Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Phải chăng Chúa Kitô đến để bổ túc cho các tôn giáo

Tác giả: 
Lm Nguyễn Hùng Oánh

 

 

 PHẢI CHĂNG CHÚA KYTÔ ĐẾN

ĐỂ BỔ TÚC CHO CÁC TÔN  GIÁO ??

 

Một số người cho rằng Chúa Giêsu là một gương mặt lịch sử, cá biệt, đã mạc khải chân lý thần linh. Bản thân Ngài và những mạc khải thần linh của Ngài không phải là hữu nhất vô nhị, nhưng là bổ sung cho các gương mặt mạc khải thần linh và cứu độ khác.

 

Hoặc họ cho rằng chính Ngôi Lời đã nhận lấy con người Giêsu và những con người khác theo dòng thời gian để giao tiếp với nhân loại và thực hiện một phương cách là cứu độ, cứu vớt người thế.

 

Hoặc người ta nêu lên một nhiệm cục Ngôi Lời vĩnh cửu và nhiệm cục Ngôi Lời nhập thể. Nhiệm cục Ngôi Lời vĩnh cửu phổ biến hơn vì bao quát toàn thể nhân loại, còn nhiệm cục Ngôi Lời nhập thể chỉ dành cho người Kitô hữu mặc dầu sự hiện diện của Thiên Chúa tràn đầy hơn nhiệm cục trước. Nhiệm cục của Ngôi Lời vĩnh cửu có giá trị bên ngoài Giáo hội và không liên hệ với Giáo hội và bổ sung cho nhiệm cục Nhập thể.

 

Chúng ta thấy rõ ngay những người đưa ra những thuyết trên có chủ ý biện minh cho thực tại đa tôn giáo đã có từ trước khi Ngôi Lời nhập thể đến nay và còn sau nầy nữa. Các tôn giáo ngoài Kitô giáo ở trong nhiệm cục Ngôi Lời vĩnh cửu và Kitô giáo ở trong nhiệm cục Ngôi Lời nhập thể, như vậy, phải công nhận các tôn giáo có giá trị như nhau hoặc ít ra các tôn giáo ngoài Kitô giáo không thể lệ thuộc vào Kitô giáo được mặc dầu sự hiện diện của Thiên Chúa tràn đầy hơn trong nhiệm cục Ngôi Lời nhập thể.

 

Hoặc có người đi từ nhận định : Chúa Giêsu lúc ở trần gian, mọi hoạt động của Ngài bị hạn chế trong thể xác con người ta (di chuyển phải đi đường chứ không “bay”, mệt nhọc khi đi đường dài, phải ăn uống, nghỉ ngơi v.v...) trong khi hoạt động của Chúa Thánh Thần sau khi Chúa Giêsu lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống rộng khắp và phổ biến hơn Ngôi Lời nhập thể. Từ đó, người ta nêu ra giả thuyết : nhiệm cục của Chúa Thánh Thần có bề rộng và phổ biến hơn nhiệm cục Ngôi Lời nhập thể.

 

Nhận định : Những người đưa ra các thuyết trên chủ trương thuyết đa nguyên (phát xuất từ nhiều nguồn gốc khác nhau) :

- Chúa Giêsu đóng vai trò một gương mặt thần linh và cứu độ. Trước hoặc song song với Ngài có những khuôn mặt khác đóng vai trò thần linh và cứu độ.

- Ngôi Lời nhận lấy con người Giêsu và Ngôi Lời cũng nhận lấy những con người khác nữa để cứu độ nhân loại.

- Hoạt động của nhiệm cục Ngôi Lời vĩnh cửu phổ biến hơn hoạt động của nhiệm cục Ngôi Lời nhập thể.

- Hoạt động của Ngôi Lời làm người bị hạn chế còn hoạt động của Chúa Thánh Thần hiện xuống rộng hơn, phổ biến hơn.

Những thuyết này muốn biện minh cho thực tại đa nguyên tôn giáo. Chúa Kitô không phải là Đấng hữu nhất vô nhị lập nên Kitô giáo không có tính tuyệt đối vì bên cạnh Ngài cũng có những gương mặt thần linh hoạt động theo ơn của Thiên Chúa ban. Tôn giáo nào cũng có ơn Chúa giúp đỡ và hoạt động. Cuối cùng, họ chấp nhận thuyết tương đối về các tôn giáo.

 

Để trả lời cho những vấn nạn nầy, thiết tưởng ta phải đi tới nguồn gốc nhất nguyên : mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi, nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi.

a. Từ ngữ nhiệm cục (oikonomia, économie, economy)

Ở trong xã hội, ở thương trường, người ta dùng từ ngữ “économie” để chỉ nền kinh tế. Thần học Tây phương dùng từ ngữ nhiệm cục (économie) để chỉ chương trình, kế hoạch của Thiên Chúa liên can tới việc cứu độ nhân loại (plan divin qui concerne le salut des hommes). Bên Giáo hội Đông phương, từ ngữ “oikonomia” dùng để chỉ ơn miễn chuẩn đặc biệt : Giáo hội là chủ quản của ân sủng và các bí tích trong những hoàn cảnh đặc biệt và để mưu ích lợi lớn, Giáo hội có thể công nhận là thành sự trong trường hợp hồ nghi hoặc bất thành sự.

Ở đây, chúng ta hiểu từ ngữ nhiệm cục là nhiệm cục cứu độ (économie du salut), và người ta có thể nói :

Nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.

Nhiệm cục cứu độ của Chúa Kitô hoặc Nhiệm cục Chúa Kitô.

Nhiệm cục của Chúa Thánh Thần.

Nói gì thì nói, ta phải biết chỉ có một chương trình duy nhất nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, chỉ có một nhiệm cục duy nhất phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi.

Nơi thượng trí của Thiên Chúa, của Ba Ngôi Thiên Chúa từ đời đời đã có một kế hoạch tạo dựng vụ trụ, muôn loài muôn vật và loài người và cho loài người tham dự sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Không bao giờ có chuyện tội của Ađam và Evà đã làm hỏng chương trình, kế hoạch từ đời đời của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nghĩ rằng việc Ađam Evà phạm tội đã phá hoại chương trình đầu tiên của Thiên Chúa, nên Thiên Chúa có kế hoạch thứ hai (kế hoạch cứu chuộc) thêm vào tức là chấp nhận nơi Thiên Chúa có sự biến đổi, thay đổi.

 

      1. Mạc khải và Giáo lý của Giáo hội dạy Thiên Chúa là Đấng bất biến tuyệt đối (Dieu est absolument immuable) :

- Nơi Thiên Chúa không hề có biến thiên hay bóng dáng thay đổi (Giacôbê 1,17).

- Ban sơ, Thiên Chúa đã chôn móng địa cầu,
và trời là công trình tay Người làm ra.
Chúng sẽ qua đi, nhưng Người tồn tại,
hết thảy như manh áo, chúng tả tơi,
như xiêm y, Người đổi thay chúng và chúng biến đổi,
còn Người, Người vẫn thế,
và tuổi người không hề có hạn
. (Thánh vịnh 102, 26-27).

- Dự định Giavê muôn đời kiên vững,
mưu cơ lòng Người còn mãi đời đời
. (Thánh vịnh 33,11).

- Vì lẽ đó, Thiên Chúa bởi muốn minh chứng rành rành cho những kẻ hưởng thụ lời hứa về ý định bất di, bất dịch của Người, thì đã lấy lời thề mà tự đặt Mình làm người bảo lãnh (Do thái 6,17).

- Ta là Giavê, Ta không bao giờ thay đổi (Malaki 3,6).

 

Quyền Giáo huấn

Công đồng Latêranô IV và Công đồng Vatican I dạy : Thiên Chúa bất biến đổi (incommutabilis) (D. 1428, 1782).

Vậy, bản tính Thiên Chúa là bất biến tuyệt đối : bất biến đổi trong đời sống, tư tưởng và hành động.

Thánh Augustinô khẳng định : Novit quiescens agere et agens quiescere (Dieu sait agir en se reposant et se reposer en agissant) :

quiescens agere : Hoạt nhược bình (hoạt động như là yên tĩnh).

agens quiescere : Tĩnh như động (yên tĩnh mà thật ra là hoạt động).

2. Vĩnh cửu (éternité)

Không có khởi đầu và không có kết thúc, không có kế tục, chỉ có hiện tại và có đời đời. Thiên Chúa hiện hữu hiện tại và đời đời ở hiện tại do bản tính của Ngài là như vậy.

Người ta xuất hiện trong một thời gian, vạn vật xuất hiện trong một thời gian nên có khởi đầu và có kết thúc. Vì thế, vạn vật là thụ tạo bất toàn.

Bất toàn vì chỉ hiện hữu trong một thời gian và bất toàn vì có quá khứ, hiện tại và tương lai do bị biến đổi.

Nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa luôn luôn ở hiện tại, không có quá khứ, không có tương lai, nghĩa là luôn luôn tự tại, luôn luôn viên mãn tuyệt đối.

 

Kinh Thánh nêu ra những yếu tố khác nhau để làm chứng tính vĩnh cửu của Thiên Chúa :

a. Không có khởi nguyên, không có kết thúc :
Trước khi núi non được sinh thành,
và đất cùng dương gian được sinh ra,
từ đời đời cho đến đời đời,
Người vẫn là Thiên Chúa
                    (Thánh vịnh 90,2)

b. Không có dây liên tiếp :
Đức Giavê đã phán với tôi :
con là Con của Ta, chính hôm nay Ta sinh ra Con.

                                                                       (Thánh vịnh 2,7)

c. Chúa Giêsu phán :
Trước khi có Abraham, Ta là Hiện hữu

                                                                            (Gioan 8,58).

 

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa mạc khải cho thánh Môisen biết tên của Thiên Chúa là Giave (ta là Hiện hữu, Ta là Ta, Ta vẫn hiện hữu, Je suis, Je suis qui je suis, je suis qui je serai), và Chúa Kitô cũng xưng mình “Ta là Hiện hữu” để mạc khải thần tính của Ngài. Thần tính ở đây là hiện hữu đời đời, chỉ có hiện tại tức là vĩnh cửu.

 

Quyền Giáo huấn của Giáo hội đã dạy “Thiên Chúa vĩnh cửu”. Tín điều nầy khẳng định Thiên Chúa là hữu thể thần linh (l'Être divin) không có khởi đầu, không có kết thúc, không có chuyển tiếp, kế tiếp, luôn luôn là hiện tại không phân chia. Kinh Quicumque tuyên xưng : Aeternus Pater, aeternus Filius, aeternus Spiritus Sanctus et tamen non tres aeterni sed unus aeternus (Cha vĩnh cửu, Con vĩnh cửu, Thánh Thần vĩnh cửu, không phải là ba vĩnh cửu, nhưng chỉ có một vĩnh cửu. D 39). Công đồng Latêranô IV và Công đồng Vatican I dạy Thiên Chúa có ưu phẩm “vĩnh cửu” (D 428, 1782).

 

Chính tính bất biến đổi và vĩnh cửu của Thiên Chúa nên nơi Thiên Chúa chỉ có một chương trình thần linh (un plan divin) một ý định thần linh (un dessein divin) phát xuất từ một nguyên lý duy nhất, hữu nhất là Một Thiên Chúa có Ba Ngôi.

 

Các thụ tạo đều là vật bất toàn, biến đổi theo thời gian. Biến đổi từ tiềm thể (in potentia) sang hiện thể (in actu) như trứng gà (tiềm thể) nở ra con gà (hiện thể), như con người chào đời với bao nhiêu tiềm năng v.v... trở thành người lớn, người trưởng thành biểu lộ ra những tài năng phong phú. Nơi Thiên Chúa, đời đời là hiện thể (in actu) và bất biến vì Thiên Chúa là hữu thể hoàn hảo tuyệt đối và vô cùng, không có khiếm khuyết, không có thiếu sót, tức là bất biến và vĩnh cửu.

Nhưng theo ý kiến của Đức Gioan Phaolô II, Thiên Chúa có một “biến đổi” theo cách nhìn : Sách Thánh trong cái nhìn nhân cách hóa lại há không thấy sự đau khổ vì tội lỗi trong “những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa”, và theo một nghĩa nào đó, ngay tại cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi cao cả sao ? Giáo hội, dưới ánh sáng mạc khải, tin và tuyên xưng rằng tội là sự xúc phạm tới Thiên Chúa. Trong sự thân mật sâu xa của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, có cái gì tương ứng được với “sự xúc phạm” đó, với sự khước từ Thiên Chúa là Tình yêu và Ân huệ đó chứ ? Quan niệm về Thiên Chúa như hữu thể hoàn thiện tuyệt đối, dĩ nhiên, loại bỏ khỏi Thiên Chúa mọi đau khổ do khiếm khuyết hay do thương tích. Nhưng trong các “điều sâu thẳm” nơi Thiên Chúa, có một tình yêu của Chúa Cha là Đấng trước tội của con người, phản ứng đến độ phải thốt lên : “Ta hối hận đã làm ra con người” (Stk 6,7) như Kinh Thánh đã nói : Đức Chúa thấy sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất... Đức Chúa hối hận đã làm ra người trên mặt đất và Ngài buồn rầu trong lòng. Và Đức Chúa phán : “Ta hối hận đã làm ra chúng” (Stk 6, 5-7). Nhưng Sách Thánh còn nói nhiều hơn về một Người Cha đầy lòng trắc ẩn đối với con người như thể muốn chia bớt nỗi đau khổ của con người. Rốt cuộc, sự đau khổ khôn lường khôn tả của Người Cha sẽ làm phát sinh kế hoạch tình yêu cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, để nhờ mầu nhiệm hiếu đạo (mysterium pietatis), tình yêu tỏ ra mạnh mẽ hơn tội lỗi trong lịch sử loài người. Thế là cuối cùng Ân Huệ đã thắng (Tđ. Dominum et vivificantem, năm 1986, số 39).

 

Một vài nhà thần học cũng nghĩ rằng Thiên Chúa toàn năng, bất biến, nhưng khi làm người giống hẳn chúng ta, Ngài chịu “một sự thay đổi” vào trong giới hạn (chịu đau khổ, chịu chết). Mà Thiên Chúa là vô cùng, là vĩnh cửu, là bất biến, là toàn năng... “Sự thay đổi nầy” không phải là sự bất toàn của Thiên Chúa, không phải vì nghèo, hoặc vì thiếu sót, nhưng trái lại vì quá toàn thiện, vì quá yêu thương (infinitum capax finiti).

 

Cách suy nghĩ, cách nói “như nhân” nầy (anthropomorphisme) về Thiên Chúa không làm suy giảm đặc tính bất biến và vĩnh cửu của Thiên Chúa trái lại nhắm tới mặt tích cực, phong phú vô cùng của Thiên Chúa. Nếu ai chủ trương tội Ađam Evà là một biến cố bất ngờ cho Thiên Chúa, đảo lộn chương trình của Thiên Chúa đã định từ đời đời vì Thiên Chúa phải thiết lập một chương trình mới (cứu chuộc) thay thế chương trình cũ (sáng tạo) đã định từ đời đời là rơi vào việc phụ nhận tính bất biến và vĩnh cửu của Thiên Chúa.

 

Không có chuyện sáng tạo xảy ra trước và cứu chuộc đến sau để hàn gắn công trình sáng tạo, trái lại phải hiểu rằng sáng tạo và cứu độ đã nằm sẵn từ đời đời trong thượng trí của Thiên Chúa, cũng không thể có lịch sử của Thiên Chúa thực hiện sáng tạo và cứu độ cho vũ trụ, cho con người đi song song với lịch sử loài người v.v... trái lại Thiên Chúa Ba Ngôi là nguyên nhân siêu việt và nền tảng (cause transcendante et fondementale) của lịch sử vũ trụ và loài người : mọi biến cố xảy ra trong vũ trụ, trong xã hội loài người đều nằm trong một ý định, đều vận chuyển và đưa ý định của Thiên Chúa đến cùng đích có hai khía cạnh thiết yếu : loài người được cứu độ trong Đức Giêsu Kitô và Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ.

 

Lịch sử này có thể nói tới hai khởi nguyên cùng trên một đường thẳng là thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa :

 

- Khởi nguyên sáng tạo : Thiên Chúa ban ơn huệ “hiện hữu” cho mọi thụ tạo và còn bao hàm sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa trong việc sáng tạo, nghĩa là chính Thiên Chúa bắt đầu ban chính mình Ngài cho những gì Ngài đã sáng tạo ngõ hầu thụ tạo được cứu độ. Điều này đúng trước hết cho con người là thụ tạo được dựng nên giống hình ảnh và giống như Thiên Chúa... Sách Sáng thế ký giúp ta thấy được, trong việc sáng tạo con người, khởi nguyên thứ nhất của ân huệ mà Thiên Chúa đã tự hiến mình để cứu độ khi Ngài cho con người được là “hình ảnh” và “giống như” Ngài (xem Thông điệp Dominum et vivificantem, số 12), tiếp đến là cho cả vũ trụ (vì vũ trụ liên kết với con người và nhờ con người vũ trụ đạt được cùng đích của mình (Lumen gentium, số 48).

 

Rồi tội lỗi xuất hiện do Ađam Evà xưng mình như Thiên Chúa, chối bỏ quyền bính của Thiên Chúa và do con cháu ông bà. Bản thân của tội lỗi là chống lại ân huệ Thiên Chúa tự hiến mình cho con người để cứu độ con người...

 

- Khởi nguyên mới xuất hiện do việc Chúa Kitô ra đi trở về với Chúa Cha qua con đường Thập giá và Chúa Thánh Thần hiện xuống trong ngày lễ Ngũ tuần, ở lại với Giáo hội và ở trong Giáo hội, ở lại trong thế gian. Bằng cách ấy, khởi nguyên mới của ân huệ được thực hiện một cách dứt khoát, trong đó Thiên Chúa hữu nhất và Ba Ngôi tự hiến mình trong Chúa Thánh Thần cho con người để cứu độ con người với mầu nhiệm Cứu chuộc (xem Sđd số 13 và 14).

 

Như vậy, kế hoạch thần linh (plan divin), ý định của Thiên Chúa (dessein divin), nhiệm cục cứu độ (économie du salut) là một xuất phát từ Thiên Chúa hữu nhất và Ba Ngôi là Thiên Chúa tự hiến cho nhân loại, cho con người để cứu độ con người.

 

Tội lỗi loài người cũng nằm trong kế hoạch thần linh của Thiên Chúa như thánh Phaolô nói : “Thiên Chúa đã đặt mọi người vào tội không vâng phục để biểu lộ lòng thương xót” (Roma 11,32). Để cho dễ hiểu, xin đặt một giả thuyết : nếu Ađam Evà không phạm tội, nếu loài người không phạm tội, loài người có cần Thiên Chúa ban ơn cứu độ không ?

 

Cứu độ (salut, salvus) là giải thoát con người khỏi tình trạng hư vong, sửa sai, khôi phục, đưa con người tới địa vị làm con Chúa Cha, làm em Chúa Kitô và làm đền thờ của Chúa Thánh Thần và cuối cùng được hưởng hạnh phúc đời đời trong Thiên Chúa hữu nhất và Ba Ngôi. Nếu loài người không phạm tội, tức là sống trong hạnh phúc “địa đàng”, loài người vẫn cần Thiên Chúa cứu độ nghĩa là kéo con người tới Chúa không bằng ơn tha tội nhưng bằng ân siêu nhiên cho tham dự sự sống của Chúa, bằng ơn biến đổi thân xác và nâng hồn xác con người lên hưởng nhan Thánh Chúa “diện đối diện” trên Nước Trời.

Thực tế, Ađam Evà đã phạm tội chống lại Chúa, loài người đã phạm tội mất lòng Chúa. Từ đời đời, trong chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa, mọi sự đã biết rõ như vậy. Không phải Thiên Chúa xui cho Ađam Evà phạm tội. Nhìn vào tội lỗi của từng người chúng ta, chúng ta biết rõ chúng ta là nguyên nhân tội lỗi của mình. Thiên Chúa đã tặng cho nguyên tổ tài sản quý giá nhất (lý trí, ý chí, tình yêu tự do với ơn thánh sủng và các ơn ngoại nhiên) để cho con người xứng đáng “giống hình ảnh Thiên Chúa"). Nhưng có một nguy cơ rình kề : con người có thể dùng lý trí, ý chí, tình yêu và tự do để chống lại Thiên Chúa, không vâng phục Thiên Chúa. Đây là mặt trái tất yếu của tự do v.v..., và con người phạm tội là lạm dụng quyền tự do, nói một cách khác là đi ngược lại các ơn của Thiên Chúa đã cho con người. Và Ngôi Hai làm người với sự hợp tác của Chúa Thánh Thần để cứu độ loài người tạo nên khởi nguyên mới.

 

- Khởi nguyên mới : Công trình cứu độ phải trả bằng Cây Thập tự, nhờ sức mạnh của toàn thể mầu nhiệm Vượt qua của Đức Giêsu Kitô, Chúa Thánh Thần ở lại với các Tông đồ ngay từ ngày lễ Ngũ tuần, ở lại với Giáo hội và ở trong Giáo hội, rồi nhờ Giáo hội, ở lại trong thế giới. Bằng cách ấy, khởi nguyên mới của ân huệ được thực hiện cách dứt khoát, trong đó Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi tự hiến chính mình trong Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc con người và thế giới nghĩa là để cứu độ con người (xem Sđd số 12, 13, 14).

 

Nói một cách khác, khởi nguyên mới xuất hiện do việc Chúa Kitô “ra đi” về với Chúa Cha qua mầu nhiệm Vượt qua (chết và sống lại), và Chúa Thánh Thần hiện xuống để thánh hóa con người, nghĩa là Thiên Chúa tự hiến mình trong Chúa Thánh Thần để cứu độ nhân loại.

 

Kỷ nguyên này sẽ hoàn thành khi Chúa Kitô trở lại.

Tóm lại, Thiên Chúa tác giả quá khứ, hiện tại và tương lai “vì mọi điều xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai nhất nhất chính do Thiên Chúa làm ra” (Guiđit 9,5).

Lịch sử của nhân loại từ đầu đến cuối diễn ra do Thiên Chúa điều khiển đưa tới cùng đích của nó. Cùng đích nầy có hai khía cạnh thiết yếu : sự cứu rỗi mọi người và sự cứu rỗi nầy được thực hiện trong Đức Kitô.

Đó là mầu nhiệm của Thánh ý Thiên Chúa, là kế hoạch nhân hậu của Thiên Chúa :

Thiên Chúa đã chọn ta trong Đức Kitô, trước khi tạo thành vũ trụ” (Eph 1,4)

Thiên Chúa cho ta biết thiên ý nhiệm mầu là kế hoạch yêu thương mà Thiên Chúa đã có từ trước trong Đức Kitô” (Eph 1,9).

Thiên Chúa đã hành động như thế theo quyết định của Người đã có từ đời đời và đã thực hiện trong Đức Kitô Giêsu” (Eph 3,11).

Trong Cựu Ước, có nhiều kiểu nói bất toàn và tạm thời về ý định của Thiên Chúa. Các kiểu nói nầy diễn tả trạng thái khác nhau của Đức Tin dân Israen, hoặc phản ứng khác nhau về niềm tin vào Thiên Chúa trong lịch sử thánh.

 

Trong phụng vụ Israen, ta gặp những lời tuyên xưng :

("Tư tế sẽ lấy giỏ tự tay người và ngài sẽ đệ lên trước tế đàn của Thiên Chúa Giavê của ngươi. Bấy giờ, người sẽ xướng lên và nói trước nhan Thiên Chúa của người :)

Cha tôi là một người Aram phiêu bạc : ngài xuống Ai cập và đã ngụ nhờ tại đó với ít mạng người ; nhưng ở đó ngài đã nên một nước lớn lao, hùng hậu và đông đảo. (Rồi) người Ai cập đã xử ác nghiệt với chúng tôi, và đặt trên chúng tôi lao công cực khổ. Và chúng tôi đã kêu lên với Thiên Chúa của tổ tiên chúng tôi, và Người đã nghe tiếng chúng tôi ; Người đã nhìn đến cảnh đọa đày, lầm than, áp bức chúng tôi phải chịu. (Và) Giavê đã để chúng tôi ra khỏi Ai cập với bàn tay mạnh, cánh tay giương, với khiếp đãm lớn lao, với dấu lạ và điềm thiêng. Người đã đem chúng tôi đến chỗ này ; Người đã ban cho chúng tôi đất này, đất chảy tràn sữa và mật. Và bây giờ, con xin dâng của đầu mùa trái trăng đất ruộng Người đã ban cho con, lạy Giavê” (Đệ nhị luật 26, 4-10).

 

Hoặc công thức Giáo lý :

“(Vậy khi các ngươi đã vào đất Giavê đã ban cho như Người đã phán, và các ngươi giữ việc đạo này, mà xảy ra là con cái các ngươi sẽ hỏi các ngươi : là gì vậy việc các ngươi giữ đó ? thì các ngươi sẽ nói :)

Đó là lễ tế chiên Vượt qua dâng kính Giavê, Đấng đã nhảy ngang qua nhà con cái Israen ở Ai cập khi Người đánh bại Ai cập và đã cứu thoát các nhà chúng ta” (Xuất hành 12, 25-27).

 

Hoặc bài giảng Giáo lý tóm lược của các tư tế :

“(Bấy giờ Giođuê nói với toàn dân :)

Thiên Chúa Giavê của Israen phán thế này : Xưa Tổ tiên các người, Têrakh, cha của Abraham và cha của Nakhor, ở mãi bên kia Sông Cả và đã phụng sự các thần khác. Ta đã đem cha các ngươi là Abraham đi từ bên kia Sông Cả cho rảo khắp vùng Canaan, và ta đã cho giòng giống người nên đông đảo và đã ban cho người đứa con là Isaac. Ta đã ban cho Isaac hai đứa con là Esau và Giacóp. Esau thì được Ta cho chiếm núi Sêir, còn Giacóp và các con Giacóp đã xuống Ai cập. Ta đã sai Môisen và Aaron đến Ai cập, và Ta đã đánh phạt Ai cập bằng những dấu lạ điềm thiêng, rồi sau đó Ta đã đem các người ra khỏi Ai cập ; và các ngươi đã đến biển. Người xa mã đã lấy xa mã kỵ binh đuổi theo cha ông các ngươi đến Biển Sẩy. Họ đã kêu lên Giavê và Người cho sương mù chận giữa các ngươi và quân Ai cập. Người đã cho biển lui lại và vùi chúng đi. Vậy, mắt các ngươi đã chứng kiến điều Ta làm trên quân Ai cập. Đoạn các ngươi đã lui lại lâu ngày trong sa mạc. Ta lại đem các ngươi vào xứ dân Amori ở bên kia Giocđan. Chúng đã giao chiến với các ngươi, và Ta đã phó nộp chúng trong tay các ngươi. Các ngươi đã chiếm lấy đất của chúng... Các ngươi đã qua sông Giocđan và đến Giêricô...

Ta đã ban cho các ngươi đất, ngươi không vỡ, những thành các ngươi không xây mà được ở, những vườn nho, dầu, các ngươi không trồng mà được ăn.

Bây giờ, các ngươi hãy kính sợ Giavê và phụng sự Người, một lòng đơn thành, tín trực. Hãy khử bỏ những thần, tổ tiên các ngươi đã thờ bên kia sông Cả và ở Ai cập. Hãy phụng sự Giavê. Nếu các ngươi không bằng lòng phụng sự Giavê, thì hôm nay cứ chọn lấy ai mà thờ, hoặc là những thần tổ tiên các ngươi đã phụng thờ bên kia sông Cả, hoặc các thần của dân Amori nơi đất chúng các ngươi đang ở, phần ta và cả nhà ta, chúng ta sẽ phụng thờ Giavê” (Gioduê 24, 2-15).

 

Mạc khải đó được phong phú thêm nhờ nhiều yếu tố mới mẻ do các ngôn sứ đem lại.

Thiên Chúa tỏ bí mật của Ngài cho các ngôn sứ biết : “Quả thế, Giavê không làm điều gì mà người không tỏ bày bí mật của Người cho các tôi tớ Người là các ngôn sứ” (Amos 3,7).

Thí dụ : Trước khi một biến cố xảy đến, Thiên Chúa báo trước cho các ngôn sứ bằng lời chỉ bảo (Isaia 5,19 ; 14, 24-                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     26 ; 19,17 ; 28,29 ; 46,10, Giêr 23, 18-22) bằng một kế hoạch (Mik 4,12), bằng đi vào cả lịch sử ngoại giáo như dùng vua Nabochodonosor đặt ách thống trị trên Israen (x. Gier 27, 4-8), như dùng Cyrus để giải thoát Israen (Is 44,28 ; 46,10 ; 48,14).

Trong các sấm ngôn cánh chung, các ngôn sứ mạc khải ý định cùng đích của Thiên Chúa hướng dẫn lịch sử, một thứ lịch sử của vũ trụ và nhân loại đạt tới : là sự cứu rỗi, một sự cứu rỗi mà tất cả mọi nước mọi dân đều được tham dự cùng với dân Israen (xem Is 2, 1-4 v.v...).

Trong Tân Ước, Chúa Kitô tự mạc khải chính mình Ngài là trung tâm ý định của Thiên Chúa mà Cựu Ước là giai đoạn chuẩn bị và sự hiện diện con người của Ngài ở trần gian là sự viên mãn của thời gian.

 

Thật vậy, qua cách nói :

- Ngài được Chúa Cha sai đến (Mt 15,24 ; Gioan 6,57 ; 10,36).

- đến trong thế gian (Mt 5,17 ; Mc 10,45 ; Gioan 9,39).

- làm theo ý Chúa Cha (Gioan 4,34 ; 5,30 ; 6,38).

- làm trọn lời Kinh Thánh (Lc 22,37 ; 24.7.26.44 ; Gioan 13,18 ; 17,12).

- để ai tin vào Ngài thì được sống đời đời (Gioan 3,15 ; 3,16 ; 12,32).

 

Ngài thực hiện và hoàn thành ý định cứu độ nhân loại của Chúa Cha. Nhưng ý định cứu độ đạt được phải qua một hành động xem như là nghịch lý : Ngài chịu chết để cứu độ nhân loại (Gioan 11, 51-52 ; 12,32-33 ; 19,37 ; 1 Cor 15,3).

Cộng đoàn tiên khởi của Giáo hội thời các thánh Tông đồ vừa loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa vừa loan báo về sự cứu rỗi đã đến trong Đức Giêsu là Đấng Messia và là Con Thiên Chúa. Một sự cứu rỗi đạt được vì từ nay ai tin vào Danh Người thì được cứu (CvTđ 2, 36-39 ; 4,10 ; 10,36 ; 13,23). Đây là bí mật cuối cùng của ý định của Thiên Chúa đòi hỏi người ta phải vượt qua chướng ngại của thập giá Đức Kitô gây ra (1 Cor 1, 17-25 ; 2, 1-5) để hiểu được cái chết cứu độ của Chúa Kitô (1 Cor 15,3) nằm trong kế hoạch đã định của Thiên Chúa (CvTđ 2,23 ; 4,28...) và sống theo Chúa Kitô ( Mt 16,24; Mc 8,34 ; Lc 9, 23-27 ; Gioan 12,26). Và nhờ thập giá Chúa Kitô, Thiên Chúa lập lại sự hiệp nhất loài người trong Chúa Kitô ở trong Giáo hội duy nhất (Eph 2, 14-22), và cuối cùng toàn thể các dân gia nhập vào Giáo hội (Rm 11,25...). Thành ra, lịch sử của Giáo hội mạc khải phần cuối của ý định cứu độ của Thiên Chúa.

 

Rõ ràng, Thánh Kinh đã trình bày ý định của Thiên Chúa cứu độ mọi người và cứu độ mọi người trong Đức Giêsu Kitô theo một đường xuyên suốt và Thánh Kinh trình bày thời gian của lịch sử cứu độ, của lịch sử vũ trụ, nhân loại trên một con đường thẳng.

 

Cựu Ước trình bày ý định của Thiên Chúa kết thúc bằng cánh chung luận. Các ngôn sứ thông báo ngày của Đức Giavê (Jour de Yahweh), ngày chiến thắng tội lỗi, sự ác, ngày mà ý định của Thiên Chúa được mạc khải hoàn toàn. Nhưng ngày đó hoàn toàn siêu việt, mô tả sao nổi. Sử dụng loại văn khải huyền, các ngôn sứ mô tả ngày của Đức Giavê như là ngày tối tăm cho kẻ dữ (Amos 5,18), cơn thịnh nộ Thiên Chúa đến tiêu hủy vũ trụ (Soph 1,18), thanh lọc (Mal 3,2-3), thưởng cho kẻ kính sợ Thiên Chúa (Mal 3,20). Vũ trụ nầy sẽ chấm dứt, kẻ dữ bị loại hẳn, sự dữ hoàn toàn bị đánh bại và người lành thánh sống trong kỷ nguyên thánh thiện, công chính khởi sự từ ngày Đức Giavê :

                       Kỷ nguyên cũ                                                                  Kỷ nguyên mới    

                                                             Ngày của Giavê

               Từ sáng thế đến ...                 tiêu diệt                                     thánh thiện

                 Tội lỗi, sự dữ tác                     tội lỗi,                                      công chính.

               Lành dữ sống chung                 sự ác.

 

Mạc khải Tân Ước đến bổ túc và hoàn thành mạc khải Cựu Ước nơi con người Đức Giêsu Kitô mà Cựu Ước đã phác họa. Ngài loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa đến. Nước nầy không ám chỉ một quốc gia nào trên thế giới, mà là vương quyền Thiên Chúa tỏ bày ra cho mọi người và kêu gọi mọi người đón nhận trong thời cánh chung (thời Ngôi Hai làm người cho đến ngày Người trở lại).

 

- Tỏ bày bên ngoài bằng lời phán xua đuổi ma quỷ, chữa lành bệnh tật, ban ơn tha tội, rao giảng Phúc thật nơi con người Đức Giêsu Kitô.

- Tỏ bày bên trong bằng ân sủng khiến người ta được lớn lên, lớn mãi rập theo khuôn mẫu Chúa Giêsu Kitô.

- Và nhất là tỏ bày trong “Giờ của Chúa Giêsu Kitô” nghĩa là trong biến cố chịu chết và sống lại lên trời vinh hiển. Chính biến cố Vượt Qua này kéo nhân loại và vũ trụ về với Thiên Chúa khai mở thế giới tương lai và đã tạo ra kỷ nguyên mới trong khi kỷ nguyên cũ còn kéo dài cho tới khi Chúa Giêsu Kitô quang lâm :

                                                      CHẾT                                      QUANG LÂM

                                                    SỐNG LẠI                                       PHÁN XÉT

                                                        LÊN TRỜI ---------------------------------------------

..                    . Kỷ nguyên cũ .................................                                THIÊN ĐÀNG

                                                             

                                                   Kỷ nguyên mới -----------------------------------------

 

Như vậy, trong Cựu Ước, ngày của Đức Giavê mạc khải hoàn toàn ý định của Thiên Chúa thì trong Tân Ước cho biết đó là giờ của Chúa Giêsu Kitô chịu chết sống lại lên trời vinh hiển. Cựu Ước cho biết sau ngày đó, Satan, tội lỗi bị đánh bại hoàn toàn, Tân Ước cho biết Chúa Giêsu Kitô hoàn toàn thắng Satan, tội lỗi, đau khổ và sự chết bằng biến cố chịu chết, sống lại và lên trời vinh hiển, nhưng công cuộc cứu rỗi nhân loại của Thiên Chúa chỉ hoàn thành khi Chúa Kitô quang lâm (ngày tận thế). Thời gian từ lúc Chúa Kitô chịu chết, sống lại và lên trời cho đến khi Chúa quang lâm là thời cánh chung (sau cùng), thời của Giáo hội, để chuẩn bị cho ngày Chúa quang lâm. Trong viễn tượng nầy, lịch sử của vũ trụ, của vạn vật, của loài người đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra đều chuẩn bị và kết thúc trong ngày Chúa quang lâm. Tân Ước đã sử dụng loại văn khải huyền để nói tới Chúa quang lâm trong một đoạn của Tin Mừng theo thánh Marcô (chương 13), trong một số câu ngắn ngủi của thánh Phaolô (1 Thess 4, 13-17 ; 2 Thess 2, 1-12 ; 1Cor 15, 20-28) và trong sách Khải huyền. Cựu Ước đã dùng loại văn Khải huyền để diễn tả ngày của Đức Giavê và tác giả sách Khải huyền nhìn nhận ngày đó dưới ánh sáng của Đức Kitô và với kinh nghiệm của Giáo hội để khẳng khái xét đến tương lai và xem các biến cố xảy ra sẽ dẫn đưa ý định của Thiên Chúa đến cùng đích của lịch sử. Mọi biến cố xảy ra kể cả các tai họa xảy ra trong vũ trụ này, trong nhân loại không phải là ngẫu nhiên. Trái lại, Thiên Chúa đã biết trước, và hướng dẫn chúng đến sự cứu rỗi để ý định Thiên Chúa trở nên hiện thực là cứu rỗi mọi người (1 Timôtê 2,4). Lúc đó, Chúa Con trao mọi sự lại cho Chúa Cha, vương quyền của Thiên Chúa đạt tới mức độ Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự (Deus omnia in omnibus, 1 Cor 15,28).

 

Linh mục Fx Nguyễn hùng Oánh