Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Chuỗi Suy Tư Thần Học 01 – Bài 01 - Hiện tượng nhà Chúa Cha ở Bảo Lộc

Tác giả: 
Jorathe Nắng Tím

 

 

TMĐP- Một vài suy tư thần học trước hiện tượng “NHÀ CHÚA CHA” ở Bảo Lộc

 

Năm 2020 qủa thực là một năm nhiều giông bão cho toàn thế giới vì đại dich Covid 19, mà hậu qủa tai hại  còn tiếp tục kéo dài không biết đến bao giờ. Riêng giáo phận Đà Lạt, ngoài cơn bão Covid còn gánh thêm cơn giông khác cũng không kém mất mát nặng nề. Đó là hiện tượng “Nhà Chúa Cha” ở Bảo Lộc. Mất mát vì một linh mục bị treo chén, một giáo dân bị vạ cấm chế ; mất mát vì sự hiệp nhất trong giáo phận bị rạn nứt khi nhiều phe nhóm đối kháng, nhiều quan điểm đối nghịch, nhiều ý kiến trái chiều, nhiều phát biểu phủ nhận, kình chống, lên án nhau.

 

Một bầu khí u ám như mây mù những sáng sớm Đà Lạt khi các mạng xã hội thi nhau bàn tán xôn xao với đủ cung bậc ủng hộ, đả phá, công kích, bênh vực, mà cả Toà Giám Mục Đà lạt với Đức Cha Đaminh Nguyễn văn Mạnh và “Nhà Chúa Cha Bảo Lộc” với cha Nguyễn Chu Truyền, chị Thiên Thương đều là nạn nhân, đối tượng rất đáng mến, nhưng cũng rất đáng thương.

 

Thôi thì đủ luận cứ, chứng cớ, qủa quyết, kết luận : đúng sai. Cả phe chống cũng như phe ủng hộ Đức Cha hay cha Truyền, chị Thương  đều cương quyết khẳng định mình và  gay gắt lên án đối phương : người thì bảo Đức Cha sai, độc đoán, độc tài, kiêu căng, “giáo sĩ trị”, coi thường giáo dân, ngoan cố trước ý muốn của Chúa Cha ; người thì nói chị Thương, cha Truyền mất trí, lạc đạo, bất tuân phục, phản bội, phá họai Hội Thánh… Cũng có những bài viết dài phân tích cặn kẽ tùy theo quan điểm như đề cao sự vâng phục trong Giáo Hội, phân tích vai trò của Giám Mục, làm nổi bật  đoàn sủng, “cường điệu” sự xuất hiện của qủy vương trong thời đại mới và sự can thiệp trực tiếp của Chúa Cha.

 

Tóm lại, chúng ta đang đứng trước nguy cơ một cuộc ly giáo, và sự hình thành có hệ thống một giáo phái mới tách biệt khỏi Công Giáo. Chia sẻ nỗi buồn và lo âu của Đức Cha Đaminh, cũng như lo âu và nỗi buồn của cha Truyền, chị Thương, người viết xin được trải lòng với tư cách một người con, một người anh em, một chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Giáo Hội của Ngài về hai điểm mà người viết cho là then chốt hơn cả đã tạo nên nhiều lấn cấn, sai lạc. Đó là sự khác biệt giữa Thần Khí của Thiên Chúa và các thần khí khác, sự khác biệt giữa Đoàn Sủng và Mạc Khải trong giáo lý đức tin.

 

1. Thần Khí của Chúa và các thần khí khác

 

a. Các thần khí không thuộc Thiên Chúa   

 

Tin Mừng luôn nhắc nhở và nhấn mạnh sự khác biệt giữa Thần Khí của Thiên Chúa, Thần Khí của Đức Giêsu Kitô và các thần khí khác như thần khí của con người, thần khí của thế gian, thần khí của ma qủy.

 

Sách Samuen kể: Sau khi ông Samuen qua đời… “Người Philitinh tập hợp lại và đến đóng trai ở Sunêm… Vua Saun thấy trại của người Philitinh thì sợ và tim ông đập mạnh. Ông thỉnh ý Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không trả lời, dù bằng giấc mộng, bằng thẻ urim, hay qua trung gian ngôn sứ. Vua Saun bảo triều thần : Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý bà ấy”. Triều thần nói với vua : Thưa có một bà đồng bóng ở Ênđo” (1 S 28,4-7).

 

Đây là trường hợp nghe theo thần khí của con người, mà không phải Thần Khí của Thiên Chúa.

 

Tin Mừng Máccô ghi lại: “Đức Giêsu và các môn đệ sang tới bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất của dân Ghêrasa. Người vừa ra khỏi thuyền, thì từ đám mồ mả, có một kẻ bị thần ô uế ám liền ra đón Người. Anh này thường sống trong đám mồ mả, và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu phải dùng cả đến xiềng xích” (Mc 5,1-3). Một hôm khác, một người trong đám đông thưa với Đức Giêsu : “Thưa Thầy, tôi đã đem con trai lại cùng Thầy ; cháu bị qủy câm ám. Bất cứ ở đâu, hễ qủy nhập vào là vật cháu xuống. Cháu sùi bọt mép, nghiến răng, cùng đờ người ra” (Mc 9,17-18).

 

Đây là trường hợp thần khí của ma qủy ám nhập làm khổ con người.

 

Thánh Gioan Tông Đồ khẳng định có những thần khí không chỉ khác Thần Khí của Thiên Chúa, mà còn chống lại Thần Khí của Đức Kitô : “Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1).

 

b. Thần Khí của Thiên Chúa:

 

 Kinh Thánh xác định rất rõ Thần Khí của Thiên Chúa trên công trình của Ngài và  những người Ngài chọn:

 

“Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,1)

 

 Pharaô, vua Ai Cập, sau khi nghe ông Giuse, con của tổ phụ Giacóp cắt nghiã giấc chiêm bao của mình đã nói với triều thần : “Chúng ta tìm đâu được một người như người này, một người có Thần Khí Thiên Chúa ? Và Pharaô nói với ông Giuse : Sau khi Thiên Chúa đã cho ông biết tất cả những điều ấy, không ai thông minh và khôn ngoan như ông. Ông sẽ là tể tướng triều đình của ta…” (St 41,38-40).

 

Sách Xuất Hành ghi lại : “Đức Chúa phán với ông Môsê : Ngươi hãy coi : Ta đã gọi đích danh Bơxanên con của Uri, con của Khua, thuộc chi tộc Giuđa. Ta sẽ ban cho nó dồi dào Thần Khí của Thiên Chúa, để nó thành người khéo léo, giỏi giang và lành nghề mà làm mọi công việc…” (Xh 31,1-3).

 

Trong Tân Ước, Thần Khí của Thiên Chúa ngự xuống  và quyền năng của Đấng Tối Cao  rợp bóng trên Đức Maria trong buổi Truyền Tin thụ thai Ngôi Lời nhập thể (x. Lc 1,35). Khi chịu phép rửa của Gioan bên bờ sông Giođan, “Đức Giêsu được Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người” (Mt 3,16) ; Ngài còn “được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu cám dỗ” (Mt 4,1).

 

Và các Tông Đồ trong nhiều thư mục vụ đã không ngừng cho chúng ta thấy đâu là Thần Khí của Thiên Chúa, và cách nào để nhận ra Thần Khí đến từ Ngài:

 

Thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại dậy chúng ta : “Những ai sống theo tính xác thịt thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt ; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được” (Rm 8,5-7).

 

“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa”, và một khi đã là con cái Thiên Chúa, chúng ta không còn là nô lệ và phải sợ hãi như xưa, nhưng “Thần Khí làm cho anh em nên nghiã tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : Ápba ! Cha ơi! ” (Rm 8,14-15).

 

Thánh Phêrô, tông đồ trưởng thì nhắc nhở : Người tín hữu là “những người được Thiên Chúa Cha biết trước và kén chọn, những người được Thần Khí thánh hoá để vâng phục Đức Giêsu Kitô và được máu Người tưới rảy” (1P 1,2). Điều này muốn nói lên sự vâng phục Đức Giêsu Kitô là dấu chỉ sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa.

 

Một cách chính xác hơn, thánh Phaolô qủa quyết : người có Thần Khí của Thiên Chúa thì kết hiệp mật thiết với Ngài (x.1 Cr 6,17), và “mầu nhiệm Đức Kitô” tức “trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6) sẽ chỉ được Thiên Chúa dùng Thần Khí của Ngài, “mà mặc khải cho các Tông Đồ và ngôn sứ của Người” (Ep 3,5).

 

Như thế, để “thấu hiểu các mãnh lực thần thiêng” (Kn 7,20), tức các thần khí không thuộc về Thiên Chúa, chúng ta cần có “ơn phân định thần khí” (1Cr 12,10), vì có rất nhiều thần khí xuất phát từ xác thịt, từ thế gian, từ ma qủy, bởi “thần khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu, thì không bởi Thiên Chúa ; đó là thần khí của tên phản Kitô” (1 Ga 4,3), cũng như thần khí nào không phục tùng lề luật của Thiên Chúa, không đón nhận mặc khải từ các Tông Đồ và Ngôn Sứ đều sẽ không được nhận là thần khí đến từ Thiên Chúa.

 

2. Đoàn Sủng và Mặc Khải

 

a. Đoàn Sủng là ơn được ban để phục vụ cộng đoàn

 

Giữa Đoàn Sủng và Mặc Khải có sự khác biệt rất quan trọng mà nhiều người hay lầm lẫn. Chính vì thế mà nhiều khúc mắc, lấn cấn cứ ngày càng chồng chất, đan chéo nhau.

 

Sách Xuất Hành ghi lại lời Thiên Chúa Giavê nói với Môsê : “Chính ngươi sẽ bảo những thợ giỏi, đã được Ta ban tràn đầy tài năng khôn khéo, may áo tế cho Aharon, để ông được thánh hiến, mà thi hành chức tư tế phục vụ Ta” (Xh 28,3). Thiên Chúa ban đặc sủng cho những người thợ này để họ phục vụ cộng đoàn,khi may áo tế cho ông Aharon. Vì thế, đặc sủng được gọi là đoàn sủng, bởi mục đích là lợi ích chung của cộng đoàn, mà không vì lơi ích  riêng tư, cá nhân.

 

Thánh Phaolô đã viết rất rõ  về ân huệ và sứ vụ tông đồ của mình : “Tôi là Phaolô, tôi tớ của Đức Kitô Giêsu ; tôi được ơn gọi làm tông đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa” (Rm 1,1), và “nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, để làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng, hầu danh Người được rạng rỡ” (Rm 1,5).

 

Thánh nhân còn cắt nghiã cặn kẽ trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô : “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dậy, người thì đuợc Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bầy. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin ; kẻ thì cũng được Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri ; kẻ thì được ơn phân định thần trí ; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người” (1 Cr 12, 4-11).

 

“Như thế, không có gì ngăn cách, chia rẽ chúng ta khi mỗi người nhận được đặc sủng từ Thần Khí Thiên Chúa để phục vụ cộng đoàn, vì chúng ta là thân thể Đức Kitô và mỗi người là một bộ phận. Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dậy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ” (1 Cr 12,27-28).

 

Ở đây, chúng ta nhận thấy : ơn làm Tông Đồ được xếp vào hàng thứ nhất, bởi các Tông Đồ là những người được Đức Giêsu chọn và trên nền tảng Tông Đồ, Ngài đã xây dựng Giáo Hội của Ngài. Kế vị các Tông Đồ là các Giám Mục bản quyền.  Như các thánh Tông Đồ, các ngài là  rường cột của Giáo Hội, được trao phó sứ vụ chăn dắt đoàn chiên với quyền quản trị, thánh hoá, nên chính các ngài có trách nhiệm bảo đảm mục đích phục vụ lợi ích chung của các đoàn sủng  nhận được từ Thần Khí Thiên Chúa trong Giáo Hội. Nói cách khác, Giám Mục có nhiệm vụ duy trì và phát huy sự hiệp thông, hiệp nhất trong Giáo Hội, mà không để những đặc sủng nhận được biến thành cớ gây mâu thuẫn, xung đột, đối kháng, chia rẽ trong hàng ngũ dân Chúa, thay vì xây dựng thân thể mầu nhiệm Đức Giêsu là Giáo Hội, như thánh Phaolô đã nhấn mạnh : “Anh em cũng vậy : vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh” (1 Cr 14,12).

 

Như thế, khi các đoàn sủng không nhằm mục đích xây dựng Hội Thánh, mà cụ thể là xây dựng tình hiệp thông, hiệp nhất thì các ơn đó không còn được coi là đặc sủng, đoàn sủng, vì không hội đủ điều kiện “phục vụ cộng đoàn”. Thực tế là khi người nhận đoàn sủng  làm theo ý riêng, dù là thiện ý,  mà từ chối đặt mình dưới sự quản trị, hướng dẫn của Giám Mục bản quyền để việc thực thi đoàn sủng của người ấy đem lại lợi ích chung cho Giáo Hội, như mục đích của đoàn sủng, thì hậu qủa không thể tránh khỏi là gây hoang mang, bất an, bất ổn trong Giáo Hội dắt đến tình trạng đố kỵ, chia rẽ, làm lợi cho ma qủy. Đó là lý do trong lịch sử Giáo Hội đã không thiếu những người được Chúa ban đoàn sủng, nhưng khi được Đấng Bản Quyền yêu cầu ngưng sử dụng đoàn sủng để làm phép lạ, chữa bệnh, trừ qủy hay nói tiên tri, vì lợi ích chung của Giáo Hội, thì hầu hết các vị đều vâng phục quyền tông đồ của Giám Mục bản quyền, bởi mục đích tự thân của đoàn sủng là phục vụ cộng đoàn dân Chúa, chứ không phục vụ ý muốn cá nhân hay lợi ích bản thân. Đàng khác, sự vâng phục để gìn giữ sự hiệp nhất của Giáo Hội được đánh giá là Của Lễ đẹp lòng Thiên Chúa hơn tất cả.

 

Chúng ta cũng nên biết  ma qủy là “tên Cám Dỗ, đứa Chia rẽ”, tiếng latinh là Diabolus, trái ngược với Symbolus là hiệp nhất, nối kết, và công việc chính của chúng là “tách rời ra, kéo xa ra”, khi tách con người rời xa Thiên Chúa, kéo con người ra xa nhau, như đã tách Ađam, Evà rời xa Thiên Chúa, kéo Cain xa khỏi Aben, và tiếp tục cho đến tận thế bằng mọi thủ đoạn, mưu kế tách đoàn chiên ra khỏi chủ chăn, gây hỗn loạn, chia rẽ giữa đoàn chiên, và kéo Giáo Hội xa khỏi Đức Giêsu là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm. Do đó, thành qủa lớn mà ma qủy đạt được quanh biến cố trừ qủy ở nhà Chúa Cha là sự cắt đứt hiệp thông,chia rẽ trong Giáo Hội, một sự thật đáng buồn mà không ai trong chúng ta có thể phủ nhận.

 

b. Mạc Khải   

 

Khác với Đoàn Sủng, Mạc Khải là việc Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết thánh ý Ngài (x Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18 ; 2P 1,4). Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình (x ; Cl 1,15 ; 1 Tm 1,17) ngỏ lời với loài người như bạn hữu. Ngài đối thoại với họ để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài. Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì công bố các việc làm và khai sáng các mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn thể mạc khải (Chương I, số 2, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa – Dei Verbum, bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2005).

 

Qua trích dẫn trên, chúng ta thấy : kho tàng mạc khải gồm Thánh Kinh (Cựu Ước, Tân Ước) và Thánh Truyền, ở đó “chân lý về Thiên Chúa được sáng tỏ nơi Đức Kitô », Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và con người, Đấng Cứu Độ duy nhất, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Cũng chính ở Ngài, toàn thể mạc khải đã đạt đến độ viên mãn, và toàn bộ kho tàng mạc khải này được trao cho Giáo Hội gìn giữ, bảo toàn như thánh Phaolô đã viết cho môn đệ Timôthê : “Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta” (2 Tm 1,14), vì “Giáo Hội là dấu chỉ của bí tích cứu rỗi”, là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

 

Vì đã đạt đến độ viên mãn ở Đức Kitô nên toàn thể Mạc Khải chỉ có thể tìm thấy nơi Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, mà không ở Chúa Cha, vì Đức Kitô là Ngôi Lời của Chúa Cha, Đấng Chúa Cha sai đến để thực thi thánh ý của Ngài. Do đó, chúng ta không thể thay đổi, hay thêm bớt vào kho tàng Mạc Khải bằng những mạc khải mới trực tiếp từ Chúa Cha, vì Chúa Cha tín nhiệm Chúa Con, bởi Ba Ngôi Thiên Chúa là một, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi ; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi… Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. Và tôi biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi” (Ga 12,44-45 ; 49-50).

 

Quả thực, nếu cho rằng bây giờ là thời đại của Chúa Cha, và chính Chúa Cha trực tiếp mạc khải, thì Tin Mừng của Đức Giêsu sẽ có nguy cơ bị thay đổi, vì người ta sẽ phải hiểu rằng thời kỳ cứu chuộc của Đức Giêsu, cũng như thời đại  của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội của Đức Giêsu không còn nữa, nhưng chấm dứt để nhường chỗ cho thời đại mới của Chúa Cha, với những mạc khải mới từ Chúa Cha.

 

Như thế, cả Ba Ngôi Thiên Chúa đã thứ tự thay phiên nhau cứu độ, mạc khải, và duy chỉ một việc Chúa Cha can thiệp vào mạc khải  đã được viên mãn trong Đức Giêsu đã đủ làm đảo lộn tất cả giáo lý của Đức Giêsu, và tín điều nhập thể cứu chuộc theo ý Chúa Cha của Đức Giêsu không còn nền tảng để đứng vững.

 

Một vấn đề hệ trọng khác, đó là Mạc Khải và Giáo Hội không thể tách rời nhau, vì Giáo Hội có nhiệm vụ trung thành tuân giữ và gìn giữ nguyên vẹn chân lý đức tin, bởi “Mạc Khải trong Kinh Thánh hay trong Thánh Truyền đều được truyền lại trọn vẹn nhờ sự kế vị hợp pháp các Giám Mục và nhất là nhờ sự quan tâm của chính Giám Mục Rôma. Nhờ Thánh Thần Chân Lý, Mạc Khải ấy được gìn giữ cách cẩn trọng và trình bầy cách trung thực. Để có thể khảo sát đứng đắn và trình bầy cách thích hợp Mạc Khải này, Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục làm việc cẩn thận bằng phương tiện thích hợp, tùy theo nhiệm vụ và tầm quan trọng của sự việc ; nhưng các ngài không nhận được một Mạc Khải công khai mới nào thêm vào kho tàng thần khải của đức tin” (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội – Lumen Gentium, số 25, bản dịch việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X).

 

Theo Hiến Chế này, không một Mạc Khải công khai mới nào được thêm vào kho tàng thần khải của đức tin, nên hiện tượng Chúa Cha công khai mạc khải cho một cá nhân sẽ phải được coi là điều không thể chấp nhận theo giáo lý Mạc Khải của Hội Thánh.

 

Một nguy cơ khác nữa sẽ đến, đó là từ những mạc khải mang tính sinh hoạt đời sống như chữa bệnh, cách xử lý tình huống cũng như những khúc mắc trong tương quan, mà hiện nay Chúa Cha đang thực hiện với chị Thương ở “Nhà Chúa Cha” không lâu sẽ là những mạc khải đụng chạm đến giáo lý đức tin, vì Chúa Cha luôn sẵn sàng trả lời bất cứ câu hỏi nào của chị đặt ra. Điều đó cho phép chúng ta mường tượng một ngày nào đó chị Thương hỏi Chúa Cha về những tín điều buộc người công giáo phải tin trong Kinh Tin Kính, và nếu “chẳng may” Chúa Cha phủ nhận hay không dứt khoát khẳng định một hay nhiều tín điều nào đó, thì thử hỏi sự hoang mang, bấn loạn ở nhiều người công giáo mà giáo lý đức tin không đủ vững sẽ lớn lao như thế nào?

 

Chắc chắn sẽ rất lớn lao, vì viễn cảnh ly giáo đang lấp ló, giáo phái mới đang thai nghén, hình thành, bởi ngay bây giờ đã nhen nhúm nhiều chủ trương trái ngược với giáo lý công giáo, khởi đi từ cách mạc khải hoàn toàn không phù hợp với đức tin tông truyền, khi cho rằng Chúa Cha đã chọn một người và trực tiếp mạc khải bằng đẩy tay người ấy viết lên điều mình muốn, một điều chưa từng có trong lịch sử các tôn giáo, vì ngay cả “đại tiên tri” Môhamét của Hồi Giáo, dù tự hào được Đức Alla mạc khải, nhưng cũng chỉ được mạc khải qua trung gian tổng lãnh thiên thần Gabrien, chứ không ai đã được chính Chúa Cha trực tiếp trả lời từng câu hỏi, dù là những câu hỏi thuộc phạm vi sinh hoạt đời sống thường ngày.

 

Hy vọng hiệp nhất còn mong manh hơn, khi hiện tượng “thai thánh”, nghiã là phụ nữ không “quan hệ” với người nam mà vẫn có thai đã trở thành một vấn đề  khó có thể chấp nhận được, không  chỉ trong phạm vi giáo lý đức tin, mà còn ở quy luật tự nhiên, bởi trong Kinh Thánh, ngoài Đức Maria là người trinh nữ duy nhất đã có thai Đức Giêsu do quyền phép Chúa Thánh Thần, không một người thứ hai đã được sinh ra ngoài quan hệ nam nữ, vì đó là luật tự nhiên. Thực vậy, Thiên Chúa chỉ can thiệp cho vợ chồng son sẻ hay đã luống tuổi, như trường hợp vợ chồng Ápraham – Xara đã sinh Ixaác, dù mang tiếng son sẻ, hay vợ chồng Dacaria – Êlisabét đã sinh Gioan Tiền Hô ở tuổi già.

 

Đó là chưa nói đến mục đích của việc “thai thánh”, bởi Thiên Chúa không thể phá bỏ luật tự nhiên do chính Ngài thiết lập khi cho một số phụ nữ  không quan hệ với nam nhân do được đặt tay cầu nguyện đã có thai và sinh con mà không nhắm một mục đích cứu rỗi nào.

 

Quả thực, chỉ nguyên một sự kiện “thai thánh” thôi đã chạm đến mầu nhiệm thụ thai do quyền phép Chúa Thánh Thần của Đức Maria trong nhiệm cuộc Nhập Thể, người mà Thiên Chúa đã gìn giữ cách đặc biệt và chọn làm Mẹ Thiên Chúa do quyền phép của mình khi  cho “một trinh nữ thụ thai và sinh con trai”.

 

Tóm lại, là người công giáo, là con cái trong gia đình Giáo Hội, là chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, chúng ta không có lý do thờ ơ, bàng quan, hờ hững, vô cảm trước những gì đang xẩy ra trong giáo phận Đà Lạt, bởi “không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1 Cr 12,25-26).

 

Vì thế, chúng ta có bổn phận chia sẻ nỗi đau của toàn thể Giáo Hội, nỗi lo của Đức Cha Đaminh, Đấng Bản Quyền, nỗi khổ của qúy cha, qúy anh chị ở “Nhà Chúa Cha Bảo Lộc” bằng cầu xin cho mọi người tìm về và sống Đức Mến, bởi chỉ với Đức Mến, chúng ta mới nhận ra mình và nhận ra nhau, để khiêm tốn hoà giải, và qủa cảm tìm về hiệp nhất với nhau trong Chúa bởi “Đức Mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm đều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7), và trong Đức Mến, chúng ta yêu thương nhau, để “Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta được nên hoàn hảo” (1 Ga 4,10).

 

Với niềm tin tưởng “Đức Mến không bao giờ mất được” (1Cr 13,8), chúng con xin ký thác tất cả cho Chúa và nhờ đức tin của Giáo Hội, chúng con xin Chúa đừng để chúng con mất nhau, cũng đừng để ai trong trong chúng con mất Chúa, xa khỏi  Giáo Hội là mái ấm hạnh phúc, quê hương đời đời, nhà của Thiên Chúa giữa nhân loại.

 

Jorathe Nắng Tím

See video