Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót

Tác giả: 
Anmai, CSsR

 

 

Chúa nhật XXIV TN năm C

THIÊN CHÚA LÀ CHA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

Xh 32, 7-11.13-14; 1Tm 1, 12-17; Lc 15, 1-32

 

            Ai trong chúng ta hơn một lần rơi vào cảnh mất mát, thất lạc. Mất mát, thất lạc và khi tìm thấy sẽ thật là vui.

 

            Giản đơn như khi ta đi đâu đó mà hành lý của ta bị thất lạc, ta sẽ cảm thấy khó chịu vô cùng vì những gì cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt thường ngày của ta. Nếu như tìm được thì phải nói còn gì bằng vì không phải sống trong cảnh khó chịu nhất là khi đi xa, khi cần đến những thứ cần dùng.

 

            Mất, tìm thấy, quả là niềm vui lớn.

 

            Chúa Giêsu, tất tâm lý khi dùng hình ảnh, bài học nào đó để dạy cho những người đi theo Chúa hay những người cần phải dạy - đặc biệt là những người Pharisêu hay Biệt phái mỗi khi có dịp. Chúa dùng dụ ngô, Chúa dùng những câu chuyện, những hình ảnh đôi khi xem ra chẳng dính gì đến bài học hay thậm chí ngược với bài học Chúa cần dạy. Để khi ngộ ra rồi thì người nghe càng thấm và càng nhớ.

 

            Hôm nay, Chúa lấy hình ảnh hết sức gần với đời sống du mục của người Do Thái vì nghề chính của người Do Thái là nghề chăn chiên : "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó". Lẽ dĩ nhiên là sau khi tìm được con chiên bị mất đó thì người bi mất vui và niềm vui đó được chia sẻ với bạn bè, với đồng nghiệp, với họ hàng, với hàng xóm.

 

            Hình ảnh con chiên, con vật được đẩy xa hơn một chút đó là đồng tiền. Đồng tiền nó chính là gia sản của con người và họ tìm đủ mọi cách khư khư để giữ không để cho nó rơi rớt hay bị mất. Chúa Giêsu dùng ngay hình ảnh của người phụ nữ (nói đến phụ nữ là người chân yếu tay mềm, yếu thân yếu thế) bị mất tiền. Tiền nó quý đến độ phải thắp đèn soi cũng như quét nhà thật kỹ để tìm cho kỳ được đồng tiền bị mất. Tìm được, dĩ nhiên người phụ nữ ấy phấn khởi và mời bạn bè hàng xóm lại để chia vui.

 

            Đỉnh điểm trong cái mất hôm nay không phải là mấy con vật, mất đồng tiền mà là mất người. Chúa Giêsu lại đưa ra câu chuyện hết sức hấp dẫn và lý thú. Những người có mặt hôm đó chăm chú nghe vì câu chuyện quá hay.

 

            Câu chuyện về người con hoang đàng quá quen thuộc với chúng ta nhưng rất lạ với những người nghe hôm ấy. Giản đơn là có hai đứa con, đứa thì hư hỏng bỏ nhà ra đi. Sau khi ra đi mới chợt nhận ra lầm lỗi của mình và hối lỗi quay về. Người cha vui vẻ đón nhận con mình vào lại nhà. Niềm vui không thể nào diễn tả được để rồi người cha thết tiệt ăn mừng.

 

            Tâm tình, câu chuyện mà Chúa Giêsu muốn chuyển tải đến đó chính là ơn cứu độ mà Thiên Chúa dành cho con người. Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người (1Tim 2,4), không phải chỉ cách tổng quát và tập thể, nhưng còn là một cách cá biệt. Ngài không muốn một số kẻ được chọn nào đó, Ngài muốn cứu vớt tất cả. Cho dù chỉ có một linh hồn cần được đưa về với Ngài (một con chiên trong số 100 con) Ngài cũng lo liệu tìm mọi cách để đưa kẻ ấy trở về.

 

            Chúa Kitô là mục tử tốt lành, biết tên từng con chiên một (Ga 10,3). Sứ mệnh của Ngài là đưa những con chiên lạc nhà Israel trở về đàn (Mt 15,24). Cũng như Chúa Kitô, Kitô hữu không được bỏ rơi kẻ nào trong những tương giao nhân loại hay tôn giáo của mình, nhưng phải sẵn sàng tiếp nhận mọi thiện chí, sẵn sàng tiếp xúc một cách chân thành hữu ích. Không phải môi trường rộng lớn mới là quan trọng. Thánh Francois de Sales có nói: “Một linh hồn đã là một địa phận khá lớn cho một giám mục rồi”


            Cho dù tội lỗi đến đâu, chúng ta không bao giờ được thất vọng vào Thiên Chúa. . Tình yêu của Thiên Chúa và của Chúa Kitô luôn đeo đuổi chúng ta (Rm 8,37-39). Thiên Chúa luôn mong chờ chúng ta, để vác chúng ta lên đôi vai khi cần (Is 40,11) và đưa chúng ta về lại ràng. Chúng ta hãy tin tưởng vào sự âu yếm của Thiên Chúa chúng ta. Hãy thưa với Ngài rằng chúng ta là con chiên lạc lối và hãy xin Ngài đến tìm kiếm ta cho mau (Tv 119,176) để từ đây săn sóc ta như con chiên thân thuộc (Tv 95, 7) trong tình yêu thắm thiết của Ngài.

 

            Thiên Chúa vui mừng biết bao được tụ họp đoàn dân Ngài trong giáo hội để nhờ Chúa Kitô dâng lên hy lễ thờ phượng. Trong đoàn chiên đông đảo, vẫn có đó, vẫn còn đó những con chiên trung tín nhưng cũng có những con thất tín bất trung lầm đường lạc bước. Với những con chiên lầm đường lạc bước đó, Ngài đã bằng cách này hay cách khác, đặc biệt là tình yêu thương tha thứ để chờ đợi, để đón mừng những con chiên đó quay về..

 

            Trong dụ ngôn người cha nhận hậu, chúng ta phảng phất nhìn thấy được dụ ngôn người cha của đứa con hoang đàng một mạc khải về lòng thương xót, sự âu yếm khôn lường của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Tình âu yếm đó đã được Chúa Giêsu tỏ ra cho loài người trong việc Ngài chăm lo cho các tội nhân suốt sứ vụ rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, và cách đặt biệt rõ nét nhất là trong viêc hy sinh mạng sống Ngài để chuộc tội cho họ.

 

            Khi khám phá ra một tình yêu như vậy không thể làm cho ta tràn đầy tin tưởng vào Đấng đã yêu thương chúng ta. Chúng ta quá biết mình là những tội nhân; nhưng chúng ta từ nay không được quên rằng thân phận khốn nạn đó không làm Thiên Chúa ghét bỏ chúng ta, trái lại càng khiến Ngài yêu chúng ta hơn. Vì vậy chúng ta vững tin cho chính mình, và cũng vững tin cho những kẻ khác. Chúng ta cũng đang sống giữa những người tội lỗi. Khi thấy các anh em ấy gặp khốn khó hay lầm lạc, chúng ta hãy nhớ lại rằng họ vẫn được Thiên Chúa yêu, và tình yêu đó đủ mạnh để cứu rỗi họ.

 

            Và khi khám phá ra khuôn mặt, tấm lòng, tình yêu của Thiên Chúa chúng ta lại thấy mở ra sự đòi buộc của tình yêu đó trong tâm hồn chúng ta.

 

            Người con cả của dụ ngôn, vì không hiểu tình yêu của Cha, cũng không hiểu được lời mời gọi phát xuất từ tình yêu đó: anh ta chỉ thực sự là người con hiếu thảo của cha khi biết chia sẻ tình yêu của cha, biết thương mến đứa em. Việc đề phòng mà dụ ngôn muốn nhắc nhở cho người người biệt phái không phải là không liên hệ đến Kitô hữu. Dụ ngôn nhắc cho họ nhớ rằng người ta không thể phục vụ Thiên Chúa đúng ý Ngài nếu không yêu Ngài và không thông hiệp vào tình yêu của Ngài đối với anh em, cho dù những người này là tội nhân.

 

            Thái độ của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với con tim lạnh lùng kiêu căng của người biệt phái, kẻ tưởng mình đang sống an toàn vì đã thi hành tỉ mỉ những giới luật. Người môn đệ chân chính và đích thực của Chúa Giêsu có lý nào hay có quyền gì để khinh bỉ xa tránh những kẻ đang gặp hoạn nạn khó khăn do tội lỗi. Tình yêu Thiên Chúa kêu mời chúng ta yêu mến anh em. “Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu mến ta như thế, thì ta cũng phải yêu mến nhau” (1Ga 4,11)

 

            Khi chúng ta cảm nhận được tình thương tha thứ từ nơi Cha thì khi đó chúng ta cũng mở lòng bao dung và yêu thương anh chị em đồng loại như Cha chúng ta ở trên Trời vậy.