Nhảy đến nội dung

Chia sẻ Tin Mừng Lễ Thánh Phaolô Miki và các bạn

THÁNH PHAO-LÔ MI-KI VÀ CÁC BẠN, TỬ ĐẠO

Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

16 Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Ngày 6 tháng 2

Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn, tử đạo

 

TỪ NGỌN NÚI GALILÊ ĐẾN ĐỒI TỬ ĐẠO NAGASAKI: SỨ MẠNG LÊN ĐƯỜNG VÀ LỜI HỨA CỦA ĐẤNG Ở CÙNG CHÚNG TA MỌI NGÀY

Lm. Anmai, CSsR

https://youtu.be/zedbfzQcJtE

Remote video URL

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta vào một bối cảnh không gian và thời gian đầy ý nghĩa, một điểm giao thoa giữa kết thúc và khởi đầu, giữa trời và đất, giữa sự hữu hạn của con người và quyền năng vô hạn của Thiên Chúa, khi Tin Mừng Mát-thêu khép lại bằng cuộc gặp gỡ trên ngọn núi tại Ga-li-lê, nơi mười một môn đệ diện kiến Đấng Phục Sinh để lãnh nhận sứ mạng loan báo Tin Mừng cho muôn dân, hình ảnh này càng trở nên sống động và hào hùng hơn khi được soi chiếu qua cuộc đời và cái chết của Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn tử đạo tại Nhật Bản mà Giáo hội kính nhớ hôm nay, bởi lẽ nếu ngọn núi Ga-li-lê là nơi lệnh truyền được ban ra, thì ngọn đồi Nishizaka tại Nagasaki chính là nơi lệnh truyền ấy được thi hành một cách trọn vẹn nhất bằng máu và tình yêu, sự kết nối giữa lệnh truyền của Đức Giê-su và sự đáp trả của các vị tử đạo tạo nên một bản trường ca đức tin vĩ đại, mời gọi chúng ta suy niệm sâu xa về căn tính của người môn đệ trong thế giới hôm nay, không phải là những kẻ đứng nhìn trời cao hay co cụm trong sự an toàn của nghi lễ, mà là những người dám "đi" và dám "ở lại", đi đến tận cùng trái đất và ở lại trong tình yêu của Thầy chí thánh cho đến hơi thở cuối cùng.

Trước hết, hãy chiêm ngắm khung cảnh "mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền", con số mười một gợi lên một nỗi buồn man mác, một sự thiếu hụt và tổn thương của cộng đoàn sơ khai sau sự phản bội của Giu-đa, điều này cho thấy Giáo hội được sai đi không phải là một tập thể hoàn hảo, không tì vết, mà là một cộng đoàn mang trong mình những vết thương, những giới hạn và yếu đuối, nhưng chính trên nền tảng của sự khiếm khuyết ấy, quyền năng của Thiên Chúa mới được bộc lộ rõ nét, địa điểm Ga-li-lê mang một ý nghĩa thần học sâu sắc, đó là "Ga-li-lê của dân ngoại", nơi khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giê-su, nơi Ngài gọi những môn đệ đầu tiên bên bờ hồ, và giờ đây, sau biến cố Tử Nạn và Phục Sinh, Ngài hẹn gặp họ lại chính nơi này để tái khẳng định ơn gọi và mở ra một chân trời mới, việc trở lại Ga-li-lê không phải là quay về quá khứ để hoài niệm, mà là trở về nguồn cội để múc lấy sức mạnh cho một cuộc lên đường vĩ đại hơn, đối với Thánh Phao-lô Mi-ki, một linh mục dòng Tên người Nhật, và các bạn của ngài bao gồm cả giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, "Ga-li-lê" của họ chính là đất nước Nhật Bản, là văn hóa, là con người nơi họ sinh ra và lớn lên, họ đã đón nhận đức tin không phải như một món hàng ngoại nhập xa lạ, nhưng đã để Tin Mừng bén rễ sâu vào tâm hồn mình, biến đổi cuộc đời mình, để rồi chính họ trở thành những tông đồ nhiệt thành nhất ngay trên quê hương mình, điều này nhắc nhở chúng ta rằng sứ mạng truyền giáo luôn bắt đầu từ "Ga-li-lê" của mỗi người, tức là từ chính hoàn cảnh sống, gia đình, môi trường làm việc hiện tại của chúng ta.

Một chi tiết rất người và rất thật mà thánh sử Mát-thêu ghi lại là: "Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi", sự hoài nghi này không hẳn là sự chối bỏ đức tin, mà là sự choáng ngợp của trí tuệ hữu hạn trước mầu nhiệm Phục Sinh quá đỗi lớn lao, hoặc có thể là sự mặc cảm tội lỗi vì đã từng bỏ chạy khi Thầy bị bắt, Đức Giê-su không quở trách sự hoài nghi ấy, Ngài không đòi hỏi một đức tin sắt đá không chút rung chuyển trước khi trao sứ vụ, trái lại, Ngài bước đến gần họ, sự "đến gần" này là hành động của ân sủng, lấp đầy khoảng cách giữa thần linh và nhân loại, giữa thánh thiện và tội lỗi, chính trong sự gần gũi ấy, Ngài tuyên bố: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất", đây là chìa khóa để hiểu về cuộc tử đạo của Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn, quyền bính của Đức Giê-su không phải là quyền lực chính trị, quân sự hay áp đặt như các lãnh chúa phong kiến thời bấy giờ ở Nhật Bản, những kẻ đã ra lệnh bắt bớ và hành quyết các ngài vì sợ ảnh hưởng của Kitô giáo, quyền bính của Đấng Phục Sinh là quyền năng của Tình Yêu chiến thắng sự chết, quyền năng của sự tha thứ chiến thắng hận thù, khi bị treo trên thập giá tại Nagasaki, Thánh Phao-lô Mi-ki đã thực thi quyền bính này không phải bằng gươm giáo, mà bằng lời giảng tha thứ: "Tôi tha thứ cho quan Tổng trấn và tất cả những ai đã làm hại tôi, tôi khuyên họ hãy chịu phép rửa để được cứu độ", đó chính là quyền năng "trên trời dưới đất", quyền năng biến đổi đồi xử tử thành bục giảng thuyết, biến cây thập giá đau thương thành ngai tòa vinh quang, các vị tử đạo đã không sợ hãi cường quyền thế gian bởi vì các ngài xác tín rằng Đấng sai các ngài đi nắm giữ uy quyền tối thượng, và không một thế lực nào, dù là cái chết, có thể tách các ngài ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.

Lệnh truyền "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" là một động từ mạnh mẽ, phá vỡ mọi rào cản của sự khép kín, "Đi" không chỉ là di chuyển về mặt địa lý, mà là một cuộc xuất hành tâm linh, ra khỏi cái tôi ích kỷ, ra khỏi sự an toàn giả tạo để đến với tha nhân, mục đích của việc ra đi không phải là để chiêu mộ tín đồ cho đông số, mà là "làm cho muôn dân trở thành môn đệ", làm môn đệ nghĩa là đi theo, là học hỏi, là trở nên giống Thầy, và quan trọng hơn cả là "làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần", phép rửa không chỉ là một nghi thức gia nhập đạo, mà là sự dìm mình vào trong sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, là được tháp nhập vào dòng chảy tình yêu của Thiên Chúa, 26 vị thánh tử đạo Nhật Bản hôm nay là minh chứng hùng hồn cho ý nghĩa của phép rửa này, trong số họ có những em bé giúp lễ như Tô-ma Kozaki (14 tuổi), An-tôn (13 tuổi) và Lu-i Ibaraki (12 tuổi), những em bé này đã sống bí tích Rửa Tội một cách hào hùng đến mức người lớn cũng phải kinh ngạc, khi bị dọa giết và bị dụ dỗ bỏ đạo, bé Lu-i đã trả lời quan quyền: "Cây thánh giá này là vinh dự của tôi, tôi sẽ không bao giờ bỏ Chúa", các em đã hiểu rằng Phép Rửa đã đóng ấn các em thuộc về Chúa Ki-tô vĩnh viễn, và cái chết thể lý chỉ là cánh cửa để bước vào sự sống trọn vẹn với Ba Ngôi mà thôi, sứ mạng của chúng ta hôm nay cũng vậy, truyền giáo không phải là những chiến dịch ồn ào, mà là giúp người khác nhận ra phẩm giá con cái Thiên Chúa nơi chính mình, dẫn họ đến sự gặp gỡ thâm sâu với Ba Ngôi qua đời sống yêu thương và phục vụ cụ thể.

Sứ mạng ấy tiếp tục với mệnh lệnh: "dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em", nội dung của việc giảng dạy không phải là một hệ thống luân lý khô khan, mà là "mọi điều Thầy đã truyền", tóm gọn lại trong giới răn yêu thương, Thánh Phao-lô Mi-ki trên thập giá đã giảng bài giảng cuối cùng và hùng hồn nhất không phải bằng lý thuyết thần học cao siêu, mà bằng chính thân xác bị đâm thâu của mình, ngài nói: "Tôi là người Nhật, tôi chết vì Chúa tôi, tôi không hề hối tiếc", lời dạy bảo có sức thuyết phục nhất chính là lời chứng của cuộc sống, thế giới ngày nay, như lời Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã nói, "người ta tin vào những chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu người ta có tin vào thầy dạy thì bởi vì thầy dạy đó cũng là một chứng nhân", chúng ta không thể dạy người khác yêu thương nếu lòng chúng ta đầy thù hận, không thể dạy người khác tha thứ nếu chúng ta còn nuôi dưỡng hiềm khích, đời sống của người Kitô hữu phải là cuốn Tin Mừng mở ra cho mọi người đọc, mỗi hành động bác ái, mỗi lời nói dịu dàng, mỗi sự hy sinh thầm lặng đều là một bài giảng sống động về Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, sự tử đạo của các thánh nhân Nhật Bản không phải là sự tìm kiếm cái chết, mà là hệ quả tất yếu của một lối sống trung thành với Tin Mừng giữa một thế giới chối bỏ Tin Mừng, tử đạo (martyr) trong nguyên ngữ Hy Lạp nghĩa là "làm chứng", và mỗi chúng ta đều được mời gọi tử đạo mỗi ngày qua việc làm chứng cho sự thật, cho công lý và tình yêu, dẫu phải chịu thiệt thòi, mất mát hay bị hiểu lầm.

Cuối cùng, đoạn Tin Mừng khép lại bằng một lời hứa vĩ đại, một lời hứa có sức mạnh nâng đỡ toàn bộ lịch sử Giáo hội và cuộc đời mỗi tín hữu: "Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế", đây là danh xưng Em-ma-nu-en - Thiên Chúa ở cùng chúng ta - được hiện thực hóa trọn vẹn, Chúa Giê-su không sai các môn đệ đi một mình, Ngài không đứng trên trời cao chỉ tay năm ngón, nhưng Ngài cùng đi, cùng hiện diện trong mọi nẻo đường sứ vụ, "Mọi ngày" nghĩa là không có ngày nào vắng bóng Chúa, từ những ngày nắng đẹp của thành công đến những đêm đen của thất bại, từ những giây phút hân hoan của ngày lễ cưới đến những giây phút đau thương của bệnh tật và cái chết, lời hứa này chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp các thánh tử đạo Nhật Bản vượt qua cuộc hành trình đi bộ gian khổ dài hàng trăm cây số từ Kyoto đến Nagasaki giữa mùa đông lạnh giá, chịu đựng sự sỉ nhục, đói khát và đau đớn, trên thập giá, khi những ngọn giáo đâm thâu lồng ngực, các ngài không cảm thấy cô đơn vì các ngài biết Thầy đang ở đó, cùng chịu đóng đinh với các ngài, cùng đau nỗi đau của các ngài và đang mở rộng vòng tay đón các ngài vào vinh quang, niềm xác tín "Thầy ở cùng anh em" đã biến tiếng rên xiết của đau đớn thành bài ca "Te Deum" vang vọng giữa pháp trường, làm rúng động cả những đao phủ và những người chứng kiến.

Suy niệm về lời hứa này trong bối cảnh xã hội hiện đại, chúng ta nhận thấy con người ngày nay đang đối diện với một căn bệnh đáng sợ hơn cả cái chết thể lý, đó là sự cô đơn và vô nghĩa, nhiều người trẻ lạc lõng giữa dòng đời, không biết mình sống để làm gì, nhiều người già bị bỏ rơi trong sự quên lãng, nhiều gia đình tan vỡ vì thiếu vắng tình yêu, sứ điệp "Thầy ở cùng anh em" chính là liều thuốc chữa lành mà chúng ta phải mang đến cho thế giới, nhưng trước hết, chính chúng ta phải cảm nghiệm sâu sắc sự hiện diện này, chúng ta không thể loan báo một Chúa đang ở cùng nếu chúng ta sống như những kẻ vô thần thực hành, lo âu sợ hãi như thể Chúa không tồn tại, đời sống cầu nguyện, việc tham dự Thánh Lễ, các bí tích là những phương thế để chúng ta chạm vào sự hiện diện của Đấng Phục Sinh, khi chúng ta ý thức Chúa đang ở cùng, cái nhìn của chúng ta về cuộc đời sẽ thay đổi, những thánh giá hằng ngày - gánh nặng cơm áo gạo tiền, những xung đột trong tương quan, những bệnh tật của tuổi già - sẽ không còn là những hình phạt vô nghĩa, mà trở thành cơ hội để chúng ta kết hiệp với Chúa Giê-su, trở thành con đường nên thánh, Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn đã không chọn thời thế, không chọn hoàn cảnh thuận lợi để sống đạo, các ngài đã sống trọn vẹn giây phút hiện tại với Chúa, dù giây phút đó là trên thập giá, chúng ta cũng được mời gọi sống phút hiện tại ấy, biến mỗi khoảnh khắc đời thường thành một hành vi thờ phượng và loan báo Tin Mừng.

Để kết thúc dòng suy niệm này nhưng lại mở ra một lối sống mới, chúng ta hãy nhìn lên gương các thánh tử đạo Nhật Bản như những ngọn hải đăng soi chiếu đức tin, các ngài là những con người bình thường, có người là linh mục trí thức, có người là giáo dân chất phác, có người già cả, có người thơ ngây, nhưng tất cả đều trở nên phi thường nhờ sức mạnh của Lời Chúa và Thánh Thể, sự hiệp nhất của các ngài trên đồi tử đạo là hình ảnh tuyệt đẹp của một Giáo hội hiệp hành, nơi mọi thành phần dân Chúa cùng chung một nhịp đập yêu mến, cùng chung một sứ mạng làm chứng, hôm nay, có thể chúng ta không bị đòi hỏi phải đổ máu đỏ, nhưng chúng ta được mời gọi tử đạo bằng "máu trắng" của sự hy sinh thầm lặng, sự tử đạo của việc dám sống trung thực trong một xã hội đầy gian dối, sự tử đạo của việc giữ gìn sự chung thủy trong hôn nhân giữa một nền văn hóa vứt bỏ, sự tử đạo của việc bảo vệ sự sống thai nhi và người già yếu, sự tử đạo của việc tha thứ cho kẻ thù nghịch, mỗi lần chúng ta chiến thắng sự ích kỷ của bản thân để "đi" đến với người khác, mỗi lần chúng ta vượt qua sự "hoài nghi" để tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa, là mỗi lần chúng ta đang họa lại hình ảnh của Đấng Phục Sinh và các thánh tử đạo trong cuộc đời mình, xin cho lời hứa "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" trở thành nhịp thở, thành sức sống và niềm hy vọng bất diệt cho chúng ta, để như Thánh Phao-lô Mi-ki, dù đứng trên bất kỳ "ngọn đồi" nào của cuộc đời, dù là đỉnh cao danh vọng hay vực sâu thử thách, chúng ta vẫn hiên ngang rao giảng về Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.

Lm. Anmai, CSsR

Danh mục:
Tác giả: