Nhảy đến nội dung

Bệnh vô cảm

BỆNH VÔ CẢM (CN XXVI/TN-C)

Thành ngữ Việt Nam có câu: “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, ngụ ý phê phán những người ích kỷ chỉ biết đến bản thân mình, luôn bày tỏ sự bàng quan, thờ ơ, lãnh đạm trước tai họa, vận hạn của người khác. Thành ngữ này lấy ý từ một truyện ngụ ngôn nói về bệnh “vô cảm”. Đó là câu chuyện kể về một anh chàng khi nhà hàng xóm liền vách bị cháy mà vẫn thản nhiên kéo chăn trùm đầu nằm ngủ, còn tặc lưỡi tự nhủ “cháy nhà người khác chứ có phải cháy nhà mình đâu mà sợ!” Rốt cuộc, lửa cháy lan sang nhà anh ta, mọi thứ tan thành tro bụi. Lúc đó, anh ta mới tỉnh ngộ, ân hận vò đầu, bứt tai kêu khóc. Thờ ơ, lạnh nhạt đến như thế, đúng là căn bệnh “vô cảm” đã ngấm sâu vào huyết thống.

Quả thật thái độ bàng quan, lãnh đạm trước vận hạn của người khác chính là sự “vô cảm”. Vô cảm hay nói cách nôm na là không có cảm xúc, đó là thái độ trơ lì cảm xúc, dửng dưng, thờ ơ, "máu lạnh" với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân của bản thân. Bệnh “vô cảm” là căn bệnh tâm hồn của những người có trái tim lạnh giá, không xúc động, sống ích kỷ, lạnh lùng, cho sự an toàn của bản thân mình là trên hết. Họ lãnh đạm, thờ ơ, làm ngơ trước những nỗi bất hạnh, không may của những người sống xung quanh mình. Vô cảm vốn là một trạng thái tâm lý, nhưng hiện nay nó đã trở thành một căn bệnh trầm kha khó chữa. Cả 3 bài Kinh Thánh hôm nay (CN XXVI/TN-C – Am 6,1a.4-7; 1Tm 6, 11-16; Lc 16, 19-31) là một minh họa cho vấn đề này:

Bài đọc I (Am 6, 1a.4-7) trình thuật lời tiên tri A-mốt cho biết Thiên Chúa đã chỉ cho Dân Chúa rõ:  vì họ đã sống quá xa hoa, sa đọa, không lo gì đến người nghèo khó, thiếu đoàn kết, yêu thương, nên bây giờ phải sống trong cảnh lưu đầy khốn khó. Bài đọc II (1Tm 6, 11-16), Thánh Phao-lô khuyên nhủ Ti-mô-thê và mọi người hãy “giữ vững các giới răn của Chúa và sống tinh tuyền không gì đáng trách cho đến ngày Chúa đến gọi chúng ta ra khỏi đời này.” Giữ vững các giới răn của Chúa, mà chính Đức Giê-su Thiên Chúa đã dạy: Đó là điều răn trọng nhất "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình." (Lc 10, 27). Đến bài Tin Mừng (Lc 16, 19-31), Thánh sử Lu-ca trình thuật Đức Giê-su kể dụ ngôn “Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó”:

Sinh thời, ông nhà giàu ăn uống tiệc tùng phè phỡn có bao giờ thèm ngó ngàng gì đến kẻ khó La-da-rô nằm lê lết ngoài cổng. Cho tới khi từ giã cõi đời phù phiếm để xuống nơi lò lửa “không bao giờ tắt” (âm phủ), ông mới thấy rõ cảnh La-da-rô trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham. Và chỉ đến lúc ấy, ông ta mới khẩn thiết kêu xin tổ phụ cứu vớt. Tổ phụ cũng chịu thua vì ông nhà giàu đã tự đưa mình vào án phạt đời đời ấy. Cuối cùng, ông ta mới chợt nhớ đến những người thân cận còn ở trần thế và thưa với tổ phụ xin nhờ anh nghèo kiết xác La-da-rô về cảnh báo họ đừng theo gương mù của ông ta. Tổ phụ Ap-ra-ham nói với ông nhà giàu một câu chí lý: "Mô-sê và các ngôn sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin". Không còn câu nói nào đánh trúng tim đen những đại gia giàu sụ hơn được nữa. Quả thực "con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." (Mt 19, 24).

Ngoài dụ ngôn “Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó”, trong Tin Mừng Thánh Lu-ca còn ghi lại nhiều câu chuyện khác để cảnh tỉnh những người giầu có mà không biết giúp đỡ những người nghèo khó; chẳng hạn như: Dụ ngôn “nhá phú hộ” (Lc 12, 16-21); Lời dạy “Bán của cải đi mà bố thi” (Lc 12, 33-34); "Khi đãi khách, hãy mời những người nghèo khó" (14, 12-14); “Trung tín trong việc sử dụng tiền của” (Lc 16, 9-13). Các Thánh Tông Đồ đã ghi nhớ điều đó nên luôn nhắc nhở nhau cần lưu ý đến những người nghèo; như bản đúc kết Công Nghị Giê-ru-sa-lem có câu: “điều quan trọng là cần lưu ý giúp đỡ những người nghèo khó” (Gl 2, 10). Đặc biệt Thư Thánh Gia-cô-bê tông đồ đã luôn nhắc nhở các tín hữu phải thực hành đức tin bằng việc sống bác ái giúp đỡ những người thân cận nghèo khó (“Phải kính trọng người nghèo” – Gc 2, 1-6.14-16; “Cảnh cáo người giàu” – Gc 4, 13-17; 5, 1-6),

Như vậy, phải chăng giàu là một cái tội? Và nếu giàu là có tội thì nghèo hẳn là có phúc? Tại sao lại thế? Trước hết, nói về những người giàu có. Con người sống trên đời, kể từ khi Nguyên Tổ phạm tội, bị tội lỗi thống trị, thì có đủ “tham sân si”, mà “tham” là đầu sỏ (“Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê” – truyện Kiều; “Tham vàng phụ nghĩa” – tục ngữ VN). Lòng tham vốn dĩ không đáy, có 1 thì lại muốn có 2, có 3 có 4 thì lại muốn có 5 có 10, không biết thế nào là cùng. Từ đó, nếu chỉ làm giàu bằng cách thật thà, chân chính mà không toại nguyện, sẽ đi đến chỗ làm giàu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn, miễn sao “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” (Kiều) là đủ. Đã làm giàu bằng cách bất chính như thế, tất nhiên sẽ sử dụng tiền của không trung thực, chỉ lo sung sướng phè phỡn bản thân mà bất cần nghĩ đến ai khác. Với tấm lòng chỉ nghĩ đến bản thân, hà tiện đức ái như vậy, tất sẽ mắc tội thứ hai (“hà tiện”), thứ năm (mê ăn uống) và thứ sáu (ghen ghét) trong “bảy mối tội đầu”. Giàu như vậy, có tội là cái chắc.

Còn nếu dùng những phương cách chân chính mà kiếm được nhiều tiền của, rồi trở nên những phú gia địch quốc, những đại gia vô địch, và khi sử dụng những tiền của ấy thì biết cách sử dụng, coi nó chỉ là phương tiện giúp ích cho đời sống, chớ không coi nó như một ông chủ, một bà chúa, thì chắc chắn là không có tội. Không những thế, khi sử dụng tiền bạc của chính mình mà không xa hoa phung phí, không phè phỡn phô trương, chỉ cốt “ăn để mà sống chớ không sống để mà ăn”, của cải dư thừa thì nhớ đến những anh em bất hạnh hơn mình, nghèo khổ hơn mình… mà chia sẻ từng miếng cơm manh áo, thì hẳn nhiên sẽ là người có phúc (cụ thể là phúc thứ nhất và phúc thứ năm trong “8 mối phúc”). Ngay như tổ phụ Ap-ra-ham, hoặc ông Gia-cóp đều là những người giàu có. Tổ phụ Áp-ra-ham thì: “Ông Áp-ra-ham rất giàu, ông có nhiều súc vật và vàng bạc” (St 13, 2). Con của ngài là I-xa-ac thì: “trở nên giàu có, mỗi ngày một giàu thêm, giàu vô kể.” (St 26, 13). Còn ông Gia-cóp thì lo chăn nuôi, trồng trọt “Thế là ông trở nên giàu, thật giàu; ông có chiên dê đầy đàn, có tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa.” (St 30, 43). Vậy mà các ngài đều được hưởng phúc vinh trên Thiên quốc, thì hẳn nhiên giàu có chưa phải là cái tội.

Còn nghèo cỡ như anh La-da-rô trong bài Tin Mừng, mà có được cái tâm hướng thiện, biết sống đức khó nghèo, đương nhiên là được hưởng phúc. Nhưng như thế vẫn không có nghĩa là tất cả những người nghèo đều có phúc cả đâu. Bởi trò đời thường hay “bần cùng sinh đạo tặc, phú quý sinh lễ nghĩa” (Khi nghèo khó con người có thể thành trộm cắp, khi giàu sang trở nên bày vẽ màu mè) rồi từ chỗ gian lận, lường thưng tráo đấu, đi đến chỗ cướp của giết người cũng chẳng còn bao xa. Ấy là chưa kể còn chán vạn người nghèo vật chất mà còn nghèo đến độ keo kiệt bủn xỉn luôn cả về tinh thần như anh chàng đầy tớ trong dụ ngôn “Tên mắc nợ không biết thương xót”: Nợ nhà vua  tới mười ngàn yến vàng, mà biết quỳ lạy xin khất, vẫn được nhà vua tha luôn món nợ kếch sù. Trong khi đó, đối với người bạn chỉ mắc nợ mình có 100 quan tiền, bạn đã sấp mình xuống xin khất, mà vẫn không tha, còn tống vào ngục tối cho đến khi trả hết nợ mới thôi (Mt 18, 23-36). Thế đấy! Hoá cho nên giàu cũng chưa hẳn là có tội, mà nghèo cũng chưa hẳn là có phúc. Ăn thua là ở chính cái tâm địa con người, giàu mà có thiện tâm thì vẫn được hưởng phúc, nghèo mà có ác tâm thì vẫn mắc tội như thường.

Ôi chao! Nói là nói vậy thôi, chớ còn kiếm được cái thiện tâm trong thế giới người giàu còn khó hơn cả mò kim đáy biển. Và cũng vì thế nên "con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." (Mt 19, 24). Cũng đã có những vấn nạn : “Ngày nào cũng thấy đọc “xin Cha cho chúng con rầy hàng ngày dùng đủ (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày)”; rồi khi đọc bài ca “Ngợi khen” (kinh Magnificat - Lc 1, 53) lại thấy “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng”.; vậy mà không hiểu sao người nghèo vẫn đầy rẫy, nghèo vẫn cứ nghèo, nghèo đến độ không có củ khoai, củ chuối để mà ăn. Trong khi đó, người giàu vẫn cứ giàu thêm lên, giàu nứt đố nổ vách. Sao lạ vậy?”

Vấn nạn mới nghe qua cứ tưởng là hữu lý, nhưng xét cho cùng, thì sẽ thấy: Lương thực Chúa ban cũng giống như mưa trời rải đều khắp nơi. Muốn có nước mưa dùng, thì ít nhất cũng phải biết sắm cái chum cái vại, đào cái ao cái hồ, xây cái bể cái máng, mới có nước mưa được. Hoặc giả, lười đến độ cứ “há miệng chờ sung rụng”, thì ít ra cũng phải bò, phải lết đến gốc cây sung rồi há miệng ra, chớ chẳng lẽ cứ nằm im một chỗ chờ sung bò đến tận miệng sao? “Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho” (ca dao VN), đúng không nào? Còn câu trích trong kinh Magnificat, thì phải hiểu “của đầy dư” chính là của cải Nước Trời, và “đuổi về tay trắng” không có nghĩa là lột hết của cải trần thế của những người giàu, mà là giàu có ở trần thế sẽ gánh hậu quả “tay trắng” trên Thiên quốc. “Vua Ngô ba mươi sáu cái tàn vàng, Chết xuống âm phủ cũng chẳng mang được gì” là vậy đó!

Chung quy, người giàu mà biết thu tích của cải Nước Trời bằng cách “bán hết của cải mà chia cho người nghèo”, người nghèo mà biết làm giàu bằng cách tu nhân tích đức, thì tất nhiên phần thưởng dành cho họ sẽ không phân biệt giàu nghèo nơi trần thế, mà là sự giàu có hạnh phúc nơi Thiên đàng. Nói cách khác, dù giàu hay nghèo về vật chất mà vẫn biết cách làm giàu về đường tinh thần (giàu thiện tâm, giàu lòng bác ái) thì chẳng lo chi không được hưởng sự sang giàu nơi Quê Trời vĩnh cửu. Cái hình ảnh đáng ghi nhớ nhất trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó” chính là hình ảnh anh nghèo kiết xác La-da-rô trong lòng Tổ phụ giàu có Ap-ra-ham nơi cõi phúc.

Tóm lại, căn bệnh trầm kha “vô cảm” chính là “thái độ dửng dưng” như lời huấn dụ của ĐGH Phan-xi-cô trong Tông chiếu Dung Mạo Lòng Thương Xót “Misericordiae Vultus” (số 15). Xin cùng lắng nghe và làm theo ước muốn của ĐTC: “Chúng ta đừng để mình ngập ngừng trong thái độ dửng dưng đáng xấu hổ, trong những thói quen thường ru ngủ tinh thần và cản trở chúng ta khám phá những điều mới mẻ, hay trong hành vi nhẫn tâm đang gây nhiều chia rẽ… Ước chi chúng ta có thể chung tay phá đổ những rào cản của thái độ dửng dưng lãnh đạm, vẫn thường được dùng để che giấu thói giả hình và tính ích kỷ. Ước muốn tha thiết của tôi trong Năm Thánh này là, đoàn dân Ki-tô hữu sẽ quan tâm đến những hành vi của lòng thương xót, về phần xác cũng như phần hồn. Đây chính là cách thế để thức tỉnh lương tâm chúng ta, thường vẫn ngủ yên trước thảm hoạ nghèo khổ, và ngày càng đi sâu hơn vào trái tim của Tin Mừng, nơi những người nghèo được hưởng ưu quyền đặc biệt nơi lòng thương xót của Thiên Chúa.” 

Ôi! Lạy Chúa ! Nếu con được diễm phúc Chúa ban cho của cải nơi trần thế, thì xin Chúa cũng ban dũng khí và can đảm cho con sống theo gương Tổ phụ Ap-ra-ham; còn nếu Chúa thử thách con trong hoàn cảnh nghèo khó, thì xin Chúa cũng ban Thánh Thần cho con để con có đủ nghị lực và kiên tâm sống như anh La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.

Tác giả: