VÀI
NÉT VỀ
CANH TÂN
ĐẶC SỦNG
CÔNG GIÁO
TÀI
LIỆU *
LỜI CHỨNG
* CẢM
NGHIỆM

Về trang Mục Lục
LỜI CHỨNG
CỦA CHA
RICHARD
WANG, SJ
Cha Wang
thuộc
Dòng Tên,
hiện là
Phó Giám
Đốc Trung
Tâm Giáo
Dục tại
Đài Bắc,
Đài Loan.
Năm 1962,
sau bốn
năm gia
nhập Dòng
Tên, tôi
học xong
chương
trình
tiểu
chủng
viện và
đang đợi
lấy Visa
sang Phi
Luật Tân
để học
triết.
Vào cuối
tháng Ba,
tôi cùng
một số
bạn học
đi tham
dự tĩnh
tâm tại
Changhwa.
Tôi còn
nhớ rất
rõ là
trong
người đầu
của khóa
tĩnh tâm
này,
trong giờ
ăn trưa,
tôi ngồi
im lặng
tại bàn
ăn để
lắng nghe
và đọc
sách. Tôi
đọc câu
này trong
cuốn
sách:
“Chúa
Giêsu
muốn bước
vào và
hoạt động
trong đời
sống
chúng ta
mỗi ngày
nếu chúng
ta cho
phép
Ngài.”
Câu giản
dị này đã
đánh mạnh
vào tôi
như tiếng
sét, và
tôi cảm
nghiệm
tràn ngập
tình yêu
của Chúa
Giêsu.
Bỗng
nhiên tôi
cảm thấy
Ngài sống
trong tâm
hồn tôi
và đang
trò
chuyện
với tôi.
Tôi không
thể cầm
được
giòng lệ
trào ra
trên đôi
mắt. Tôi
hoàn toàn
bị chinh
phục bởi
tình yêu
của Chúa
Giêsu và
Thiên
Chúa Cha.
Không có
gì khác
quan
trọng cho
tôi trong
lúc đó.
Tất cả
khóa tĩnh
tâm đối
với tôi
như là
tuần
trăng
mật. Sự
hiện diện
của Chúa
Giêsu
trong tâm
hồn tôi
làm cho
tôi như
người mất
trí. Ngài
luôn hiện
diện và
trò
chuyện
với tôi
trong âu
yếm và
bình an.
Gài dẫn
đưa tôi
vào sự
trầm ngâm
cầu
nguyện.
Tôi không
còn để ý
nhiều đến
những bài
thuyết
giảng
nữa. Bao
lâu tôi
tỉnh
thức, tôi
chỉ trầm
ngâm suy
tưởng về
sự hiện
diện của
Chúa
Giêsu
trong
Thánh Thể
và lòng
tôi đầy
tràn lửa
mến yêu
Thiên
Chúa Cha.
Buổi
chiều,
sau khi
dùng bữa
với Chúa
Giêsu tôi
thường đi
dạo trong
vườn,
lòng suy
tưởng về
mọi loài
tạo vật,
về vũ
trụ, về
những
công
trình tác
tạo của
Chúa Cha.
Vào thời
gian đó
tôi chưa
có thể
dùng danh
từ nào để
nói về
cảm
nghiệm
của tôi
vì Canh
Tân Đặc
Sủng chưa
hội nhập
vào Giáo
Hội Công
Giáo. Tôi
chỉ biết
rằng
Thiên
Chúa đã
ban cho
tôi một
ân sủng
quá lớn
lao và
cho tôi
cảm
nghiệm
được tình
yêu không
thể nào
diễn tả
của
NgàiChín
năm sau
tôi gặp
gỡ Canh
Tân Đặc
Sủng, và
tôi bắt
đầu hiểu
rằng cảm
nghiệm
tôi có
được là
do Chúa
Thánh
Linh tuôn
đổ vào
lòng tôi.
Đó là ngã
rẽ đời
sống tinh
thần của
tôi. Chúa
Giêsu đã
thực sự
sống động
trong
tôi. Ngài
sống
trong
trái tim
tôi và
luôn
trung tín
với tình
yêu của
Ngài. Từ
đó, trong
suốt hai
mươi bốn
năm qua,
không bao
giờ Ngài
bỏ tôi cô
đơn. Ngài
luôn là
người Mục
Tử Tốt
Lành.
Ngài dẫn
đưa tôi
qua biết
bao đỉnh
núi cuộc
đời và
qua những
lối đi u
tối trong
thác
ghềnh của
sự chết.
Một tháng
sau khóa
tĩnh tâm
đó tôi
sang Phi
Luật Tân.
Cảm
nghiệm
trăng mật
của khóa
tĩnh tâm
bỗng dưng
giảm
xuống
thật
nhanh rồi
ngừng
hẳn. tình
trạng cô
đơn phiền
muộn
trong đời
sống tâm
linh và
những khó
khăn tâm
lý lại
bắt đầu
xuất hiện
trong
tôi. Phải
mất nhiều
năm tôi
mới được
chữa
lành, tẩy
luyện, và
phục hồi
sức khỏe
trong
tình yêu
của Chúa
Giêsu.
Để hiểu
được diễn
tiến như
thế nào,
thiết
tưởng tôi
cũng nên
nhìn lại
đời sống
của tôi
trước khi
tham dự
khóa tĩnh
tâm.
Tôi sinh
ra tháng
6 năm
1934, và
là con
trai
trưởng.
Cả hai
cha mẹ
tôi đều
được giáo
dục trong
nền văn
hóa tân
tiến
không có
niềm tin
tôn giáo.
Cha tôi
là người
theo
truyền
thống
Khổng
học. Ông
chỉ cố
gắng sống
đời sống
tốt lành
ngay
thẳng.
Theo giáo
huấn của
Khổng
học, là
một người
đàn ông
Trung
Hoa, cha
tôi
thường
sống
nghiêm
nghị hơn
là học
hỏi để
biểu lộ
tình cảm
ra bên
ngoài.
Ông ngoại
tôi du
học bên
Pháp về
môn chế
tạo các
dụng cụ
đo lường.
Mẹ tôi
được gửi
học ở một
trường
trung học
Tin Lành,
nhưng
dường như
bà cũng
chẳng học
hỏi gì
nhiều về
Kitô
giáo. Khi
cha mẹ
tôi kết
hôn, ông
bà sống ở
Hán Khẩu,
một thành
phố ở bên
bờ sông
Dương Tử
miền
trung Hoa
Lục, nơi
đó tôi đã
sinh ra.
Một năm
rưỡi sau
em trai
tôi sinh
ra đời.
Khi chiến
tranh
bùng nổ
năm 1937,
chúng tôi
phải di
chuyển
đến Trùng
Khánh,
thủ đô
chiến
tranh, và
chúng tôi
đã sống ở
đó 8 năm.
Trong
những năm
chiến
tranh,
cha tôi
làm việc
tại thành
phố, còn
chúng tôi
phải sống
ở miền
quê để
tránh
những
cuộc ném
bom của
Nhật. Chỉ
hai ba
tuần lễ
tôi mới
được gặp
lại cha
tôi. Sự
thiếu
vắng này
và những
khó khăn
trong
cuộc sống
hôn nhân
của cha
mẹ tôi đã
gây cho
tôi vết
thương
sâu đậm.
Khi chiến
tranh
Hoa-Nhật
chấm dứt,
tôi mới
11 tuổi.
Khoảng
tám tháng
sau toàn
bộ gia
đình tôi
di chuyển
về Nam
Kinh. Bây
giờ nhìn
lại, thời
gian đó
tôi là
một thiếu
niên mang
nhiều mạc
cảm tự
ti, nhưng
bề ngoài
tôi là
một học
sinh
trung học
thông
minh,
nhiều tài
năng, và
sống hạnh
phúc.
Vào cuối
năm 1948,
quân đội
Cộng Sản
tràn tới
Nam Kinh,
gia đình
tôi phải
di tản
sang Đài
Loan. Hai
năm đầu
tiên,
chúng tôi
sống tại
Đài
Trung.
Đầu năm
1951, gia
đình tôi
dọn về
Đài Bắc.
Bởi vì
học phí ở
Đài Bắc
cao hơn ở
Đài
Trung,
tôi không
có đủ
tiền theo
học lớp
Anh văn
nên ba
tôi phải
tìm kiếm
xin người
khác và
em trai
tôi giúp
đỡ một
phần. Một
trong số
những
người bạn
của ba
tôi giới
thiệu tôi
đến lớp
học của
một nữ tu
Hoa Kỳ
thuộc
Dòng
Bênêdictin.
Đây là
lần đầu
tôi tiếp
xúc với
Giáo Hội
Công
Giáo. Mùa
nghỉ hè
năm 1951
bà mở một
lớp giáo
lý dạy
bằng
tiếng
Anh. Tôi
và em tôi
cùng theo
học lớp
này. Sau
Lễ Giáng
Sinh năm
đó, tôi
bắt đầu
được sự
hướng dẫn
của một
linh mục
người
Trung
Hoa. Và
rồi tôi
được rửa
tội vào
tháng 6
năm 1952,
vào lúc
tôi vừa
học xong
chương
trình
trung
học.
Tháng 9
năm 1952
tôi vào
Trường
Đại Học
Quốc Gia
Đài Loan,
học về
môn kỹ sư
cơ khí.
Bỗng dưng
tôi trở
thành một
người
hoạt động
trong Hội
Sinh Viên
Công
Giáo. Vào
tháng
Giêng năm
1953,
trong
suốt thời
gian nghỉ
học mùa
đông,
chúng tôi
tham dự
khóa tĩnh
tâm ba
ngày. Và
đây là
lần đầu
tôi có
cảm
nghiệm mơ
hồ như là
Chúa
Giêsu kêu
gọi tôi
làm linh
mục. Lúc
đó thật
sự tôi
không
hiểu ý
nghĩa của
ơn gọi,
nên sau
khóa tĩnh
tâm tôi
đã chẳng
để ý
nhiếu đến
vấn đề
này. Hai
năm sau,
một ngày
nọ từ
trường
học trở
về nhà,
tôi nảy
ra ý nghĩ
trong đầu
là tôi
cần phải
nói
chuyện
với một
người nào
đó về vấn
đề trở
thành
linh mục.
Tôi đã
đến xứ
đạo của
tôi, xứ
Holy
Family
Church ở
Đài Bắc
và tôi đã
kiếm được
một linh
mục làm
linh
hướng cho
tôi.
Sau khi
tốt
nghiệp
đại học
tôi phải
phục vụ
trong
Quân Đội
18 tháng,
và được
giải ngũ
tháng 3
năm 1958.
Sau khi
tham dự
khóa tĩnh
tâm 3
ngày, tôi
đã nói
với ba mẹ
tôi về ơn
gọi của
tôi. Ba
mẹ tôi
đều tán
thành
ngay và
cho phép
tôi được
gia nhập
Dòng Tên.
Tôi gửi
đơn đến
Cha Tĩnh
Dòng, và
cuối
tháng 8
cùng năm
đó tôi
được nhận
vào tập
sự tại
Dòng Tên.
Tôi là
chủng
sinh
Trung Hoa
đầu tiên
của Đài
Loan. Lúc
đó tôi
xem ra
như một
thanh
niên hạnh
phúc,
hoạt động
và hướng
ngoại,
nhưng
thật ra
trong con
người tôi
dấu ẩn
nhiều vấn
nạn tinh
và tâm
lý. Nếu
tôi bị
trắc
nghiệm
tâm lý
trước khi
nhập Dòng
thì có
thể đã bị
từ chối.
Mùa hè
năm 1963,
trong khi
đang học
khóa tâm
lý tổng
quát, tôi
đã đọc
cuốn sách
mang tên
Newrosis
and Human
Growth
(Chứng
loạn thần
kinh và
sự tăng
trưởng
của con
người)
của Karen
Horney.
Tôi đọc
hết cuốn
sách này
và tự nói
một mình,
“nếu phải
viết một
bài về
tình
trạng tâm
lý của
mình thì
không thể
nào viết
ra đầy đủ
và rõ
ràng hơn
cuốn sách
này.”Đó
là lần
đầu tiên
tôi bắt
đầu nhận
ra mình
bị chứng
bệnh tâm
lý trầm
trọng.
Tôi đã
đến với
cha linh
hướng để
xin ngài
giúp đỡ.
Trong ít
năm sau
đó tôi
được ngài
và những
vị linh
hướng
khác giúp
nhiều,
nhưng sức
mạnh
chính yếu
vẫn là sự
hiện diện
liên tục
của Chúa
Giêsu và
Ngài luôn
trò
chuyện
trong tâm
hồn tôi.
Mặc dù có
sự nâng
đỡ từ bên
ngoài
cũng như
bên
trong,
nhung căn
bệnh thần
kinh của
tôi vẫn
cứ nổ
bùng vào
tháng 10
năm 1967.
Tôi xuống
tinh thần
nột cách
kinh
khủng.
Lúc đó
tôi đang
học Thần
Học năm
thứ ba
tại Đại
Học Fu
Jen, Đài
Bắc. Lòng
tôi ngập
tràn lo
sợ, có
những
ngày tôi
chẳng làm
được gì,
chỉ nằm
úp mặt
trên
giường
suốt bảy,
tám tiếng
đồng hồ.
Lời cầu
nguyện
của tôi
chỉ vỏn
vẹn có
một câu,
“Lạy Chúa
Giêsu,
con hoàn
toàn bất
lực,
nhưng
Công Giáo
có thể
cứu con
thoát
khỏi sự
lún bại
này.”
Ngay cả
trong lúc
tôi đau
khổ nhất
Chúa
Giêsu
cũng ở
với tôi.
Ngài là
nguồn hy
vọng nâng
đỡ tôi
bước qua
giai đoạn
đen tối
này của
cuộc đời.
Sau ít
tháng
phấn đấu,
tôi bắt
đầu thoát
khỏi sự
suy
nhược.
Tháng 6
năm 1968,
tôi cảm
thấy khá
hơn. Nhà
Dòng cử
tôi đến
phục vụ
tại Trung
Tâm Văn
Hóa Tien
với tư
cách là
phụ tá
linh
hướng, và
việc thụ
phong của
tôi bị
đình hoãn
vô hạn
định.
Nhờ Chúa
Giêsu
chúc
phúc,
công việc
mục vụ
của
tôi cho
các sinh
viên tại
đại học
quá thành
công nên
Nhà Dòng
cho tôi
được học
tiếp thần
họcvào
tháng 9
năm 1970,
nhưng
việc thụ
phong
linh mục
của tôi
vẫn chưa
được đặt
ra. Tháng
12 năm
1970, bề
trên của
Trung Tâm
Văn Hóa
Tien và
Viện
Trưởng
Viện Thần
Học cũng
đều viết
thư cho
Nhà Dòng
của tôi,
đề nghị
cha bề
trên Tĩnh
Dòng cứu
xét việc
thụ phong
linh mục
cho tôi.
Cha bề
trên Tĩnh
Dòng mở
lại hồ sơ
của tôi
và ngài
yêu cầu
tôi phải
trải qua
một cuộc
thử
nghiệm
tâm lý.
Sau nhiều
cuộc
phởng vấn
của các
nhà tâm
lý học,
cha bề
trên Tĩnh
Dòng đã
ký giấy
xác nhận
tình
trạng tâm
lý và sức
khoẻ của
tôi bình
thường.
Từ trong
tận đáy
lòng, tôi
biết rằng
Chúa
Giêsu là
Đấng chữa
lành duy
nhất của
tôi. Và
tôi đã
được thụ
phong
linh mục
ngày 26
tháng 6
năm 1971.
Vào thời
gian đó
nhiều nhà
tuyền
giáo
người Hoa
Kỳ đã cảm
nghiệm
được Canh
Tân Đặc
Sủng
trong
thời gian
họ về
nghỉ hè ở
quê nhà.
Một nữ tu
Dòng
Maryknoll
được đầy
tràn lửa
Chúa
Thánh
Linh, sau
khi trở
lại Đài
Loan, bà
đã thúc
đẩy tôi
gia nhập
Canh Tân
Đặc Sủng.
Lúc đó
chưa có
một Nhóm
Cầu
Nguyện
Công Giáo
nào tại
Đài Loan.
Vào tháng
3 năm
1971 một
vị mục sư
Tin Lành
tới
thuyết
giảng về
Canh Tân
Đặc Sủng
tại một
nhà thờ
Baptist.
Vị nữ tu
kéo tôi
đến đó
tham dự.
Vị thuyết
giảng
nhấn mạnh
quá nhiều
đến việc
chữa lành
thể lý
nên không
đánh động
tôi mấy
trái lại
còn gây
cho tôi
một vài
cảm nghĩ
không
tốt.
Nhưng vị
nữ tu vẫn
không đầu
hàng, bà
tiếp tục
mời tôi
đến tham
dự nhiều
buổi cầu
nguyện do
một vị
bác sĩ
người Anh
tổ chức.
Trong
những
buổi cầu
nguyện
này, tôi
bắt đầu
cảm
nghiệm
được sức
mạnh tâm
linhcủa
Canh Tân
Đặc Sủng.
Nhưng khi
họ cầu
nguyện
cho tôi,
tôi đã
không cảm
nghiệm
được gì
kể từ khi
tôi được
đầy tràn
Thánh
Linh từ
năm 1962.
Tuy
nhiên,
qua lần
cầu
nguyện
này tôi
hiểu được
những gì
Chúa
Giêsu đã
làm trong
tôi từ
năm 1962.
Không bao
lâu sau,
tôi được
ơn tiếng
lạ và bắt
đầu tổ
chức các
buổi cầu
nguyện
cho sinh
viên Công
Giáo
người Hoa
tại lưu
học xá
Đại Học
Fu Jen.
Nhờ ơn
Chúa, tôi
là linh
mục Công
Giáo
người Hoa
đàu tiên
gia nhập
Canh Tân
Đặc Sủng.
Sau khi
trở thành
linh
hướng cho
những
sinh viên
đại học
năm 1968,
tôi bắt
đầu dùng
kỹ thuật
đã học
được từ
triết để
áp dụng
vào việc
chữa
bệnh.
Chẳng bao
lâu sau
tôi nhận
ra rằng
dùng thời
gian lâu
dài có
thể chữa
khỏi bệnh
tâm trí
bị thương
tổn trầm
trọng.
Nhiều lần
kỹ thuật
này có
thể dùng
để định
bệnh,
nhưng lại
không có
khả năng
chữa
lành. Sau
khi tiếp
xúc với
Canh Tân
Đặc Sủng
tôi có
đọc sách
và nghe
nói về
việc chữa
lành nội
tâm,
nhưng tôi
không
biết làm
thế nào
để áp
dụng
những gì
đã học
được. Tôi
cảm thấy
rằng, tốt
nhất là
cứ cầu
nguyện
cho người
bệnh hơn
là chẳng
làm gì,
vì thế
tôi bắt
đầu cầu
nguyện
cho bất
cứ ai đến
xin tôi
giúp đỡ.
Ngay sau
khi tôi
khám phá
ra rằng,
chỉ cần
một lời
cầu
nguyện
đơn sơ,
sốt sắng
cũng có
thể làm
cho người
ta cảm
nghiệm
được tình
yêu của
Chúa
Giêsu,
nhưng căn
bệnh tâm
trí bị
tổn
thươngtrầm
trọng vẫn
không
được chữa
lành . Dù
vậy tôi
vẫn thích
thú và cứ
muốn tìm
những
phương
cách cầu
nguyện
hữu hiệu
hơn cho
những
người bị
tổn
thương.
Chúa đã
đáp lời
cầu xin
củ tôi
một cách
bất ngờ.
Cuối năm
1973, tôi
được gửi
tới
Trường
Thần Học
của Dòng
Tên tại
Berkeley,
California,
để học
tiép về
môn thần
học. Ngay
sau khi
tới
California,
tôi khám
phá ra
tại khu
cư xá tôi
ở có một
Nhóm Cầu
Nguyện
sinh hoạt
hằng
tuần. Lập
tức tôi
gia nhập
với họ.
Đó là một
nhóm cầu
nguyện
quốc tế,
gồm các
linh mục,
tu sĩ nam
nữ, và
giáo dân.
Trong một
thời gian
ngắn, tôi
trở thành
một phần
tử nồng
cốt của
nhóm, và
ở trong
Ban Phục
Vụ, cầu
nguyện
cho người
khác sau
mỗi buổi
họp nhóm.
Qua việc
thực hành
này, tôi
càng học
hỏi được
nhiều
phương
cách hữu
hiệu hơn
để cầu
nguyện
cho người
khác.
Từ tháng
Giêng năm
1974 đến
tháng 6
năm 1975
tôi rất
gần gũi
với Nhóm
Cầu
Nguyện
Shalom.
Trong
thời gian
này, tôi
học hỏi
cách cầu
nguyện
trong
Chúa
Thánh
Linh và
nhiều
phương
cách thực
hành các
đặc sủng.
Tôi vẫn
còn nhớ
rất rõ
trong một
buổi cầu
nguyện
đầu năm
1974 khi
tôi chia
sẻ cảm
tưởng.
Tôi nói,
tôi có
cảm tưởng
mình như
một khúc
củi trôi
dạt đầy
lỗ rỗng
và hình
thù méo
mó, nhưng
tôi tin
rằng dù
tôi có
đáng
thương
đến thế
nào chăng
nữa thì
tôi vẫn
cứ trông
cậy vào
Đấng Tác
Tạo Thánh
Thiện.
Ngài có
thể tẩy
rửa khúc
gỗ vô
dụng này
và biến
nó thành
một tác
phẩm điêu
khắc.
Tháng 6
năm 1975
khi tôi
rời
Berkeley
đến phụ
việc tại
Spokane,
Washington,
chứng
bệnh tâm
trí của
tôi đã
giảm rất
nhiều và
sức khỏe
của tôi
rất khả
quan.
Cuối năm
1975, sau
khi học
xong, tôi
trở về
Đài Loan
và bắt
đầu thực
hành ngay
tác vụ
cầu
nguyện
chữa lành
nội tâm.
Tôi cầu
nguyện
cho bất
cứ ai có
nhu cầu
đến với
tôi. Việc
cầu
nguyện
này dần
dần trở
thành
hoạt động
mục vụ
chính của
tôi. Tôi
đã chứng
kiến rất
nhiều
phép lạ
chữa lành
do quyền
năng của
Chúa
Giêsu.
Qua việc
cầu
nguyện
này,
những
người bị
tổn
thương
gặp gỡ
Chúa
Giêsu
trực
tiếp, sau
đó cuộc
đời của
họ hoàn
toàn thay
đổi. Chúa
Giêsu
Phục Sinh
không chỉ
sống mà
thôi,
nhưng
Ngài còn
hoạt động
một cách
thích thú
trong đời
sống
người tín
hữu. Rất
nhiều lần
tôi chứng
kiến Chúa
Giêsu làm
phép lạ
chữa lành
qua quyền
lực của
Chúa
Thánh
Linh.
Thừa tác
vụ chữa
lành nội
tâm quả
là tác vụ
tình yêu
của Chúa
Giêsu.
Qua tác
vụ này,
Chúa
Giêsu ban
cho tôi
thêm khả
năng để
nhận lãnh
và cho đi
tình yêu
(mặc dù
đôi lần
tôi cũng
lầm lẫn,
làm tổn
thương ít
người vì
tính ích
kỷ và sự
dốt nát
của tôi.)
Một cách
tổng
quát, tác
vụ này đã
giúp rất
những
người
ngoài sức
tưởng
tượng.
Tôi đã
đúc kết
kinh
nghiệm và
viết ra
hai cuốn
sách bằng
chữ Trung
Hoa. Cả
hai sách
này đều
bán được
ít ngàn
cuốn, phổ
biến tới
cả các
quốc gia
Đông Nam
Á và
nhiều nơi
trên thế
giới.
Nhìn lại
trên mười
năm trong
tác vụ
này, tôi
cảm thấy
tôi là
một tội
nhân,
nhưng một
tội nhân
được yêu
thương.
Dù tôi là
một con
người bị
tổn
thương
trầm
trọng,
nhưng
Chúa
Giêsu đã
chữa lành
tôi qua
quyền lực
của Chúa
Thánh
Linh. Dù
tôi chỉ
là tên
đầy tớ
ích kỷ và
vô dụng,
nhưng
Chúa
Giêsu đã
kêu gọi
tôi ra đi
rao giảng
sự giầu
có vô tận
và tình
yêu của
Ngài dành
cho mỗi
người
đang sống
với sự
tha thứ
vô điều
kiện.
Vào tháng
5 năm
1977, một
mục sư
Tin Lành
đến Đài
Loan chủ
tọa một
số buổi
cầu
nguyện
quốc tế.
Tôi tới
tham dự,
nghe ông
thuyết
giảng và
chia sẻ
kinh
nghiệm về
tác vụ
chữa lành
thể lý.
Ông nhấn
mạnh
rằng, tác
vụ này
phải là
tác vụ
tình yêu
của Chúa
Giêsu
dành cho
những
người
bệnh tật.
Từ lâu
tôi đã
kêu xin
Chúa
Giêsu ban
cho tôi
đặc sủng
chữa
bệnh,
nhưng tôi
chưa được
lãnh
nhận.
Trong bài
giảng dạy
của ông
mục sư
này, tôi
ý thức ra
rằng động
lực đã
làm tôi
xin Chúa
ban cho
tôi đặc
sủng chữa
lành là
để tôi
thỏa mãn
tính ích
kỷ và tự
kiêu. Lập
tức tôi
dục lòng
ăn năn
thống
hối. Sau
bài
thuyết
giảng của
vị mục
sư, người
ta xếp
hàng dài
xin ông
cầu
nguyện.
Tôi cũng
xếp hàng
đi lên.
Khi đến
lượt tôi,
ông hỏi
tôi muốn
ông cầu
nguyện
cho điều
gì. Tôi
nói, tôi
muốn xin
Chúa ban
cho tôi
đặc sủng
chữa
bệnh. Khi
cầu
nguyện
cho tôi
xong, ông
yêu cầu
tôi đứng
kế bên
ông.
Người xếp
hàng kế
tiếp đợi
xin cầu
nguyện là
một ông
bị đau
xương
sống. Ông
mục sư
lập tức
quay sang
tôi và
nói. “Tôi
đã cầu
nguyện
cho cha
rồi, bây
giờ cha
cầu
nguyện
chữa lành
cho ông
này đi.”
Tôi liền
cầu
nguyện
cho người
này, và
ông ta đã
được khỏi
bệnh. Đó
là khởi
đầu tác
vụ cầu
nguyện
chữa lành
của tôi.
Chúa
Giêsu đã
dẫn dắt
tôi trong
quyền lực
Chúa
Thánh
Linh để
tôi được
làm một
linh mục
Công Giáo
cầu
nguyện
chữa
lành.
Ngài cũng
mở ra cho
tôi nhiều
công việc
phục vụ
khác. Dần
dần tôi
nghiệm ra
lời Chúa
nói,
“Những gì
Ta dã
làm, con
cũng đang
làm được
như vậy.”
Giờ dây
tôi cũng
đang thực
hành
những gì
Chúa
Giêsu đã
làm trong
sứ vụ của
Ngài: tha
tội, chữa
lành nội
tâm, chữa
lành thể
lý, trừ
tà và rao
giảng Tin
Mừng qua
lời nói
và hành
động.
Ngài là
Đáng
trung tín
trong
tình yêu
và lời
hứa. Qua
Chúa
Thánh
Linh ,
Ngài chia
sẻ quyền
lực cho
các tôi
tớ và các
nữ tì
được Ngài
kêu gọi
để cộng
tác vào
việc xây
dựng
Vương
Quốc va
Giáo Hội
của Ngài.
Nhìn lại
đoạn
đường đã
đi qua,
lòng tôi
đầy tràn
sự biết
ơn và
kinh
ngạc. Làm
sao một
người
không đức
tin lại
có thể
trở thánh
một linh
mục Công
Giáo của
Dòng Tên?
Làm sao
một con
người bị
thương
tổn trầm
trọng và
đầy những
rắc rối
tâm trí
lại có
thể trở
thành một
người thi
hành tác
vụ tình
yêu cho
Chúa
Giêsu?
Điều đó
có thể
bởi vì
Chúa
Giêsu yêu
mến tôi
và Ngài
luôn
trung
tín, Ngài
đầy quyền
năng và
giầu lòng
thương
xót