình thấy được, mới thực sự là kẻ tội lỗi. Và người mù từ thuở mới sinh nhưng chấp nhận lời Chúa dạy, đã được thấy trở lại. Không còn mù đui nữa. Cả về mặt thần tính lẫn niềm tin.
Xem như thế, Phúc Âm hôm nay là một nối kết rõ ràng với thanh tẩy. Chúng ta tuyên bố Lời Chúa cho các dự tòng, những người chuẩn bị nhận lĩnh ơn thanh tẩy và vào với cộng đoàn các kẻ tin vào Đức Kitô. Những người đã bắt đầu nhìn thấy Đức Giê-su. Bắt đầu nhận biết và đi theo Ngài. Đi theo, để rao truyền Lời Ngài đến muôn dân nước.
Thể theo lời xác minh đề nghị của thánh Phao-ô nơi bài đọc thứ hai, nay ta có được ánh sáng của Tin Mừng, ta sẽ xử sự như người sáng mắt. Sáng cả về thể xác, lẫn niềm tin.
Như người sáng suốt với niềm tin vào Chúa, ta hân hoan tiến bước, miệng vui tươi hát rằng:
Ôi! Nắng lụa vàng, nắng lụa vàng nắng ướt môi em,
Ôi! Nắng lụa vàng, nắng lụa vàng quấn quít chân em.
Trên con đường này, ngày xưa, ngày xưa
Trên con đường này, chiều nay, chiều nay…
(Phạm Thế Mỹ - Áo lụa vàng)
Đúng thế. Trên con đường này, chiều nay ta tiến bước. Có nắng lụa vàng quấn quít chân em. Và cả chân tôi. Những người quyết ra đi báo tin vui cho mọi người. Tin rằng: ai nông nổi kiếp đoạn trường, nay có Chúa ở cùng. Cùng đến gối đất kiếp màn sương. Với người mù từ bẩm sinh. Với dân con, mọi người. Mọi
thời.
______Lm Frank Doyle, sj biên soạn -
Mai Tá diễn dịch.