HOME - THƯ VIỆN SƯU TẦM TIN TỨC - TÀI LIỆU HOME - THƯ VIỆN SƯU TẦM TIN TỨC - TÀI LIỆU
Thư viện tin tức, tài liệu, bài vở của thanhlinh.net và sưu tầm từ các trang web khác mà Quý vị không vào được hay không biết đến để nghiên cứu, tìm hiểu. Chân thành cám ơn các tác giả.
 
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Đăng kýĐăng ký 
 Lý lịchLý lịch   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng NhậpĐăng Nhập 

Trích Hồi ký của Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng: Những Câu Chuyện về Một Thời
Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế
 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    HOME - THƯ VIỆN SƯU TẦM TIN TỨC - TÀI LIỆU -> Giáo Hội Việt Nam
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:27 pm    Tiêu đề: Trích Hồi ký của Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng: Những Câu Chuyện về Một Thời Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Hồi ký của Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng: Những Câu Chuyện về Một Thời
Nguồn: VietCatholic News

LTS. VietCatholic nhận được hồi ký của đức cố Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng, nguyên Giám Mục Phụ Tá GP. Hà Nội. Tập hồi ký có tựa đề Những Câu Chuyện Về Một Thời (Tập 3) xuất bản năm 2009 tại Hà Nội. Nhận thấy đây là tài liệu có giá trị về mặt lịch sử nên chúng tôi sẽ lần lượt trích đăng tài liệu hiếm qúy này để cống hiến bạn đọc. Bài đầu tiên là Lời Bạt của Đức TGM Ngô Quang Kiệt được in trong tác phẩm này.

LỜI BẠT

Khi “Những câu chuyện về một thời” tập 3 đang lên khuôn thì Đức cha Phaolô lâm trọng bệnh. Bệnh nhiều và nặng nhưng ngài vẫn giữ được phong thái ung dung, thần sắc tỉnh táo. Tuổi 92 mà vẫn vui tươi dí dỏm, ngay cả lúc thập tử nhất sinh, nằm trong bệnh viện, giữa những bệnh nhân đang quằn quại đau đớn.

Đó là phong thái của một tâm hồn đạo đức thánh thiện luôn đơn sơ phó thác. Nhìn mọi việc bằng con mắt của Chúa. Phó thác vận mệnh trong tay Chúa. Không có gì trên đời quan trọng bằng thuận theo thánh ý Chúa. Giữa những gian nan phức tạp của thế sự, không bận tâm tìm lý giải biện minh hay tìm thóat thân trong lối đi nhàn tản, nhưng chắt lọc, biện phân để tìm ra con đường đi về thánh ý.

Đó là phong thái của một cuộc đời dầy dạn kinh nghiệm trải qua cuộc sống gần 100 năm, qua 2 thế kỷ với biết bao thăng trầm không chỉ của bản thân mà còn của Giáo hội, đất nước và dân tộc. Từng trải để thấy sau những biến chuyển khốc liệt cuốn đi biết bao giả trá phù vân vẫn còn đó những giá trị vĩnh cửu và tuyệt đối. Từng trải để thản nhiên dung dị vượt lên trên bao khó khăn cuộc đời, như ngọn cao sơn sừng sững trước phong ba.

Đó là phong thái của một nhân cách cao cả vượt trên tất cả những tầm thường nhỏ nhen. Mỉm cười trước những tranh đua hơn thiệt. Mở rộng tấm lòng cảm thông với những sai sót. Bao dung tha thứ những xúc phạm. Vượt lên trên chính mình để thấy tất cả vui buồn, vinh nhục, thành bại rồi cũng sẽ qua đi. Chỉ còn đức bác ái tồn tại. Đức bác ái thể hiện qua lòng nhân ái.

Tất cả những điều đó bàng bạc trong suốt những câu chuyện tích lũy từ nửa thế kỷ qua. Đặc biệt trong “Những câu chuyện về một thời” tập 3, ta thấy ngòi bút của ngài thẳng thắn trung thực nhưng không gay gắt chỉ trích khi đề cập đến những sai lầm quá khứ; tỉ mỉ chi tiết nhưng nhẹ nhàng tha thứ khi ghi lại những xúc phạm mà ngài là nạn nhân; phân tích cặn kẽ nhưng không chút cay đắng khi kể lại những biến cố đau thương ngài đã trải.

Tập sách Đức Cha Phaolô gửi lại cho ta như một lời từ biệt cuối cùng, như một kỷ vật nhớ đời nhưng đồng thời cũng như một nhắn nhủ trước lúc lên đường, kín đáo như ngài vốn thế. Nhẹ nhàng mà sâu lắng. Âm thầm mà mãnh liệt. Thoang thoảng mà thấm sâu. Dù cách xa ta khó mà quên được ngài.

Hà nội ngày lễ Xá tội Vong nhân 2009

+Giuse Ngô Quang Kiệt

TGM Hà Nội

(đóng dấu và ký tên)
+GM. Phaolô Lê Đắc Trọng


Được sửa bởi mlcn ngày CN 10 25, 2009 5:41 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:29 pm    Tiêu đề: Ba chủng viện: Hoàng Nguyên, Kẻ Non, Vĩnh Trị phải triệt hạ 1857-1858 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Ba chủng viện: Hoàng Nguyên, Kẻ Non, Vĩnh Trị phải triệt hạ 1857-1858

(Trích một đoạn, Đoạn 8 trong Truyện Cố Thánh Vê-na)

Cố Ven không muốn nghỉ, chỉ muốn đi làm phúc liên, các họ đạo sợ hãi không dám rước. Song Ngài đi làm phúc họ Hoàng Nguyên, Lảnh Trì, Bút Đông, đoạn về nhà trường Hoàng Nguyên nghỉ. Độ ấy Ngài và Cố Đông là Bề Trên nhà trường sai một người đem những thư tây xuống Nam Định, cậy những lái buôn Tàu có cửa hàng ở đấy gửi sang cho Cố giữ việc ở Hương Cảng như đã quen xưa nay. Chẳng may, người mang thư ấy bị bắt cùng phải giải nộp cho quan Nam Định. Quan tra tấn dữ lắm cho nên nó xưng ra những làng Hoàng Nguyên, Kẻ Non, Kẻ Vĩnh, có Nhà Chung, Nhà Trường và có Trưởng đạo Tây ở đấy nữa.

Vì vậy tối ngày 10 tháng 05 có kẻ đưa tin cho Cố Đông và Cố Ven rằng: “Quan Hà Nội đem quân xuống vây bọc Nhà Trường đã đến nửa đường rồi”. Cố Đông truyền cho Nhà Trường phải chạy cả đồ, cả người ngay trong đêm hôm ấy, chỉ để xác nhà không. Học trò chạy đồ gửi nhà bổn đạo ngoài làng rồi đi. Cố Đông và Cố Ven cùng lo trốn.

Sáng sớm ngày mai, quân quan và phu hai ba Tổng, hơn 2000 người đến vây bọc làng Hoàng Nguyên. Chúng nó đã chắc sẽ bắt được hết mọi người Nhà Trường. Song chỉ bắt được có hai Chú và một Bõ mù canh cổng, hai chị em con nhà Sãi, còn về của cải thì không lấy được gì!

Quan quân không bắt được gì thì nổi giận, bèn kéo nhau vây bọc Bái Đô, Bái Vàng, Đồng Tứ, Chằm Thượng, Chằm Hạ, Cổ Liêu, song chỉ bắt được một thày già sáu tên là Tư đã 70 tuổi và 9 người học trò đang chạy ngoài đồng. Nó đóng gông bấy nhiêu người giải về Hà Nội. Ông già Tư phải giam cùng chết rũ tù, còn những người kia không chịu đạp ảnh thì phải lưu đầy Tuyên Quang, Thái Nguyên. Các quan đốt Nhà Trường, chặt các luỹ tre, cùng giao vườn đất đồng điền của Nhà Trường cho kẻ ngoại nhận cày cấy nộp thuế, còn nhà thờ Hoàng Nguyên và những nhà thờ các làng nó đã vây bọc thì nó dỡ xuống hết.

Ngày 15 tháng ấy, các quan vây bọc làng Kẻ Non, lấy hết đồ vật của cải. Đoạn phá đốt Nhà Trường, cắm lấy vườn đất ruộng nương của nhà trường phát cho kẻ ngoại nhận canh tác. Đức Cha Khiêm và cả Nhà Trường chạy được hết. Các quan chỉ bắt được có một chú học trò và mấy người bổn đạo mà thôi.

Ngày 19 tháng ấy, Nhà Trường cùng Nhà Chung Vĩnh Trị phải phá. Làng Kẻ Vĩnh đi đạo từ đời vua Vĩnh Thịnh nhà Lê (Vua Dụ Tông năm 1750) đến năm Cảnh Hưng 1765 Đức Cha Bêtrandô lập Nhà Chung, Nhà Tràng ở đấy. Vì làng ấy trung độ, ở chính giữa địa phận Tây. Địa thế rộng rãi, đường thuỷ bộ cả Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, tiếp giáp Ninh Bình thông ra Sông Cái, dễ ẩn, dễ chạy lúc cấm cách. Cũng vì xã ấy toàn tòng đạo, và dân cứng cát táo bạo, có lòng mến đạo, mến các Đấng, và có công chịu khó giúp các Đấng lúc ngặt nghèo khốn khó.

Vì vậy các Đấng các Bậc có lòng thương làng Kẻ Vĩnh cách riêng. Năm Tự Đức thập niên, khi Cụ Tịnh phải bắt vừa xong, thì quan đem 200 quân có ý phá Nhà Chung, Nhà Trường. Song dân đút bạc, thì quan chỉ phá Đạo Đường, còn bốn chiếc Đạo Quán thì để lại, và Nhà Chung, Nhà Trường ba phần thì dỡ xuống một, còn hai phần thì để nguyên. Cho nên khi quan đi rồi, thỉnh thoảng Đức Cha Liêu còn lai vãng.

Đến tháng Tư năm sau, các quan bắt được thư Đức Cha Liêu gửi về Tây, thì quan Nam Định là Nguyễn Đình Tân là người ghét và phá đạo, giết nhiều người, dân gọi ông là con hùm con cọp, đem quân vây bọc làng Vĩnh Trị, bắt được sách kinh sách đạo, đồ đạo nhiều lắm. Lấy của cải phá phách Nhà Chung, Nhà Trường, triệt hạ các đạo quản, bắt 37 người dân giải về tỉnh Nam Định, rồi chẳng những là buộc tội cho dân Vĩnh Trị là che giấu các Đạo Trưởng đã lâu năm, lại gọi làng ấy là đại đô nhà đạo, là chốn các Đạo Trưởng các đạo đồ tụ hội giảng đạo tụng kinh, tích trữ lúa thóc tiền bạc, và còn vu cho dân Vĩnh Trị đã biết Đạo Trưởng Liêu, Đạo Trưởng Thế gửi tờ xin Tây đánh An Nam, cứu chữa bổn đạo, mà chẳng tố giác với vua quan, cho nên làm án cho dân Vĩnh Trị là “Âm thông ngoại quốc mống lòng khởi ngụy với triều đình”.

Tóm lại, án quan thượng Tân làm như sau: “Chánh phó lý trưởng và hai người đầu mục phải giảo quyết, 23 người bất khẳng quá khoá thập tự phải phát lưu, 10 người xuất giáo thì phạt 100 trượng rồi tha về, còn bao nhiêu người xã ấy, đàn ông, đàn bà phải tháp nhập các dân vô tòng Giatô đạo quản thúc”.

Điền thổ thì chia ra, giao các xã phụ cận nhận canh thu thuế, còn xã hiệu Vĩnh Trị thì bỏ đi cho hẳn, chẳng còn có xã ấy nữa. Quan Thượng Tân đệ án này vào kinh mà vua châu phê rồi, gửi ra Nam Định.

Tiếng Nhà Chung, Nhà Trường cùng làng Kẻ Vĩnh phải phá tan khốn nạn làm vậy, thì răn dạy khắp cả mọi nơi như tiếng sấm sét, những kẻ có đạo nghe thấy thì giật mình, sợ hãi kinh khiếp. Giáo dân lo sợ chẳng khỏi bao lâu mình sẽ phải phá như làm vậy. Các Cố, các Cụ cùng những người nhà Đức Chúa Trời, đã ở, đã học lâu năm trong Nhà Trường Kẻ Vĩnh, vui vẻ sầm uất dường ấy, thì lo buồn thương tiếc là dường nào!

Nhất là dân Kẻ Vĩnh phải bỏ quê cha đất tổ, mồ mả của ông bà cha mẹ, mà phiêu lưu đến đất quê người, cổ thì mang gông, con thì tay bồng tay dắt, mẹ nào con ấy phải giải đi như lũ tù phạm, vừa đi vừa khóc thật là thảm thiết đắng cay! Song dân không ngã lòng, một trông cậy Chúa lòng lành phép tắc sẽ thương đến dân Vĩnh Trị như xưa đã thương dân Israel phải chịu lưu đầy sang Babylon và lại được về bản quán vậy.

Về sau có người dân Vĩnh Trị làm bài thơ than khóc Vĩnh Trị như sau:

“ớ cha! ớ mẹ! ớ trời ơi!
Vĩnh đường cảnh sắc thật là vui
Phong ba một trận liền tan tác
Nam Bắc đôi phương cũng ngậm ngùi
Nhớ đến ngày xưa sa nước mắt
Trông về đất tổ đổ mồ hôi
Đã hay: Khi bỉ còn khi thái
Đến vận hanh, gia cảnh lại hồi”.
+GM. Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:30 pm    Tiêu đề: Địa phận Hà Nội 1859 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Địa phận Hà Nội 1859

(Trích trong truyện Cố Thánh Vê-na)

Đoạn thứ mười một, về Cố Ven phải tầm nã vây bắt trong nhà dòng nữ Bút Đông và ở làng ấy ba lần. ở miền rừng gần núi thì dễ ẩn cùng chạy trốn, còn ở đồng bằng thì khó lắm. Cho nên trong thời buổi cấm đạo, giáo dân phải làm vách kép và đào hang dưới đất để các Đấng được ẩn núp lúc túng ngặt. Các thày kẻ giảng giúp Cố Ven đã làm một cái vách kép trong nhà mụ Bút Đông, cùng đào bốn cái hang trong nhà người ta ở ngoài làng, để phòng khi quan quân có tầm nã vây bọc thì các Đấng được ẩn trong ấy cho khỏi tay chúng nó.

Ông Xã Ký là người làng Bút Đông đã kể kiểu cách làm hang dưới đất mà rằng: “Thầy Lượng và tôi đã đào một cái hang trong buồng nhà tôi, rộng non một gian nhà, cao vừa bằng một người đứng, dưới lát gạch, trên lát ván. Đoạn đổ một thước đất trên ván ấy. Lại lấy tro, lấy đuốc hơ cho đất ra cũ để khỏi sinh nghi. Chúng tôi đào hang ấy ban đêm kín lắm, chỉ có những người nhà biết mà thôi. Còn trong làng, chẳng ai biết có hang trong nhà tôi sốt”. Chúng tôi cũng lập bàn thờ cho các Đấng làm lễ được. Lại làm tám cái hốc, cùng đặt tám cái ống tre dài thò ra ngoài bờ ao cho nó thông khí, khỏi tức và dễ thở. Lại ở đầu buồng chúng tôi làm tường bằng một cái vách kép.

Chẳng những nhà ông Xã Ký, mà nhà ông Hộ, nhà ông Đinh là bố cụ Nghi, nhà bà Tịnh cũng có hang, cũng có vách kép, lúc động các Đấng hoặc chạy xuống hang, hoặc chạy vào vách kép mà ẩn.

Vậy cuối năm Tự Đức thập nhị niên (1859) có đứa có đạo mật tố với Cai Tổng và Lý Trưởng: Có hai, ba Cố ẩn trong nhà Mụ. Cho nên Cai Tổng và Lý Trưởng đe, đòi chúng con 300 quan. Nếu chẳng nộp thì các ông ấy sẽ khám cùng dỡ nhà đi. Chúng tôi thưa rằng: “Chúng tôi nghèo chẳng làm sao liệu tiền cho các thầy được. Nếu các thầy chẳng thương thì muốn làm gì thì làm !”.

Dù mà chúng con chưa biết chắc hàng Tổng có khám hay không. Song bà Mụ cũng cho chị em còn trẻ tuổi ra ở nhà giáo dân ngoài làng, cùng dạy chị em chúng con dọn các đồ lễ sách vở đem gửi giấu ngoài giáo dân.

Vậy chiều hôm ấy bỗng không thấy hàng Tổng hàng Xã xông vào nhà chúng con. Bấy giờ Cố Ven và Đức Cha Đông đang ở trên nhà nguyện, thì lập tức chạy vào vách kép liền với nhà bếp. Thoạt khi mới vào, thì chúng nó bắt trói bà Mụ và các chị em còn ở nhà mà rằng: “Không nộp tiền thì sẽ giải quan”. Bấy giờ giả vờ không sợ lại nói cứng rằng: “ờ, các ông muốn giải cho đến tỉnh, thì chúng tôi đi. Chúng tôi chỉ muốn chết vì đạo, đến đâu thì chúng tôi cũng không quá khoá bỏ đạo đâu”.

Khi khám nhà nguyện, thì nó xâm nền nhà cho kỹ cho sâu mà bảo nhau rằng: “Vào nhà này độ ba thước thì có hang”. Con nghe vậy biết là có người có đạo trong họ Bút Đông đã trần tố. Nó khám trong nhà nguyện kỹ và lâu giờ thế nào thì chẳng thấy gì, vì chúng con đã dọn các đồ đạo đi giấu cả, mà nền nhà nguyện không có hang nào. Khi soát cả nhà rồi, thì nó xuống bếp ăn thuốc, song không xâm tường vách. Chúng nó chỉ ngờ thùng rác có của giấu ở đấy, cho nên nó kéo rác ra. Con thấy nó làm thế thì sợ lắm, vì cửa vào vách kép thì ở dưới thùng rác. Con kêu van cầu xin Đức Bà cho hết sức, xin đừng để cho nó kéo hết rác, mà thấy cửa vách kép thì Đức Cha Đông và Cố Ven sẽ bị bắt.

Vậy con đánh bạo mà đến bếp, con hỏi chúng nó rằng: “Các anh tìm gì đấy?”. Nó bảo: “ở đấy có vô vàn của thì ta tìm”. Con bảo: “Phải, chỗ ấy thật nhiều của lắm, các anh kéo hết rác thì sẽ được”. Nó thấy con nói nhạo làm vậy thì thôi, không kéo nữa. Con lại hỏi: “Sao các anh không kéo hết cho được của?”. Nó bảo: “Nhiều quá, ta kéo thì nhọc lắm, thôi không kéo nữa”.

Vậy là Cố Ven và Đức Cha Đông không phải bắt, nhưng phải ở trong vách cả đêm, mà chỗ ấy chật chội, tối tăm lắm. Đức Cha, Cố Ven và thầy Đệ phải đứng một bề, không xoay mình được thì mệt lắm!

Nó đã trói hai tay chúng con giật lại sau lưng, song chúng con còn đi lại được trong nhà. Chúng nó khám soát xong thì kéo về nhà Lý Trưởng ăn chè uống rượu và đem chúng con ra đó, dọa nạt cho được kiếm tiền, song nó thấy không được thì cho về. Chúng con về nhà dòng mở cửa vách cho Đức Cha, Cố Ven và thầy Đệ ra và chúng con làm cơm cho các Đấng.

Khi Cố Ven ẩn ở làng Bút Đông trong nhà bổn đạo thì đã phải vây bắt hai ba lần. Chính Ngài kể lại rằng: “Có đứa nội công đi tố với quan huyện rằng: Có trưởng đạo Tây ẩn trong làng Kẻ Bút. Tức thì quan huyện sai Đề lại, Thông lại, Đội lệ, Lính lệ và phu hàng Tổng đi vây làng. Chúng nó đến bất ưng không ai biết”.

Vừa tảng sáng thì chúng nó vây kín bốn mặt làng, canh giữ các đường lối và dịch loa rằng: “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”, ở trong không được ra, ở ngoài không được vào. Rồi chúng nó đi khám các xóm các nhà có đạo, chúng nó khám soát rất kỹ cả ngày, chúng phá các tường vách nhà người ta mà chẳng bắt được mẫu ảnh, tràng hạt, sách đạo nào hay là đồ gì quốc cấm sốt. Nó đã phá đến gần vách kép tôi và Đức Cha đang ẩn, chỉ còn độ 4, 5 thước nữa mà thôi. Chúng tôi nghĩ, chắc nó sẽ bắt được. Nhưng mà nó đã phá nhiều tường vách mà uổng công chẳng bắt được ai sốt thì đến đây, nó chán nó nhọc rồi, nó không phá đến vách chúng tôi đang ẩn. Âu là Đức Chúa Trời chưa cho nó bắt, thì nó không bắt được.

Một lần khác, quan sai người nhà cùng lấy phu hàng Tổng đến khám làng Bút Đông, chúng nó phá phách cướp bóc của cải giáo dân như đã quen. Không bắt được đồ gì quốc cấm, nhưng một vài người giáo dân nói năng bất cẩn, thì nó bắt được cái hang đào dưới đất trong nhà người ta. Hang ấy bỏ không chẳng có gì, song chúng nó về trình quan, nó đã bắt được cái hang, và chắc chắn trong làng Bút Đông có Tây dương đạo trưởng ẩn trong ấy. Nó xin quan khám kỹ lần nữa, quan ưng cho.

Cách ba ngày, quan đem lính, đem phu hàng Tổng cầm mai, cuốc để cho được xâm cùng đào nền nhà người ta. May thay, có ông Cai Tổng Tán là người làng Phúc Châu, cũng đem phu và đầy tớ mình đi hộ quan huyện nữa. Ông Cai Tán này vốn có lòng bênh đạo, cùng chứa các Đấng ở làng mình. Khi ông ấy đến làng Bút Đông, thì nhà ông Hộ là nhà có hang, Cố Nhân và tôi đang ẩn. Ông Hộ đến thú với Cai Tán rằng: “Thật có Tây ở hang nhà tôi”. Cai Tán nghe vậy thì đến ngồi giữa nhà ông Hộ. Khi quân cùng đầy tớ quan huyện đến soát, thì ông ấy bảo: “Hãy đi soát nhà khác, nhà này ta đã soát kỹ rồi”. Cho nên chúng nó đi khám nhà khác và không bắt được ai cả. Đến tối ngày hôm ấy, khi quan đã về, ông Cai Tán thấy tôi cùng Cố Nhân cùng Đức Cha Đông ở làng Bút Đông rất cheo leo, thì mời về làng Phúc Châu là chính làng ông ấy, cùng là làng ngoại đạo cả, không có một người có đạo nào.

Cố Ven có lòng thương làng Bút Đông cách riêng, và khen làng ấy có nhân đức tin vững vàng, lòng đạo chắc chắn, có phép tắc, thuần phong mỹ tục, dân làng thượng hoà hạ mục đồng lòng với nhau, không có bè đảng, có công chứa các Đấng, và liều mình phải chịu nhiều sự khốn khó vì các Đấng trong thời buổi cấm đạo.

Vả lại, có nhiều họ đạo về tỉnh Hà Nội như: Bút Sơn, Bút Đông, Kẻ Vồi, Kẻ Trừ và nhiều họ khác đã chứa, đã giấu giếm, giúp đỡ các Đấng cho hết lòng hết sức. Vì chưng, khi các quan về Nam Định phá Vĩnh Trị và bắt đạo ngặt quá, các Đấng không thể ở đất Nam Định, thì chạy lên Hà Nội, cùng ẩn mình khi ở họ nọ lúc ở họ kia, mà bổn đạo hết lòng che chở các Đấng. Chẳng vậy âu là các Đấng đã phải chết hết trong kỳ cấm đạo ấy.

Bổn đạo Hà Nội tốt vậy, cũng có người nói: “Bổn đạo tỉnh Hà Nội chẳng có mấy người chịu Tử Vì Đạo!”. Sự ấy không phải tại bổn đạo Hà Nội, mà nhờ các quan Hà Nội có lòng thương dân, không bắt đạo ngặt quá. Giả như các quan Hà Nội có dữ tợn độc ác và bắt đạo ngặt như các quan Nam Định, ắt là tỉnh Hà Nội đã được nhiều Đấng Tử Vì Đạo. Vì lòng đạo giáo dân Hà Nội chẳng có kém lòng đạo dân Nam Định đâu. Cố Ven nói rằng: “Quan huyện Nam Xương bấy giờ ghét đạo lắm, lại ghét làng Bút Đông cách riêng, vì nghi cho làng ấy chứa các Đấng, cho nên khi thì chính ông ấy đến, khi thì sai đội lệ và lính đến khám soát làng ấy luôn mãi, mà bởi không bắt được cố cụ nào thì càng giận ghét, càng tức mình hơn nữa”.

Có một lần ông ấy đến đình làng, đòi đàn anh ra đình làng cho được bắt xuất giáo. Bấy giờ Đức Cha Đông, Cố Nhân và tôi đang ẩn trong làng, nghe vậy thì đe các đàn anh rằng: “Nếu anh em quá khoá, thì ta sẽ ra mắt”. Các đàn anh nghe chúng tôi nói vậy, thì bàn với nhau một lúc, rồi nam phụ l•o ấu, đàn ông đàn bà già trẻ lớn bé kéo nhau ra đình làng cương quyết với quan, không xuất giáo. Quan giận hết sức, đánh năm, ba người, song không bắt không giam ai, vì mấy ngày trước, quan ấy đã trót bẩm với quan tỉnh rằng: “Giatô tả đạo mọi người trong tỉnh tôi đã phụng mệnh Hoàng Đế mà xuất giáo cả. Cả một làng, đàn ông, đàn bà, già trẻ đều xuất đạo ra trước mặt quan, cùng bất khẳng quá khoá là gương họa hiếm tốt lành nhất trong đời người ta. ấy vậy làng Bút Đông và các nơi khác phải nhớ, phải noi gương ông cha mình đã làm xưa, để mà giục lòng mến cùng giữ đạo thánh Đức Chúa Trời cho lọn”.

Quan huyện thấy mình không thể bắt được người ta quá khoá, thì căm giận lắm, cho nên đồng tình với kẻ ngoại trong hàng xã mà lập mưu làm hại kẻ có đạo thế này: “Thỉnh thoảng, cách năm, sáu ngày, ông ấy sức tờ cho Lý Trưởng rằng: Ngày ấy ngày nọ quan sẽ đến làng Bút Đông, mà Lý Trưởng phải bắt kẻ có đạo đem ra Đình để cho quan bắt nó quá khoá”. Đến ngày quan đã hẹn, sáng sớm, đầu canh năm, kẻ ngoại đã vây các xóm có đạo, canh giữ các đường lối kẻo kẻ có đạo trốn. Đoạn xông vào nhà lấy đồ vật của cải, hiếp tróc đàn bà, bắt trói đàn ông đưa ra Đình và canh giữ ở đấy cho đến chiều hôm, chẳng thấy quan đến thì nó tha về, nhưng mà phải mất tiền quan và kẻ ngoại đạo làm thể ấy nhiều lần.

Những kẻ có đạo sợ phải quá khoá, cho nên khi nào được tin: “Ngày mai quan sẽ đến làng, thì tối hôm nay bỏ nhà mà trốn”. Kẻ thì đi làng khác, người thì ra ngồi ngoài đồng chịu sương, chịu mưa, chịu rét, chịu đói cả đêm cho đến trưa mai.
+GM. Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:32 pm    Tiêu đề: Đại Hội Thanh Niên Công Giáo Đông Dương Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đại Hội Thanh Niên Công Giáo Đông Dương

Lễ Chúa Kitô Vua, ngày 25 tháng 10 vừa qua là một ngày đáng ghi nhớ trong lịch sử Đông Dương. Một trang vinh quang của Giáo Hội Annam đã được viết vào ngày này. Với tinh thần đức tin mãnh liệt và tình thương tràn đầy hy vọng, đoàn người đã làm xáo động các quan chức chính quyền và những người ngoại giáo: 5.000 bạn trẻ xứ Annam cùng với hàng trăm bạn trẻ Pháp và một số bạn trẻ Trung Quốc lần đầu tiên tham gia Đại Hội Thanh Niên Công Giáo.

Thật tốt đẹp, khi 5.000 bạn trẻ này đến từ mọi miền: Nam, Bắc của xứ Annam cùng tụ họp dưới một cờ hiệu Đức Kitô và cùng hát một kinh Tin Kính.

Lần đầu tiên, những người nông dân, công nhân, thương gia, sinh viên, kỹ sư, bác sĩ, luật sư tụ tập nhau lại trong một đất nước mà các tầng lớp xã hội còn bị chia rẽ cực độ và khép kín bởi tâm địa. Sự việc thật sâu sắc và ý nghĩa.

Vào ngày học hỏi và cầu nguyện. Một cuộc tĩnh tâm thực sự do 7 Bề Trên của Hội Truyền Giáo và 6 Khâm Mạng Toà Thánh chủ trì. Bẩy cha Tuyên uý và những người thầy chuyên biệt nhất của Hội Hoạt Động Công Giáo (Action Catholique) hướng dẫn cuộc tĩnh tâm. Đại diện cho 300.000 Thanh Niên Công Giáo Đông Dương, 5.000 bạn trẻ này được củng cố và tăng trưởng lòng kính mến phép Thánh Thể trên cánh đồng tử đạo, nơi tổ tiên họ đã ngã xuống trong đức tin.

Các bạn trẻ rất vui mừng khi thấy luật sư Lai, luật sư của Toà Thượng Thẩm Hà Nội thuyết trình Cương Lĩnh Tôn Giáo và Xã Hội của Giới Trẻ Công Giáo trước 20.000 người. Họ thấu triệt những nhiệm vụ khẩn thiết của giây phút hiện tại, trong khi chờ đợi Đức Cha Tòng nói cho họ biết phong trào Thanh Niên Công Giáo là gì?

Vào cuối bài phát biểu, Đức Cha rút từ trong túi ra một bức điện ban phép lành của Đức Thánh Cha vừa mới gửi đến. Cảm xúc thật sâu lắng, đến nỗi một sự lặng thinh phi thường bao trùm lên những chiến sĩ trẻ của Hoạt Động Công Giáo. Và người ta có thể thấy những giọt lệ lăn trên gò má của những người nông dân thô kệch này; con đẻ của xứ Annam, nhưng trước hết là con đẻ của Giáo Hội và của Đức Giáo Hoàng.

Chúng ta hãy kể lại những sự kiện của ngày tuyệt đẹp này. Bởi vì kể từ Hội Nghị Thánh Thể Hà Nội và Sài Gòn. Hội Đồng Giám Mục năm 1934 có nói, chưa bao giờ Giáo Hội Annam có được những giây phút trang trọng và huy hoàng đến thế!

Nam Định là một thành phố thương mại rộng lớn, nằm ngay ngã tư của đường giao thông Đông Dương: Sông Hồng và đường cái quan. Thứ Bẩy ngày 24 tháng 10, ở Nam Định náo nhiệt khác thường.

Trên chặng đường rước Thánh Thể trong thành phố đều được chuẩn bị. Không dưới ba kilômét được trang trí hoa, cờ và cổng khải hoàn. Từ những chiếc tàu sà lan, tàu hoả, xe buýt, hàng làn sóng người đổ xuống. Thật đáng kinh ngạc, khi thấy họ đều là những bạn trẻ. Các nhóm đều có cha tuyên uý, nhà truyền giáo hoặc cha bản xứ đi cùng.

Trên những con đường chung quanh, con số người đi bộ tăng lên rất nhiều. Đó là những người công giáo nghèo, họ rất đông, họ phải đi bộ hai, ba ngày đường.

Người ta thấy rằng, các bạn trẻ Phát Diệm đã phải làm phu nhiều ngày để có được những đồng xu cần thiết cho chuyến đi. Một số người khác mang theo những nắm cơm nguội trong túi. Họ cam chịu như vậy phải chăng chỉ để tham dự vào những nghi thức trang trọng. Cha Vacquier là người tổ chức đảm nhận chỗ trọ cho 2500 bạn trẻ; vượt dự tính 500 nhưng mọi người đều nhẫn nại, họ nhớ rằng chính Đức Kitô cũng không có nơi tựa đầu.

Khi tiếng chuông đồng hồ của nhà thờ giáo xứ điểm 8 giờ. Bác sĩ Tâm lên bục giảng của trường học Thiên Thần Bản Mệnh (Anges Gardiens). Giọng nói của anh vang lên trên quảng trường nhà thờ và các khu phố lân cận. Anh kể lại lịch sử các Thánh Tử Đạo, các nhà truyền giáo, các linh mục bản xứ và những người tín hữu đơn sơ. Trong cuộc nói chuyện, anh lấy các ngài làm gương cho các bạn trẻ, mà các ngài có thể là cha ông, họ hàng của họ, mà kỷ niệm của các ngài được tôn kính lưu lại trong các gia đình. Ngay lập tức, cuộc nói chuyện đã đưa đông đảo các bạn trẻ vào khung cảnh của hội nghị.

Giờ đây, họ trở về chỗ trọ nghỉ ngơi sau chuyến đi mệt mỏi và lấy lại sức chuẩn bị cho ngày trọng đại sắp tới. Người ta đã bắt đầu dự đoán tới tầm quan trọng của nó đến nỗi kinh ngạc.

Bốn giờ sáng ngày Chủ Nhật, Thánh lễ nối tiếp nhau tại Nhà Thờ Đức Bà. Đám đông lên tận cung thánh với hy vọng được rước lễ dễ dàng hơn. Bởi vì một số người ngồi cuối nhà thờ không được rước lễ.

Từ mọi phố, các phái đoàn dồn về quảng trường nhà thờ, và trong chốc lát, quảng trường không thể chứa hết đám đông. Họ nhấp nhô đầu dưới cờ hiệu và những tấm biển tập hợp. Tất cả các bạn trẻ đều mang huy hiệu Đức Kitô màu sắc khác nhau theo từng Địa phận.

Vào 6 giờ sáng, cuộc rước bắt đầu để chuẩn bị Thánh lễ do Đức Giám Mục chủ tế tại Bẩy Mẫu (Cánh đồng Tử Đạo). Tại nơi này, cách đây 60 năm, hơn 10.000 chứng nhân của Đức Kitô Vua đã đổ máu mình ra. Máu này là hạt giống rực rỡ, người ta chiêm ngắm sự triển nở của nó bằng cách nhìn ngắm đám đông trước bàn thờ tưởng niệm được dựng tạm thời để dâng lễ. Đám đông chật ních sân trước; các tu sĩ ở hai gian bên, hai gian này được dựng nên tạm thời bằng dạ.

Sau khi mặc phẩm phục, Đức Cha Chaize, Giám Mục Địa Phận Hà Nội đọc một bài thuyết trình bằng tiếng bản địa. Ngài gợi lại kỷ niệm của Các Thánh Tử Đạo đã ngã xuống trên mảnh đất này. Ngài tôn vinh Đức Kitô Vua, Ngài còn nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội Nghị lần đầu Giới Trẻ Công Giáo xứ Annam.

Thánh lễ bắt đầu. Tham dự Thánh lễ có các Đức Cha: De Gooman, Carado, Tòng, Vandaele, Cẩn… Cảm động nhất là lúc rước lễ. Hai bên bàn thờ đều có hai khoảng rộng để rước lễ. Có bao nhiêu người rước lễ? Bao nhiêu người tham dự đại hội, bấy nhiêu người lên rước lễ. Bởi vì các cha tuyên uý đều đã giải tội cho các bạn trẻ trước khi lên đường. Giữa cánh đồng lúa xanh tươi đang mùa chín rộ, Thánh lễ này thật sự cảm động. Người ta có thể lặng ngắm hàng giờ, thời gian cần thiết để các bạn trẻ này no thoả Bánh Sự Sống, Bánh Sức Mạnh.

Cuối Thánh lễ, những người vị vọng đứng trên bậc bàn thờ. Một cụ già đáng kính 86 tuổi mà cha của cụ đã được phúc tử đạo nơi đây, cụ đốc học Quang được hai vị vọng địa phận Hà Nội dìu hai bên. Cụ cầm một nhành lá cọ trước bàn thờ, trong khi ngài Ngô Tử Hạ đọc một bài phát biểu ngắn gọn và hùng hồn.

Sự khởi đầu đã diễn ra tốt đẹp. Sau khi ăn điểm tâm, những người tham dự hội nghị đi về phía gò đất cao được gọi là Garde Indigène. Tại đó, họ tập trung thành hàng trên quảng trường nhà thờ. Theo chương trình, Đức Cha Tòng sẽ nói chuyện với họ vào lúc 9 giờ.

Trước đó, anh thanh niên Lai du học ở Pháp trở về, đỗ tiến sĩ luật xuất sắc, lên bục nói chuyện. Trong cuộc nói chuyện, anh nêu bật ba nguyên tắc của Hoạt Động Công Giáo: Kỷ luật và vâng phục tôn ti công giáo; sức mạnh của mọi nhóm là hiệp nhất; tình huynh đệ giữa các bạn trẻ. Anh đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc thứ ba: “Vào thời điểm mà mọi nơi tình yêu không còn nói nữa, mà chỉ còn lòng căm thù cất tiếng”.

Mọi người đã say mê nghe bài giảng của Đức Cha Tòng, mặc dù trời nắng và nóng bức. Sau khi Đức Cha đọc bức điện ban phép lành Toà Thánh của Đức Thánh Cha ban cho những người tham dự đại hội. Các nhóm trở về các phòng đ• bố trí trước để học hỏi.

Nhóm trí thức do ngài Pilard, Bề Trên St. Sulpice chủ toạ. Các cuộc thảo luận đều bằng tiếng Pháp. Kết luận của họ là cần phải làm cái gì đó và làm ngay. Sáng kiến này được nhóm sinh viên Hà Nội đưa ra. Phái đoàn Hải Phòng và Nam Định đồng ý với ý kiến này, nhưng họ mong muốn trước hết, tạo nên một văn phòng chung chỉ đạo những công việc của Hội Hoạt Động Công Giáo. Vả lại, sự thiết lập một văn phòng trung tâm đều được các bạn đề nghị.

Giới trẻ của thành phố (tầng lớp bình dân) được cha Ville - bonnet, cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội hướng dẫn. Những bạn trẻ này đề nghị mở rộng các đại hội Thánh Vinhsơn đệ Phaolô Vicentê (Vincent de Paul), và những trường học từ thiện.

Cha Vacquier, cha tuyên uý của Nam Định và là người tổ chức đại hội này, hướng dẫn những người lao động chân tay, những người dễ bị lãng quên nhất. Họ mong muốn thành lập ngay lập tức phong trào Thanh Niên Lao Động Công Giáo. Vì sự yên lặng của Chính phủ tạo điều kiện thuận tiện cho sự lan truyền học thuyết Cộng sản. Và đây là một hiểm họa lớn cho trật tự xã hội trong tất cả những trung tâm công nghiệp quan trọng.

Các bạn nông dân trẻ đông hơn cả. Họ tập trung ngay trong nhà thờ và thảo luận dưới sự hướng dẫn của cha Trinh với một sự hăng say và hết sức đơn sơ. Họ đề cập tới sự phát triển của báo Thanh Niên Công Giáo và mong muốn giáo quyền giải thích cho cha mẹ họ biết tầm quan trọng của phong trào Thanh Niên Công Giáo mà cha mẹ họ chưa biết đến.

Những hướng đạo sinh – sáu cha tuyên uý tham gia cuộc họp và những lãnh đạo xứ Bắc Kỳ nghiên cứu một cách kỹ lưỡng vấn đề thời sự và hết sức tinh tế, đó là sự liên kết. Cuộc thảo luận đã giải quyết được nhiều sự hiểu lầm. Đối với vấn đề này, ý kiến của mọi người là thực hiện một cách thận trọng nhất.

Tiếng chuông báo hiệu giờ ăn trưa. Các bạn trẻ rời phòng học và rất đỗi ngạc nhiên khi thấy nhà chơi của trường học trở thành phòng ăn rộng lớn 500 chỗ. Nơi đây có đại diện Khâm Mạng Toà Thánh, các cha tuyên uý, hơn 100 linh mục đến từ mọi miền của Đông Dương và đại diện các bạn trẻ.

Đám rước bắt đầu kể từ 3 giờ. Chưa bao giờ đông đến như vậy. Ngay cả khi vua Bảo Đại đi qua cách đó 3 năm cũng không đông đến như thế. Đám rước kéo dài gần kín cả chặng đường đi rước. Bốn nhà tạm lớn đã được chuẩn bị, và tại các nơi này bốn Đức Cha thay nhau kiệu Thánh Thể: các Đức Cha Casado, Đức Cha Tòng, Đức Cha Cẩn và Đức Cha Chaize.

Vào sẩm tối, sau khi đã uy nghi rước qua cả thành phố hoan hỉ, đám rước tập trung lại một cách nhẹ nhàng và nghiêm trang xếp thành hàng trước nhà tạm lớn cuối cùng. Tất cả các bạn trẻ đều ở đó. Nhà thờ được chiếu sáng và trên tháp có treo cờ hiệu Toà Thánh màu vàng và trắng. Một nhà tạm bằng kính, đơn giản nhưng tuyệt vời được dựng lên trước cửa chính nhà thờ.

Đức Cha Tòng kiệu Thánh Thể. Đi trước ngài là hơn 200 linh mục và tu sĩ. Như dấu hiệu được báo trước cho đội quân của Đức Kitô Vua. Khi Đức Cha kiệu Thánh Thể tới, tất cả im lặng và quì gối để Đức Chúa, Đức Vua của mình đi qua.

Các Ca đoàn Hà Nội, Phát Diệm và Đại Chủng Viện Nam Định đã ca lên những bài hát (tất cả là 300 ca viên). Thật tuyệt diệu khi tất cả ngẩng đầu lên đón nhận phúc lành của Đức Kitô Vua. Tràn đầy phấn khởi, cùng một giọng rắn chắc và chiến thắng, họ đồng thanh tuyên xưng, như các Thánh Tử Đạo, người anh cả của họ đã không chấp nhận từ chối Đức Kitô, mà lại tuyên xưng Ngài: “Credo”, “Je crois” (tuyên xưng đức tin).

Thánh Thể đã được đặt vào nhà tạm trong nhà thờ. Vô cùng cảm động, Đức Cha Chaize trở lại và ban phép lành Toà Thánh.

Đây là một sự kiện đức tin lớn lao của cả vùng Đông Dương - Một hành động lớn của đức tin kết thúc, nhưng Đông Dương mãi không dễ bị quên lãng…
+GM. Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:33 pm    Tiêu đề: Ngày Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Ngày Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945

Chính hôm Đức Cha Thịnh (Chaize) đang kinh lược xứ Mang Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Tối hôm ấy ở Mang Sơn, chỉ nghe thấy tiếng súng nổ ầm ầm vùng Hà Nội, chưa biết là chuyện gì.

Mãi trưa hôm sau, vào 12 giờ trưa, Đức Cha và cha bộ Viết, cha xứ là cha Viên đang ăn cơm cùng cha Huyền và cha Bảo, thì thấy ông Quế (Jacques) là tây lai, coi trại bơm ở Đọi Đệp phóng ngựa lên, ông bảo tôi cần gặp Đức Cha vì có việc rất cần. Nên dù Đức Cha và các cha đang ăn cơm cũng phải trình Đức Cha để ông gặp. Ông nói: tối hôm qua, ở Hà Nội, người Nhật đ• đảo chính bắt hết các người Pháp, cả quân lẫn dân, và ra lệnh cho hết các người Pháp phải ra trình diện trong vòng ba ngày. Ai không ra trình diện, gặp đâu bắn đấy. Đức Cha phải về Hà Nội để trình diện. Đức Cha Thịnh nghe thấy vậy, ngài không ăn cơm nữa, bàn xem phải làm thế nào?

Các cha bàn: Đức Cha ở Mang Sơn không được, vì tiện đường ô-tô muốn đến lúc nào cũng được. Đức Cha phải vào xứ Kẻ Bèo cũng thuộc huyện Duy Tiên, nhưng là đồng chiêm, hẻo lánh, đường xá không đi ô-tô được, rồi sau sẽ liệu. Đức Cha đành phải nghe.

Quãng một giờ chiều, mời Đức Cha xuống một chiếc thuyền nhỏ, không có mui, giáo dân lội đun thuyền vào Đồng Bào (Kẻ Bèo), cách xa độ 4; 5 cây số. Thuyền đi bình yên, không ai hỏi gì. Cả cha bộ Viết, ông Bất cũng vào Đồng Bào với Đức Cha.

Ngày hôm sau, cha chính Hoá quản lý Nhà Chung, cho người cầm giấy mời Đức Cha phải về Hà Nội ngay để trình diện.

Đức Cha rất lo, cha bộ Viết và ông Bất bàn với nhau: tiếng Nhật chẳng ai biết, viết tiếng Pháp sợ người Nhật không biết. Sau đành phải viết bằng chữ Hán: “Giám Mục Hà Nội hồi Hà Nội”. Viết vào một tấm bảng để trước chiếc xe tay của Đức Cha đang ngồi. Sáng hôm sau, Đức Cha ngồi một xe có tấm bảng đi trước, cha bộ Viết và ông Bất mỗi người một xe đi hộ vệ. Từ Đồng Văn, ba xe vẫn đi không gặp người Nhật nào, chẳng ai hỏi.

Khi lên đến cầu Giẽ có lính Nhật gác cầu. Các anh thấy một người Pháp đầu đội mũ tím, mặc áo tím, trước xe có tấm bảng, chắc các anh không biết chữ, các anh đứng yên một lúc, rồi mời Đức Cha vào trong trạm gác. Họ nói gì với nhau, rồi một anh rút kiếm cắm xuống đất gọi điện thoại. Mấy phút sau, thấy một hiến binh Nhật đi xe máy đến. Anh nhìn ngắm Đức Cha một lúc, rồi anh cũng cắm kiếm của anh xuống đất rồi gọi điện thoại. Độ 10 phút thấy một xe ô-tô của quân đội đến. Anh hiến binh mời Đức Cha cùng đi về Hà Nội. Từ bấy giờ về sau, con không biết thêm gì nữa. (Trích bài tường thuật của Cha Văn Đình Khánh)

Còn tiếp
+GM. Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:34 pm    Tiêu đề: Năm 1954 - Hàng Giáo sĩ đi Nam có lợi hay có hại? Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Năm 1954 - Hàng Giáo sĩ đi Nam có lợi hay có hại?

Điều gì đã thúc đẩy các Giám Mục, linh mục miền Bắc, cả các tu sĩ nam nữ đi Nam?

- Nói chung, đó là sợ hãi Cộng sản đến! Cộng sản đối với tôn giáo đồng nghĩa tiêu diệt tôn giáo.

Giáo dân còn ùn ùn kéo đi. Phương chi hàng giáo sĩ, tu sĩ vừa hiểu rõ hơn, vì thấy mình bị nhắm trước hết. Và việc xảy ra ở Tây Ban Nha vào năm 1936, khi Cộng sản lên nắm quyền đã tàn sát không biết bao nhiêu linh mục, tu sĩ nam nữ. Ông Francô mà sau này người ta coi là phát xít, là độc tài, ông đã đứng lên chống Cộng. Tây Ban Nha đã trở nên nồi da nấu thịt: nội chiến giữa hai phe Quốc Cộng và Quốc Gia. Quốc Gia nhờ sức mạnh nước Đức mà Hitler lúc này đã lên nắm quyền; ở ý Mussolini mạnh sức với đảng phát xít, nên đã thắng phe Cộng sản. Phe này có Liên Xô giúp và được Quốc tế Cộng sản hỗ trợ. Nhờ tuyên truyền khéo, một mặt họ lật ngược ván cờ về mặt chính nghĩa. Francô và phe ông bị coi là độc tài phát xít, với tất cả những cái xấu xa tàn bạo mà Cộng sản chụp lên họ. Phe Cộng sản được cái danh hiệu mĩ miều là dân chủ. Dân chủ của họ còn tàn bạo hơn là phát xít. Vì thế, những cảnh tàn sát, nhất là đối với Công giáo, làm khắp nơi sợ hãi.

Đó là cái lý do chính mà các giáo phẩm thuộc dòng Đôminicô và Đôminicô Tây Ban Nha đứng lên chống Cộng. Những cuộc hành quân đánh Việt Minh được coi như thánh chiến. Và rồi khi hiệp định Geneve được ký kết, tất cả các giáo phẩm thuộc Đôminicô cũng như Hội Truyền Giáo Paris trước đây, nay đã thuộc hàng giáo sĩ Việt Nam, đều có nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ “bỏ chạy”.

Cái lý do thúc đẩy người Công giáo và các linh mục đứng lên lập bốt, rào làng là để chống lại Cộng sản. Nay những căn cứ, đồn bốt bị sụp đổ hết, vì bị Việt Minh đã phá hoặc nay không còn lý do tồn tại vì hiệp định Geneve. Trong hiệp định Geneve đặt ra vĩ tuyến 17 phân đôi Việt Nam thành hai miền Nam - Bắc. Bắc: Cộng sản, Nam: Quốc gia và ai nấy được tự do lựa chọn mỗi miền - và người dân ở mỗi miền được đảm bảo là không bị phân biệt đã tham gia phe nọ phe kia, để khỏi bị trả thù. Song những người ý thức thời cuộc, chẳng mấy ai tin vào điều khoản bảo đảm đó, nhất là đối với Cộng sản đầy thủ đoạn mưu lược, ai mà tin được. Nên phương thế hay nhất đối với những người này là cao chạy xa bay. Một số đi Nam, đi Nam để gây thế lực, để có cơ hội “ Bắc Tiến”, cũng như miền Bắc khéo léo quỉ quyệt hơn, tìm cách “thống nhất” hai miền, và theo hiệp định Geneve, sẽ có cuộc Tổng tuyển cử hai năm sau đó để thống nhất hai miền, người đi Nam lại trở về Bắc. Các linh mục đi Nam ít nhiều bị thúc đẩy bởi những lý do đã nói.

Giáo phận Hải Phòng đứng đầu trong việc di cư. Đức Cha Trương Cao Đại đi đầu tiên, kéo các linh mục, nam nữ tu sĩ. Chỉ còn một vài linh mục già và một linh mục trung tuổi, thuộc dòng Đôminicô, linh mục Phước. Vị này sẽ là một trong các nòng cốt của Hội Liên Lạc Công Giáo.

Địa phận Bùi Chu, Đức Cha Phạm Ngọc Chi cũng rút, trao lại địa phận cho cha thư ký của ngài là linh mục Giuse Phạm Năng Tĩnh làm cha chính, sau này sẽ lên làm Giám Mục, có cha Phạm Thu, trẻ tuổi làm thư ký. Một số cha can đảm ở lại: cha già Huy làm cha chính và nhất là cha Lương Huy Hân, sau này nổi tiếng chống Cộng và bị họ bắt rồi chết rũ tù. Còn lại mấy cha già, trong đó cha Đường, cha Bảo sẽ tham gia hội đoàn nhà nước, nhất là cha già Học gần 90 tuổi, vẫn hãnh diện là bạn của Bác Hồ. Nguyện theo Bác đến cùng, để chết sẽ được nhà nước chôn cất. Cha được đặt ở Khoái Đồng - Nam Định, đứng đầu nhóm “Công giáo yêu nước” ở đó, chết và được mai táng ở cạnh nhà thờ Khoái Đồng.

Địa phận Phát Diệm - khu tự trị, dĩ nhiên là phải lên đường trước tiên. Đức Cha Lê Hữu Từ, cha Hoàng Quỳnh tổng bộ tự vệ, rồi các cha lần lượt đi hết. Còn một cha trẻ, cha Hậu, em cha Tùng, quê họ Cổ Liêu xứ Hoàng Nguyên, Hà Nội. Cha này cứng cát, luôn “chống đối” chính quyền. Cha bị bắt và chết rũ tù từ năm 1955. Địa phận được trao cho cha Liêm, làm cha chính, có cha Bùi Chu Tạo làm chính xứ Phát Diệm. Cha Bùi Chu Tạo sẽ làm Giám Mục và sống đến năm 2001. Tuy nhiên, Phát Diệm có một số cha đứng tuổi có năng lực ở lại. Hai cha, Trinh và Khuyến sẽ làm Giám Mục phó, và đã qua đời trước Đức Cha chính (người ta bảo Đức Cha chính “sát phó”. Cha Trinh làm Giám đốc Chủng Viện lúc đó, cha này tham gia mặt trận mạnh mẽ lắm, tuy vẫn ở bên Đức Cha Tạo. Cha Quản Hạt đứng đầu nhóm “yêu nước”. Cha Chu Trinh bị bắt vì chống Cộng, sau này lại đứng đầu nhóm “yêu nước” của địa phận. Đặc biệt nhất là cha Nguyễn Thế Vịnh, một trong những “cột trụ” của Liên Lạc Công Giáo. Trước đây, cha có làm thư ký Toà Giám Mục. Ngài là người hung hăng nhất trong các linh mục tham gia Liên Lạc Công Giáo, đến nỗi Cha Nguyễn Tất Tiên, đồng nghiệp, thuộc địa phận Hà Nội, phải tuyên bố: “Ông này phải sa địa ngục” vì những luận điệu hung hăng chống Hội Thánh. Cha này và các cha loại đó, tự phân ly khỏi Giám Mục Địa phận, tuy có giữ một xứ, song không còn sinh hoạt thông công cấm phòng chung địa phận. Cha Nguyễn Thế Vịnh sau chiếm cứ Ninh Bình, đến khi nhà thờ Ninh Bình bị bom tàn phá, cha lên Hà Nội, chết trên đó, nhưng được về mai táng ở Phát Diệm, và Đức Cha Tạo, một vị rất kỷ luật, không hiểu sao lại làm lễ an táng cho cha như các cha khác trong địa phận, mặc dù cha này không trở về địa phận khi còn sống. Chắc là Đức Cha bị ép. Rồi đến các ngày giỗ sau đó, Đức Cha cũng phải để cho tổ chức một vài nghi lễ tôn giáo nào đó.

Địa phận Bắc Ninh, các cha đi gần hết, còn mình Đức Cha Hoàng Văn Đoàn. Khi Liên Lạc Công Giáo được thành lập năm 1956, Đức Cha không tỏ ra dứt khoát, nên bị dư luận cho rằng Đức Cha ủng hộ phong trào đó, Đức Cha đã phải thanh minh, cả bằng truyền đơn. Rồi cuối cùng, ngài xuất ngoại bằng cách đi chữa bệnh ở Hồng Kông. Có thể có sự chấp thuận của Đức Khâm Sứ Dooley. Rồi qua Hồng Kông, ngài vào miền Nam Việt Nam. Thêm một địa phận trống toà, các xứ trống cha xứ.

Địa phận Lạng Sơn, Đức Cha Hedde và các cha Đôminicô Pháp (Lyon), không hoảng hốt như các cha Đôminicô Tây Ban Nha. Các ngài và các linh mục Việt Nam còn ở lại. Sau đó, các cha Pháp cũng như Đức Cha bị trục xuất. Rồi một số linh mục Việt Nam vào Nam, trong đó có cha Ngữ, sau này làm Giám Mục Long Xuyên. Còn lại cha Phạm Văn Dụ và vài cha khác. Cha Dụ được Toà Thánh gọi làm Giám Mục, song không thể nào tấn phong cho ngài.

Địa phận Hà Nội. Thái độ khác các nơi khác. Đặt vấn đề di cư miền Nam rất hạn chế. Đức Khâm Sứ Dooley ở Hà Nội. Các cha thừa sai Pháp ở lại. Các cha Đôminicô Pháp cũng ở lại. Dòng Chúa Cứu Thế vẫn hoạt động. Các sơ Thánh Phaolô có kế hoạch di tản, Dòng Mến Thánh Giá thì tán loạn.

Riêng Tiểu Chủng Viện Piô XII, Đức Cha Khuê cho toàn bộ di cư, Cha Bề Trên Nguyễn Huy Mai, các Giáo sư và toàn thể Chủng sinh. Phần các cha trong Địa phận, chỉ những cha nào có lý do không thể ở lại được, ví dụ đã làm xếp bốt, thì được phép đi. Còn cha nào không được phép mà cứ đi, sẽ không được làm lễ. Và một số khá đông đã liều mình đi. Vì có kỷ luật như thế, nên cha nào không tuân, tạm gọi là “bất hợp pháp”. Trong toàn bộ các linh mục Địa phận lúc đó là hơn 160, thì độ 100 đã đi. Còn lại độ 60, phần đông là có tuổi. Các cha trẻ còn lại là những cha ở Hà Nội, Phủ Lý, Nam Định: nơi đây các cha này không bị dính líu vào việc đóng “đồn bốt”, nên cảm thấy mình không có lý do gì mà đi.

Địa phận Thanh Hoá, nơi vào năm 1953-1954 đã có cuộc cải cách long trời lở đất. Khiến nói đến Khu Tư là ai cũng rùng mình. Đức Giám Mục De Cooman thì đã qua đời, cha Phạm Tần làm nhiếp chính. Các linh mục đi nhiều, cũng may còn lại một số bảy, tám linh mục trẻ.

Địa phận Vinh, các linh mục rút lui theo đường bộ qua sông Bến Hải. Không có bao nhiêu! Song hàng linh mục ở Vinh còn đông đủ và vững chắc hơn cả trong các Địa phận miền Bắc.

Địa phận Thái Bình còn đang do hàng giáo sĩ Đôminicô Tây Ban Nha quản trị, nên Đức Cha và các cha Tây Ban Nha đi hết. Các xứ hầu hết thành lập đội dân quân, các cha Việt Nam lãnh đạo “thánh chiến” chống Cộng, nên đều phải bốc đi hết, còn lại cha Đôminicô Đinh Đức Trụ, cha Hiếu và vài cha già. Cha Đinh Đức Trụ làm nhiếp chính, sau làm Giám Mục Thái Bình.

Như vậy chỉ trong mấy tháng mà các Toà Giám Mục địa phận miền Bắc, các xứ vắng bóng cha xứ, các cơ sở tôn giáo không có người lãnh đạo.

Lợi hay hại? Hiển nhiên là bất lợi! Là tai họa! Không một cơn bách hại nào trong lịch sử Giáo Hội mà trong một thời gian, một miền rộng lớn như miền Bắc Việt Nam lại bị quét sạch, bị trống trơn như thế. Mà đây không phải là cấm cách mà là trốn chạy, là “tự sát”. “Quo vadis - Thầy đi đâu thế?”. Phêrô hỏi Chúa Giêsu một cách ngỡ ngàng khi thấy Chúa vác thập giá vào Rôma, chạm trán với Phêrô lúc ông này toan trốn khỏi Rôma để tránh cơn bách hại, và theo lời khuyên nhủ của giáo dân, để bảo vệ cho người đầu của Giáo Hội, kẻo người chăn bị đánh gục, đoàn chiên tan tác.

Nhưng đây có phải là trốn cuộc bách hại không? để có lý do mà chạy trốn, như là Chúa Giêsu đánh ở thành này thì chạy sang thành khác. Có thể có vị chạy trốn vì lý do đó, nhất là những vị đã bằng cách nào đó chứng kiến các tàn bạo ở Tây Ban Nha, nhất là ở nước Liên Xô. Bởi đó không ai lên án các Đức Giám Mục, các linh mục đã bỏ nhiệm sở. Cũng có vị cho là rời nhiệm sở, vì cả đoàn chiên, cả địa phận cũng đi, nên các vị đi theo. Thực tế, không phải là ngụy biện, như Địa phận Hải Phòng, thì hầu như cả bầu đoàn kéo nhau đi hết, có còn lại chỉ là những người quen thờ ơ, đi cũng thế mà ở cũng chẳng sao. Đàng khác, có lẽ không có một lời khuyên rõ rệt là nên ở lại. Chỉ có hành động thay lời nói. Đức Khâm Sứ vẫn ở cho tới cùng và số đông các Đức Giám Mục cũng ở lại.

Rồi những vị vào Nam, một số vị được cắt đặt trọng dụng ngay như Đức Cha Chi làm Giám Mục Đà Nẵng, Đức Cha Đoàn, Giám Mục Quy Nhơn. Trừ có Đức Cha Từ rút lui về với giáo dân Phát Diệm di cư và qua đời tại đó. Mộ ngài ở nhà hưu Phát Diệm, Gò Vấp. Như vậy là các vị đi Nam không bị Toà Thánh lên án. Thế thì sao Đức Cha Khuê, đối với những cha nào vào Nam mà không có phép của ngài, ngài rút quyền làm lễ? Đây là một biện pháp kỷ luật để duy trì tinh thần linh mục và tránh những tai hại khác.

Tinh thần chung của Giáo Hội: Chúa chiên phải ở với con chiên, gắn bó với con chiên, và nếu cần chết với con chiên. Đó là lối sống của người mục tử. Và Đức Cha muốn các cha Địa phận phải có tinh thần đó. Giáo dân Địa phận Hà Nội, ngoài các thành phố, ít người di cư hơn các địa phận khác, thường mỗi xứ chỉ lẻ tẻ ít người ra đi. Giáo dân còn lại cả, sao chủ chăn lại chạy đi? Như vậy là thiếu tinh thần. Dĩ nhiên có những trường hợp chủ chăn ở lại sẽ gặp những khó khăn khó lòng kham nổi. Bề Trên xét tuỳ trường hợp và cho phép đi. Chỉ những linh mục nào đi bừa bãi, muốn trốn tránh nghĩa vụ, có thể đi vì mục đích thế gian, thoả chí tang bồng, mở mang kinh tế: những linh mục như thế mới bị kỷ luật. Song việc ở lại cũng không phải là tuyệt đối ích lợi trong mọi trường hợp. Trái lại việc họ ở lại là một tai hại cho họ và cho Hội Thánh. Đó là vấn đề bí nhiệm cũng như Ông Giuđa là một bí nhiệm trong Nhóm Mười Hai.

Hiệp định Geneve loại trừ việc phân biệt trả thù vì đã tham chiến ở bên này hay bên kia. Người ta chỉ tôn trọng trong những ngày đầu. Sau này trong cuộc đối đầu với Mỹ, những người bị coi là ngụy quân ngụy quyền, nếu đã không quy phục làm tay sai cho Cộng sản đều bị bắt. Còn các linh mục, thì từ đầu người ta mời tham gia vào các cơ quan: Mặt Trận Tổ Quốc, nhất là Ban Liên Lạc mệnh danh là những người Công giáo yêu tổ quốc yêu hoà bình. Họ là một tổ chức nhằm tách rời Công giáo với Đức Giáo Hoàng, và ý đồ sâu hơn là phá đạo, làm cho đạo chỉ còn là hình thức. Các linh mục nào đã tham gia việc chống đối, chỉ còn cách gia nhập tổ chức này để chứng minh là người Công giáo đoàn kết, đi với nhà nước chống lại Mỹ. Những linh mục này không được đứng đầu tổ chức đó, nhưng chỉ phải gia nhập một cách thụ động, làm cho con số những thành viên tăng thêm, và do đó tổ chức tăng thêm thanh thế. Giả như những linh mục này đi Nam thì đỡ gây tai hại cho Giáo Hội hơn.

Cha Giám, thuộc Địa phận Phát Diệm, đã vào Nam. Cha lại xin Đức Cha Từ để trở về. Đức Cha hỏi vì lý do nào mà cha xin trở về. Cha thưa: “Con thấy mình tội lỗi, con muốn về miền Bắc để đền tội”. Đức Cha Từ nói với chính quyền miền Nam để cha Giám trở về. Cha Giám thuật lại việc đó trong một cuộc hội họp của các linh mục Liên Khu Ba do Mặt Trận tổ chức hồi tháng 6 -1956. Cha còn khoe: “Cán bộ biếu cha một cái cặp da”. Tính dễ hội nhập, không bao lâu sau, cha trở nên thành viên chính thức của Tổ Chức Liên Lạc, một nhân vật có vai vế. Ngài được cung cấp một xe máy (rất quí hiếm trong thời buổi đó). Một hôm cha phấn khởi cưỡi xe máy, phóng thế nào đâm vào gốc cây, và cha đã qua đời khi đưa vào bệnh viện (1965).

Có thể kết luận:

1. Ở lại miền Bắc theo tinh thần gắn bó với đoàn chiên là tinh thần của Chúa Giêsu mục tử.

2. Người nào vì khó khăn không thể ở lại được hoặc theo lương tâm, xét mình khó đững vững trong môi trường nghịch với đạo, người đó có thể rút đi. Nên trình bầy với Bề Trên trước khi quyết định.

3. Ra đi một cách vô trật tự, theo lợi riêng cho mình: như thế làm thiệt hại giáo xứ được trao phó cho mình, thiệt hại các linh hồn và phải chịu trách nhiệm về các việc đó.

Bởi thấy một số cha ở lại, không giúp cho đạo, trái lại gia nhập hàng ngũ những việc ảnh hưởng xấu đến Hội Thánh. Tình trạng các linh mục thuộc Địa phận Hà Nội đã đi Nam, được xem xét lại. Và rồi tất cả đã được hợp thức hoá, gia nhập các địa phận miền Nam. Các linh mục này tận tụy với các giáo phận mình gia nhập, được các nơi đó quí mến. Hà Nội được các Bề Trên giáo phận miền Nam tin tưởng và khen ngợi. Đó cũng là một cách tạ lỗi với Chúa, với Hội Thánh bởi đã ra đi.

(Trích hồi ký III của ĐC Phaolô Lê Đắc Trọng, từ trang 162)
+ GM Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:35 pm    Tiêu đề: Nước ta trên con đường vào thiên đàng Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Nước ta trên con đường vào thiên đàng

Tại sao người ta nghi ngờ và không muốn hợp tác với Việt Minh?

Là vì người ta biết hoặc nghi ngờ Việt Minh là Cộng sản. Danh từ Cộng sản tự nhiên gây một cái gì đáng sợ hãi trong đầu óc người Việt Nam. Những người thông thạo tin tức, hoặc nghe nói về những lối tàn bạo người cộng sản đã dùng ở Liên Xô, ở Tây Ban Nha trong những năm 30 của thế kỷ trước, nên đương nhiên là họ sợ hãi. Từ đầu người Việt Nam đã biết Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa “tam vô”. Vô gia đình, vô tổ quốc, vô tín ngưỡng. Nếu theo Chủ nghĩa Cộng sản triệt để, thì phải đi tới đó. Cộng sản chủ trương duy vật, thì làm gì còn tôn giáo, còn thần thánh và Cộng sản cho là thuộc Chủ nghĩa duy tâm. Ông Mác đã đưa ra lời tuyên ngôn: “Vô sản trên thế giới, hãy đoàn kết lại”. Cộng sản chủ trương quốc tế, như vậy là xoá đi các biên giới quốc gia hoặc gia đình. “Vô sản thế giới”. Vô sản thế giới là anh em, là một gia đình thế giới. Cộng sản phải đi đến mục tiêu đó: quốc tế hoá giới vô sản.

Ông Phơbach, ănghen, Mác, Lênin là cha đẻ của Chủ nghĩa Cộng sản. Họ xây dựng chủ nghĩa của họ trên Chủ nghĩa duy vật (matérialisme). Theo duy vật, thế giới này chỉ có một sự thật, dựa trên các cơ cấu nền tảng bất biến (structure). Duy tâm (idélisme) chỉ là thượng tầng cơ sở (supertructure) thay đổi nền kinh tế. Người ta ví duy vật là cặn, là dầu trong chiếc đèn, còn duy tâm là ánh lửa chập chờn, lúc còn lúc tắt.

Xã hội chủ nghĩa luôn có đối nghịch, nó lớn lên do sự đối nghịch đó, luôn có phản đề (antithèse). Hai phản đề đối nghịch nhau rồi lại đi đến tổng hợp, rồi từ tổng hợp nảy sinh phản đề. Đó là thuyết phản đề và tổng hợp (thèse, antithèse và synthèse). Chủ nghĩa cộng sản dựa trên qui luật đó. Nhưng khi các phản đề đối nghịch nhau và đi đến tổng hợp là Chủ nghĩa cộng sản, thì nó ngừng lại. Vì Chủ nghĩa cộng sản là tuyệt đỉnh rồi, không còn phải phấn đấu để tiến lên nữa. Có thể nói đó là thiên đình mà loài người phải mơ ước và tranh đấu để đạt tới.

Trong cuộc tranh đấu để tiến hoá đó, tôn giáo không giúp gì, mà lại cản việc tiến. Vì tôn giáo dạy rằng có thiên đàng là cùng đích. Và khi con người mơ ước thiên đàng, thì không còn muốn tranh đấu gì ở trần gian. Do đó tôn giáo bị coi như là cái gì nó mê hoặc quần chúng – thiên đàng ngay ở trần thế, khỏi tìm đâu xa. Không những tôn giáo không giúp chiến đấu để đạt tới thiên đàng trần gian, ngược lại nó còn làm tê liệt sức chiến đấu, nên Các Mác cho tôn giáo là a-phiến (opium) làm tê liệt con người trong cuộc đấu tranh. Chống phá tôn giáo là tất nhiên, vì họ coi tôn giáo là thuốc đầu độc quần chúng.

Giáo Hội đối với Cộng sản cũng có những nhận định nghiêm khắc hoặc nhẹ nhàng khác nhau. Chẳng hạn trong Thông điệp Chúa Cứu Thế (Deum Redemptoris), Cộng sản bị liệt vào hạng “bản chất là xấu” (intrinse est malus). Chính là thế, xét theo chủ nghĩa, vì bản chất chủ nghĩa là duy vật, nên nó là vô thần. Không những thế, người cộng sản đúng nghĩa phải là người chiến sĩ vô thần (militant athé). Người chiến sĩ đó không những không tin gì thần thánh, mà còn chiến đấu, còn phá huỷ niềm tin nơi kẻ khác. Nói đến Cộng sản, sợ Cộng sản phần lớn là do họ phá huỷ đức tin, bách hại những kẻ tin, làm cho người ta sống theo chế độ vô thần. Không có cuộc bách hại đạo trong lịch sử nào lại tinh vi như các cuộc bách hại tôn giáo do chế độ Cộng sản. Họ còn tự hào, họ phá đạo một cách “khoa học”, nghĩa là khéo léo, có quy mô, có phương pháp.

Những cách biểu lộ của Cộng sản và những nhận định của những vị chức trách trong Giáo Hội khiến người Công giáo không còn cách nào để hợp tác với người Cộng sản. Đàng khác, khi người Công giáo giơ tay cho người Cộng sản nắm lấy, người Công giáo không đủ trình độ, không đủ ý thức, không đủ khả năng để mà đứng vững. Thế nên, không hợp tác với Cộng sản là cách thức cần thiết để khỏi bị Cộng sản lôi cuốn. Ngược lại, người Công giáo cũng không được vào Đảng, học sinh chỉ được học hết tiểu học là cùng, người làm công thì chỉ được nhận những việc thấp hèn, không tên tuổi. Nói tóm lại trong Xã hội Cộng sản, họ là những công dân hạng hai hay ngoài lề.

Khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII phân tích về Cộng sản, thì người Công giáo có một lối đi. Theo sự phân tích của Đức Thánh Cha, nơi Cộng sản phân biệt Chủ nghĩa Cộng sản và những người cộng sản. Về chủ nghĩa thì không thể chấp nhận được. Còn những người cộng sản, họ cũng là những con người và có thể hợp tác với họ như là những con người, trong lãnh vực nhân linh.

Vào năm 1954, Cộng sản của Đệ Tam Quốc Tế vẫn còn giữ nguyên vẹn bộ mặt, y như người ta đánh giá: “Chủ nghĩa tam vô” là cái người ta sợ hãi nơi người cộng sản. Vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Từ trước tới đây, người ta chỉ nghi ngờ Việt Minh là Cộng sản. Việt Minh cũng úp úp mở mở về xuất xứ đó, lúc giấu giếm, lúc thò đuôi ra.

Trong Hội nghị ban chấp hành Đảng Cộng Sản từ ngày 10 đến 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Ông Nguyễn ái Quốc (lúc này chưa gọi là Hồ Chí Minh) đại diện Quốc tế Cộng sản chủ trì với sự tham dự của Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt tại rừng Khu Năm Pắc-Bó, Cao Bằng. Theo đề nghị của Nguyễn ái Quốc, ngày 19-5-1941, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh), thay cho mặt trận dân tộc Thống Nhất phản đế Đông Dương. Như vậy ngày nay Đảng cộng sản Đông Dương trở thành Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cũng phải hàng chục năm nữa sau khi cộng sản phải từ Đảng Lao Động, mới thoát thân thành Đảng Cộng Sản Việt Nam. Lúc thì giấu giếm mình là Cộng sản, khi thay hình đổi dạng, tự đặt mình là Đảng Lao Động, nhưng có lúc phải khẳng định mình là Cộng sản, để trong việc giành độc lập, người ta thấy đó là công lao của người cộng sản, chứ không phải quốc gia.

Cũng theo lối mập mờ đó, họ đi cả với Việt Cách, tức là Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Ông Hồ Chí Minh đến dự đại hội của Đảng này tổ chức tháng 03-1944 tại Liễu Châu, Trung Quốc. Việt Cách do ông Nguyễn Hải Thần lãnh đạo, trong đó có Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông Nguyễn Hải Thần về nước, làm đồng Chủ tịch với Hồ Chí Minh, do quân Tàu đóng ở Việt Nam nâng đỡ. Quân Tàu lúc này ở miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật và giúp đỡ ông, cho ông ở Phủ Toàn Quyền cũ, với tư cách Chủ Tịch Nước, ông Chủ Tịch được nâng đỡ hơn ông Hồ Chí Minh.

Tháng Chạp 1941, khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam bùng nổ, ông và Đảng của ông lên rút lui về Tàu. Việt Minh và ông Hồ Chí Minh nắm toàn quyền trong mặt trận đánh Pháp cho đến 1954. Pháp và Việt Minh không ai thắng ai, đều đi đến Hội nghi Geneve, và Hội nghị kết thúc 20-7-1954. Chia đôi nước Việt Nam thành hai miền Bắc và Nam
+GM. Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:36 pm    Tiêu đề: Quốc hội thứ I của nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Quốc hội thứ I của nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Thế là chế độ mới có những chiếc áo hợp pháp: Chính phủ. Cơ quan lập pháp: Quốc hội. Đủ lông đủ cánh, song còn sợ những thế lực ở bên vặt lông, bẻ cánh. Đó là quân Tàu giải giáp quân Nhật ở Bắc, quân Anh giải giáp quân Nhật ở Nam, ngơười Pháp còn sót lại đã phỗng tay trên, họ đã đi được với quân Anh; nhơư trong vụ trao Nam Bộ Phủ cho Pháp. ở miền Bắc, quân Tàu bắt cá hai tay: cả Pháp, cả Việt Nam. Việt Nam thì cả Việt Minh cả Việt Cách. Đối với người Tàu, thì Việt Minh thi hành cái lối thông dụng của mọi thời đại, mà sau này người ta gọi là ‘lót tay’. Nghe đâu ông Lư Hán, ngươời đứng đầu quân giải giáp mà được ‘lót tay’ hay ‘cùm tay’ bằng những kilô vàng ròng thu được trong kỳ quyên góp được gọi là ‘tuần lễ vàng’.

Người Pháp vẫn lăm le trở lại Đông Dương. ở miền Nam, họ đã đi đôi, và đến chỗ thay thế quân Anh. ở miền Bắc, họ cũng chơi lối đó với quân Tàu, với sự đồng ý ngầm của Đồng Minh. Nói đúng hơn của Mỹ - Anh, vì các nươớc này vẫn chủ trươơng không để Cộng sản ngóc lên. ở chỗ này Việt Minh ta cũng khéo léo, biết rằng thế nào Pháp cũng đổ bộ lên được. Lúc này họ đang ở ngoài Vịnh Bắc Bộ, họ ngầm điều đình ở Pháp – tướng Leclair, tổng chỉ huy quân sự Thái Bình Dương và ông Santeny, nhà chính trị vẫn khéo léo đi với Cộng sản.

Hiệp ước “Vịnh Hạ Long” 3-3-1946 được ký kết. Hôm nay, các đơường phố Hà Nội trên các bức tường, đều dán những bích trương bản ký kết Hạ Long giữa ông Hồ Chí Minh và Pháp, ai nấy đều ngỡ ngàng và phẫn nộ: “Sao mà quay đầu nhanh chóng thế?” Từ đảo chính Nhật, Chính phủ Trần Trọng Kim, bao là nỗ lực quét sạch mọi tàn tích Pháp, cả những bức tượng đầm xòe, biểu tượng thần tự do, tơượng toàn quyền Paul Bert đều bị dân chúng buộc giây vào cổ lôi xuống, Các đài kỷ niệm Jean Dupuis, Tứ Dân ở vườn hoa Canh nông đều bị dẹp bỏ. Thế mà ngày nay, quân Pháp lại đường đường trở về bằng một hiệp định. Theo hiệp định: Quân đội Pháp sẽ đổ bộ và đóng ở bốn địa điểm trong vòng năm năm. Bốn địa điểm là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Lạng Sơn.

Dân chúng phẫn nộ xé những bích trương cũng không cản nổi đươợc quân Pháp rầm rộ, lập tức kéo đến bốn địa điểm đó. Nhưng uy tín của Việt Minh, ông Hồ Chí Minh không thể không bị suy giảm, lung lay; nên lập tức ông Hồ Chí Minh cho triệu tập một cuộc mit-tinh trơước Nhà Hát Lớn Hà Nội, để trấn an dân chúng thơ ngây, bằng những lời lẽ cũng rất thơ ngây: “Hỡi quốc dân đồng bào, tôi xin hỏi, bây giờ để cho quân Pháp lên đóng ở bốn địa điểm đó, rồi hết năm năm, họ sẽ rút lui, ta không mất một viên đạn nào, hay là ta đứng lên đánh đuổi họ, chinh chiến với họ nhiều năm với nhiều tàn phá. Đàng nào hơn?”.

Một đám ngây ngô hoặc chân tay của họ, dĩ nhiên là hoan hô giải pháp thứ nhất. Một số lớn khác bực tức nhưng lặng lẽ, họ chưa quen hô ‘đả đảo’, ‘đả đảo’, vì chưa ai mớm cho họ - sự lặng lẽ đó bị phá tan bởi mấy tiếng nổ lựu đạn, do những người phẫn uất cực độ ném ra. Tôi biết một người ném hôm đó: Anh Tuyên, em cha Bằng, trước đây đã đi học mấy năm ở Tiểu Chủng Viện Hoàng Nguyên, không biết có ai chết không.

Quân Pháp chỗm chệ ngồi trên bốn địa điểm ở Bắc Kỳ, quân Tàu chuẩn bị rút đi; Ông Vũ Hải Thần, lãnh tụ của Việt Cách - Quốc Dân Đảng mất chỗ dựa, lục tục rút lui vào bóng tối, cả ba nghị sĩ Quốc Dân Đảng dần dần không ai nghe nói đến.

Song nay, một cuộc đọ sức ngầm giữa Cộng sản Việt Minh và Mặt trận Quốc gia ló diện. Thường chỉ bằng những cuộc đối đầu tuyên truyền. Báo chí bên này nói thế này, bên kia lại khác. Bên nào cũng nói hay nói phải cho mình. Thỉnh thoảng tờ Thanh Niên Công Giáo Cứu Quốc được dán ở trước Nhà Thờ Lớn, bị xé liền; Báo tin tức của bác sỹ Phan Huy Đán, đứng đầu Đại Việt, tờ ‘Thiết thực’ được hâm mộ đặc biệt, vì phơi bày những thủ đoạn của Việt Minh Cộng sản, những dối trá của Việt Minh.

Ôn Nhu Hầu, có trụ sở của Quốc Dân Đảng, sau này bị Việt Minh cho là ổ tội ác, vì họ bảo đó là nơi thanh toán những chiến sĩ Cộng sản. Ôn Nhu Hầu được Việt Minh coi là điển hình tội lỗi của Quốc Dân Đảng.
+GM. Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:37 pm    Tiêu đề: Cải cách ruộng đất Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cải cách ruộng đất

Ở những nước tư bản, có những chủ nhân, những xí nghiệp, những nhà máy, có giới chủ với người thợ, thì cuộc đấu tranh giữa thợ thuyền và chủ nhân phải đánh đổ giới chủ, để có một lớp người vô sản, để biến xã hội tư bản thành xã hội vô sản.

Ở những nước mà nguồn kinh tế chính là ruộng đất, thì nơi đó giới thống trị là người có nhiều ruộng đất, là những địa chủ, và giới vô sản là những bần cố nông không ruộng đất. Cuộc đấu tranh của vô sản ở đây là nông dân nghèo vùng lên đòi lấy ruộng đất ở các địa chủ, để giới vô sản sẽ làm chủ nhân ông. Đó là tư tưởng chỉ đạo việc cải cách ruộng đất. Cuộc cải cách ruộng đất ở các nước nông nghiệp là phương tiện chính để vô sản hoá xã hội.

Ở Trung Quốc, sau cuộc Đảng Cộng Sản nắm chính quyền vào năm 1949. Liền sau đó là cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất làm biến đổi hẳn bộ mặt Trung Quốc, một nước vô sản vĩ đại sau Liên Xô. Liên Xô là thành trì của thế giới, đối với Việt Nam là anh cả, mà anh hai là Trung Quốc.

1- Cho nên sau cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Người Cộng sản Việt Nam cũng lăm le theo gót. Phải nói: Cộng sản Trung Quốc đến sau Cộng sản Việt Nam trong việc cướp chính quyền, song Cộng sản Việt Nam từ đây mọi cái nhất nhất phải theo Cộng sản Trung Quốc. Có nhiều lý do: Hầu hết các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam đều phát xuất từ Trung Quốc, hoặc chịu ảnh hưởng Trung Quốc hơn là Liên Xô. Một là vì Việt Nam ở sát Trung Quốc, việc giao lưu dễ dàng. Hai là tuy cách mạng Việt Nam giành được độc lập trước Trung Quốc, song nhờ Trung Quốc mà giữ vững được vị trí, đặc biệt là nhờ chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5-1954 mà thắng lợi của Việt Nam nếu không nhờ Trung Quốc tất cả thì cũng là phần lớn.

2- Cộng sản Trung Quốc một khi nắm chính quyền là nắm toàn bộ, còn ở Việt Nam, nền độc lập chỉ có trên nguyên tắc, Cộng sản còn phải đánh nhau với Pháp nên chưa dám lộ diện là hoàn toàn. Chỉ mới là Đảng Lao Động, nhà nước dân chủ cộng hoà.

3- Cuộc cải cách ruộng đất nó dữ dội quá, giết nhiều người quá, đã làm hoen ố bộ mặt Cộng sản luôn tuyên bố vì nước vì dân, vì độc lập; với bao là chính nghĩa xuông, nên Cộng sản Việt Nam có làm cải cách ruộng đất cũng là một cách miễn cưỡng, không thể đừng, và một cách dè dặt, chứ không cực đoan, triệt để như Trung Quốc. Cho nên họ phải đưa Ông Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, người Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định). Tuy là Tổng bí thư Đảng, là lý thuyết gia của Đảng, nhưng ít người biết đến tên tuổi ông, đến mặt mũi ông. Ông được trao cho người thừa hành kế hoạch cải cách ruộng đất, còn ông Hồ Chí Minh “giả cách đứng ngoài”. Kế hoạch đó cũng đạt mục đích phần nào, vì sau này tai tiếng đều trút trên đầu ông Trường Chinh, mà “Bác Hồ” là “nhân từ” chỉ bị liên hệ chút ít. Nhưng làm sao mà che mắt được dư luận nhân dân. Ông Hồ là lãnh tụ tối cao, mà ông Trường Chinh chỉ là tay chân, làm sao công việc long trời lở đất đó lại qua mắt được lãnh tụ tối cao. Sau này mới có chính sách lãnh đạo tập thể, chứ lúc đó mọi cái chỉ do mấy ông chóp bu định đoạt. Dù cá nhân, dù tập thể, thì ai là lãnh tụ phải chịu trách nhiệm chính. Tuy nhiên mặt ông Trường Chinh không bao giờ được rửa sạch.

Mặc dù sau này ông làm Chủ tịch Quốc Hội, ông cũng không bao giờ vươn lên khuôn mặt kính mến trước nhân dân.

4- Do chính sách “chiếu cố” miền Nam, Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc chưa dám lộ ra bộ mặt là quá cứng rắn, là tàn ác đi tới mọi rợ.

Dù sao, cuộc cải cách ruộng đất đã được thực hiện. Sách “Biên niên sử Việt Nam” không đề cập gì đến Luật cải cách được ban bố ngày nào, thi hành ngày nào, mà chỉ nói đến “Tháng 7 năm 1956: Hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc”. Ruộng đất đã về tay nông dân, 10 triệu nông dân lao động đã làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn.

Nói đến “Hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc”. Thực ra đã có cuộc cải cách ở miền Trung, trong các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, vào lúc giữa quân đội Pháp và Việt Minh đang gay gắt ở miền Bắc, năm 1951-1952. Không những giật lấy ruộng đất ở tay địa chủ, mà hiểu là dập tắt mọi mầm mống có thể nổi lên từ phía quốc gia, để đi với Pháp chống lại Việt Minh (Cộng sản). ở miền Bắc nghe thấy nói đến cải cách ruộng đất ở Khu Tư là rùng rợn, đến khiếp sợ cả người Khu Tư nữa.

Nói đến hoàn thành, “hoàn thành thế nào?” Đó là 10 triệu người nông dân nghèo không ruộng đất, nay có ruộng cầy. Cái kết quả đẹp đẽ quá! Nhưng để tới kết quả đó, phải có những phương tiện nào?

Người Cộng sản Việt Nam học được kinh nghiệm của các anh Liên Xô, Trung Quốc, nên công cuộc được tổ chức rất chu đáo cặn kẽ, từ lúc phát động đến hoàn thành.

Tuy nhiên, người Việt Nam vốn có lòng từ tâm, nên những cách tàn bạo quá đỗi ở Liên Xô hay Trung Quốc, không được bắt chước đầy đủ.

Đầu hết là cái khẩu hiệu: “Người cầy có ruộng” quá hợp tình hợp lý đi thôi. Cho được thế, đem ruộng đất ở tay những người có nhiều quá mà san sẻ cho những người không có tí nào! Đó cũng là lẽ công bằng. Nhưng làm sao để vui lòng san sẻ. Giáo Hội có luật công bằng, xã hội dựa trên bác ái. Cộng sản có phương châm đấu tranh dựa trên căm thù. Làm thế nào để khơi dậy căm thù, hay nói chung, để thành cán bộ cải cách, là đội cải cách?

Những trường được xây dựng để đào tạo đội cải cách. Tôi biết một trường như thế ở Phủ Lý. Tôi đã có dịp vào đó. Nghỉ ở đó trong một buổi họp nọ. Trường gồm độ vài chục căn nhà, mái tranh vách đất, có vẻ tạm thời, nằm ở phía đông nhà thờ Phủ Lý. Thị xãlúc này đã bị phá huỷ theo sách lược tiêu thổ kháng chiến hồi năm 1946-1947; không còn một ngôi nhà, chỉ trừ nhà thờ.

Người ta dạy gì trong trường? Tôi không rõ, tất cả là bí mật. Khi thấy công việc đội cải cách làm, thì biết họ học gì, được huấn luyện thế nào?

Học xong họ được phân đi các xã, các thôn, cũng hầu như bí mật. Người tỉnh này được phái đi các tỉnh khác để không ai biết họ, cũng như họ không biết ai trong địa phương, để hoàn toàn tránh những liên lạc, hoặc cư xử riêng tư hay nể nang gì.

Mỗi xãđược phân phối dăm bẩy đội viên hoặc hơn kém tuỳ theo xãquan trọng thế nào. Đội về đâu ở đâu không ai biết. Họ sống theo chế độ “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Nghĩa là họ đến một nhà nào đó, thường là một bần cố nông, người này ở một cái lều, đồng chí đội cũng chui rúc vào lều đó, nhà đó ăn cháo, ăn cơm độn thì đội cũng ăn cháo, ăn cơm độn như họ, bần cố nông đó đi cầy, đi cuốc thuê, thì đội cũng cùng làm y hệt. Người đội cải cách bắt rễ ở nhà nào, thì sống trong những điều kiện của nhà đó, không có chi khác biệt. Bởi đó người ta cũng không để ý tới, đã mấy ai nghe nói đến cải cách, đến đội cải cách mà theo dõi. Còn người được đội đến nhà, có thể lấy đó làm vinh dự, đàng khác đội lại khéo léo, chấp nhận ăn chung, sống chung với nhau như thế, khách chủ cùng cánh, dễ thông cảm và thân mật.

Do cách sống gần gũi thân mật với nhau, nhìn nhau mỗi ngày 24 tiếng trên 24. Người đội khéo léo tỉ tê, khai thác được mọi chuyện của người bà con nông dân chất phác và dốt nát đó. Bác nông dân đó kể lể về cảnh sống khổ sở của mình làm sao? Lam lũ làm thân trâu ngựa thế nào? Bị hành hạ làm sao? Bị áp bức và bị bóc lột đến thế nào? Các anh địa chủ, các tên cường hào kia ăn ở làm sao? Bóc lột áp bức thế nào? Thế là lửa căm thù được nhóm lên giữa những giai cấp khác nhau, để một ngày kia sẽ bùng lên.

Sau khi mối hận thù giữa các giai cấp chín muồi, thì phong trào cải cách được phát động rầm rộ. Quả nhiên, những ngày hội của nông dân bắt đầu. Từng đoàn thiếu nhi đeo trống ếch đi khắp ngõ ngách xóm làng, trống tùng tùng tùng tùng tùng bắt nhịp với những tiếng hô đả đảo, đả đảo… địa chủ … đả đảo cường hào, tiêu diệt ác ôn. Một tên xướng lên, cả đoàn lập lại hai lần. Bầu sát khí nổi lên bừng bừng. Bừng bừng một cách giả tạo, miễn cưỡng, chứ từ xưa tới nay dân làng vẫn sống cảnh thanh bình đầm ấm, nhất là vào ngày tết, ngày lễ, ngày hội, anh em bà con có đi làm ăn xa đến đâu, cũng nhớ đến nơi chôn rau cắt rốn trở về đoàn tụ gia đình; cái luỹ tre xanh bao quanh làng, biểu tượng một đời sống tĩnh mịch, êm ấm.

Tuy trong một thời gian chiến tranh, bom đạn có khuấy động đời sống dân làng. Nhưng đã qua đi cái thời chiến tranh loạn lạc… Nhưng nay, khắp nơi ngày đêm ra rả những tiếng ca ngợi hoà bình. Hoà bình trong nước, hoà bình trên thế giới. Xem ra chủ nghĩa xã hội độc quyền cả hoà bình, còn chiến tranh là của tư bản. Các hạng người vong bản, họ nhập cảng một cái chủ nghĩa ngoại lai ở đâu ấy, cũng hô hào xây dựng nên cảnh bồng lai…. Ngược với cảnh hoà bình êm đềm, để đưa xóm làng vào một cuộc cách mạng long trời lở đất, Việt Nam chưa hề thấy bao giờ!

Chiều chiều sau việc đồng áng, bà con về cầu ao rửa chân tay, cầy cuốc, chuẩn bị cơm tối, tiếng trống ếch đã rộn rã trên các đường ngõ trong làng, tiếng hô loa nổi lên mời bà con đi họp, họ chờ đầy đủ không thiếu một ai. Đi họp đầy đủ, chứ ai mà dám ở nhà. Có thể đầu làng một đám lửa bốc lên ở một đống rơm, một chuồng lợn. Người ta có ý đốt và đổ cho bọn địch không chịu đi họp đã gây nên. Chỗ khác, những viên đá, viên gạch ném ra đường ngăn cản đội, hoặc bà con đi họp, là do bọn địch không chịu đi họp gây nên.

Vào phòng họp, đội dõng dạc tuyên bố: “Bà con nông dân đề cao cảnh giác, vì địch nó ngồi ở đằng sau ta…”. Người ngồi sau run sợ…! Một lúc nữa, đội lại nói: “Bà con cảnh giác, địch nó ngồi ngay trước mặt ta”. Ngồi trước ngồi sau đều là địch cả. Không còn biết chọn chỗ nào nên ngồi? Sợ sệt và sợ sệt…!

Ai nấy ngồi yên chỗ, bắt đầu cuộc “đấu tố”. Tố cáo tội ác giai cấp bóc lột, đấu tranh đánh đổ giai cấp bóc lột đó. Mọi người bắt đầu cuộc kể khổ, để tố cáo tội ác của bọn địa chủ cường hào ác bá. Những tội ác được bịa đặt ra nhiều hơn và nặng nề hơn sự thật.

“Tôi vay hắn ta mấy bát gạo, hắn ta bắt tôi viết văn tự thế bằng một sào ruộng. Tôi không có gì trả, thế là hắn ăn không sào ruộng của tôi. Và cứ mấy lần vay như vậy, rồi không có gì trả, thế là không còn một mẩu đất để cắm dùi”.

“Tôi cấy tô cho nó, chẳng may trời để mất mùa, vì bão lụt, nó cứ thu tô như chẳng có tai hoạ gì xẩy ra. Chẳng có gì mà nộp, nó cho người đến tháo bộ cửa, dỡ mấy gian nhà tôi….”

“Tôi nghèo khổ, đi làm thuê cho nhà nó, ăn đói, ăn khát, nó còn đánh đập, tiền công không trả, nhà nó tìm cách đuổi tôi đi để quỵt công….”

Và nhiều thứ tội khác, chung quy chỉ là tội tàn bạo, bóc lột, đổ trên những người bị quy là địa chủ, hay ác ôn, cường hào ác bá. Có thể là tội cá biệt nhưng nay là tội chung. ai là đối tượng thì được khoác cho những tội đó. Người nông dân thật thà chất phác, mấy ai nghĩ ra được cách tố cáo, tất cả đã được dậy bảo, được Đội “mớm” cho trước.

Thế rồi đấu, đấu tranh với địa chủ, thì phải có khí thế, chưa quen thì phải tập. Chưa có ai xuất hiện để mà đấu, thì có thể dùng cái cột nhà thay thế. Bà con và nhất là các phụ nữ. Giơ tay xỉa xói vào cái cột nhà: “Mày đã cướp của tao, mày đã đốt nhà tao, mày đã đánh đập tao thật tàn bạo, tao khó nhọc làm giầu cho mày, mà mày cho tao ăn đói ăn khát…”. Tất cả phải được nhuần nhuyễn, từ cử chỉ đến lời nói, để khi gặp “người thật” không ngượng ngùng ái ngại.

Đến nỗi mà một người phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: “Ông có biết tôi là ai không?”. Người cha ngậm ngùi trước nhìn đứa con dứt ruột của mình và nói:: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ”. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng!

Một bầu khí sợ hãi lan tràn khắp nơi. Không hiểu tự đâu, đội cải cách có cái tài làm cho mọi người sợ thế. Tôi cho là có ma quỉ đứng đằng sau để giật dây. Không ai dám đến nhà ai, không ai dám gặp nhau, nói chuyện với nhau. Gặp gỡ hay chuyện trò có thể một lúc nào đó, bị coi là âm mưu tìm cách phá hoại cải cách. Tội gì, chứ bị cáo là phá hoại, thì chỉ có mà chết. “Nhất Đội, nhì Trời cơ mà”. Để tăng thêm nỗi sợ h•i, chỗ này hay chỗ kia, một đống rơm, một chuồng lợn được đốt lên, và phao tin kẻ địch phá hoại, không chịu đi họp đã gây ra. Như thế, ai còn dám ở nhà nữa? Chỗ khác tung tin, bọn phá hoại nấp trong nhà, chờ Đội đi qua là ném gạch, ném đá. ai nấy đi họp cho nhanh, kẻo ở nhà dễ “bị phát hiện” là kẻ địch.

Vào buồng họp, Đội nghiêm nghị tuyên bố: “Kẻ địch nó ngồi ngay trước mắt ta”. Những người ngồi trước giật mình! Lúc sau đội lại nói: “Kẻ địch nó ngồi đàng sau chúng ta”. Người ngồi sau thất đảm! Ngồi đâu cũng sợ hãi, không yên. Thế rồi ai cũng phải phát biểu, không có truyện thì bịa truyện, nói dối, vu cáo. ăn không nói có…, là đường lối chính sách.

Đội dùng những phương pháp khủng bố tinh thần, từ Liên Xô, nhất là từ Trung Quốc. Văn hoá, não trạng của người Tàu với người ta dễ đồng dạng, nên ta học được rất nhiều của Tàu, được coi như bậc thày.

Tôi còn nhớ, trong một buổi họp ở bên Tàu, một người tố cáo người kia, được gán cho là địa chủ, thế này: “Nó đổ cho tôi ăn trộm cái trứng gà của nhà nó. Nó lý luận, cái trứng đó đem ấp, nở ra một con gà, con gà đó lại đẻ ra hàng chục trứng. Từ hàng chục trứng này, lại nở ra một đàn gà. Đàn gà tăng lên, ít lâu thành trăm con, bán đi làm gì mà không mua được đôi lợn, rồi lợn tăng cân, bán đi làm gì lại không tậu được đôi bò, rồi cứ thế dùng tiền bán đi mà xây nhà, tậu ruộng. ấy tội nó ăn cắp của tôi, gây thiệt hại to lớn đến thế. ông bà nông dân nghĩ thế nào? Toàn thể hội nghị đã được học tập đồng thanh hô: “Tịch thu tài sản của nó, còn nó có đáng chết hay không, là phán quyết của Toà án nhân dân”.

Cũng một chuyện khác xảy ra bên Trung Quốc thời cải cách mà Việt Nam bắt chước. ở một thành phố trước kia có nhà “tiểu nhi” trại mồ côi do các bà phước đảm trách, các trẻ đưa đến hội tiểu nhi thường là các hài nhi hoặc là trẻ em bị bỏ rơi. Các bà nhặt được hoặc có ai đưa tới các bà đón nhận, rửa tội cho chúng. Thường là không nuôi được, các bà lo chôn cất hài nhi đó. Có rất nhiều.

Đội cải cách bắt các bà khai quật các mồ, hài cốt chất đầy từng thúng, cho lên xe ô tô, các bà đi theo sau để họ bêu riếu tội ác họ gán cho các bà. Các bà đứng trên xe, với những hài cốt, xe đi qua các phố, tiếng loa quát: “Đây là những kẻ giết người, chúng đã giết từng ngàn từng vạn hài nhi”. Dĩ nhiên là các bà đứng yên đó không lời thanh minh, chỉ có những kẻ hai bên đường phố lên tiếng phỉ báng: “Bọn giết người”.

Còn tiếp
+GM. Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:38 pm    Tiêu đề: Hiện tình tôn giáo sau năm 1975 Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Hiện tình tôn giáo sau năm 1975

I. NHÀ NƯỚC VỚI TÔN GIÁO

Phật Giáo đấu tranh mạnh và nhiều với Nhà Nước, song Nhà Nước không sợ họ bằng sợ Công Giáo. Vì cho rằng Công Giáo đoàn kết hơn, giáo lý vững chắc, hậu thuẫn là cả một Giáo Hội hoàn vũ cũng vững chắc, cấu kết mạnh mẽ, một lực lượng tinh thần mạnh nhất trên thế giới (Họ không biết Thiên Chúa mới là Đá Tảng). Nếu phân biệt fond (nền) và forme (hình thức bề ngoài) trong mối quan hệ, như khi làm dissertation, thì forme có thay đổi – có đôi chút dễ dãi; nhưng về fond vẫn giữ nguyên nghi ngờ, đề phòng, căm ghét, không làm gì thì chịu vậy đấy thôi! Với Vatican, có tôn trọng, nể nang hơn xưa một chút, không còn coi là kẻ thù, nhưng vẫn còn nghi ngờ, canh chừng.

Đặt ra các lý do để từ chối việc nọ việc kia. Như xin cho người trong Nam ra làm việc ngoài Bắc, sẽ trả lời: Bắc người ta không thích Nam, hoặc ngoài Bắc đủ người rồi. Lúc khác thì lại nêu miền Nam tiến bộ lên, để Bắc noi theo. Những lý do chỗ công khai thì khác, chỗ riêng tư lại khác. Cán bộ lên lớp, phê phán, chỉ trích một người nào đó, hết buổi họp lại ra uống nước vui vẻ với nhau. Làm việc không theo luật lệ, mà chỉ thích theo ý muốn cấp trên khoán cho cấp dưới. Ví dụ, cấp trên không muốn cho tổ chức lễ nọ lễ kia, hay một vị Giám Mục trở về nhiệm sở, cấp dưới bầy đủ ra mọi lý do, có khi rất trẻ con, miễn sao ngăn cản được, và nếu thành công, cấp dưới được khen thưởng. Nếu không, là tại cấp dưới, bởi đó cấp dưới cố công mà làm cho được.

Họ không nhận trách nhiệm bao giờ, chỉ bắt đương sự phải gánh hết, người dân đi lính phải làm đơn xin đi, mặc dầu trốn lính không được. Người phá thai phải làm đơn yêu cầu (thế mà đẻ con thì bị phạt). Đức Cha Thuận đi Rôma là vì ngài yêu cầu, ngài ở lại là vì ngài yêu cầu (được thu xếp cho yêu cầu). Luận điệu chung, nhà nước rất dễ dàng, khó khăn là ở các ông, ở nội bộ các ông …

II. NỘI TÌNH CÔNG GIÁO

Hàng Giám Mục

Giám Mục đoàn yếu, nhiều vị tuổi già, bệnh tật, lại ở những vị trí quan trọng. Thiếu đoàn kết, chia rẽ theo miền, theo địa phương, tuy chưa đến độ trầm trọng. Vị thì chỉ lo cho quyền lợi Giáo phận mình, không quan tâm mấy đến quyền lợi chung: vị khác lo bảo vệ vinh quang (học vị), hầu hết nhút nhát sợ sệt, nhất là các vị miền Nam, vì luôn bị mặc cảm chiến bại. Đức Giám Mục Mỹ Tho đạo đức chân chính bị coi là lẩm cẩm. Không thiếu những vị kỳ thị Giáo phận nhỏ to, thầm mơ ước, và thậm chí nếu có thể, vận động cách nào đó để được chuyển vào những vị trí cao sang. Ngày trước có một vị linh mục, đi qua viếng Rôma về nói: Sang Rôma về kém cả lòng tin, vì lúc đó có nhiều thói cũ, tệ lạm … Có lẽ vì thế mà những vị nào học Rôma về dễ kém lòng tôn trọng Tòa Thánh, muốn theo ý riêng hơn là đường lối chung. Tất cả đều orthodoxe (chính thống), nhưng thái độ khác nhau trước Đoàn Kết, và thường là không dứt khoát. Trong một buổi gặp mặt nọ, một linh mục đứng lên hỏi Đức Tổng của mình về thái độ phải có trước phong trào đó, Ngài chỉ nói: “Các cha đã biết thái độ của tôi rồi”. Thái độ đó nào ai biết !

Các Linh Mục

Vì các vị chủ chăn giáo phận như thế, thì hàng linh mục làm sao hoàn hảo được. Giám mục thế nào, thì linh mục cũng thế, và kém xa nữa.

Miền Bắc ít linh mục, ít phức tạp. Miền Nam, nhất là Sài Gòn, nhiều linh mục, rất phức tạp. Có một số những vị học hành nhiều, nhưng một số coi nhẹ căn tính linh mục, mà nặng về học vị. Cộng sản khi thịnh hành, không sợ trí thức cho bằng tôn giáo. Trí thứ cũng như tư bản hay ngả nghiêng nhất, nên dễ bị lợi dụng. Người Việt Nam lại quý trọng những người bằng cấp, được nhiều sùng bái, bởi đó sự ngả nghiêng của những vị đó có thể tác hại nhiều đối với những người sùng bái.

Sự giầu có đang xâm nhập vào hàng giáo sĩ, cả Nam – Bắc. Các nhà của các vị giáo sĩ đầy đủ tiện nghi hiện đại hơn là giáo dân. Người nghèo khó đến nhà linh mục, không có chỗ mà ngồi.

Người giáo dân

Giáo dân, nói chung đều tốt cả. Người ta nói: Ngày nay Chúa Thánh Thần hoạt động nơi giáo dân hơn là nơi giáo sĩ. Không biết có đúng không, nhưng có hiện tượng như thế. Trong xã hội, người ta lấy dân làm gốc. Trong đạo lúc này đúng là giáo dân được ơn Chúa soi sáng thúc đẩy hơn là giáo sĩ. Ngoài Bắc, thấy cha xứ thiếu tư cách, giáo dân kiện lên Bề Trên, tẩy chay cha không đi xem lễ. Hoặc họ nhắm mắt nói: “Cha có tội mặc kệ cha, mình chỉ tin Chúa”. Thái độ thụ động, chịu đựng thành thói quen trong chế độ, cả trong miền Nam. Ở miền Nam, họ đánh linh mục, đuổi linh mục, như ở Hoàng Mai, Xóm Mới, Tân Sa Châu. Giáo quyền đóng cửa nhà thờ, giáo dân đành thiệt phận.

Một định giá có vẻ ngạo mạn: giáo dân tốt hơn linh mục, linh mục hơn Giám Mục. Điều đó có thể chứng minh trong việc phong thánh, giới nào vững vàng nhất. Ở trong tù, thường là thế này: giáo dân hơn tu sĩ, tu sĩ hơn linh mục. Trong những vấn đề khó khăn: giáo dân vững vàng, linh mục nhẹ nhàng, Giám Mục im tiếng, hoặc xuê xoa.

III. PHONG TRÀO GIÁO LÝ

Miền Bắc theo lối cổ truyền: học thuộc lòng kinh bổn, không thấy giải nghĩa. Trước kia, tụ tập học như thế cũng không được, phương chi giảng dạy. Họ vẫn giữ tốt đạo, nhờ ơn Chúa Thánh Linh bù đắp, dù thiếu học hành giáo lý. Ngày nay phong trào giáo lý bắt đầu rầm rộ ở khắp nơi, tuy mới trong trình độ sơ khai, vì cơ chế các giáo lý viên đang hình thành. Tinh thần giáo lý ở miền Bắc nặng về những nguyên tắc luân lý, về đời sống. Nhưng do đó mà trước nay người ta còn giữ được đạo. Nhất là ngày nay trong cái xã hội đang xuống dốc về mặt luân lý. Một vị Tỉnh Ủy kia khen và tỏ lòng biết ơn một linh mục xứ kia, vì ông nói rằng nhờ linh mục xứ mà trẻ em ngoan ngoãn, có nhiều đức tính tốt, mặc dù linh mục đó chỉ giảng đạo trong nhà thờ. Có thể nói một mùa xuân chớm nở, ít người trở lại đạo tự ý, hầu hết là kết bạn. Bù lại, những nơi lơ là về đạo, từ hàng mấy chục năm nay, giờ đây trở lại, tự mình xây dựng lại nhà thờ, đọc kinh, học giáo lý. Ở mạn Bắc Việt Nam, gần Tàu, có hàng chục ngàn người Mèo (Hơ-mông) đang xin tòng giáo, mặc dù bị đánh đập, trục xuất khỏi bản làng, mà họ chỉ có học với đài Vatican.

Miền Nam, nơi được tự do từ lâu, có nhiều giáo lý viên, các lớp giáo lý rất thịnh hành. Họ có đời sống đạo ở mức cao và rộng rãi, nhờ được học tập nhiều. Học tập nặng về tri thức, kiến thức hơn là về đời sống luân lý, có lẽ nhiễm ảnh hưởng Tây Phương nhiều.

IV. CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG (pragmatisme)

Giáo Hội Bắc và Nam khác nhau ở điểm đón nhận đời sống. Miền Bắc, bị Chủ nghĩa xã hội ảnh hưởng, bị tước đoạt tất cả, chỉ lo giữ cái cốt yếu, giữ nguyên tắc, còn các cái khác không đáng kể. Một câu trả lời tiêu biểu cho khuynh hướng đó. Một cán bộ hỏi một người nghèo khó: “Đạo anh là đạo thế nào?” – “Đạo tôi là đạo thà chết chẳng thà bỏ đạo”. Bởi ít nhẹ nhàng uyển chuyển, nên bị coi là cứng nhắc, hoặc bảo thủ. Nhưng có bảo thủ như thế mới giữ được tới ngày nay. Ít chịu mua chuộc bởi lợi lộc, hay nói đúng, không chịu để bị mua chuộc bởi lợi lộc.

Miên Nam, chịu ảnh hưởng Chủ nghĩa thực dụng của Mỹ, làm sao được lợi nhiều, nặng về quyền lợi hơn là nguyên tắc. Ở đây không phê phán lối sống đó, nhưng chỉ nêu một số nhận xét: lo lắng làm sao giữ được quyền lợi, làm được một việc gì đó, mặc dù vì thế ảnh hưởng không hay đến nguyên tắc. Ví dụ nhóm tiến bộ yêu nước được coi là cần thiết, ích lợi cho Giáo Hội, vì nhờ có họ mà Giáo Hội được dễ dàng. Các tác phẩm văn hóa được xuất bản dưới bảo trợ của Đoàn Kết, vì có thế mới ra đời được, nhất là tên tuổi tác giả…không nghĩ rằng những việc vào loại đó ảnh hưởng đến sự hợp nhất trong Giáo Hội, sự hợp nhất phải gìn giữ như con ngươi trong mắt. Tham gia việc nọ việc kia để được ra Bắc du lịch, được xuất ngoại, sang được cả My. Do đó mà phong trào đoàn kết có đất sống vậy.

V. PHONG TRÀO CÁC PATRIOTES

Ở miền Bắc trước đây là “Hội liên lạc những người Công giáo yêu nước và hòa bình”. Giáo Hội khổ nhiều nhất vì nhóm đó trong nhiều năm, vì đó là công cụ để phá đạo, bách hại đạo, giống kiểu Julien Apostats: lấy đạo chống đạo, lấy người có đạo đập người có đạo, lấy con cái chống lại cha mẹ. Người ta bảo:

Nhà nước tôn trọng tôn giáo, những xích mích là do nội bộ các anh. Thế mà ai không theo nhóm đó là không theo chế độ, chống lại nhóm đó là chống lại nhà nước, được mang danh hiệu là đội lốt tôn giáo, phản quốc, vì chống lại những người yêu nước. Người Công giáo chịu bao khốn khó, tù đầy cũng là do nhóm này. Cũng may là những linh mục hay giáo dân lãnh đạo được lựa chọn ở những thành phần không đạo đức, nên ít ai theo; nhưng họ lại có quyền của nhà nước, mà họ dốt nát, nên càng dữ tợn, người ta vừa sợ, vừa biết bộ mặt của họ. Vì thế, nó đã sắp tàn nếu không có miền Nam đến tiếp sức và hồi phục nó dưới nhãn hiệu mới “Ban Đoàn Kết”.

Ủy ban này có lãnh đạo trí thức (các linh mục bằng cấp), tìm được đất màu mỡ ở miền Nam và sống mạnh, nhờ vào việc thay đổi chiến thuật: tế nhị, hiền từ chứ không hung hăng như ở miền Bắc xưa, lại thêm tính thực dụng trong đời sống, cộng với tinh thần sợ sệt coi mình như chiến bại (đi với họ, có lợi, không phải sợ gì; ở Bắc xưa, họ tuyển người ở nhóm ngụy quân ngụy quyền, những người bỏ đạo hoặc có mâu thuẫn với đạo, như thế dễ sai, sai gì cũng phải làm).

Forme có đổi, fond vẫn không thay đổi. Tuyên bố không tách khỏi Giáo Hội, lại còn giúp in những sách đạo, phổ biến Phúc Âm giáo lý, giúp cho các cha các xứ được quyền lợi nọ kia, đạo được dễ dàng, nhưng thực tế vẫn là tách khỏi Giáo Hội, vì họ làm mọi việc đó nhân danh họ, người quyền bính chính thức của Giáo Hội. Chê trách Tòa Thánh càng biểu lộ rõ rệt hơn nữa: điều cốt yếu hay xảy ra trong đạo, báo chí của họ chẳng nói gì tới, nhưng nếu có một chuyện scandale ở đâu, hoặc trong một chuyến viếng thăm của Đức Giáo Hoàng nếu có người nào đứng lên phản đối, thì họ không bỏ sót. Họ là những người trí thức thì họ phải biết mỗi tờ báo của họ đều có một ủy viên Trung Ương làm chủ nhiệm ở đằng sau.

Họ phải thừa hiểu rằng: được chín cái lợi mà hy sinh một điều thôi, có thể là hết tất cả. Hy sinh đó cũng lợi nữa. Ví dụ chỉ chấp nhận thế này: “Ông là bạn tốt của tôi, ông giúp đỡ tôi rất nhiều. Chúng ta là bạn tốt với nhau!”. Đã là bạn tốt với nhau, đâu còn dám làm phật ý nhau, làm khác ý ông bạn của mình, phương chi làm ngược ý bạn, thế mà ông bạn kia lại là người tham lam, cho đi tất cả để lấy lại tất cả. Nhận mình thuộc về người bạn đó, là hiến cả đời sống cho người đó, cả Giáo Hội, nếu có thể.

Nhưng một khi đã trót rồi, không thể rút ra được nữa. Kinh nghiệm xưa là thế, nay vẫn thế. Nào mất quyền lợi, nào nguy cơ tưởng tượng, nào sĩ diện. Nay mọi cái mọi nơi đều thay đổi, chỉ con người có tinh thần ly khai, chống Giáo hội thì vẫn y nguyên. Một Đức giám Mục nói về Tổng Đại diện của mình đang thao túng mọi việc trong Giáo phận mà vị đó đã là và nay vẫn còn tinh thần patriot. Tòa thánh đã biết, dư luận chống đối, muốn vị đó từ chức. Đức Giám Mục nói: “Ông ấy tốt, giúp nhiều việc, làm sao bãi chức ông được. Khi nào tôi chết tức khắc ông ấy hết quyền”. Bi đát làm sao! Truyện thật 100%!

Những ấn loát muốn được ra mắt, phải dán nhãn hiệu “Đoàn kết”. Các tác phẩm mất giá một phần, bị nghi ngờ. Nay dưới nhãn hiệu “Xuất bản của Tòa Tổng Giám Mục”. Lãnh tụ đã vào ngự tòa rồi. Hết kỳ thị!

Giáo phận Thanh Hóa, có một linh mục làm tổng thư ký Đoàn Kết (Đức cố Giám Mục ở đó cũng rất thân với nhóm). Về Đức Cha Lâm (Đà Lạt) người ta nói nhà nước không ưa (trước thì ưa, và đã có lần người ta giới thiệu với Đức cố Hồng Y Trịnh Văn Căn đưa về làm Phó Tổng Giám Mục, hồi Đức Cha Sang chưa được chọn) thế mà nghe nói nay sắp được về Thanh Hóa. Trước khi có tin này, nhân viên Bộ Nội Vụ sửng sốt loan báo Đức Giám Mục Hà Nội: "Cụ có biết ông Lâm ra Thanh Hóa để làm bàn đạp lên Hà Nội không? Và bây giờ họ mới tin!”.

Có dư luận rằng: miền Bắc nói chung, Hà nội nói riêng, không thích cho người Nam Ra Bắc. Điều đó không đúng. Nếu miền Bắc có sợ, thì sợ điều này: ví dụ, Đức Cha Lâm mà mang theo sự nhẹ nhàng, dễ dãi với Đoàn kết, dễ thân người quyền thế, thì sợ thật. Đức Cha Sang đi Thái Bình, nhẹ cho Hà Nội một phần, vì ngài nhẹ nhàng dễ dãi với Đoàn Kết mà ở Địa phận thủ đô thì tai hại cho toàn thể giáo đoàn Việt Nam. Miền Bắc, nhất là Hà Nội, đã trải qua bao vất vả để giữ toàn vẹn lòng trung thành, bây giờ thảng hoặc lại lâm cảnh như Sài Gòn, thì khốn khổ. Mong muốn miền Nam, nhưng phải là những đấng có orthodoxie hẳn hoi, đã có được thử thách. Khốn nỗi, những vị được thử thách, trung kiên thì lại không có cơ hội may mắn. Thành ra miền Bắc phải chịu cái tiếng oan là không thích miền Nam. Ước muốn của người viết những dòng này là phải sàn bằng cái hố Nam Bắc. Làm gì có nhóm của Apollo, nhóm của Phaolô… của người thông thái, của người thấp kém, của người giầu, của người nghèo. Chỉ có một Đức Kitô, nhưng thương ôi! Cái thế gian tính, cái loài người tính, cái địa phương tính nó vẫn bám chặt vào con người, không kể cấp bậc nào!

KẾT LUẬN

Không phải kết luận theo những dòng đầy bi đát ở trên. Nhưng phải là tin tưởng, tươi vui sáng sủa. Trong xã hội người ta vẫn chê cái lối hành động này “Làm láo, báo cáo thì hay”. Thói đó, đời người ta cũng chê. Thì làm sao khi nói về những hành vi con người trước mặt Chúa mà lại chỉ có là tốt đẹp cả.

Bi quan hay lạc quan? Những cái bóng tối chỉ là giới hạn, cá thể nhiều hơn, tuy có tác hại nhiều. Luôn phải nhớ. Ngọn gió Chúa Thánh Linh đã và đang nổi lên mạnh mẽ trong Giáo Đoàn Việt Nam. Lửa Chúa Thánh Linh hằng tác động nơi lòng người tín hữu. Trên 90% người tín hữu cố gắng sống đức tin. Ơn kêu gọi tu sĩ, linh mục rất nhiều, trung thành gắn bó với Giáo Hội Mẹ, lòng tôn sùng Đức Mẹ nồng nàn khắp nơi. Mấy nước trên thế giới được như thế! Những kết quả đó không ai gây nên được, không lớp người hay thế hệ nào gây nên được. Hoàn toàn do hồng ân Thiên Chúa ban cho đất Việt Nam, qua lời bầu cử của Mẹ Maria, của các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Phải hết lòng tạ ơn.

Bầu khí chung: an bình, chuẩn bị cho ngày mai, không sốt ruột mong thay đổi. Chăm lo xây dựng con người, xây dựng người tín hữu, xây dựng đời sống đạo đức, xây dựng văn hóa Kitô, để dù sống trong hoàn cảnh nào, có những thay đổi nào đi nữa, Giáo Hội tồn tại và tồn tại xứng đáng.
+Gm Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 10 25, 2009 5:40 pm    Tiêu đề: Đã đến lúc dẹp Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Đã đến lúc dẹp Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: CN 11 01, 2009 10:48 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Phong trào cải cách ruộng đất khựng lại

Nguồn: vietcatholic.net

Phong trào cải cách đang vùn vụt tiến tới, đỉnh ngọn lửa đấu tranh đang ngùn ngụt bốc lên như hoả diệm sơn, thì đùng một cái nó khựng lại. Nguyên nhân tại đâu ?

Nhà nước thì gọi giai đoạn này là “sửa sai”. Nói đến sửa sai thì tất nhiên có sai lầm. Có sai lầm không? Đảng thì không thể sai lầm được. Nhưng Đảng đã khéo dự phòng, chọn “con dê gánh tội” đó là ông Trường Chinh. Ông là nhân vật bí ẩn, trước nay có ra trước công chúng bao giờ? Ai biết mặt ông, mà chỉ biết tên. Tha hồ mà đổ tội cho ông. Ông chẳng sao cả, vì ông đúng như một nhân vật “vô hình vô tượng”.

Sai ở chỗ nào? “Nhất Đội nhì Trời”. Mọi khi đúng sai, tốt xấu là do ông Trời phân định. Bây giờ Đội ở trên cả ông Trời, thì Đội còn có khả năng phân định giỏi hơn ông Trời chứ?

Có một cái sức bí nhiệm không ai lường được, như những cơn sóng ngầm trong lòng quần chúng, làm vỡ đê điều lúc nào không biết. Nó như thanh gươm hai lưỡi, chém người khác, rồi lại quay lại chém người sử dụng nó, một cách bất ngờ. Bởi đó mà có những nhà độc tài, những nhà cầm quyền hét ra lửa, bị quật ngã lúc nào không biết.

Phong trào cải cách đang quay mũi dùi căm thù vào địch thù của giai cấp vô sản, thì không hiểu tại sao mũi dùi căm thù lại quay trở lại chĩa vào những người đang lái nó. Những anh Đội nhất Trời nhì hôm nào còn dương oai tác quái, hùng hổ hơn Trời. Con Trời mà miệng thét ra lửa, thế mà nay bỗng dưng biến đâu mất, như những bóng ma không ai còn trông thấy, những anh cốt cán hôm nào mặt còn rắn như đanh, tay cứng như sắt, nay cũng nhũn như con chi chi. Sức mạnh nào đã làm thay đổi đến thế?

Đó chỉ là quy luật tự nhiên: ác giả ác báo. Nhưng nhà nước đã đưa ra phương thế để chữa cháy: Chính sách “sửa sai”, đó là gáo nước lạnh đổ vào nồi nước sôi. Họ khiêm tốn nhận có sai thật!

Đây là những sai lầm: một số người đưa lên địa chủ một cách vô lý, phải hạ thành phần cho họ. Một số khác bị tịch thu nhà cửa bừa bãi, rồi chia cho người khác, phải trả lại như cũ, đại loại sửa sai là thế.

Nhưng các trường hợp sai sót con số chẳng là bao đối với những đảo lộn long trời lở đất và những cái sửa lại đó không đáng kể đối với một xã hội đã bị thương tổn đến gốc rễ.

Nhưng các lỗi lầm, theo thái độ quần chúng, xem ra không phải là về việc nhận định không đúng về ai là địa chủ, hoặc tịch thu nhầm về ruộng đất. Những sai lầm phải được xem xét theo thái độ hờn ghét của quần chúng chĩa mũi dùi vào ai.

Không hiểu tại sao khi vừa nghe nói có việc sửa sai, thì bọn cán bộ cải cách biến đâu hết. Họ là những ân nhân của người không có ruộng cầy, và những người này phải biết ơn những kẻ đã đem lại ruộng cầy cho mình, và đáng lẽ phải có một cuộc đại liên hoan, mừng cải cách ruộng đất thành công mới phải chứ?
+GM. Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: Ba 11 03, 2009 10:27 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Toà án nhân dân và những án tử hình

Nguồn: vietcatholic.net



Đội chỉ huấn luyện, chỉ bảo, thúc đẩy nhân dân. Đội bảo sao, án tội thế nào, nhân dân làm thế, thường là quá sợ hãi mà làm. Có làm theo chỉ là “bị” phát động, quá sợ hãi mà làm theo. Mọi việc đều do hình thức nhân dân thi hành. Đặc biệt có Toà án nhân dân, hằng ngày nhóm họp để xét xử những “tội phạm” đã bị đấu tố nhiều hoặc lên án.

Toà án nhân dân thành phần là các bần cố nông, một chữ không biết mà đứng làm quan toà, làm thẩm phán. Tôi biết một bà thẩm phán ở xứ Phú ốc, khi tôi lên làm lễ, cũng ra chào bà. Nhà bà ở gần ngay đường vào nhà thờ, toà án có khi họp phiên toà ngay nhà bà, chật chội phải chui rúc. Bà trạc gần 70, có cô con gái tiến bộ, lấy ông chủ tịch thôn ngoại giáo. Bà thật hiền lành, đạo đức, chữ nghĩa không biết, không biết ăn nói nữa. Tôi gặp bà, bà lễ phép chào tôi và chỉ cười, đúng là bà lão nhà quê, thế mà quyền sinh sát ở trong tay bà. Cũng may là làng Phú ốc chỉ có ba bốn người Công giáo bị quy lên địa chủ: Ông lang Thản, ông Chuân ngày xưa đi lính cho Pháp, ông Cố Nhụ (có hai linh mục Trinh và Thiện đi Nam) bà kế ở nhà, bị quy là địa chủ, ông Kiề u công nhân nhà máy dệt…

Có người làm việc cho nhà nước, cha mẹ anh em cũng vẫn bị quy tội như thường. Ông Chuân có con làm cán bộ, em làm hiệu trưởng trường Lục Quân, những người này hình như sợ liên quan, không dám thăm hỏi anh chị em gì cả. Chỉ có đám trẻ, gặp ông ở đường làng, ông để râu, đám trẻ đến giật râu ông và bảo: “Chào ông bà nông dân đi”. Ông Chuân cũng phải khoanh tay chào lũ trẻ: “Con chào Ông Bà nông dân ạ”. Các địa chủ khi gặp bất cứ người già hay trẻ, phải xưng hô là “con”, và thưa chào “ông” hay “bà nông dân”.

Như thế là uy thế của địa chủ đãbị hạ trong hội nghị, trong quần chúng. Cả cái tiếng địa chủ cũng do tuyên truyền, trở nên cái gì ác quái, ghê gớm, xấu xa trong đầu óc quần chúng. Phải công nhận cái tài nhồi sọ của Cộng sản.

Cùng bị hại với những người bị quy là địa chủ, còn có những người khác phải mang danh từ tội ác còn nặng nề hơn; đó là “bọn cường hào ác bá, bọn ác ôn”. Những người này là ai? Thường là những người làm việc dưới các chế độ khác như thời Pháp cai trị, hoặc thời quốc gia. Họ làm quan, là viên chức, như Chánh phó tổng, Chánh phó hương hội, Lý trưởng, Thơ ký, Thủ quỹ của hương hội. Thậm chí cả những người nào có uy tín trong quần chúng, những người nào có vẻ đạo mạo….

Quy thành địa chủ, thì phải theo tiêu chuẩn nào đó, như người đó có một số mẫu ruộng, hoặc nhà ngói gốc mít, ao cả ruộng liền, rồi thuê người làm hơn là làm lấy, như thế dễ dàng quy vào hạng bóc lột. Như vậy, việc quy lên địa chủ ở nông thôn Việt Nam, bị giới hạn nhiều, vì ít làng có nhiều người có ruộng liền ao cả. ở Việt Nam, chỉ có người có vài ba mẫu ruộng cũng bị coi là địa chủ; trong khi ở các nước khác, địa chủ là người có hàng trăm, nghìn mẫu ruộng.

Nhưng những người có uy tín, có thế lực, thậm chí được nhiều kính nể, thì tương đối nhiều hơn là con số địa chủ. Thậm chí ở xã hội ta, một xã hội có thể coi là phong kiến, những người làm việc hương lý có những hành vi tàn bạo, bất công, ức hiếp, hà lạm…con số không phải là nhỏ. Vả lại dân ta hiền lành, nên có nơi có người chẳng giữ chức vụ gì, nhưng vẫn có thể xưng hùng xưng bá, bắt nạt người khác với những hành vi tàn bạo, đốt nhà cướp của, cả làng khiếp sợ, không ai dám nho nhoe.

Tất cả những người có uy tín, hương chức có hành vi tàn ác, hoặc chỉ làm việc cho chế độ cũ (viên chức, lính tráng) đều bị quy là cường hào ác bá, ác ôn, và những nhân vật loại này còn nặng tội hơn là địa chủ, và đáng bị tiêu diệt hơn.

Thế còn những viên chức trong đạo thì sao? Cải cách ruộng đất làm ra vẻ rất tôn trọng tự do tín ngưỡng. Nhà thờ nhà xứ được bảo đảm, ngoài ra đều phải theo luật cải cách ruộng đất. Chẳng hạn nhà xứ nào có nhiều ruộng đất, cha xứ cũng phải đấu tố, xỉ vả như các người khác.

Tôi chỉ thấy có cha Thính ở Vĩnh Đà không bị đấu tố, vì ngài không dính dáng đến ruộng nương, không ăn nhờ vào ai, ngài còn tuyên bố: “Mỗi ngày tôi chỉ vài chiếc bánh đa và nước lã là đủ”.

Nhưng cha Thu, thư ký cho Đức Cha Tĩnh giáo phận Bùi Chu bị đổ cho cái tội “khoan đê”. Ngài cho lời vu khống đó là quá trẻ con, ai lại dùng chiếc khoan gỗ của thợ mộc mà khoan cho vỡ đê được. Thấy quá lố bịch ngài nhận cho xong. Thế mà thành tội thật và ngài bị đem ra xử bắn vì tội khoan đê. (cũng có người bị khép tội khoan đê như thế, người đó phải cầm cái khoan của thợ mộc, khoan vào đê, cán bộ chụp hình, làm chứng cớ tội phạm).

Hình phạt dành cho địa chủ, cường hào gian ác v.v… do Toà án nhân dân lên án. Nói đúng ra là cán bộ cải cách, chứ bà Thẩm Phán tên là Thậm ở Phú ốc nói một câu cũng không ra câu, thì lên án làm sao?

Án phạt trước hết là tịch thu nhà cửa ruộng đất. Người đó bị đuổi ra khỏi nhà, đi ở đâu thì đi. Họ dựng một cái lều ở đất hoang nào đó để độ thân, còn nhà cửa thì được chia cho ông bà nông dân, đặc biệt là bần cố nông loại nhất, nhà to thì chia cho hai ba người. Bên lương, họ không có 10 điều răn Chúa, họ dễ dàng đến ở. Trước đây ở các lều, các nhà lụp xụp, nay được mấy gian nhà ngói, làm gì mà không nhận.

Nhưng bà con Công giáo thì khác, cũng có người ép tình nhận, đến ở ít lâu, sau này có dịp trả lại. Có người không nhận, ít người vui vẻ nhận.

Khi hai ba người được một cái nhà, họ thường chia nhau, rỡ đi bán. Bán đi tiêu hết tiền, lại trở về cảnh sống nơi túp lều. Ông trùm Tứ, xứ Ba Trại có căn nhà lá ba gian, được chia cho hai người, lập tức họ chia đôi mỗi người được gian rưỡi, họ lấy cưa, cưa đôi gian giữa. Không biết rỡ về làm được gì, hoạ chăng dựng được túp lều?

Chú tôi ở Kim Lâm, tuy hai ông bà đã chết, hoặc đi Nam, có cô con gái lấy chồng cán bộ, anh Hân, cũng bị quy là địa chủ, nhà cửa bị tịch thu chia cho hai người Công giáo, hai người chỉ lẫm lờ nhận, nhưng không dám ở bao giờ. Em tôi vẫn giữ mãi cho đến ngày không ở thì dâng cho họ giáo để làm nhà phòng. Cảnh nhà cửa bị tịch thu nó tương tự như thế.

Còn ao vườn ruộng đất? Dĩ nhiên là được đem chia cho nông dân hết, theo nguyên tắc chung. Đất đai là công thổ, tất cả là của nhà nước. Do đó mà ao vườn đất đai nhà thờ, nhà xứ, cũng được đem ra chia hết.

Còn bản thân những thành phần có tội với nhân dân thì sao? Từ khi cải cách được phát động, tối nào cũng họp bà con nông dân Đội cải cách nhờ chính sách “ba cùng” đãnắm bắt tình hình các hộ, đãchia ra từng thành phần: địa chủ, hay loại người tương tự, phú nông, trung nông, bần nông, cố nông. Chỉ có phú nông trở xuống mới được đi họp, và dĩ nhiên bần cố nông là nòng cốt, là lãnh đạo.

Ai mà không được đi họp, lo ngay ngáy. Số phận từ đây đãđược định đoạt, thành phần có tội, đáng bị loại trừ khỏi xã hội. Thành phần tuy đãđược đội ấn định, song để cho có vẻ “nhân dân” sẽ là các cuộc họp của nhân dân, bị vạch mặt rồi định đoạt số phận.

Có hai vòng họp, vòng họp thứ nhất thành phần xấu không được tham dự. Trong vòng họp này, bà con nông dân vạch mặt bọn “địa chủ, cường hào gian ác”. Ai cũng phải phát biểu, nói thật thì ít, bịa đặt vu khống thì nhiều, vừa nói vừa làm ra vẻ căm phẫn, vừa nói vừa xỉa xói.

Sau khi đãcho việc tố cáo là đủ, các cuộc họp chuyển sang vòng hai. Từ đây những người đãbị các cuộc hội họp tố, nay họ được triệu tập đến họp, để các thành viên khác đấu. Những cuộc đấu tố này chẳng khác gì những phiên toà lên án tội nhân. Những người bị tố trong các buổi họp trước đây, nay đãthành tội nhân mà nhân dân sẽ lên án.

Tội nhân bị tố nặng, như có nợ máu với nhân dân, có thể bị trói tay, quỳ hay ngồi trên đất ở giữa hội nghị. Những người đấu tố lần lượt kể tội. Phạm nhân bị cưỡng bức đó, chỉ còn một việc cúi đầu nhận tội. Nếu tỏ dấu thanh minh, sẽ bị coi là ngoan cố, tội càng nặng hơn, không ai được phép bào chữa. Chỉ tỏ vẻ thương cảm mà không tỏ vẻ phẫn uất, cũng rất nguy hiểm, có thể bị coi là liên quan, và chịu vạ lây. Con cái cũng không được tỏ bầy cảm tình đối với cha mẹ, còn phải đấu tố cha mẹ là khác, để may ra được ra khỏi thành phần.

Không phải người bị đấu tố nào cũng phải xử bắn, họ bị phân loại. Trên hết là địa chủ gian ác, bóc lột, có nhiều ruộng, lại bị tố cáo có những hành vi bóc lột, đánh đập người ở. ở bên Công giáo hạng này thì có ít, vì phần lớn những người giầu có, nhiều ruộng nhiều thóc, như ở Sơn Miêng, nhà giầu ở xứ Tâng (An Phú) Kẻ Vác… Họ hiểu thế nào là Cộng sản, đãmau chạy xa bay vào Nam từ năm 1954 rồi, một số đồng bào bên lương, đặc biệt là ở thành phố, cũng đãhiểu và cũng cao chạy xa bay.

Nhưng số lớn người bị bắn thường là những người bị quy cho là cường hào gian ác, ác bá, ác ôn… Đây là những chức việc trong xã trong huyện, hoặc là những người đãtham gia những đảng phái khác, như Quốc Dân Đảng, Đại Việt… Cả những người trong Đảng Cộng Sản bị nghi là tả khuynh, hữu khuynh, hay là những người có tư tưởng theo đường lối xét lại. Cả những người trung thành với Đảng, mà cá nhân có uy tín, nhưng lại có vẻ không trung thành với lãnh tụ, nói khác đi, không ăn cánh với cấp trên. Tất cả đều bị coi là nguy hiểm và cần tiêu diệt ngay từ trứng nước.

Tôi biết có hai người bị tội bắn: ở Báo Đáp, một người giầu có, xưa đãđi lính cho Pháp. Một người khác ở quê tôi, làm Chánh tổng lâu năm. Số người bị bắn, không mấy làng không có, có làng bị đến 2, 3 người, và con số ở miền Bắc lên tới hàng vạn, hàng vạn người.

Những người bị tử hình hầu hết là bị bắn, hoặc bị bắn ở cánh đồng, hoặc bị treo lên cành cây. Cuộc xử bắn diễn ra trước hàng vạn người, để có tính cách răn đe. “Sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Và đúng là thế, sự sợ hãi lên tới cực điểm, tựa như có đám mây đen bao phủ toàn dân. Phải triệt để khai thác tình trạng sợ hãi này. “Không được để lọt một thằng nào”. Hiệu lệnh là thế! “Thà giết nhầm 10 thằng còn hơn để lọt một thằng”.

Các địa chủ trung bình thường bị giam. Cùng với hàng địa chủ này một số lớn cũng bị giam, đó là những người đãcộng tác với chế độ ngày trước, hoặc đã đi lính và đã có cấp bậc, hoặc về hành chính, những trí thức xem ra không thiện cảm với chế độ mới, những người đảm nhiệm công việc trong tôn giáo mà có uy tín: như Chánh Trương, Trùm Trưởng, Quản giáo. Có cả nhưng Đảng viên Cộng Sản, cả trong Uỷ Ban Nhân Dân bị nghi ngờ là không trung thành. Gần tôi như ban hành giáo xứ Kẻ Báng (Xuân Bảng), nhất là Quản giáo bị bắt giam hầu hết. Xứ Tường Loan (Ba Trại) chưa được năm trăm nhân danh mà cũng mấy người bị bắt giam. Cả đến anh Trưởng Ban hát, và một thanh niên thường. Cũng ở xã đó, anh Chủ Tịch Uỷ Ban xã mà tôi mới trình giấy tháng trước, thì tháng sau nghe nói anh đãbị bắt giam.

Trong thời gian bị giam, thường là bị cưỡng ép làm giấy thú nhận đãcó những hành vi phá hoại: như bỏ trứng sâu vào lúa, phá hoại đê điều, đầu độc người nọ người kia, và ai cũng phải làm giấy nhận tội hết. Thời gian bị giam thường là năm, bảy tháng. Có nhiều người bị ngược đãi quá, hoặc bị bệnh nặng thì được tha về, và chỉ ít lâu sau thì chết.

Các địa chủ không có tội gì, ngoài việc có máu mặt hơn trong làng xóm, hoặc được người ta kính trọng hơn, có uy tín hơn một chút, thì chỉ bị phân biệt đối xử. Không còn quyền công dân, như là bầu cử, hội họp, không được làm chức vụ gì trong xã hội, cả trong tôn giáo. Nếu là người Công giáo, có đến nhà thờ cũng phải ngồi dưới, không được ngồi lên ghế trên. Con cái không được đi học, trừ đứa nào tiến bộ, cố gắng thoát ly ra khỏi giai cấp, bằng cách đứng với bần cố nông, hăng hái đấu tố giai cấp của bố mẹ, đi đến cả đấu tố cha mẹ, thì cũng được hưởng quyền lợi đôi chút của xã hội. Chứ không bao giờ tẩy xoá được cái danh hiệu “con địa chủ”, danh hiệu cha truyền con nối. Không được cả đến cái “vinh dự” đi bộ đội, vì còn bị nghi là không trung thành, bởi đãmang cái dòng máu đối nghịch truyền đời của giai cấp.

Có những cán bộ xuất thân từ giai cấp địa chủ, tư sản, từ đầu cách mạng, đã hoàn toàn thoát ly và đã có thể giữ chức nọ kia, có thể lên chức. Nhưng khi cách mạng thành công, họ không được trọng dụng lắm, không lên chức nào, mà còn bị thất sủng là khác. Thường những Đảng viên cũng bị đưa ra đấu tố.

Những cán bộ như thế, trong thời gian hoạt động, nhất là trong thời gian cải cách, không được, nói đúng ra, không dám có một liên hệ gì đến gia đình. Có thể nói, cả đến tư tưởng cũng phải dứt khoát! Nếu không sẽ bị liệt vào hạng liên quan và bị đem ra xử lý. Không bị kết tội thì cũng bị hạ tầng công tác.

Tất cả những lãnh tụ, kể cả lãnh tụ vĩ đại nhất cũng đều xuất thân từ giai cấp địa chủ, hoặc tư sản. Ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), ba anh em ông Lê Đức Thọ lý thuyết gia của Đảng, ông Võ Nguyên Giáp, ông Phạm Văn Đồng... đều là con cái địa chủ, hoặc là tư sản. Các ông ấy là những người sáng lập, cha đẻ ra Chủ nghĩa vô sản Việt Nam, thì các ông ấy đứng trên tất cả, ai làm gì được các ông! Các ông đặt ra cái thòng lọng, lại để cho cái thòng lọng thắt cổ mình làm sao?

Giả sử các ông ấy là nông dân thường, con nhà bần cố nông, thì làm gì có cơ hội mà ăn học. Đàng này, hầu hết các ông là học trò của trường Thành Trung (Carreau) Nam Định, trường Bưởi Hà Nội… Phải là địa chủ giầu có mới đủ tiền gửi con cái lên các trường đó, có ông còn được thực dân Pháp cho đi ăn học.

Xét cho cùng, thì giới bần cố nông phải biết ơn giới địa chủ, tư sản, đãphát động phong trào cải cách để họ nâng lên vai trò lãnh đạo.

Còn các nhà cải cách phát động phong trào, tô điểm mỹ miều cho các danh từ “thoát ly” mà họ mắc vào, chứ thực ra họ là những người “phản giai cấp”. Và công luận không bao giờ cho phép xoá đi cái danh hiệu con nhà “địa chủ”, mà họ đãdầy công bắt người ta bôi nhọ bằng đủ cái xấu. Gậy ông lại đập lưng ông là thế.
+GM. Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: Ba 11 03, 2009 10:28 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Một số kinh nghiệm riêng tư về cải cách

Ngoài xứ Nam Định là chính, tôi còn phụ trách hai xứ Phú ốc và Tường Loan, hai xứ thuộc nông thôn nên có cải cách ruộng đất.

Tôi vẫn đi lại xứ Phú ốc một cách dễ dàng, vì chỉ cách chỗ tôi ở thường xuyên có 3 km. Chủ Nhật nào tôi cũng lên đó dâng lễ, cả thứ Sáu thứ Bẩy đầu tháng. Còn như là bắt buộc phải đến các ngày lễ đó. Theo đội cải cách, đang làm việc gì, ở đâu ngày nào thì cứ việc làm, nếu bỏ thì y như là phá cải cách, làm cho cải cách mang tiếng là phá đạo.

Đạp xe đạp lên Phú ốc, cứ đến bờ hồ trước nhà thờ, thì lần nào cũng có chị đội cải cách đứng đón ở dưới gốc cây bàng. Chị mặc quần áo đen, đeo túi, và nói với tôi cách nh• nhặn: “Mời ninh mục vào hội ý”. Tôi bước theo chị, sang xóm bên lương, vào một túp lều, chắc là ngôi nhà của vị bần cố nông Đội đã bắt rễ. Ngủ nghỉ ăn làm, bếp nước là trong căn lều đó. Tôi ngồi trên nệm rơm với Anh Đội bên cạnh bếp. Trong cuộc hội ý, anh ân cần nhắc nhở tôi, lần nào cũng một tư tưởng: “Linh mục về làm lễ, cứ như thường, linh mục lưu ý là ở đây có nhiều phần tử xấu. Trong khi giảng đạo linh mục không được nói gì gây chia rẽ”. Nghe xong, tôi đứng dậy, ra dắt xe vào nhà thờ dâng lễ. Cả việc rước kiệu cũng phải giữ, không được bỏ.

Tình hình cải cách ở đây xem ra không gay gắt như ở các nơi khác. Dân cư ở đây, nhất là người có đạo, hiền lành tử tế hơn. Bà thẩm phán là bà Thứ, gặp tôi vẫn chào hỏi như các con chiên tốt lành khác. Mấy anh du kích như: Trường, Vu v.v… bà con sau này kêu là quá đáng, vì có những cách đối xử tàn bạo với những người bị quy là địa chủ. Nhân danh trong xứ đi Nam hầu hết, chỉ còn lại gần năm trăm, thế mà cũng có người bị quy là địa chủ. Địa chủ thường, chỉ bị đấu tố thôi.

Trong ba ông, già nhất là ông Chánh Lục, ông cũng làm thày Lang, hiền lành đạo đức. Thế mà ông cũng bị tố là đã cho thuốc độc vào quả táo để đầu độc đội cán bộ.

Ông thứ hai là ông Chuân, trước kia có đi lính thời Pháp, ông có râu nên bị trẻ con giật râu, bắt ông phải chào hỏi theo lối đội cải cách (trẻ con mặc quần thủng đũng) “Con chào ông bà nông dân ạ!”. Ông có người anh là ông Cao, làm hiệu trưởng Trường Lục Quân, con trai làm cán bộ trung ương, song chẳng ai thèm ngó tới ông.

Ông thứ ba là ông Kiều, công nhân nhà máy dệt Nam Định, như thế là ông thuộc giai cấp lãnh đạo, giai cấp công nông (búa liềm) chỉ vì ông hay nói, và có nói không đúng ý chính sách, nên ông bị quy “tội phản động”, và bị tố là đã cho thuốc độc vào quả táo để sát hại nhân dân.

Tôi cũng trông thấy đám nhi đồng quàng khăn đỏ, chiều chiều đi đánh trống phát động phong trào, tối đến bà con đi họp đông đủ.

ở Tường Loan (Ba Trại) phong trào cải cách tương đối mạnh mẽ, gay gắt hơn. Đến làm lễ Chúa Nhật ở đó, thường là phải xin phép trước, xin phép cơ quan thành phố Nam Định, chứ không phải xin phép Đội.

Một cuộc cử hành lễ Chầu Lượt điển hình tại Ba Trại. Đó là vào dịp Tết Nguyên Đán năm Bính Thân (1956). Ngày Chủ Nhật Chầu Lượt, rơi vào chính ngày Mồng Một Tết. Một tuần trước, tôi đến Ba Trại để giải tội (vì cho rằng ngày Mồng Một Tết không có thì giờ giải tội).

Theo lệ, đến đâu là phải đến chào Đội ngay để “hội ý” Xong công việc, khi trở về, cũng phải ra chào Đội. Bởi vì chào lúc đi, rồi sắp trở lại ngày Tết. Đội nói với tôi: “Lần sau ông ra, có gì xẩy ra ở đây, ông phải chịu trách nhiệm”.

Ông nói thế, thì cũng như cấm tôi ra đây. Tôi vấn lại: “Ông nói thế cũng là một cách cấm”. Tôi ví dụ: Nếu ông treo ở cổng làng tấm bảng đề: “Ai vào làng này sẽ phải chịu trách nhiệm về cái gì xẩy ra nơi đây”. Nhìn tấm yết thị như thế, ai còn dám vào làng? Tôi cũng không dám!

Ông cứ việc đến, có thế nào thì sẽ xét…

Anh Đội đấu dịu: “Ông nói thế thì được, chứ không đóng sống cho bất kể ai vào làng này đâu!”

Có lẽ chỉ mình tôi dám ý kiến thẳng với Đội. Nhất Đội nhì Trời cơ mà. Ai dám nho nhe!

Ngày thứ Bẩy trước Chủ Nhật lễ Chầu, tức là ngày 30 Tết, tôi xin giấy ra Ba Trại làm lễ Chầu. Đến Khu phố, Khu phố bảo đến Công an. Đến Công an, công an bảo đến Mặt trận. Nộp đưa các đơn có phải là dễ đâu. Biết thân phận mình thuộc thành phần rốt hết, nên đơn nộp phải cẩn thận, đặt dưới cùng đống đơn bà con đến trước đã dầy cộm. Cán bộ cứ lần lượt xét, giải quyết từ trên xuống dưới. Cuối cùng đến lượt mình, may mà còn thì giờ nên đơn được cầm lên. Nếu hết giờ, chưa đến lượt, thì về không, sáng đến chiều, chiều đến hôm sau, cứ mỗi buổi đơn thêm nhiều bao nhiêu, của mình vẫn ở cuối cùng. May mà lần này, vẫn còn giờ, nhưng lại được đẩy đến cơ quan khác, trong một ngày 30 Tết đó, tôi được đẩy đi qua hết mọi cơ sở hữu quan, có nơi đến lần thứ hai. Đến chiều khi mọi cơ quan đều đóng cửa về ăn tết. Tôi vẫn… không bị từ chối, nhưng bị đẩy đi các cửa, cho đến khi các cơ quan đóng cửa hết, tôi đành cầm đơn về không. Thế là ngày mai Ba Trại không có lễ Chầu!

Tối như đêm 30 Tết. Kẻ trộm cũng rình mò tối hôm đó, hơn các đêm khác. Trong dân gian cứ lưu truyền thế. Tất tả suốt ngày, đêm đến giấc ngủ đang ngon thì bỗng có tiếng gọi cổng nhà xứ. Công an gọi tôi cấp tốc ra đồn. Có việc gì mà khẩn cấp thế, mắt còn đang cay xè, tôi bước theo anh công an. Đi thế này, trong đêm tối thường chỉ là bị bắt và điệu đi giam. Thế mà sao lúc này, tôi chẳng có ý nghĩ gì về chuyện đó, nên không thấy bị xao xuyến gì. Một số cán bộ ngồi đó cho biết, Toà Giám Mục Hà Nội vừa cho ra một Thư Chung phản động.

Thư Chung Đức Cha Khuê vừa viết là về đề tài Tình Yêu. Họ giải thích đó là bức thư chống cải cách ruộng đất, đặc biệt là sự tha thứ cho thù địch và như thế là tha thứ cho địa chủ, bọn phản động, cường hào ác bá.

Tình Yêu, yêu mọi người, cả kẻ thù nghịch, đó là luật căn bản của đạo Phúc Âm. Cuộc tranh luận nổ ra ngay ban đêm. Giữa một bên là cha chính Nhân và tôi và bên kia là cán bộ của Uỷ Ban. Không thể và không dám bắt chúng tôi bỏ đi lề luật căn bản đó về đạo. Họ chỉ đòi chúng tôi là không được đọc thư đó, và nộp cho họ các bức thư. Chúng tôi không nộp.

Sau đó họ hỏi tôi có làm lễ Chầu ở Ba Trại không?

Tôi nói các ông có cấp giấy đâu mà đi, tôi đã đi suốt ngày để xin giấy, cho đến lúc các cửa cơ quan đều đóng cửa cả mà không nơi nào giải quyết. Họ nói: “Sáng mai ra đồn Công an lấy giấy”.

Sáng hôm sau, Chủ Nhật Mồng Một Tết. Tôi và cha chính Nhân thỏa thuận tóm tắt Thư Chung và nói, như thế mọi người đều hiểu căn bản về bức thư.

Lễ xong tôi ra đồn xin giấy. Đến đồn, chưa ai thức dậy, tôi phải đánh thức họ, một anh công an hỏi tôi cần gì? Tôi nói đêm qua, Uỷ Ban Thành Phố có bảo tôi: “Sáng nay ra đồn lấy giấy”.

“Hôm nay không cấp giấy!”, anh công an nói.

Tôi biết, hôm nay ngày Tết, chỉ có kẻ nào không có trí khôn mới đến cơ quan xin giấy. Nhưng vì tối qua Uỷ Ban báo sáng nay ra đồn lấy giấy, nên tôi mới đến.

“Được rồi! Ông cứ về đi”. Chúng tôi còn xét…

Tôi về nhà được độ 5 phút, có tiếng gọi rối rít ở sân:

“Ông Trọng ơi! Ông Trọng ơi! Ra đồn lấy giấy”.

Tôi vội vàng đi theo anh công an ra đồn. Đến văn phòng, ngay ở cửa, thấy chiếc bàn trên có bày la liệt bánh kẹo, ấm chén.

Một anh công an ở buồng trong đi ra, có lẽ là đồn trưởng, anh chúc mừng năm mới tôi, rồi tôi chúc mừng đáp lại. Trong vòng 10 phút mà quang cảnh rất khác nhau. Anh đồn trưởng mời tôi ăn bánh kẹo, uống nước trà để mừng xuân, cùng nhau vui xuân một lúc. Anh đưa cho tôi giấy thông hành có giá trị ba ngày. Tôi xin phép đi, anh ân cần hỏi:

- Linh mục có phương tiện gì không?

- Có, tôi vẫn đi xe đạp.

- Tôi vừa nói xong, thì một người từ cổng chạy vào nói:

- Có tôi giúp linh mục.

- Tôi nhận ra người đó là anh đội cải cách, tôi đã gặp ở Ba Trại.

Tôi về nhà lấy xe đạp, cùng sánh vai với anh đội cải cách, qua các đường phố. Đường phố lúc này còn vắng vẻ, chưa tới giờ xuất hành mà!

Ra khỏi thành phố, trên con đường qua cánh đồng để đi tới Ba Trại, tuyệt không một bóng người. Nhưng trên cánh đồng, ở đàng xa, lủi thủi mấy bóng người. Tôi đoán có lẽ là những địa chủ, đã bị tịch thu hết nhà cửa tài sản, không được vui tết với ai cả, đành lang thang trên cánh đồng.

Đến gần nhà thờ, trước cửa nhà ông Sặt, một gia đình được Đội coi là thân thiện. Anh Đội chia tay tôi, để tôi một mình vào nhà xứ. Trong vòng mấy tiếng đồng hồ, các màn kịch diễn ra thay đổi như trở bàn tay. Lúc thì xua đuổi, lúc thì ân cần đón tiếp, săn sóc đến nơi đến chốn, để rồi đưa vào cạm bẫy.

Những màn sau đây cũng được sắp xếp, nhưng có đầy tình nghĩa, song lại được lái vào những mục tiêu gian dối và thâm độc hơn.

Tới nhà xứ, ba gian nhà khách đã đầy ắp người, im lặng như đang có cái gì. Hay nói đúng hơn, với dáng dấp sợ sệt, không ai hé môi.

Một ông dắt xe đạp của tôi, để vào một chỗ. Một bà bưng chậu nước nóng để tôi rửa mặt rửa tay, trời lạnh mà! Tôi biết tên hai người: Ông Lộc, bần cố nông nay đội cải cách cắt làm Trùm. Bà Giảng, cũng là bần cố nông nay được cất làm bà Quản giáo. Ông Lộc, bà Giảng hôm nay được Đội chỉ định để hầu hạ tôi.

Tôi vào ngồi giữa nhà, bà con tất cả ngồi chung quanh, chen nhau trong nhà, không ai ngồi hè. Anh Chung, con người tôi chưa biết, thay mặt cho mọi người chúc tết tôi, rồi anh tuyên bố: “Thưa Cha, những người đội lốt, đã bị lột mặt nạ, và đội đã tống giam cả rồi. Xin cha cứ yên trí ở lại với chúng con, nghỉ lại đêm Mồng Một với chúng con”.

Nhìn chung quanh, không thấy ông Chánh Trương Huỳnh, ông Trùm Tứ, ông Quản giáo Luỹ, ông cựu trùm Trạch. Tôi biết ngay những người đội lốt là ai?

Thấy thế, tôi định tâm không dám ở lại đêm nữa, mặc dù tôi có giấy và có ý nghĩ từ trước.

Thấy trước mặt tôi có người lạ, tôi chưa biết, nên hỏi anh:

- Anh là người thế nào? Tôi chưa biết, còn dân xứ đây tôi biết hết.

- Thưa Cha, con ở Phủ Lý về đây!

- Sao đang ở Phủ Lý lại về đây?

- Con xin thú thực với Cha, con là người Thanh Hoá, gia đình con kéo nhau đi Nam. Đến Phủ Lý con bị cản lại, nên con về đây!

- Anh cứ ở đây, đất lành chim đậu, đi Nam làm gì?

- Khi mọi người giải tán, lên nhà thờ, ông trùm Lộc thắc mắc với tôi?

- Sao ban nãy Cha lại nói chuyện với người lạ?

- Tôi thấy người đó lạ, tôi phải hỏi.

- Anh ta không có nhiệm vụ, mà anh dám vào tiếp xúc với cha. Cái này con phải ra trình Đội.

Rồi tôi ra nhà thờ cử hành Thánh lễ, lễ xong đặt Mình Thánh chầu. Lễ Chầu năm nay chỉ có những người trong xứ chầu Mình Thánh với nhau, trong bầu không khí buồn tẻ sợ hãi. Ngoài việc giải tội những người không đi kịp tuần trước, không một ai đến tiếp xúc với tôi, trừ ông trùm Lộc, bà Giảng lo liệu việc cơm nước cho tôi. Thêm anh Chung, lúc nào cũng săn đón tôi để xin xưng tội, dù bị giãn. Anh là đội cải cách hoạt động ở vùng Gia Trạng, Đại Lại, không biết bị thất sủng hay được sai về làm việc ở quê. Nếu được làm việc ở quê thì cũng khác thường, vì hầu như là quy luật, đội cải cách phải hoạt động xa quê quán của mình, để dễ “khách quan”.

Đến 5 giờ chiều, tôi trở về Nam Định. Không dám ở lại đêm như đã dự định, vì những người thân quen làm việc bên tôi, đã bị bắt giam hết.

Còn truyện ông trùm Lộc đi báo cáo với đội về anh Long nào đó, tức là người lạ mặt mà tôi hỏi chuyện trong buổi chúc mừng tết ở Ba Trại hôm đó. Ông trùm Lộc không có lòng độc ác đâu. Ông chỉ quá thật thà làm theo kế hoạch Đội đặt ra mà ông không biết.

Kế hoạch là làm thế nào bắt anh Long với những bằng chứng rành rành không thể chối cãi được. Trước hết anh có mặt trong buổi họp, nơi anh không được phép đến, trừ ra Đội cho phép hoặc thúc đẩy. Đến chỗ họp, anh được xếp ngồi một mình trước mặt linh mục, để linh mục phải bó buộc bắt chuyện. Giả sử không có cuộc tiếp xúc đi nữa, cũng không sao. Nguyên việc anh là người lạ, mà có mặt bên những người con chiên của Cha, là anh đã trà trộn vào đó với ý đồ gì? Sự có mặt, việc tiếp xúc đó, ông Trùm là người có nhiệm vụ phải quan sát tất cả, và đúng là mọi cái không qua mắt ông, dù ông là người chột mắt. Ông đi báo cáo với Đội. Thế là tội anh Long có đủ bằng chứng không thể chối c•i được. Nghe đâu anh đã bị bắt giam ngay, và trong khi bị giam anh đã khai:

- Tôi đã gặp linh mục, linh mục có trao cho tôi một chai axít, để đổ vào cán bộ, tôi ra khỏi sân nhà thờ, đến bờ ao, tôi đã ném xuống ao rồi.

Cán bộ cũng không bắt anh phải xuống ao mò chai axít đó, vì làm gì có? Có xuống mò thì cái gian dối lại thò đuôi ra.

Mặc dù thế, anh vẫn bị kết án. Giá người có tội thật thì phải xử bắn. Nhưng tội của anh, chỉ là trong kế hoạch thu xếp của Đội, không có thật. Dù thế, anh vẫn bị ba tháng tù, rồi bị đuổi về Thanh Hoá, quê quán của anh.

Nói chung, những người bị bắt dưới thời cải cách, hầu hết rơi vào tình trạng phạm tội như thế.

Cũng ở Ba Trại, một anh thanh niên tên là Ghi con bà Hồi, còn bị khép tội một cách trâng tráo hơn nhiều.

Một buổi chiều nọ, trong tháng 3 năm 1956, đội đưa anh Ghi xuống Nam Định, đến cổng trại An Phong, Đội bảo anh vào gặp linh mục. Lúc này là cha già Nguyễn Phúc Hạnh, anh ngơ ngác, rụt rè một mình đến với cha, cha hỏi:

- Anh ở đâu, có việc gì ?

- Anh ấp úng đáp:

- Con ở Ba Trại, trình... trình. ... cha..

- Cha Hạnh đuổi ngay.

- Ba Trại thì xuống cha xứ mà trình, tôi không biết.

- Anh lủi thủi đi ra cổng, vẫn gặp anh Đội đã đưa mình đi. Anh Đội bắt nghiến lấy với tội danh: “Đã đến tiếp xúc với linh mục, nhận chỉ thị để về gây tội ác”. Vì tội đó, anh bị giam thời gian một năm. Chuyện thật trăm phần trăm.

Cả đến đồng chí Chủ Tịch Uỷ Ban Xã Mỹ Tân (Ba Trại). Đồng chí Đán cũng bị bắt giam với tội danh bỏ trứng sâu vào ruộng ngô, anh còn phải diễn lại “tội ác” bằng cách cầm một hộp bích quy đựng tro và rắc trên ruộng trước ống kính nhà nhiếp ảnh. Thật là nhọ nhem!

Tất cả các viên chức hàng xứ Ba Trại đều bị khép tội như thế. Ông Huỳnh, ông Tứ, ông Lũy, ông Nguyệt, ông Trạch....quy địa chủ, bị bắt giam một thời gian mấy tháng. Các ông đều làm giấy xin tôi tha tội, vì trong khi bị giam các ông đã “dại dột” đổ tội cho tôi đã đưa trứng sâu cho các ông để bỏ vào lúa.

Những chuyện có vẻ trẻ con đó mà hậu quả thì rất nghiêm trọng, chắc chắn đã diễn ra trên khắp miền Bắc. Đó là chính sách cải cách ruộng đất, đâu đâu cũng phải thực hành theo cùng một cung cách như nhau. Anh Đội nào, địa phương nào mà dám làm khác, và con số những người bị vu khống oan ức như thế, phải lên đến hàng triệu.

Người trần gian mà làm ông tổ của nói dối, vu khống là nhà đại văn hào Pháp (Voltaire), đã đưa ra một khẩu hiệu: “Bạn cứ nói dối, nói dối khoẻ hơn nữa đi, thế nào cũng còn cái gì!”. Phải, thế nào cũng còn cái gì!

Quần chúng phẫn nộ trước sự gian dối độc ác. Khi việc cải cách phải sửa sai, họ đi tìm những Đội mà rạch mép, những cái mồm mép đã phun ra bao là dối trá, vu khống. Cũng may mà chỉ tìm ra được số ít, vì không biết họ từ đâu mà đến, để gieo rắc bao tai họa cho thôn làng. Nhưng mấy tên bị rạch mép cũng đủ làm im đi những môi mép đã phun ra bao nọc độc chết chóc.

Còn tiếp
+GM. Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
mlcn



Ngày tham gia: 12 9 2007
Số bài: 1963

Bài gửiGửi: Tư 11 11, 2009 6:32 am    Tiêu đề: Phải chăng đó là trong chủ nghĩa duy vật? Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Phải chăng đó là trong chủ nghĩa duy vật?

Nguồn: vietcatholic.net

Theo chủ nghĩa duy vật, đem giải thích theo lịch sử quan thì xã hội loài người theo cơ cấu hạ tầng cơ sở và thượng tầng cơ sở (super-structure). Hạ tầng cơ sở là vật chất thì bất biến. Thượng tầng cơ sở là trí tuệ, là kiến thức, là luân lý, là tôn giáo, là quyền bính thì thay đổi. Chính kinh tế làm thay đổi, biến thể. Thượng tầng cơ cở là nền tảng của chủ nghĩa duy tâm, mà kinh tế làm thay đổi. Lịch sử thế giới, theo họ, biến đổi, tiến bộ, không do trí tuệ, do chiến tranh, do tôn giáo, do tiến bộ khoa học. Nhưng là do kinh tế chi phối và họ đưa ra lịch sử quan để giải thích những giai đoạn loài người đang trải qua. Từ lúc kinh tế còn thô sơ cho tới nền kinh tế phức tạp ngày nay. Chính là kinh tế làm thay đổi mọi sự.

Theo chủ nghĩa Mác-Ănghen: Lịch sử thế giới diễn biến theo nhịp kinh tế, từ đời sống hang hầm, đá đẽo, cho tới thời đại điện tử. Kinh tế chi phối tất cả, nó làm thay đổi cái thượng tầng cơ cấu. Do đó, cải cách ruộng đất cũng trong đường lối diễn biến đó. Nó làm thay đổi bộ mặt xã hội, mà nền tảng là duy vật. Nó là duy vật nên không chấp nhận cái gì là thiêng liêng. Làm gì có Chúa, có thánh thần, có cái gì là linh thiêng cao cả, có cái gì là ở trên, có cái gì là cái đáng kính, đáng trọng, có cái gì cần nể nang, cần phải bảo tồn? Chủ nghĩa duy vật mù quáng, chôn vùi mọi thứ xuống đất, không chút thương tiếc.

Vì thế cải cách ruộng đất dựa vào chủ nghĩa duy vật, có thể đập phá lung tung, không phải kiêng nể bất cứ cái gì, phong trào được phát động đến mức con cái có thể đào mả bố, đấu tố sỉ nhục cha mẹ. San bằng tất cả những cái mà các chế độ, các thời đại trước đã tạo nên, để xây dựng một thượng tầng cơ sở mới, không biết nó sẽ là cái gì, vì vật chất thì mù quáng làm gì có cái kim chỉ nam. Sống suy nghĩ theo Mác-Ănghen thì nó miên man và ảo tưởng đến thế!

Nông dân vô sản làm gì mà biết suy luận như thế? Người ta bảo đánh thì đánh, đập phá thì đập phá. Rồi họ mãn nguyện với mảnh bằng, chứng thực. Họ được làm chủ mấy sào ruộng, để rồi ít lâu nữa sẽ rời những cái ghế chủ nhân. Bây giờ họ chưa biết thế đâu!

Tấm bằng được trình bầy một cách rất lộng lẫy khổ 60 x 40 có ghi những chữ lớn với nét đỏ thắm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất.

Sau đó là kê khai những thửa ruộng được làm chủ. Cuối cùng lại hiện ra những dòng chữ viết khá lớn, để cho thấy nội dung cũng quan trọng. Đó toàn là những khẩu hiệu đã được ghi đó đây, được để ở cửa miệng để hô to. Ghi ở đây, chúng lại có ý nghĩa đặc biệt. Câu đầu là: “Tăng cường đoàn kết”.

Đoàn kết ở đây, trong lúc này nó có ý nghĩa đặc biệt. Nói theo chủ thuyết Hegel, một trong những chủ thuyết của chủ nghĩa Mácxít-Hegel chủ chương thuyết Tan Hợp, Hợp Tan Antithèse và Synthèse. XÃ hội chứa đầy những mâu thuẫn (Antithèse). XÃ hội luôn có những mâu thuẫn (Antithèse) và do cuộc đấu tranh giữa những cái mâu thuẫn, đi tới tổng hợp (Synthèse). Tổng hợp đây không có nghĩa là hợp những cái mâu thuẫn lại, nhưng là các mâu thuẫn loại bỏ nhau, thành một cái mặt bằng (Synthèse). Đó chính là điều mà bản Tuyên Ngôn của Mác mới đầu: “Hỡi các bạn vô sản trên thế giới, hãy đoàn kết lại”.

Trong cải cách ruộng đất: giới vô sản, tức bần cố nông đứng sau Đảng, lật đổ không những giới chủ ruộng, mà còn cả những mâu thuẫn đối nghịch khác, để làm nên một mặt bằng gồm những người khố rách như nhau, để rồi trên đó sẽ có những người có cái khố lành hơn, cái áo sặc sỡ hơn, làm nẩy nở những mâu thuẫn khác (Antithèse). Đó chỉ là những cái mà giới chóp bu đưa vào để tìm nguồn động lực cho hoạt động của mình; còn dân chúng thì chỉ bị lái, mà nổi lên một cách vô ý thức.

Sau cuộc đấu tranh mệt mỏi, được thưởng bằng một tờ giấy có ghi: “Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất” là hể hả. Nhưng còn phải giữ cái thành quả đó bằng “tăng cường đoàn kết”, rồi “nâng cao cảnh giác”. Nâng cao cho đến lúc ruộng đất được đem đi dâng, còn lại mảnh bằng, có cất kỹ thì may ra lâu mới không mục vì nó bằng giấy. Nhưng cái gì con người tạo nên, nó cũng sẽ mau biến đi như thân phận con người.

Cải cách ruộng đất chỉ là một công cụ mà Đảng Cộng Sản nước nào cũng dùng để xây dựng và củng cố quyền bính. Nó là công cụ, nên chỉ là giai đoạn, vì chỉ được dùng vào một thời nào đó. Những cảnh rùng rợn nó gây nên, chẳng bao lâu người ta cũng nguôi đi, hoặc bị làm cho quên lãng.

Khoảng tháng 10 năm 1956, người ta mời tôi đi họp. Sao người ta lại mời tôi, họp về việc gì tôi cũng không nhớ! Kỳ cục thay, địa điểm họp chính lại là ở trường đào tạo cán bộ cải cách ruộng đất ở thị xã Phủ Lý. Một khu rộng rãi, gần nhà thờ, có mấy chục ngôi nhà lợp lá. Thị xã Phủ Lý lúc này do tiêu thổ kháng chiến đã bị hoang tàn, dân cư thưa thớt, nhà cửa lụp xụp. Có độ vài trăm người họp. Có điều khác thường, chắc trước đây không có. Đó là một ngôi nhà nguyện, trong đó sáng tối có tiếng đọc kinh râm ran. Người họp có đủ hạng, thành thị, nông thôn, đàn bà, đàn ông, người già, người trẻ... các bà đọc kinh cầu nguyện tối sáng, có lẽ là các bà Bùi Chu. Cũng có mấy linh mục khác. Chúng tôi không gặp nhau, vì không muốn lợi dụng đi họp để gặp nhau. Chúng tôi không làm lễ dù người ta mời. Cũng không đến cái nhà gọi là nhà nguyện bao giờ. Đi họp là đi họp, không làm lễ, và chúng tôi không mang áo dài thâm, để lấy cớ không có áo dài thâm thì không làm lễ. Họp ba ngày, ăn ngủ ở đó, phân chia từng tổ. Tổ bao gồm những người thuộc tỉnh mình, địa phương mình. Tổ của tôi gồm các nhân sĩ, bác sĩ, giáo sư, nghĩa là thành phần “thượng lưu”.

Không biết có nhiều phiên họp chung không, và họp về các đề tài gì? Chỉ biết chúng tôi ngồi với nhau tán chuyện suốt ngày. Rồi bữa ăn, bữa quà. Tối đến đi xem diễn kịch, hoặc Xinêma. Những giải trí đó tôi không đi bao giờ.

Họp sau khi cải cách, giữa trường đã đào tạo đội cải cách, mà không nói gì tới cải cách. Không khen, không chê, không rút kinh nghiệm. ở dưới mái nhà đã che nắng mưa cho những người được huấn luyện để đi gây rùng rợn, sợ hãi cho kẻ khác. Nằm trên những chiếc giường mà hôm nào đó, những người cán bộ cải cách ruộng đất đã có những đêm ngủ ngon, để rồi đi gieo đau thương vào tâm hồn và thể xác của hàng triệu dân lành.

ấy thế mà không ai nói đến chuyện cải cách, những lúc ngồi tán chuyện với nhau, thường người đời chỉ lấy chuyện “bù khú” làm đầu. Nhưng họ chợt thấy tôi ở gần, họ liếc mắt nhau, rồi lảng sang chuyện khác, y như nói với nhau: “Ông cố đạo đấy, đừng làm rát tai ông ta, ông ta cười cho”. Có lần họ dở chuyện đạo với nhau, và tôi nghe được.

Chuyện ở miền Nam. Họ được thông tin đâu đó nói rằng: Toà Thánh đặt Đức Cha Hiền ở Sài Gòn, còn Đức Cha Ngô Đình Thục, anh ông Diệm thì đưa về Huế, và họ khen Toà Thánh công bằng! Có ý muốn nói: Ông Thục là anh em với ông Diệm, lẽ thường ông Diệm muốn đặt người anh của mình ở thủ đô Sài Gòn, thế mà Toà Thánh lại không nghe, lại đặt ở Huế, không quan trọng bằng “thủ đô Sài Gòn”. Nghe biết vậy, thực ra lúc này Hà Nội làm gì có những thông tin như thế, và tôi cũng không tham gia vào câu chuyện.

Họp sau ngày cải cách, họp trong trường đào tạo cán bộ cải cách, mà không nói gì đến cải cách, lại chỉ nói đến chuyện ở đâu. Y như người ta muốn quên đi những chuyện về cải cách. Quên thật, những ngày họp ở đây toàn là những ngày “chiêu đãi” để lấp liếm mọi chuyện. Được đi họp những buổi như thế này là vinh dự lắm, phải ở cấp nào, công tác làm sao mới được vinh dự đó. Không hiểu sao, tôi lại được cái vinh dự đó!

Đầu năm 1957, tôi thấy trong mình hơi yếu, lợi dụng sau cải cách, mọi cái dễ dàng, tôi xin lên Hà Nội một tháng để chữa bệnh. Chữa bệnh thì ít, nhưng tôi có một ý định khác. Lúc này nhà nước cho ra cái phong trào: “Người Công giáo yêu nước” dưới danh hiệu “Hội liên lạc những người Công giáo yêu tổ quốc, yêu hoà bình”. ở các nước Cộng sản khác, họ trắng trợn đưa cái thứ Hội yêu nước như thế để tách khỏi Vatican. ở Việt nam, miền Bắc còn phải chiếu cố miền Nam, nên không dám cho mình tự trị, nhưng cũng tìm cách đứng ngoài ảnh hưởng của Vatican.

Về phía Giáo quyền đã có những tuyên bố, chỉ thị, biện pháp, chống lại trào lưu này. Ngoài thông cáo thời danh của cha chính Antôn Đinh Lưu Nhân, Nam Định, về hội Liên lạc Công giáo đó. Tôi cũng muốn đóng góp một phần nhỏ tích cực hơn. Tôi thu thập những bài nói về Hội Thánh, soạn thành một cuốn sách nhỏ, chỉ nói về cái này là vẻ đẹp của Hội Thánh, để cho thấy tách biệt khỏi Hội Thánh là tách biệt khỏi Chúa Kitô, tách biệt khỏi Chúa Kitô là tách biệt khỏi Thiên Chúa. Tôi đã soạn xong nhân dịp đi an dưỡng. Nhờ ông Tiệp lúc này chưa là ông Cố, mà chỉ là người thư ký làm việc ở hiệu sách Thánh Maria. Dĩ nhiên là ông đánh máy, trình bầy đẹp hơn tôi. Tôi đã hoàn thành, và định nhờ máy ronêô của Nhà Chung. Máy này bỏ lâu không dùng được. Tôi xin một ít giấy của Nhà Chung đưa về Nam Định quay lấy. Tôi đưa về Nam Định quay máy ronêô với một đứa cháu của tôi, để công việc kín đáo hơn.

Nhắc lại chuyện đó cho thấy sau cải cách, vào thời kỳ sửa sai, việc đi lại dễ dàng. Việc xuất bản khó khăn, nhưng việc in ấn còn có thể kín đáo tiến hành. Nhưng nhất là cho thấy Giáo Hội Việt Nam còn phải đối phó gay go với một phong trào khác: “Hội Liên Lạc”, gay go, phức tạp, dai dẳng hơn là đối với cải cách ruộng đất.

Ví dụ: Do tình thế đi lại dễ dàng của thời kỳ sửa sai, Đức Giám Mục địa phận, Đức Cha Trịnh Như Khuê, đi đến cả những xứ thật xa, ở tỉnh Nam Định. Nơi đây, cha xứ là cha Vũ Xuân Kỷ, Chủ tịch Hội Liên Lạc Công Giáo, hình như đi công tác, không có mặt ở xứ. Trong lúc Đức Cha tiếp giáo dân đứng chật trong nhà, ngoài hiên, ngoài sân. Mấy tên Công giáo tiến bộ, đứng đầu là tên Đượm, tên Đọc... mấy tên đó cứ đẩy đám đông, để xông vào ý kiến với Đức Cha, xô đẩy Đức Cha đến chân tường, rồi ra hiên đằng sau, đến chân cầu thang. May nhờ cầu thang này mà Đức Cha lên gác “thoát nạn”.

Khi mọi người trở lại bình tĩnh, Đức Cha tuyên bố bãi Xứ An Lộc, và chuyển sang họ Vạn Điểm. Từ nay họ Vạn Điểm trong lịch Công giáo được in là Xứ Vạn Điểm. Quyết định có vẻ vội vàng một chút. Song thấy cha xứ đứng đầu phong trào chống Giáo Hội, giáo dân không biết có bao nhiêu người, có những cử chỉ quá khích, thì làm sao tránh khỏi kết luận. Xứ này không còn trung thành với Giáo Hội, và nên bãi đi.

Kết luận khác không thể sai: Những cử chỉ quá khích của một số giáo dân An Lộc hôm đó, đã được ăn tự từ cách lộng hành, tàn bạo của cải cách ruộng đất.
+ GM. Phaolô Lê Đắc Trọng
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    HOME - THƯ VIỆN SƯU TẦM TIN TỨC - TÀI LIỆU -> Giáo Hội Việt Nam Thời gian được tính theo giờ MST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 2 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group