 |
HOME - THƯ VIỆN SƯU TẦM TIN TỨC - TÀI LIỆU Thư viện tin tức, tài liệu, bài vở của thanhlinh.net và sưu tầm từ các trang web khác mà Quý vị không vào được hay không biết đến để nghiên cứu, tìm hiểu. Chân thành cám ơn các tác giả.
|
| Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn |
| Tác giả |
Thông điệp |
mlcn

Ngày tham gia: 12 9 2007 Số bài: 1963
|
Gửi: Bảy 1 24, 2009 6:48 am Tiêu đề: |
|
|
Ba mươi
NHÂN QUYỀN
Một lần nữa ÐTC nhắc nhở đến phẩm giá con người. Cùng với nhân quyền, kết quả của phẩm giá con người, đây là một trong những chủ đề trọng tâm và theo chu kì trong giáo huấn của ÐTC. Nhưng ÐTC muốn nói lên điều gì qua "phẩm giá con người" ? ÐTC hiểu như thế nào về "nhân quyền" đích thực? Có phải là những nhượng bộ từ các chính quyền và các nhà nước hay không? Hoặc một thứ gì hoàn toàn khác, một thứ gì hết sức sâu sắc hơn?
Trong một ý nghiã nhất định tôi đã nêu ra vấn đề ngay trọng tâm câu hỏi của anh : "Phẩm giá con người có ý nghĩa gì? Nhân quyền là gì? " Dĩ nhiên những quyền này đã được Ðấng Tạo hoá ghi trong chương trình sáng tạo; vì thế chúng ta không thể nói đến những sự nhượng bộ về phía các định chế của con người, về phía các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Những định chế này biểu lộ không hơn gì điều mà chính Thiên Chúa khắc ghi trong chương trình sáng tạo của Ngài, điều mà chính Thiên Chúa khắc ghi trong lương tri, hoặc trong tâm hồn con người, như thánh Phaolô giải thích trong thư gởi cho các tín hữu La mã (x. Rm 2:15).
Phúc âm là sự xác nhận đầy đủ nhất của tất cả quyền con người. Nếu không có nó chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy xa cách với sự thật về con người. Thực ra Phúc âm xác nhận quy luật của Thiên Chúa duy trì trật tự luân lí của vũ trụ và thừa nhận nó, đặc biệt bằng chính sự Nhập thể. Con người là ai, nếu Chúa Con mặc lấy bản tính con người? Người này phải là ai, nếu Con Thiên Chúa trả giá tuyệt đỉnh cho phẩm giá của nó ? Mỗi năm phụng vụ Giáo hội diễn tả điều kì diệu sâu xa này khi Giáo hội chiêm ngắm sự thật và mầu nhiệm này, vào ngày Lễ Giáng sinh và trong đêm Vọng Phục sinh. "O felix culpa, quae talem ac tantum meruit habere Redemptorem" (Ôi tội hồng phúc, tội đã giành được cho chúng ta Ðấng Cứu chuộc vĩ đại biết chừng nào!" Kinh Exultet). Ðấng Cứu Chuộc chứng thực những quyền con người bằng cách phục hồi phẩm giá trọn vẹn mà con người đã lãnh nhận khi Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài.
Từ khi anh bàn đến vấn đề này, hãy để tôi lợi dụng câu hỏi của anh để nhắc lại vấn đề này dần dần trở thành cực kì quan trọng đối với tôi như thế nào. Ðó là một điều kinh ngạc lớn lao để tôi ý thức rằng mối quan tâm đối với con người và phẩm giá của nó đã trở thành đề tài chính của cuộc bút chiến chống lại chủ nghĩa Mác-xít, mặc dù có những mong đợi trái ngược, và cũng vì những người Mác-xít đã làm cho vấn đề của con người trở thành trung điểm của những lí lẽ của họ.
Sau chiến tranh, khi những người Mác-xít nắm được quyền lực ở Ba lan và bắt đầu kiếm soát chương trình giảng dạy đại học, người ta có thể chờ đợi chương trình của chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ được biểu lộ qua triết thuyết tự nhiên. Phải nói rằng Giáo hội ở Ba lan đã chuẩn bị cho vấn đề này. Trong những năm sau chiến tranh, tôi nhớ lại những tác phẩm của Cha Kazimierz Klosak - một giáo sư của khoa Thần học ở đại học Krakow nổi tiếng về học thức cực kì uyên bác- đã trình bày sinh động biết bao đối với giới trí thức Công giáo. Trong các tác phẩm uyên bác của Klosak, triết học tự nhiên Mác-xít đã bị thách thức bằng một biện pháp đổi mới cho phép khám phá ra Logos - ý tưởng và trật tự sáng tạo- trên thế giới. Vì vậy Klosak đã trở thành một phần của truyền thống triết học khởi đầu với các nhà tư tưởng Hi lạp, và tiếp tục bằng quinque viae của thánh Thomas, và thậm chí nơi các nhà khoa học hiện nay như Alfred North Whitehead.
Thế giới hữu hình tự nó không thể đưa ra một nền tảng khoa học để có được một giải thích có tính cách vô thần về thực tại. Sự suy nghĩ trung thực vẫn tìm được những yếu tố đầy đủ trên thế giới để đạt đến sự nhận biết Thiên Chúa. Trong ý nghĩa này sự giải thích có tính cách vô thần về thực tại là phiến diện và có dụng ý.
Tôi vẫn còn nhớ lại những cuộc tranh cãi này. Tôi cũng tham gia vào nhiều cuộc gặp gỡ với các nhà khoa học, đặc biệt với các nhà vật lí, những người, sau Einstein, hoàn toàn cởi mở đối với một sự giải thích hữu thần về thế giới.
Nhưng lối tranh luận với chủ nghĩa Mác-xit này thật ngắn ngủi. Chính con người - và cuộc sống luân lí của họ - sớm trở thành vấn đề trọng tâm bên dưới cuộc tranh cãi. Triết học tự nhiên bị đặt sang một bên. Trong nổ lực biện hộ cho chủ nghĩa vô thần, cuộc tranh cải của các nhà đạo đức đã nhanh chóng bãi bỏ sự giải thích thế giới vật lí. Khi tôi viết quyển sách Con người đang hành động, những người đầu tiên quan tâm đến nó, với mục đích tấn công nó, chính là những người mác-xít. Trên thực tế, quyển sách của tôi mô tả một yếu tố đang quấy rầy trong bút chiến của họ chống lại tôn giáo và Giáo hội.
Nhưng, trong khi đạt đến vấn đề này, tôi phải nói rằng mối quan tâm của tôi đối với "Con người đang hành động" không phải phát sinh từ những cuộc tranh cãi với chủ nghĩa Mác-xít hoặc không giống như một câu trả lời trực tiếp cho những cuộc tranh cãi trên. Tôi đã quan tâm từ lâu về con người như là một nhân vị. Có lẽ mối quan tâm của tôi là do sự kiện là tôi đã không bao giờ ưa thích đặc biệt khoa học tự nhiên. Tôi luôn luôn bị mê hoặc bởi con người. Trong khi học tập ở khoa văn chương, con người khiến tôi quan tâm như là một người sáng tạo ra ngôn ngữ và là một chủ thể của văn học; sau này, khi tôi khám phá ra ơn thiên triệu làm linh mục của mình, con người trở thành đề tài trung tâm cho mục vụ của tôi.
Cuộc chiến kết thúc ở điểm này và những cuộc tranh luận với chủ nghĩa Mác-xít ở giai đoạn rất sôi nổi. Trong những năm đó, mối quan tâm lớn nhất của tôi là với lớp trẻ, họ không hỏi tôi nhiều lắm về sự hiện hữu của Thiên Chúa, nhưng về cách sống, cách đối diện và giải quyết những vấn đề về tình yêu và hôn nhân và không nhắc đến những vấn đề có liên quan đến việc làm. Tôi vẫn luôn luôn nhớ đến những bạn trẻ đó từ thời kì sau cuộc chiếm đóng của người Ðức. Trong một ý nghĩa nhất định, với những mối ngờ vực và những thắc mắc của họ, họ cũng đã chỉ ra cho tôi con đường để đi. Từ những cuộc gặp gỡ của chúng tôi, từ những chia sẻ của tôi trong những vấn đề về cuộc sống của họ, một quyển sách đã chào đời. Nội dung của nó được đúc trong tựa đề Tình Yêu và Trách nhiệm.
Quyển sách của tôi về con người đang hành động ra đời muộn hơn, nhưng nó cũng có cùng nguồn gốc như thế. Tôi đến với đề tài này từ lúc tôi bắt đầu quan tâm đến những vấn đề về cuộc sống của con người - những câu hỏi do những người không những ở thời đại hiện nay mà còn ở mọi thời nêu lên. Vấn đề điều thiện điều dữ luôn luôn hiện diện trong đầu chúng tôi, giống như chàng thanh niên trong Phúc âm đã hỏi Chúa Giê su: " Con phải làm gì để hưởng được cuộc sống đời đời? " (Mc 10:17).
Vì vậy sự phát triển trong những nghiên cứu của tôi về con người- về nhân vị- có thể được giải thích bằng mối quan tâm về mục vụ của tôi. Ðúng là từ một quan điểm mục vụ trong Tác phẩm Tình Yêu và Trách nhiệm mà tôi đã hình thành khái niệm về một nguyên lí nhân phẩm. Nguyên lí này là một nổ lực chuyển giới răn tình yêu sang ngôn ngữ của các nhà đạo đức triết học. Con người là một hữu thể mà chỉ có chiều kích thích hợp cho nó là tình yêu. Chúng ta phải là một con người nếu chúng ta yêu con người. Ðiều này là đúng đối với Thiên Chúa cũng như đối với con người. Tình yêu đối với một con người loại trừ khả năng đối xử với họ như một đồ vật giải trí. Ðây là một nguyên tắc của các nhà đạo đức theo trường phái Kant và tạo thành cái được gọi là mệnh lệnh thứ hai của ông. Tuy nhiên, mệnh lệnh này có tích cách tiêu cực và không làm rỗng toàn bộ nội dung của giới răn tình yêu. Nếu Kant nhấn mạnh một cách mạnh mẽ đến nỗi con người không thể được đối xử như là một đồ vật giải trí, ông ta làm như thế nhằm chống lại chủ nghĩa thực dụng của người Anglo-saxon, và từ quan điểm này, ông đã thực hiện mục đích của mình. Tuy nhiên, Kant không giải thích giới răn tình yêu một cách đầy đủ. Trên thực tế, giới răn tình yêu không bị giới hạn ở mức loại trừ tất cả lối ứng xử biến con người trở thành một đồ vật giải trí. Nó còn đòi hỏi hơn nữa; nó đòi hỏi sự khẳng định một con người như là một con người.
Sự giải thích đúng đắn về con người của giới răn tình yêu được bắt gặp trong những bản văn của Công đồng: "Khi Ðức Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha xin cho mọi người hiệp nhất" (Ga 17:22), Ngài đặt trước chúng ta những chân trời mới mà lí trí con người không thể thấu hiểu và ám chỉ mối tương đồng giữa sự kết hiệp của Ba ngôi Thiên Chúa và sự kết hiệp của các con cái Thiên Chúa trong sự thật và bác ái. Mối tương đồng này cho thấy rõ con người, loài thụ tạo duy nhất trên trái đất mà Thiên Chúa muốn có vì lợi ích của chính họ, có thể tự khám phá chính mình một cách trọn vẹn bằng cách tự hiến mình"(Gaudium et Spes 24). Ở đây chúng ta thật sự có được một lời giải thích đầy đủ về giới răn tình yêu. Trước tiên, nguyên tắc "một con người có giá trị bởi sự kiện đơn giản nó là một con người được diễn đạt một cách rất rõ ràng: con người chỉ là thụ tạo trên trái đất mà Thiên Chúa muốn có vì lợi ích của họ." Ðồng thời Công đồng cũng nhấn mạnh điều quan trọng nhất của tình yêu chính là quà tặng chân thành của bản thân. Trong ý nghĩa này con người được nhận thức bằng tình yêu.
Vì thế, hai khía cạnh này - việc khẳng định một con người như là một con người và món quà chân thành của bản thân - không những không loại trừ lẫn nhau, nhưng chúng chứng thực và bổ sung cho nhau. Con người tự khẳng định mình một cách đầy đủ nhất bằng tự hiến chính mình. Ðây là sự viên mãn của giới răn tình yêu. Ðây cũng là sự thật trọn vẹn về con người, một sự thật mà Thiên Chúa đã nói cho chúng ta qua cuộc sống của Ngài, và truyền thống của luân lí Kitô giáo, không kém hơn truyền thống của các thánh và của nhiều vị anh hùng vì tình yêu đồng loại, đã tiếp diễn và sống động trong dòng lịch sử.
Nếu như chúng ta tước đoạt quyền tự do con người ra khỏi khả năng này, nếu như con người không tự cam kết trở nên quà tặng cho những người khác, thì sự tự do này có thể trở nên nguy hiểm. Nó sẽ trở thành tự do khi làm điều gì mà chính tôi coi như tốt đẹp, điều gì đem lại cho tôi lợi lộc hoặc niềm vui, ngay cả một niềm vui cao thượng. Nếu chúng ta không thể chấp nhận việc mưu tìm sự tự hiến mình như là một món quà, thì sẽ luôn luôn tồn tại mối nguy hiểm của tự do ích kỉ
Kant đấu tranh chống lại mối nguy hiểm này, và trong hàng ngũ này cũng có Max Scheler và rất nhiều người đi sau ông cũng đã chia sẻ những giá trị với các nhà đạo đức của ông. Nhưng sự diễn đạt trọn vẹn của tất cả những điều này đã được tìm thấy trong Phúc âm. Vì lí do này, chúng ta có thể tìm thấy trong Phúc âm một sự tuyên bố kiên định về tất cả quyền con người, ngay cả những điều có thể làm cho chúng ta cảm thấy không mấy dễ chịu vì những lí do khác nhau. |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
mlcn

Ngày tham gia: 12 9 2007 Số bài: 1963
|
Gửi: Bảy 1 24, 2009 6:49 am Tiêu đề: |
|
|
Ba mươi mốt
SỰ BẢO VỆ CHO TỪNG CUỘC SỐNG
Trong số những quyền mà ÐTC đã nhắc đến, những quyền có thể "khiến chúng ta khó chịu", trước hết là quyền sống, quyền này phải được bảo vệ từ lúc thụ thai. Ðây cũng là một vấn đề được nêu lên thường xuyên và cấp bách trong giáo huấn của ÐTC. Sự lên án nhiều lần của ÐTC chống lại bất cứ việc hợp pháp hoá phá thai nào được xác định như là " ám ảnh" bởi một số nhóm văn hoá và chính trị vì họ tin rằng " những lí do nhân đạo" thuộc về phía họ - phía đã thúc đẩy các chính phủ cho phép phá thai.
Ðối với con người, quyền sống là quyền căn bản. Một bộ phận của nền văn hoá hiện nay vẫn còn muốn phủ nhận quyền này, bằng cách biến nó trở thành một thứ quyền "đáng buồn", một thứ quyền cần phải được bảo vệ. Nhưng không có quyền nào khác lại tác động đến cuộc sống con người một cách khắn khít như thế! Quyền sống tức là quyền được sinh ra và tiếp tục sống cho đến cuối đời: "Tôi sống được bao nhiêu, tôi có quyền sống bấy nhiêu."
Vấn đề những trẻ được thụ thai và không được sinh ra vẫn còn là một vấn đề rõ ràng hết sức nhạy cảm. Hợp pháp hoá việc chấm dứt mang thai không gì khác hơn là cho phép một người trưởng thành, với sự thoả thuận của luật pháp, cất đi cuộc sống của những trẻ em chưa được sinh ra và không thể tự bảo vệ, thật khó mà nói đến sự ám ảnh trong một vấn đề như thế này, ở đây chúng ta đang đối phó với một mệnh lệnh căn bản của mọi lương tri - bảo vệ quyền sống của một con người vô tội và không được phòng thủ.
Vấn đề thường được mô tả như là quyền tự do lựa chọn của phụ nữ liên quan đến cuộc sống đang tồn tại trong người họ, cái mà họ đang mang trong tử cung: phụ nữ nên có quyền lựa chọn giữa việc ban cho hoặc lấy đi cuộc sống từ đứa con chưa sinh ra. Bất cứ ai cũng có thể thấy rằng ở đây việc lựa chọn chỉ là bề ngoài. Không thể nói đến quyền lựa chọn khi nó liên quan đến một điều xấu xa, khi sự việc đang lâm nguy chính là giới răn Không được giết người!
Giới răn này có thể có ngoại lệ hay không? Câu trả lời là không, cho dù giả thuyết về tự vệ chính đáng không bao giờ liên quan đến một người vô tội nhưng luôn luôn liên quan đến một kẻ gây hấn bất công, giả thuyết đó phải tôn trọng nguyên tắc mà các nhà đạo đức gọi là principium inculpatae tutelae (nguyên tắc tự vệ không phạm tội). Ðể được chính đáng, việc "tự vệ" đó phải được thực hiện theo cách ít gây ra tổn thất nhất và nếu có thể cứu thoát được mạng sống của kẻ gây hấn.
Ðây không phải là trường hợp của một đứa trẻ không được sinh ra. Một đứa trẻ được thụ thai trong bụng mẹ không bao giờ là một kẻ gây bất công; nó là một sinh vật không được bảo vệ đang được chào đón và giúp đỡ.
Chúng ta cần nhận thức rằng, trong bối cảnh này, chúng ta đang chứng kiến những thảm kịch thật sự của con người. Người mẹ thường là nạn nhân của tính ích kỉ của đàn ông, trong ý nghĩa nào đó, người đàn ông, kẻ đã góp phần vào việc thụ thai của một cuộc sống mới, lại không muốn nặng gánh với nó và giao trách nhiệm cho phụ nữ, cứ như đó là "sai lầm" của một mình cô ta. Vì thế, khi người phụ nữ rất cần sự nâng đỡ của người đàn ông, người này lại chứng tỏ mình là một kẻ tự cao tự đại vô liêm sỉ, có thể khai thác tình cảm và sự nhu nhược của phụ nữ, và còn kháng cự lại bất cứ ý thức trách nhiệm nào đối với hành động của chính mình. Ðây là những vấn đề được biết rất rõ không những trong các toà giải tội mà còn trong những phiên toà trên thế giới và càng ngày càng phổ biến trong các phiên toà có liên quan đến trẻ em.
Vì thế, qua việc loại bỏ " kẻ ủng hộ lựa chọn", một cách bệnh hoạn, cần phải trở thành "kẻ ủng hộ phụ nữ" một cách can đảm, bằng cách khuyến khích việc lựa chọn có lợi cho phụ nữ. Trên thực tế, chính người phụ nữ mới là người trả giá cao nhất, không những cho thiên chức làm mẹ, mà còn cho sự tiêu diệt thiên chức đó, cho sự loại bỏ cuộc sống của đứa trẻ đã được thụ thai. Lập trường trung thực duy nhất, trong những trường hợp này, là lập trường đoàn kết căn bản với phụ nữ. Bỏ họ một mình là không đúng. Những kinh nghiệm của nhiều trung tâm tư vấn cho thấy phụ nữ không muốn loại bỏ cuộc sống của trẻ mà họ đang mang trong mình. Nếu họ được nâng đỡ trong lối ứng xử này và đồng thời nếu họ được giải thoát khỏi sự đe doạ của những người xung quanh, họ có khả năng trở thành anh hùng. Như tôi đã nói, nhiều trung tâm tư vấn đã là bằng chứng cho vấn đề này chẳng hạn như những nhà dành cho các bà mẹ vị thành niên. Hình như xã hội đang bắt đầu triển khai một thái độ chín chắn hơn trong vấn đề này, cho dù vẫn còn có nhiều người tự gọi là "người làm phúc"đòi hỏi "giúp đỡ" phụ nữ bằng cách giải thoát họ khỏi niềm hi vọng được làm mẹ.
Ở đây chúng ta đang đứng trước một hoàn cảnh rất nhạy cảm, vừa từ quan điểm của quyền con người vừa từ quan điểm đạo đức và mục vụ. Tất cả những khía cạnh này bị lôi cuốn vào nhau. Tôi đã luôn luôn xem vấn đề này là trường hợp trong cuộc sống cá nhân của mình và trong công tác mục vụ với tư cách là một linh mục, một giám mục giáo phận, và người kế vị thánh Phêrô, với tất cả trách nhiệm mà nhiệm vụ này đòi hỏi.
Vì vậy, tôi phải lập lại là tôi tuyệt đối loại bỏ tất cả sự cáo buộc và ngờ vực có liên quan đến "nỗi ám ảnh" được cho là của Ðức Giáo Hoàng về vấn đề này. Chúng ta đang đối phó với một vấn đề có tầm quan trọng to lớn, trong đó tất cả chúng ta phải tỏ rõ trách nhiệm và thức tỉnh cao nhất. Chúng ta không thể cung cấp những hình thức cho phép chà đạp quyền con người cũng như phá hoại hoàn toàn những giá trị căn bản không những đối với cuộc sống của những cá nhân và gia đình nhưng còn cho chính xã hội nữa. Phải chăng không có một sự thật đáng buồn trong cụm từ văn hoá sự chết đầy uy lực?
Dĩ nhiên, điều ngược lại với văn hoá sự chết không thể là một chương trình phát triển dân số toàn cầu vô trách nhiệm. Tỉ lệ phát triển dân số cần được coi trọng. Ðường lối đúng đó là Giáo hội phải kêu gọi các bậc cha mẹ có trách nhiệm. Vấn đề này được nói đến trong các chương trình tư vấn gia đình của Giáo hội. Bậc làm cha làm mẹ có trách nhiệm là điều kiện cần thiết cho tình yêu nhân loại, và đó cũng là điều kiện cần thiết cho tình yêu vợ chồng đích thực, vì tình yêu không thể vô trách nhiệm. Vẻ đẹp của nó là kết quả của tinh thần trách nhiệm. Khi tình yêu có trách nhiệm đích thực, nó cũng thật sự tự do.
Ðây là giáo huấn mà tôi đã học được từ thông điệp Humanae Vitae do người tiền nhiệm của tôi là Ðức Phaolô VI viết ra, và thậm chí tôi cũng đã học được sớm hơn từ những người bạn trẻ đã lập gia đình và lập gia đình sớm, trong khi tôi đang viết tác phẩm Tình Yêu và Trách Nhiệm. Như tôi đã từng nói, chính họ là những người thầy của tôi trong lãnh vực này. Họ chính là những người, đàn ông cũng như phụ nữ, đã làm nên một cuộc đóng góp sáng tạo vào việc chăm sóc mục vụ về gia đình, vào những nổ lực mục vụ vì lợi ích của các bậc cha mẹ có trách nhiệm, vào việc xây dựng những chương trình tư vấn đã phát triển sau đó. Hoạt động chính và sự sốt sắng ban đầu dành cho các chương trình này là nhằm cổ vũ tình yêu con người. Trong các chương trình đó, trách nhiệm đối với tình yêu con người phải được tồn tại không ngừng.
Niềm hi vọng là trách nhiệm này sẽ không bao giờ thiếu vắng ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ ai; trách nhiệm này sẽ không bao giờ thiếu vắng nơi các nhà luật pháp, các thầy giáo, hoặc các chủ chăn. Có biết bao nhiêu con người bình thường mà tôi muốn nhắc đến ở đây để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của tôi dối với sự sốt sắng khoan dung và sự tận tuỵ to lớn của họ! Trong cuộc sống của họ, chúng tôi tìm được chứng từ của người Kitô hữu và của sự thật về nhân cách con người, họ đang trở thành chính mình đến mức họ tự hiến bản thân mình như là một quà tặng nhưng không cho những người khác.
Từ những chương trình tư vấn chúng ta nên quay về với các trường đại học. Tôi nhớ đến những trường tôi biết và những cơ sở mà tôi đã góp phần xây dựng. Ðặc biệt ở đây tôi đang nghĩ đến khoa đạo đức học ở Ðại học Công giáo Lublin, cũng như học viện được xây dựng ở đó sau khi tôi ra đi, dưới sự lãnh đạo của các bạn đồng nghiệp và học trò gần gủi nhất của tôi- đặc biệt là cha Tadeusz Styczen và cha Andrzej Szostek. Khái niệm về "nhân vị" không những là một lí thuyết tuyệt vời; nó còn nằm ở trung tâm bản chất con người.
Tôi cũng nhắc lại học viện tương tự được thiết lập tại Ðại học Lateran ở La mã, nó là nguồn cảm hứng cho những sáng kiến tương tự ở Hoa kì, Mexico, Chi lê, và trong các quốc gia khác. Ðường lối hữu hiệu nhất để phục vụ cho sự thật về bậc làm cha làm mẹ có trách nhiệm đó là cho thấy những cơ sở giáo dục đạo đức và nhân loại học của nó. Trong lãnh vực này hơn bất cứ lãnh vực nào khác, việc cộng tác giữa các chủ chăn, các nhà sinh học và các nhà thầy thuốc là hết sức cần thiết.
Tôi không thể nhấn mạnh ở đây về những nhà tư tưởng hiện đại, nhưng ít nhất tôi cũng phải nhắc đến một người - Emmanuel Lévinas, ông đại diện cho trường phái đặc biệt của chủ nghĩa nhân bản đương thời và triết học về đối thoại. Cũng như Martin Buber và Franz Rosenzweiz, ông đề cập đến truyền thống nhân bản của Cựu Ước, ở đó mối quan hệ giữa con người "I" (tôi) và thần thánh, "Thou" (ngươi, mi) tuyệt hảo được nhấn mạnh một cách mạnh mẽ.
Thiên Chúa, nhà làm luật tối cao, đã truyền giới răn trên núi Sinai "Thou shalt not kill," (Ngươi không được chém giết) như là một mệnh lệnh luân lý tuyệt đối. Lévinas, cũng như những người đồng đạo với ông, đã trải nghiệm cái thảm kịch Lò thiêu xác một cách sâu sắc, đang nêu lên cái công thức đáng chú ý của mệnh lệnh căn bản của Mười Ðiều Răn- theo ông, diện mạo bộc lộ nhân cách. Triết học về diện mạo này cũng được bắt gặp trong Cựu Ước: trong sách Thánh Vịnh, và trong các Sách Tiên Tri, có nhiều mối quan hệ đến "việc tìm kiếm diện mạo Thiên Chúa" (x. Tv 26, 27:8). Chính nhờ diện mạo mà con người có thể nói, và nhất là, bất cứ ai chịu đựng một điều bất công đều nói câu "Ðừng giết tôi!" Diện mạo con người và lệnh truyền "Không được giết người" đã được liên kết một cách khéo léo nơi Lévinas, vì thế trở thành một bằng chứng cho thời đại chúng ta, thời đại mà các chính quyền, ngay cả các chính quyền được bầu chọn một cách dân chủ, cũng phê chuẩn những cuộc hành quyết quá dễ dàng.
Có lẽ tốt hơn không nên nói nhiều thêm về đề tài đáng buồn như thế. |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
mlcn

Ngày tham gia: 12 9 2007 Số bài: 1963
|
Gửi: Bảy 1 24, 2009 6:50 am Tiêu đề: |
|
|
Ba mươi hai
MẸ THIÊN CHÚA
Việc canh tân của khoa thần học về Ðức Maria và việc sùng kính Người - trong truyền thống Công giáo - là đặc tính khác của giáo huấn và hoạt động mục vụ của Ðức Gioan Phaolô II. Totus Tuus ("Con hoàn toàn thuộc về Mẹ Maria") là khẩu hiệu mà ÐTC chọn cho giáo triều của mình.
Ngoài ra, thỉnh thoảng đây đó có những tin đồn và báo cáo về những cuộc hiện ra huyền bí và những thông điệp của Ðức Trinh Nữ Maria; cũng như trong những thế kỉ trước, những đám đông người đang lên đường hành hương. Kính thưa ÐTC, ÐTC có thể nói gì về vấn đề này?
Totus Tuus. Câu nói này không chỉ là một sự biểu lộ lòng mộ đạo, hoặc đơn giản một sự biểu lộ lòng sốt sắng. Nó còn hơn thế nữa. Sau thế chiến thứ II, trong khi tôi được tuyển dụng làm công nhân trong nhà máy, tôi bị lôi cuốn bởi lòng sùng kính Ðức Maria. Ban đầu, hình như thời thơ ấu của tôi có một chút khoãng cách đối với việc sùng kính Ðức Maria, để tập trung vào Chúa Kitô nhiều hơn. Nhờ Thánh Louis de Montfort, tôi mới hiểu rằng việc sùng kính Mẹ Thiên Chúa đích thực chính là quy về Chúa Kitô , điều đó được bén rễ rất sâu vào Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, và những mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc.
Nhờ đó tôi đã khám phá lại lòng sùng kính Ðức mẹ với một sự hiểu biết sâu sắc hơn trong thời kì này. Hình thức sùng kính chín chắn đối với Mẹ Thiên Chúa đã có ở trong tôi qua năm tháng và trổ sinh hoa trái trong các thông điệp Redemptoris Mater và Mulieris Dignitatem.
Ðối với việc sùng kính Ðức Mẹ, mỗi người chúng ta phải hiểu rằng lòng sùng kính như thế không chỉ nhắm đến nhu cầu của con tim, một khuynh hướng tình cảm, nhưng nó còn đáp ứng lại một sự thật khách quan về Mẹ Thiên Chúa. Ðức Maria là Evà mới, được Thiên Chúa đặt vào mối tương quan khắn khít với Chúa Kitô , Ađam mới, khởi đầu bằng việc Truyền Tin, qua đêm Giáng sinh tại Bê lem, qua buổi tiệc cưới tại Cana thuộc miền Galilê, qua Thập giá trên Núi Calvari cho đến món quà của Chúa Thánh Linh vào ngày Hiện Xuống. Mẹ Thiên Chúa Ðấng Cứu chuộc là Mẹ của Giáo hội.
Công đồng Vatican II đã thực hiện những bước chân vĩ đại về phía trước đối với tín điều về Ðức Mẹ và lòng sùng kính Ngài. Không thể đưa vào đây toàn bộ chương tám của Hiến Chế tín điều Lumen Gentium về Giáo hội, nhưng việc đó sẽ được thực hiện. Khi tôi tham gia vào Công đồng, tôi đã có suy nghĩ chín chắn trong chương này về tất cả những trãi nghiệm trong thời niên thiếu của tôi, cũng như những mối quan hệ đặc biệt tiếp tục liên kết tôi với Mẹ Thiên Chúa theo những đường hướng luôn luôn mới mẽ.
Ðường hướng đầu tiên - và kì cựu nhất- được buộc chặt với tất cả mọi thời gian trong thời thơ ấu của tôi khi tôi dừng lại trước ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong nhà thờ họ Wardovice. Nó được ràng buộc với truyền thống của chiếc áo choàng Carmelite mang ý nghĩa và biểu tượng phong phú, tôi biết đến nó từ thời trai trẻ qua tu viện Carmelite "trên đồi" ở thành phố quê hương tôi. Ðường hướng đó cũng được ràng buộc với truyền thống thực hiện những cuộc hành hương đến thánh địa Kalwaria Zebrzydowska, một trong số những địa điểm lôi cuốn những đoàn người hành hương, nhất là từ miền Nam nước Ba lan và từ bên kia dãy núi Các-pác. Thánh địa này rất nổi tiếng vì nó không chỉ sùng kính Ðức Mẹ nhưng còn hướng về Ðức Kitô . Trong khi ở tại thánh địa Kalwaria, công việc đầu tiên mà những người hành hương phải thực hiện đó là đi Ðàng Thánh Giá, trên đường đó, nhờ Ðức Maria, nhân loại đã tìm được vị trí chính đáng bên cạnh Chúa Kitô . Cây Thánh Giá đứng ở trên con đồi nhìn xuống toàn bộ khu vực bao quanh thánh địa. Cuộc rước Ðức Mẹ long trọng diễn ra trước ngày lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời, cuộc rước kiệu không gì khác hơn là sự biểu lộ niềm tin của người Kitô hữu mà Mẹ Thiên Chúa chia sẻ trong sự Phục sinh và trong Vinh quang của Con riêng của Ngài.
Từ những năm tuổi ấu thơ, lòng sùng kính của tôi đối với Ðức Mẹ được liên kết một cách sâu sắc với niềm tin của tôi vào Chúa Kitô . Thánh địa Kalwaria đã giúp tôi rất nhiều trong vấn đề này.
Chương khác trong cuộc đời tôi chính là Jasna Gora, với tượng Ðức Mẹ da đen. Ðức Mẹ Jasna Gora của chúng tôi đã được sùng kính qua hàng thế kỉ với tư cách là Nữ vương của nước Ba lan. Thánh địa này thuộc về toàn cỏi đất nước. Quốc gia Ba lan đã được tìm kiếm qua hàng thế kỉ, và vẫn tiếp tục tìm kiếm, nâng đỡ và củng cố việc hồi sinh tinh thần từ nơi Ðức Bà và Nữ Vương của mình. Ở Jasna Gora một công cuộc rao giảng Phúc âm đang diễn ra. Những biến cố lớn lao trong đời sống của đất nước Ba lan luôn luôn được gắn chặt với địa danh này theo một cách nào đó. Lịch sử vừa xa xưa vừa hiện đại của đất nước tôi đã bén rễ một cách sâu sắc nhất trên ngọn đồi Jasna Gora.
Tôi nghĩ điều mà tôi đã nói đang giải thích một cách dầy đủ lòng sùng kính Ðức Maria của vị giáo hoàng đương nhiệm, và trước tiên thái độ phó thác hoàn toàn cho Ðức Mẹ của người - khẩu hiệu Totus Tuus của người. |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
mlcn

Ngày tham gia: 12 9 2007 Số bài: 1963
|
Gửi: Bảy 1 24, 2009 6:51 am Tiêu đề: |
|
|
Ba mươi ba
PHỤ NỮ
Trong tông thư có tựa đề đầy ý nghĩa Mulieris Dignitatem (Phẩm giá của Phụ nữ), ÐTC đã chỉ rõ việc sùng kính mà những người Công giáo dành cho một Phụ nữ, Ðức Mẹ Maria, thích hợp như thế nào đối với vấn đề tư cách phụ nữ ?
Qua những nhận xét phía trước, tôi muốn nhắc lại một khía cạnh về việc sùng kính Ðức Mẹ. Lòng sùng kính này không chỉ là một hình thức mộ đạo; đó cũng là một thái độ - một thái độ đối với phụ nữ với tư cách là phụ nữ.
Nếu như thế kỉ chúng ta được đặc trưng bằng thuyết nam nữ bình quyền đang phát triển trong các xã hội tự do, chúng ta có thể nói rằng nổ lực này là một phản ứng chống lại sự thiếu tôn trọng dành cho mỗi phụ nữ. Tất cả những gì tôi đã viết về đề tài này trong tông thư Mulieris Dignitatem đều được cảm nhận từ khi tôi còn rất trẻ, từ thời thơ ấu. Có lẽ tôi cũng đã chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh thời tôi được nuôi dưỡng - đó là thời kì mà con người kính trọng và đề cao phụ nữ, đặc biệt đối với những người phụ nữ làm mẹ.
Tôi nghĩ rằng thuyết nam nữ bình quyền hiện nay nẩy sinh từ việc thiếu tôn trọng phụ nữ. Sự thật được mạc khải dạy chúng ta một thứ gì khác. Tôn trọng phụ nữ, sửng sốt về sự mầu nhiệm của tư cách làm mẹ, và sau cùng tình yêu hôn nhân của chính Thiên Chúa và của Chúa Kitô , như được mô tả trong sự Cứu độ, là tất cả những yếu tố không bao giờ thiếu vắng trong niềm tin và cuộc sống của Giáo hội. Vấn đề này có thể bắt gặp trong truyền thống phong phú của những tập tục và thói quen, hiện nay truyền thống đó đang bị xói mòn một cách đáng tiếc. Trong nền văn minh của chúng ta, phụ nữ đã trở thành một món đồ giải trí.
Ngoài ra, điều quan trọng là trong hoàn cảnh này khoa thần học chính thức về phụ nữ đang được phục hồi. Vẻ đẹp tinh thần, năng khiếu đặc biệt của phụ nữ đang được khám phá trở lại. Những nền tảng củng cố vị trí của phụ nữ trong đời sống, không những đời sống gia đình mà còn đời sống xã hội và văn hoá đang được khẳng định lại.
Cũng vì mục đích này, chúng ta nên quay lại diện mạo của Ðức Maria. Chính Ðức Maria và cao trào sùng kính Ðức Maria đang trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ và sáng tạo. |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
mlcn

Ngày tham gia: 12 9 2007 Số bài: 1963
|
Gửi: Bảy 1 24, 2009 6:52 am Tiêu đề: |
|
|
Ba mươi bốn
"ÐỪNG LO SỢ"
Như ÐTC đã nhắc lại trong cuộc nói chuyện, chắc chắn không có bất cứ rủi ro nào khi giáo triều của ÐTC bắt đầu bằng một tiếng kêu đã có và vẫn còn có những tiếng vang vọng sâu xa trên toàn thế giới: "Ðừng lo sợ!"
Trong những cách thức để hiểu được lời động viên này, phải chăng ÐTC không tin rằng có người sẽ hiểu như sau: nhiều người cần được trấn an, được khuyên "đừng lo sợ" Chúa Kitô và Phúc âm của Ngài, vì họ lo sợ khi quay về với đức tin, cuộc sống của họ sẽ bị thất bại bởi những đòi hỏi được xem như là nặng nề hơn là dễ chịu?
Vào ngày 22 tháng Mười, 1978, khi tôi nói câu "Ðừng lo sợ!" trên quãng trường Thánh Phêrô, tôi có thể không biết một cách đầy đủ câu nói đó sẽ đưa tôi và toàn thể Giáo hội đi đến đâu. Ý nghĩa của nó xuất phát từ Chúa Thánh Linh, Ðấng An ủi được Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ của Người, hơn là từ con người đã nói ra nó. Tuy nhiên, theo dòng thời gian, tôi đã nhắc đi nhắc lại câu nói này trong nhiều dịp khác nhau.
Lời động viên "đừng lo sợ!" nên được giải thích theo một ý nghĩa rất rộng. Ðó là một lời động viên dành cho mọi người, một lời động viên nhằm chiến thắng nỗi sợ hãi trong tình hình thế giới hiện nay, ở phương Ðông cũng như ở phương Tây, ở phía Bắc cũng như ở phía Nam.
Ðừng lo sợ điều mà chính các bạn đã sáng tạo, đừng lo sợ tất cả những điều con người đã sản xuất và điều càng ngày càng trở nên nguy hiểm cho con người hơn! Cuối cùng đừng lo sợ chính các bạn!
Tại sao chúng ta không nên lo sợ? Bởi vì con người đã được Thiên Chúa cứu chuộc. Khi thốt ra những từ này trên quảng trường thánh Phêrô, tôi đã biết rằng bức thông điệp đầu tiên và toàn bộ giáo triều của tôi sẽ được gắn bó với sự thật của ơn Cứu chuộc. Trong ơn Cứu chuộc, chúng ta tìm được nền tảng sâu xa nhất của câu nói "Ðừng lo sợ!" : "bởi vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã hiến dâng Con Một của Ngài" (x. Ga 3:16). Người Con này luôn luôn hiện diện trong lịch sử nhân loại với tư cách là Ðấng Cứu Chuộc. Ơn Cứu Chuộc toả khắp toàn thể lịch sử nhân loại, thậm chí trước Chúa Kitô , và chuẩn bị cho tương lai về ngày Cánh chung của nhân loại. Ðó là ánh sáng "chiếu soi trong bóng đêm, và bóng đêm đã không chiến thắng nó được" (x. Ga 1:5). Quyền lực của Thánh giá và sự Phục sinh của Chúa Kitô vĩ đại hơn bất cứ sự dữ nào mà con người có thể hoặc sẽ lo sợ.
Ở điểm này chúng ta một lần nữa cần quay lại Totus Tuus. Trong câu hỏi trước anh đã nói về Mẹ Thiên Chúa và nhiều mạc khải riêng đã diễn ra, đặc biệt trong hai thế kỉ sau cùng. Tôi đã trả lời bằng cách giải thích việc sùng kính Ðức Maria đã phát triển như thế nào trong cuộc sống cá nhân của tôi, khởi đầu từ quê hương tôi, rồi thánh địa Kalwaria và sau cùng ở Jasna Gora. Jasna Gora trở thành một phần lịch sử của quê hương tôi trong thế kỉ mười bảy, giống như một cách "đừng lo sợ!" được Chúa Kitô nói qua miệng của Mẹ Ngài. Vào ngày 22 tháng Mười, 1978, khi kế thừa sứ vụ của thánh Phêrô ở La mã, tôi đã mang theo bên mình cái kinh nghiệm và việc sùng kính Ðức Maria ở quê hương tôi hơn bất cứ thứ gì khác.
"Ðừng lo sợ!" Chúa Kitô đã nói vơi các tông đồ (x. Lc24:36) và với những phụ nữ (x.Mt28:10) sau khi Phục Sinh. Theo các Phúc Âm, lời nói này được dành cho Ðức Maria. Mạnh mẽ trong đức tin, Ðức Mẹ đã không lo sợ chút nào. Sự tham gia của Ðức Maria vào chiến thắng của Ðức Kitô đã trở nên rõ ràng đối với tôi trước hết từ kinh nghiệm của dân tộc tôi. Ðức hồng y Stephan Wyszinski đã nói với tôi: vị tiền nhiệm của Ngài, Ðức hồng y August Hlond đã nói tiên tri khi Ngài sắp mất: " Sự chiến thắng, nếu nó đến, sẽ đến nhờ Ðức Maria." Trong thời gian làm việc mục vụ tại Ba lan, bản thân tôi đã biết những lời nói này thật đúng đắn như thế nào.
Sau khi được bầu vào chức vụ giáo hoàng, vì tôi quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề của Giáo hội hoàn vũ, tôi đã có được niềm xác tín như thế: trên mức độ hoàn vũ, nếu chiến thắng đến thì nó sẽ được Ðức Maria mang đến. Chúa Kitô sẽ chiến thắng nhờ Ðức Mẹ, bởi vì Ngài muốn những chiến thắng của Giáo hội hiện nay và trong tương lai được liên kết với Ðức Maria.
Tôi vẫn giữ niềm xác tín này mặc dù tôi chưa biết nhiều về Fatima. Tuy nhiên, tôi có thể nhận thấy rằng có sự tiếp nối nhất định giữa La Salette, Lộ Ðức và Fatima - và trong quá khứ xa Jasna Gora thuộc nước Ba lan của chúng tôi.
Vì thế vào ngày 13 tháng Năm, 1981, khi tôi bị thương do những viên đạn bắn ra trên Quãng trường thánh Phêrô. Lúc đầu, tôi không chú ý đến sự kiện việc mưu sát đã diễn ra đúng vào ngày kỉ niệm Ðức Mẹ hiện ra với ba trẻ ở Fatima trong nước Bồ đào nha và nói với chúng những lời mà hiện nay, vào cuối thế kỉ này, xem như vẫn còn giữ kín.
Với biến cố này, có lẽ Chúa Kitô đã không nói lại một lần nữa "Ðừng lo sợ!" hay sao? Người đã không lập lại lời động viên Phục sinh này cho Ðức giáo hoàng, Giáo Hội và một cách gián tiếp với toàn thể gia đình nhân loại hay sao?
Vào cuối thiên niên kỉ thứ hai, có lẽ hơn bao giờ hết, chúng ta cần những lời nói của Chúa Kitô Phục sinh: " Ðừng lo sợ!" Con người, ngay cả sau khi cncs sụp đổ, vẫn không ngừng lo sợ và có nhiều lí do để có cảm giác này, họ cần nghe những lời này. Các quốc gia cần nghe chúng, đặc biệt những quốc gia đã được hồi sinh sau khi đế quốc CS sụp đổ, cũng như những quốc gia đã chứng kiến biến cố này từ bên ngoài. Các dân tộc và các quốc gia trên toàn thế giới cần lắng nghe những lời này. Lương tâm của họ cần trưởng thành trong niềm xác tín rằng Một Ðấng nào đó hiện hữu và nắm trong tay vận mệnh của thế giới thoáng qua này; Một Ðấng nào đó đang nắm giữ chìa khoá sự chết và cõi âm ty(x Kh 1:18); Một Ðấng nào đó là Alpha và Omega của lịch sử nhân loại (x Kh 22:13)- đó là lịch sử cá nhân hoặc tập thể. Và Ðấng duy nhất đó là Tình yêu (x 1 Ga 4:8,16) - Tình yêu trở thành con người, Tình yêu bị đóng đinh và được Phục sinh, Tình yêu không ngừng hiện diện giữa mọi người. Ðó là Tình yêu thuộc mầu nhiệm Thánh thể. Ðó là nguồn vô tận của sự hiệp thông. Chỉ Một Mình Người có thể ban cho sự bảo đảm tối hậu khi Người nói "Ðừng lo sợ!"
Anh nhận thấy con người thời đại cho việc quay về với đức tin thật khó khăn vì họ lo sợ những đòi hỏi đạo đức mà đức tin ràng buộc họ. Và vấn đề này là sự thật ở một mức độ nhất định. Phúc âm đang đòi hỏi một cách chắc chắn. Chúng ta biết rằng Chúa Kitô không bao giờ cho phép các môn đệ của Ngài và những ai nghe lời Ngài nuôi dưỡng bất kì ảo tưởng nào về vấn đề này. Trái lại, Ngài không tiếc bất cứ nổ lực nào để chuẩn bị cho họ trước mọi thứ khó khăn bên trong hoặc bên ngoài, Ngài luôn ý thức đến sự kiện họ có thể quyết định bỏ rơi Ngài. Vì thế, nếu Ngài nói " Ðừng lo sợ!" chắc chắn Ngài không nói để huỷ bỏ bằng cách nào đó điều Ngài đã yêu cầu. Hơn nữa, bằng những lời này, Ngài chứng thực toàn bộ sự thực của Phúc âm và tất cả những đòi hỏi của nó. Ðồng thời Ngài tiết lộ cho thấy những đòi hỏi của Ngài không bao giờ vượt quá những khả năng của con người. Nếu con người chấp nhận những đòi hỏi này với thái độ của đức tin, họ cũng sẽ bắt gặp trong ân sủng và Thiên Chúa không bao giờ từ chối ban cho họ sức mạnh cần thiết để đối diện với những đòi hỏi đó. Thế giới tràn đầy những bằng chứng về sức mạnh giải thoát và cứu chuộc mà các Phúc âm công bố thường xuyên hơn là nhắc lại những đòi hỏi của cuộc sống đạo đức. Có biết bao nhiêu người trên thế giới mà cuộc sống hàng ngày chứng thực cho khả năng sống bên ngoài nền luân lí của Phúc âm! Kinh nghiệm cho thấy một cuộc sống của con người thành đạt không thể khác hơn cuộc sống mà họ đã sống.
Chấp nhận những đòi hỏi của Phúc âm có nghĩa là khẳng định tất cả những đòi hỏi của nhân loại, nhìn thấy trong đó vẻ đẹp mà Thiên Chúa mong muốn, đồng thời nhận biết sự yếu đuối của chúng ta nhờ ánh sáng uy quyền của chính Ngài: "Ðiều gì loài người không thể thì Thiên Chúa lại có thể làm" (Lc 18:27).
Hai chiều kích này không thể bị tách rời : một mặt, những đòi hỏi mà Thiên Chúa muốn dành cho con người; mặt khác, những đòi hỏi của Tình yêu cứu độ của Ngài - quà tặng của ân sủng mà chính Ngài đã liên kết. Có phải ơn Cứu Chuộc được thực hiện trong Ðức Kitô là thứ gì khác, nếu không phải là điều này? Thiên Chúa mong muốn cứu thoát loài người, Ngài mong muốn nhân loại tìm được sự viên mãn, điều mà chính Ngài đã định sẵn, và Ðức Kitô có lí khi Ngài nói ách của Ngài thì êm ái và cuối cùng gánh của Ngài thì nhẹ nhàng (x. Mt 11:30).
Ðiều rất quan trọng là bước qua ngưỡng cửa hi vọng, không phải để dừng lại phía trước nó, nhưng để cho mình được hướng dẫn. Tôi tin rằng đại thi hào Cyprian Norwwid người Ba lan đã nghĩ đến vấn đề này, khi ông mô tả ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống người Kitô giáo bằng những lời như sau: "Không phải với thánh giá của Ðấng Cứu thế ở phía sau bạn, nhưng với thánh giá của riêng bạn phía sau Ðấng Cứu thế."
Có mỗi lí do cho sự thật của Thánh giá là Tin Mừng. |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
mlcn

Ngày tham gia: 12 9 2007 Số bài: 1963
|
Gửi: Bảy 1 24, 2009 6:53 am Tiêu đề: |
|
|
Ba mươi lăm
BƯỚC QUA NGƯỠNG CỬA HI VỌNG
Thưa ÐTC, dưới ánh sáng của mọi điều mà ÐTC đã nói với chúng con, và chúng con biết ơn về những điều đó, chúng con có nên kết luận rằng " lo sợ" Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô thật sự là không công bằng? Chúng con có nên kết luận thật xứng đáng để bước qua ngưỡng cửa hi vọng, để khám phá chúng ta có một Cha chung, để tái khám phá việc chúng ta được yêu hay không?
Tác giả Thánh vịnh có nói: " Kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan".(x. Tv 110, 111:10). Cho phép tôi liên hệ những lời trong Kinh thánh này trong khi trả lời cho câu hỏi của anh.
Sách Thánh chứa đựng một lời động viên kiên trì để nuôi dưỡng sự kính sợ Thiên Chúa. Ở đây chúng ta đang đề cập đến sự kính sợ là một quà tặng của Thánh Linh. Trong số bảy quà tặng của Chúa Thánh Linh, được nêu rõ trong lời nói của tiên tri Isaia (x Is 11:2), sự kính sợ Thiên Chúa được xếp cuối cùng, nhưng điều đó không có nghĩa là kém quan trọng nhất, vì kính sợ Thiên Chúa chính là khởi đầu của sự khôn ngoan. Trong số những quà tặng của Chúa Thánh linh, sự khôn ngoan chiếm hàng đầu. Vì vậy chúng ta cần cầu nguyện để mọi người ở bất cứ đâu, nhất là những người trong thời đại chúng ta nhận được sự kính sợ Thiên Chúa.
Từ Sách Thánh, chúng ta cũng biết rằng sự kính sợ này - nguồn gốc của khôn ngoan- không có điểm gì chung với nỗi sợ hãi của một người nô lệ. Ðó là sự kính sợ của con cái, không phải nỗi sợ hãi của nô lệ. Hình mẫu chủ-tớ kiểu Hêgel là điều xa lạ đối với Phúc âm. Ðó là hình mẫu được phác hoạ từ một thế giới trong đó không có Thiên Chúa hiện diện. Trong một thế giới mà Thiên Chúa thật sự hiện diện, trong thế giới của sự khôn ngoan Thiên Chúa, chỉ có kính sợ của con cái mới có thể tồn tại.
Sự biểu lộ đích thực và đầy đủ của sự kính sợ này chính là Ðức Kitô. Chúa Kitô muốn chúng ta kính sợ tất cả những gì là xúc phạm đến Thiên Chúa. Ngài mong muốn điều này vì Ngài đến trong thế giới để làm cho con người tự do vì sự tự do. Con người được tự do nhờ tình yêu, vì tình yêu là nguồn gốc của tất cả những gì là thiện hảo. Tình yêu này, phù hợp với lời của Thánh Gioan, loại bỏ tất cả nỗi sợ hãi (x 1 Ga 4:18). Mỗi dấu chỉ của nỗi sợ hãi nô lệ biến mất hoàn toàn trước uy quyền gây khiếp sợ của Ðấng Duy nhất toàn năng và trường tồn. Vị trí của nó được chiếm lấy bởi sự quan tâm của con cái để ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện trên trái đất- ý muốn đó là sự thiện hảo có nguồn gốc và sự viên mãn từ nơi Ngài.
Vì thế, các thánh thuộc mỗi thời đại cũng là sự nhập thể của tình yêu con cái của Chúa Kitô , đó là nguồn gốc của tình yêu của thánh Phanxicô dành cho tất cả mọi sinh vật cũng như của tình yêu đối với quyền lực cứu độ của Thánh giá, nó lập lại mối quân bình giữa cái thiện và cái ác cho thế giới.
Con người hiện nay có bị xúc động bởi sự kính sợ của con cái đối với Thiên Chúa, một sự kính sợ khởi đầu của mọi tình yêu hay không? Người ta có thể nghĩ - và không thiếu bằng chứng cho tác dụng này- rằng mô hình chủ nô vẫn còn tồn tại trong ý thức của con người ngày nay hơn là sự khôn ngoan, mà nguồn gốc của nó ở trong sự kính sợ của con cái đối với Thiên Chúa. Triết thuyết ngạo mạn phát sinh từ mô hình của Hêgel. Sức mạnh duy nhất có khả năng chống lại học thuyết này một cách có hiệu quả được bắt gặp trong Phúc âm của Chúa Kitô , trong đó mô hinh chủ-nô được biến đổi một cách cơ bản thành mô hình cha-con.
Mô hình cha-con luôn trường tồn. Nó lâu đời hơn lịch sử con người. Những "tia sáng của tư cách làm cha" trong công thức này thuộc về mầu nhiệm Ba ngôi của chính Thiên Chúa, mầu nhiệm toả ra từ Ngài chiếu sáng con người và lịch sử của họ.
Tuy nhiên, như chúng ta biết nhờ Mạc khải, trong lịch sử loài người, các tia của tư cách làm bố gặp gỡ sự kháng cự đầu tiên trong tội nguyên tổ, một sự kiện khó hiểu nhưng có thực. Ðây đích thực là chìa khoá để giải thích thực tại. Tội nguyên tổ không chỉ là một sự xúc phạm đến mệnh lệnh tích cực của Thiên Chúa mà còn xúc phạm đến ý muốn của Thiên Chúa được ẩn chứa trong mệnh lệnh đó. Tội nguyên tổ ra sức xoá bỏ tư cách làm cha, đồng thời phá huỷ những tia cho phép tạo dựng thế giới, nghi ngờ sự thật về Thiên Chúa Tình yêu và chỉ để cho con người ý thức về mối quan hệ chủ-nô. Kết cục, Thiên Chúa có vẻ như ganh tị về uy quyền của Ngài trên thế giới và trên con người; và con người cảm thấy bị thúc đẩy gây chiến chống lại Thiên Chúa. Trong bất cứ thời kì lịch sử nào, con người nô lệ bị lôi kéo đứng về phía chống đối lại người chủ đã bắt họ làm nô lệ.
Cuối cùng, tôi có thể tổng kết câu trả lời của tôi trong sự mâu thuẫn sau đây: để làm cho con người thời đại thoát khỏi nỗi lo sợ chính mình, thế giới, những người khác, những quyền lực trên trái đất, những hệ thống áp bức, để làm cho họ thoát ra khỏi mọi biểu hiện của nỗi lo sợ nô lệ trước "sức mạnh phổ biến" mà những kẻ tin gọi là Thượng đế, điều cần thiết là con người phải cầu nguyện sốt sắng rằng họ sẽ gánh lấy và bồi dưỡng trong tâm hồn sự kính sợ đích thực đối với Thiên Chúa, sự kính sợ đó là khởi đầu cho sự khôn ngoan.
Sự kính sợ Thiên Chúa này là sức mạnh cứu độ của Phúc âm. Ðó là sự kính sợ có tính cách xây dựng, không bao giờ huỷ hoại. Nó sáng tạo con người tự cho phép mình được hướng dẫn bởi trách nhiệm, bởi tình yêu có trách nhiệm. Nó sáng tạo những đàn ông và phụ nữ thánh thiện - những Kitô hữu đích thực- cuối cùng tương lai của thế giới sẽ thuộc về họ. André Malraux đã có lí khi cho rằng thế kỉ hai mươi mốt là thế kỉ của tôn giáo hoặc không là gì cả.
Ðức giáo hoàng, con người đã bắt đầu giáo triều của mình với câu nói "Ðừng lo sợ!", cố gắng đặt niềm tin hoàn toàn vào lời cổ vũ này và luôn luôn sẵn sàng phục vụ con người, các quốc gia, và nhân loại trong tinh thần sự thật của Phúc âm.
Chuyển ngữ xong vào đầu tháng Mười Một 2007
Nguyễn Kim Ngân |
|
| Về Đầu Trang |
|
 |
|
|
Bạn không có quyền gửi bài viết Bạn không có quyền trả lời bài viết Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
|