ĐỀ TÀI VI
LỜI MỜI
GỌI PHỔ
QUÁT VỀ
NÊN THÁNH
VÀ TRUYỀN
GIÁO
(1)
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
CÁCH TIỀN
HÀNH
VIỆC HỌC
HỎI VÀ
CHIA SẺ
ĐỀ TÀI VI
Tiết 1
(45
phút):
Bước 1:
Thuyết
trình
viên
trình bày
Đề Tài VI
là LỜI
MỜI GỌI
PHỔ QUÁT
VỀ
NÊN THÁNH
VÀ TRUYỀN
GIÁO
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ.
Tiết 2
(45
phút):
Bước 2:
Các tham
dự viên
chia sẻ
cách mình
nên thánh
và truyền
giáo (dựa
vào 2 câu
hỏi gợi ý
dưới
đây).
Bước 3:
Linh mục
chủ trì
phát biểu
ý kiến.
PHẦN THỨ
NHẤT
LỜI MỜI
GỌI PHỔ
QUÁT VỀ
NÊN THÁNH
VÀ TRUYỀN
GIÁO
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[TRÌNH
BÀY]
I. VÀO ĐỀ
Nói đến
“nên
thánh”
nhiều
giáo dân
chúng ta
phản ứng
ngay
trong đầu
rằng: đó
là việc
của các
bậc tu
trì đạo
đức thánh
thiện,
chứ giáo
dân u mê
và tội
lỗi thì
làm sao
mà “nên
thánh”
cho nổi!
Cũng thế,
nói đến
“truyền
giáo”
nhiều
giáo dân
cũng phản
ứng ngay
trong đầu
rằng: đó
là việc
của những
người đã
dâng mình
cho Chúa
là các
linh mục,
tu sĩ,
chứ giáo
dân bận
rộn với
đời sống
trần
gian, cơm
áo gạo
tiền, lại
dốt nát
vụng về,
thì đâu
biết gì
mà
“truyền
giáo”,
làm gì có
khả năng
và thời
giờ để
truyền
giáo!
Chưa có
một
nghiên
cứu nào
cho thấy
đâu là
nguyên
nhân của
những suy
nghĩ sai
lạc trên.
Phải
chăng là
do cách
giáo dục
đức tin
của chúng
ta còn
nhiều
thiếu sót
và bất
cập? Một
câu hỏi
khác cũng
cần được
nghiên
cứu: phải
chăng vì
đại đa số
giáo dân
Việt Nam
có suy
nghĩ như
vậy về
truyền
giáo nên
việc loan
báo Tin
Mừng tại
đất nước
này không
mấy hiệu
quả?
Nhưng
chúng ta
hãy dành
những câu
hỏi trên
cho các
nhà lãnh
đạo và
tầng lớp
trí thức
của Giáo
hội Công
giáo Việt
Nam. Bây
giờ chúng
ta hãy
tập trung
vào công
việc học
hỏi và
chia sẻ
khiêm tốn
của mình.
II. TRÌNH
BÀY
2.1 ƠN
GỌI NÊN
THÁNH
2.1.1 Thế
nào nên
thánh?
Đây là
câu hỏi
vừa khó
mà vừa dễ
trả lời.
Chúng ta
sẽ dùng
nhiều
cách diễn
tả, nhiều
định
nghĩa
khác nhau
cho dễ
hiểu.
2.1.1.1
Nên
thánh là
sống ơn
gọi (hay
tư cách)
là con
cái Thiên
Chúa:
“Anh em
hãy xem
Chúa Cha
yêu
chúng ta
dường
nào:
Người
yêu đến
nỗi cho
chúng ta
được
gọi là
con Thiên
Chúa,
mà thực
sự
chúng ta
là con
Thiên
Chúa”
(1 Ga 3,
1).
2.1.1.2
Nên thánh
là nên
hoàn
thiện như
Cha trên
trời là
Đấng hoàn
thiện
(hay là
sống Đức
Ái vô vị
lợi và
không
ranh
giới):
"Anh em
đã nghe
Luật dạy
rằng: Hãy
yêu đồng
loại và
hãy ghét
kẻ thù.
Còn Thầy,
Thầy bảo
anh em:
hãy yêu
kẻ thù và
cầu
nguyện
cho những
kẻ ngược
đãi anh
em. Như
vậy, anh
em mới
được trở
nên con
cái của
Cha anh
em, Đấng
ngự trên
trời, vì
Người cho
mặt trời
của Người
mọc lên
soi sáng
kẻ xấu
cũng như
người
tốt, và
cho mưa
xuống
trên
người
công
chính
cũng như
kẻ bất
chính. Vì
nếu anh
em yêu
thương kẻ
yêu
thương
mình, thì
anh em
nào có
công chi?
Ngay cả
những
người thu
thuế cũng
chẳng làm
như thế
sao? Nếu
anh em
chỉ chào
hỏi anh
em mình
thôi, thì
anh em có
làm gì lạ
thường
đâu? Ngay
cả người
ngoại
cũng
chẳng làm
như thế
sao? Vậy
anh em
hãy nên
hoàn
thiện,
như Cha
anh em
trên trời
là Đấng
hoàn
thiện”
(Mt
5,43-48).
2.1.1.3
Nên
thánh là
nên giống
Chúa
Giê-su
Ki-tô hay
trở nên
đồng hình
đồng dạng
với Chúa
Giê-su
Ki-tô:
“Chúng ta
biết
rằng:
Thiên
Chúa làm
cho mọi
sự đều
sinh lợi
ích cho
những ai
yêu mến
Người,
tức là
cho những
kẻ được
Người kêu
gọi theo
như ý
Người
định.Vì
những ai
Người đã
biết từ
trước,
thì Người
đã tiền
định cho
họ nên
đồng hình
đồng dạng
với Con
của
Người, để
Con của
Người làm
trưởng tử
giữa một
đàn em
đông đúc.
Những ai
Thiên
Chúa đã
tiền
định, thì
Người
cũng kêu
gọi;
những ai
Người đã
kêu gọi,
thì Người
cũng làm
cho nên
công
chính;
những ai
Người đã
làm cho
nên công
chính,
thì Người
cũng cho
hưởng
phúc vinh
quang”
(Rm
8,28-30).
2.1.1.4
Nên
thánh là
sống theo
Thần Khí
của Thiên
Chúa:
“Quả vậy,
phàm ai
được Thần
Khí Thiên
Chúa
hướng
dẫn, đều
là con
cái Thiên
Chúa.
Phần anh
em, anh
em đã
không
lãnh nhận
Thần Khí
khiến anh
em trở
thành nô
lệ và
phải sợ
sệt như
xưa,
nhưng là
Thần Khí
làm cho
anh em
nên nghĩa
tử, nhờ
đó chúng
ta được
kêu lên:
"Áp-ba!
Cha ơi! "
Chính
Thần Khí
chứng
thực cho
thần trí
chúng ta
rằng
chúng ta
là con
cái Thiên
Chúa. Vậy
đã là
con, thì
cũng là
thừa kế,
mà được
Thiên
Chúa cho
thừa kế,
thì tức
là đồng
thừa kế
với Đức
Ki-tô; vì
một khi
cùng chịu
đau khổ
với
Người,
chúng ta
sẽ cùng
được
hưởng
vinh
quang với
Người.”
(Rm
8,14-17).
2.1.2 Ơn
gọi nên
thánh là
phổ quát
tức dành
cho hết
mọi Ki-tô
hữu (nói
cách khác
là tất cả
các Ki-tô
hữu đều
được mời
nên
thánh): “Chúng
tôi tin
Giáo Hội,
một mầu
nhiệm
được
Thánh
Công Ðồng
trình
bày, có
tính cách
thánh
thiện,
bất khả
khuyết.
Thực vậy,
Chúa
Ki-tô Con
Thiên
Chúa,
Ðấng cùng
với Chúa
Cha và
Chúa
Thánh
Thần,
được ca
tụng là
"Ðấng
thánh duy
nhất" đã
yêu dấu
Giáo Hội
như hiền
thê mình
và đã
hiến thân
để thánh
hóa Giáo
Hội (x.
Ep
5,25-26).
Người kết
hiệp với
Giáo Hội
như thân
thể Người
và ban
cho dư
đầy ơn
Thánh
Thần để
làm vinh
danh
Thiên
Chúa. Vì
thế, tất
cả mọi
người
trong
Giáo Hội
- hoặc
thuộc
hàng giáo
phẩm,
hoặc được
hàng giáo
phẩm dìu
dắt - đều
được kêu
gọi nên
Thánh,
như lời
Thánh
Tông Ðồ
dạy: "Vì
Thiên
Chúa muốn
anh em
được
thánh
hóa" (1
Tx 4,3;
x. Ep
1,4); sự
thánh
thiện này
của Giáo
Hội luôn
được biểu
lộ và
phải được
biểu lộ
qua những
hoa trái
ân sủng
mà Thánh
Thần đã
kết sinh
nơi các
tín hữu;
sự thánh
thiện ấy
được diễn
tả dưới
nhiều
hình thức
nơi tất
cả những
ai đang
cố đạt
tới Ðức
Ái trọn
hảo trong
bậc sống
của mình
trong khi
xây dựng
kẻ khác.
Ðặc biệt
hơn, sự
thánh
thiện đó
tỏ lộ
trong
việc thực
hành các
lời
khuyên,
quen gọi
là lời
khuyên
của Phúc
Âm. Nhờ
Chúa
Thánh
Thần thúc
đẩy,
nhiều
Ki-tô hữu
thực hành
các lời
khuyên ấy
với tư
cách cá
nhân hoặc
trong
những lối
sống hay
bậc sống
đã được
Giáo Hội
công
nhận;
việc thực
hành đó
mang lại
và phải
mang lại
cho thế
giới một
bằng
chứng và
một mẫu
gương
rạng ngời
về sự
thánh
thiện của
Giáo Hội”
(Hiến chế
tín lý về
Giáo Hội
«Ánh sáng
muôn
dân», số
39).
- “Chúa
Giê-su,
thầy dạy
và mẫu
mực thần
linh của
mọi sự
trọn
lành, đã
giảng dạy
cho tất
cả và cho
mỗi một
môn đệ,
bất luận
thuộc
cảnh vực
nào, một
đời sống
thánh
thiện mà
chính
Người vừa
là Ðấng
ban phát
vừa là
Ðấng hoàn
tất: "Vậy
các con
hãy trở
nên trọn
lành như
Cha các
con ở
trên
trời" (Mt
5,48).
Bởi vậy,
Người đã
sai Thánh
Thần đến
với mọi
người, để
từ bên
trong
Ngài thôi
thúc họ
yêu mến
Thiên
Chúa hết
lòng, hết
linh hồn,
hết trí
khôn cùng
hết sức
họ (x. Mc
12,30),
và yêu
thương
nhau như
Chúa
Ki-tô yêu
thương họ
(x. Ga
13,34;
15,12).
Ðược
Thiên
Chúa kêu
gọi và
được công
chính hóa
trong
Chúa
Giê-su,
không
phải vì
công lao
riêng,
nhưng vì
ý định và
ân phúc
của Ngài,
các môn
đệ Chúa
Ki-tô,
nhờ lãnh
nhận phép
Thánh
Tẩy, bí
tích đức
tin, đã
thực sự
trở nên
con cái
Thiên
Chúa và
được
thông
phần vào
bản tính
Ngài, và
do đó,
thực sự
đã trở
nên
thánh.
Cho nên
với ơn
Chúa họ
phải luôn
gìn giữ
và hoàn
thành
trong đời
sống sự
thánh
thiện mà
họ đã
lãnh
nhận. Họ
được
Thánh
Tông Ðồ
khuyên
sống
"xứng
đáng như
những vị
thánh"
(Ep 5,3)
và mặc
lấy "lòng
thương
xót, nhân
hậu,
khiêm
nhường,
tiết độ
và nhẫn
nại như
những
người đã
được
Thiên
Chúa chọn
lựa,
thánh hóa
và yêu
thương"
(Cl
3,12), và
dùng hoa
trái của
Thánh
Thần để
thánh hóa
mình (x.
Gl 5,22;
Rm 6,22).
Nhưng vì
chúng ta
ai cũng
có nhiều
lầm lỗi
(x. Gc
3,2), nên
chúng ta
luôn cần
đến lòng
nhân từ
của Thiên
Chúa và
hằng ngày
phải cầu
nguyện
"xin Chúa
tha nợ
chúng
tôi" (Mt
6,12).
Vì thế,
mọi người
đều thấy
rõ ràng
tất cả
các Ki-tô
hữu, bất
cứ theo
bậc sống
hay địa
vị nào,
đều được
kêu gọi
tiến đến
sự viên
mãn của
đời sống
Ki-tô
giáo và
đến sự
trọn lành
của Ðức
Ái.
Ngay
trong xã
hội trần
thế sự
thánh
thiện này
cũng giúp
người ta
sống nhân
đạo hơn.
Ðể đạt
được sự
trọn lành
đó, tín
hữu phải
xử dụng
những sức
lực mà
Chúa
Ki-tô đã
ban nhiều
ít tùy ý
Người để
trở nên
giống
Người khi
theo vết
chân
Người, và
khi thực
hành
thánh ý
Chúa Cha
trong tất
cả mọi
sự, họ sẽ
hết lòng
tìm vinh
danh Chúa
và phục
vụ tha
nhân. Như
thế, sự
thánh
thiện của
Dân Thiên
Chúa sẽ
sinh hoa
trái dồi
dào, như
lịch sử
Giáo Hội
đã từng
minh
chứng rõ
ràng qua
đời sống
của bao
vị
thánh.”
(Hiến chế
tín lý về
Giáo Hội
«Ánh sáng
muôn
dân», số
40).
2.1.3 Con
đường
hay
phương
cách nên
thánh
của
Giáo
Dân:
Nếu các
linh
mục, tu
sĩ có
con
đường
hay
phương
cách nên
thánh
của họ,
thì
giáo dân
cũng có
con
đường
hay
phương
cách nên
thánh
riêng
của
mình,
xuyên qua
các
thực
tại mà
họ
sống.
Sau đây
là năm
nét căn
bản của
con
đường
hay
phương
cách nên
thánh
của
giáo
dân:
2.1.3.1
Một là
sống
kết hợp
với Đức
Ki-tô:
Đời
sống
của bất
kỳ Ki-tô
hữu nào
cũng
phải
bắt
nguồn
từ
chính
Chúa
Giê-su
Ki-tô,
gắn bó
chặt
chẽ với
Người.
Nhưng sự
kết
hiệp
của
người
giáo dân
với Đức
Ki-tô có
nét
riêng là
bắt
nguồn
từ các
buổi cử
hành
phụng
vụ và
kéo dài
qua cuộc
sống,
xuyên qua
những
giờ
phút suy
niệm và
cầu
nguyện
và nhất
là phải
trải
rộng
trong
thế
giới,
trong môi
trường
nghề
nghiệp,
trong gia
đình.
“Phàm
điều gì
anh em
làm,
ngôn
hành
bất
luận,
mọi sự
hết
thảy
hãy làm
vì Danh
Chúa
Giê-su,
và nhờ
Ngài,
hãy cảm
tạ Thiên
Chúa
Cha”
(Cr
3,17).
2.1.3.2
Hai
là
sống Tin
Cậy Mến
(Nhân
đức đối
thần):
(1o) Chỉ
trong
ánh
sáng
đức tin
và suy
niệm
Lời
Chúa
mới có
thể
giúp
chúng ta:
* nhận
ra Thiên
Chúa mà
“trong
Ngài ta
sống, ta
cử
động, ta
hiện hữu”
(Cv
17,28),
* tìm
kiếm ý
muốn của
Thiên
Chúa
trong
mọi sự,
* thấy
Chúa
Ki-tô
trong
mọi
người,
cả kẻ
quen và
người
lạ,
* phê
phán
đúng
đắn về
ý nghĩa
đích
thực và
giá trị
của các
thực
tại
trần
thế,
xét nơi
bản thân
chúng
cũng như
trong
tương
quan của
chúng
với cứu
cánh
của con
người.
(2o)
“Trong
khi
tưởng
niệm
Thánh
Giá và
sự Phục
Sinh của
Chúa
Giê-su
Ki-tô,
những
người
có đức
tin ấy,
sống
trong
niềm Hy
Vọng
một
ngày kia
sẽ được
tỏ ra
là con
cái của
Thiên
Chúa”
“Trong
cuộc
sống lữ
hành
này, họ
được
giấu ẩn
trong
Thiên
Chúa
cùng
với Đức
Kitô và
được
giải
thoát
khỏi nô
lệ của
cải vật
chất để
tìm
kiếm
những
của cải
sẽ còn
mãi đến
sự sống
đời
đời, họ
quảng
đại đem
hết sức
lực mở
rộng
Nước
Thiên
Chúa và
đem tinh
thần Tin
Mừng
thấm
nhuần
và hoàn
thiện
các
thực
tại
trần
thế.”
(3o)
“Lòng
yêu
thương
phát
xuất từ
Thiên
Chúa
thúc
đẩy họ
làm
việc
thiện
cho hết
mọi
người,
nhất là
những
anh em
cùng
một đức
tin, cởi
bỏ mọi
sự xấu
xa, mọi
thứ gian
giảo và
giả
hình,
ghen
tương,
và
những
lời
gièm
pha, và
như vậy
họ lôi
kéo mọi
người
đến với
Đức
Kitô.”
2.1.3.3
Ba là
sống tinh
thần
Bát
Phúc:
“…..Lòng
mến của
Thiên
Chúa đã
được đổ
xuống
lòng ta
nhờ bởi
Thánh
Thần
Ngài đã
ban cho
ta (Rm
5,5) làm
cho giáo
dân có
sức
biểu lộ
tinh
thần
các Mối
Phúc
Thật
cách cụ
thể
trong
đời
sống
của họ:
-
theo chân
Đức
Giê-su
nghèo
khó, họ
không
nản
lòng khi
thiếu
thốn,
cũng
không
kiêu căng
khi dư
dật;
-
bắt
chước
Đức
Ki-tô
khiêm
hạ, họ
không
háo danh
(Gl
5,26),
họ
chuyên lo
làm đẹp
lòng
Thiên
Chúa hơn
là làm
đẹp
lòng
người
ta;
-
và chịu
bách
hại vì
công
chính;
vì nhớ
Lời
Chúa:
“Nếu ai
muốn đi
sau Ta,
thì hãy
chối bỏ
chính
mình,
vác lấy
khổ giá
của
mình và
hãy theo
Ta” (Mt
16, 24);
-
“ Sống
với nhau
trong
tình
thân hữu
Ki-tô
giáo,
họ sẵn
sàng
giúp đỡ
lẫn nhau
khi cần
thiết”
2.1.3.4
Bốn là
nên thánh
giữa đời:
“Tính
cách trần
thế là
tính cách
riêng
biệt và
đặc thù
của giáo
dân. Thực
vậy các
phần tử
trong
hàng giáo
sĩ dù đôi
khi có
thể lo
những
việc trần
thế, hoặc
hơn nữa,
hành nghề
giữa đời,
nhưng vì
ơn
kêu gọi
đặc biệt,
sứ mệnh
chính yếu
và rõ rệt
của họ
vẫn là sứ
vụ thánh.
Phần các
tu sĩ, do
bậc sống
của họ,
làm chứng
cách hùng
hồn và
cao quí
rằng
người ta
không thể
cải tạo
thế giới
và cung
hiến nó
cho Thiên
Chúa
được, nếu
không có
tinh thần
các mối
phúc
thật. Vì
ơn gọi
riêng,
giáo dân
có bổn
phận tìm
kiếm nước
Thiên
Chúa bằng
cách làm
các việc
trần thế
và xếp
đặt chúng
theo ý
Thiên
Chúa. Họ
sống giữa
trần
gian,
nghĩa là
giữa tất
cả cũng
như từng
công việc
và bổn
phận của
trần thế,
giữa
những
cảnh sống
thường
ngày
trong gia
đình và
ngoài xã
hội; tất
cả những
điều đó
như dệt
thành
cuộc sống
của họ.
Ðó là nơi
Thiên
Chúa gọi
họ, để
dưới sự
hướng dẫn
của tinh
thần Phúc
Âm, như
men từ
bên
trong, họ
thánh hóa
thế giới
bằng việc
thi hành
những
nhiệm vụ
của mình;
và như
thế, với
lòng tin
cậy mến
sáng
ngời, và
nhất là
với bằng
chứng đời
sống, họ
tỏ lộ
Chúa
Ki-tô cho
kẻ khác,
vì thế,
họ có
nhiệm vụ
đặc biệt
soi sáng
và xếp
đặt những
thực tại
trần gian
có liên
hệ mật
thiết với
họ, để
chúng
không
ngừng
phát
triển và
bành
trướng
theo
Thánh Ý
Chúa
Ki-tô,
hầu ca
tụng Ðấng
Tạo Hóa
và Ðấng
Cứu Ðộ”
(Hiến chế
tín lý về
Giáo Hội
«Ánh sáng
muôn
dân», số
31).
2.1.3.5
Năm là
mỗi
người
trong
điều
kiện
sống
của
mình:
Công
đồng
nhấn
mạnh:
“Con
đường
nên
thánh
của
giáo dân
phải
mang sắc
thái
đặc
biệt
tùy theo
cảnh
sống:
hôn nhân
và gia
đình,
độc
thân,
góa
bụa, đau
yếu,
sinh
hoạt
nghề
nghiệp
và xã
hội”
Trong
Giáo
Hội có
nhiều
con
đường tu
đức do
các vị
thánh
khởi
xướng.
Người
giáo dân
có thể
học ở
các
“linh
đạo” ấy
những
gì
thích
hợp với
mình.
Nhưng
điều
quan
trọng
nhất là
“họ cần
hết sức
coi
trọng
khả năng
chuyên
môn, ý
thức gia
đình và
ý thức
công dân
cũng như
những
đức
tính
liên quan
tới đời
sống xã
hội (sự
lương
thiện,
tinh
thần
công
bình,
lòng
thành
thực,
nhân
hậu,
quả
cảm).
Không có
những
đức
tính
ấy,
không
thể có
đời
sống
Ki-tô
hữu
đích
thực
được”
(2).
2.2 ƠN
GỌI HAY
SỨ MẠNG
TRUYỀN
GIÁO.
2.2.1 Thế
nào là
Truyền
giáo:
2.2.1.1
Truyền
giáo là
thi hành
lệnh
truyền
của Chúa
Giê-su
Ki-tô
Phục
Sinh:
Lệnh
truyền đó
là:
“Thầy
đã được
trao
toàn
quyền
trên
trời
dưới
đất.
Vậy anh
em hãy
đi và
làm cho
muôn dân
trở
thành
môn đệ,
làm
phép
rửa cho
họ nhân
danh
Chúa
Cha,
Chúa Con
và Chúa
Thánh
Thần,
dậy bảo
họ tuân
giữ mọi
điều
Thầy đã
truyền
cho anh
em. Và
đây,
Thầy ở
cùng anh
em mọi
ngày cho
đến tận
thế” (Mt
28,
18-20).
Và: “Anh
em sẽ
nhận
được
sức
mạnh
của
Thánh
Thần khi
Người
ngự
xuống
trên anh
em. Bấy
giờ anh
em sẽ
là
chứng
nhân của
Thầy
tại
Giê-ru-sa-lem,
trong
khắp
các
miền
Giu-đê,
Sa-ma-ri
và cho
đến tận
cùng
trái
đất” (Cv
1, 6-8).
2.2.1.2
Truyền
giáo là
thực thi
giáo huấn
của Giáo
hội:
* “Tự
bản
chất,
Giáo
hội lữ
hành
phải
truyền
giáo,
vì
chính
Giáo
hội bắt
nguồn
từ sứ
mạng
của
Chúa Con
và Chúa
Thánh
Thần
theo Ý
định
của
Thiên
Chúa
Cha”
(Sắc
lệnh
Truyền
Giáo,
số 2).
* “Vì
toàn
thể
Giáo
hội là
truyền
giáo và
vì công
việc rao
giảng
Phúc âm
là
nhiệm
vụ căn
bản của
Dân
Chúa,
nên
thánh
Công
đồng
mời gọi
mọi
người
canh tân
tự thâm
tâm
mình,
để khi
đã tích
cực ý
thức
trách
nhiệm
riêng
trong
việc
truyền
bá Phúc
âm, mọi
người
góp
phần
vào công
việc
truyền
giáo nơi
muôn dân”
(Sắc
lệnh
Truyền
Giáo,
số 35).
* “Tất
cả các
Ki-tô
hữu vì
là chi
thể của
Chúa
Ki-tô
hằng
sống,
được
sáp
nhập và
nên
giống
Người
nhờ Bí
tích
Rửa
tội,
Thêm sức
và
Thánh
thể, nên
họ có
bổn
phận
phải
cộng
tác vào
việc
phát
triển
và bành
trướng
Thân thể
Người,
để Thân
thể này
được
sung mãn
càng
sớm
càng
hay”
(Sắc
lệnh
Truyền
Giáo,
số 36).
2.2.1.2
Truyền
giáo là
thực thi
giáo huấn
của Giáo
hội trong
bối cảnh
Á Châu:
* “Công
Đồng
Va-ti-ca-nô
II đã
dạy rõ
ràng
rằng
toàn
thể
Giáo
hội đều
phải
truyền
giáo,
công
việc
phúc âm
hóa là
nhiệm
vụ của
toàn
thể Dân
Chúa.
Vì toàn
thể Dân
Chúa
đều
được sai
đi rao
giảng
Tin
Mừng,
nên phúc
âm hóa
không bao
giờ là
một công
việc
riêng lẻ
của cá
nhân,
nhưng
luôn luôn
là một
công
việc
chung
của cả
Giáo
Hội,
phải
được thi
hành
trong sự
hiệp
thông
với
toàn
thể
cộng
đoàn
đức tin.
Sứ mạng
chỉ có
một và
không
thể chia
năm sẻ
bảy, vì
chỉ có
một gốc
và chỉ
một mục
tiêu.
Nhưng
trong sứ
mạng ấy
có
những
trách
nhiệm
khác
nhau và
những
hình
thức
hoạt
động
khác
nhau. Dù
sao chăng
nữa, rõ
ràng là
không
thể nào
có sự
công bố
Tin Mừng
thực
sự, nếu
các
Ki-tô
hữu
không
lấy đời
sống
mình
làm
chứng
tá, đi
đôi với
sứ điệp
mà mình
rao
giảng:
«Hình
thức
làm
chứng
đầu tiên
là
chính
cuộc
sống
của
người
truyền
giáo,
của gia
đình
Ki-tô
hữu và
của
cộng
đoàn
Giáo
hội,
cuộc
sống
này
giới
thiệu
một cung
cách
sống
mới. . .
Mọi
người
trong
Giáo
hội, cố
gắng
bắt
chước
Tôn Sư
của
mình
thì đều
có thể
và đều
có bổn
phận
phải
làm
chứng
theo
hình
thức
này,
nhiều
khi, đó
lại là
cách duy
nhất để
truyền
giáo».
Nhất là
ngày nay
người ta
đang cần
đến
hình
thức
chứng
tá đích
thực
của
Ki-tô
giáo,
vì «con
người
hôm nay
tin
tưởng
các
chứng
nhân hơn
là thầy
dạy, tin
vào kinh
nghiệm
hơn là
bài vở,
tin vào
cuộc
sống và
hành
động hơn
là lý
thuyết».
Điều
này
thật
đúng
trong
bối
cảnh Á
châu
hiện
nay, nơi
người ta
dễ bị
thuyết
phục
bởi một
đời
sống
thánh
thiện
hơn là
bởi các
lý luận
của trí
tuệ. Vì
thế,
kinh
nghiệm
đức tin
và kinh
nghiệm
về các
ơn của
Chúa
Thánh
Thần
phải là
nền
tảng cho
toàn bộ
công
cuộc
truyền
giáo,
bất
luận ở
thành
thị hay
thôn quê,
ở
trường
học hay
bệnh
viện, ở
giữa
những
người
tàn
tật, di
cư hay
các bộ
tộc,
hoặc
theo
đuổi
thực
hiện
công
bằng và
các
quyền
con
người.
Hoàn
cảnh
nào
cũng là
cơ hội
thuận
tiện cho
các
Ki-tô
hữu bày
tỏ sức
mạnh mà
sự thật
của Đức
Ki-tô đã
mang lại
cho đời
sống
của họ.
Cảm
kích
trước
nhiều
nhà
truyền
giáo
trong
quá khứ
đã từng
làm
chứng
cho tình
yêu của
Thiên
Chúa
một
cách anh
hùng ở
giữa
các dân
tộc trên
lục địa
này,
ngày nay
Giáo
hội tại
Châu Á
cũng
không
kém
phần
hăng hái
khi cố
gắng
làm
chứng
về Đức
Giê-su
Ki-tô và
Tin Mừng
của
Ngài.
Sứ mạng
của
người
Ki-tô
hữu
không cho
phép
kém
nhiệt
tâm.
“Ý thức
về bản
chất
truyền
giáo
của
Giáo
hội
trong khi
chờ đợi
ngày
Chúa
Thánh
Thần
tuôn đổ
sức
mạnh
của
Người
xuống
một lần
nữa,
đang khi
Giáo
hội đi
vào
ngàn năm
mới,
các
Nghị
phụ
Thượng
Hội
đồng
thỉnh
cầu Tông
huấn
hậu
Thượng
Hội
đồng sẽ
đưa ra
một vài
chỉ thị
và
đường
hướng
cho
những ai
đang làm
việc
trong
cánh
đồng
truyền
giáo bao
la của
châu Á
này.
“Chính
Chúa
Thánh
Thần đã
giúp
Giáo
hội có
khả năng
hoàn
thành
sứ mạng
do Đức
Kitô trao
cho.
Trước
khi sai
các môn
đệ ra đi
làm
chứng
nhân,
Đức
Giê-su
đã ban
cho họ
Chúa
Thánh
Thần (x.
Ga
20,22);
Thánh
Thần
làm
việc
thông qua
họ và
đánh
động con
tim của
những
người
lắng
nghe họ
(x. Cv
2,37).
Điều
này
cũng
đúng
đối với
những
người
được
Ngài sai
đi hôm
nay. Ở
một mặt
nào đó,
tất cả
những
người
đã chịu
phép
Rửa,
thì
chính ơn
bí tích
này, họ
đều
được
trạch
cử tham
gia vào
việc
tiếp
nối sứ
mạng
cứu độ
của Đức
Ki-tô,
và họ
có khả
năng làm
việc
này
chính
nhờ
Thiên
Chúa đã
đổ tình
yêu của
Ngài
vào
lòng họ
nhờ
Chúa
Thánh
Thần mà
Ngài ban
cho họ
(x. Rm
5,5).”
(Tông
huấn
Giáo
hội tại
châu Á,
chương
VII, số
42) (3).
2.2.2
Truyền
giáo bằng
cách nào?
Theo sự
hướng dẫn
của các
tài liệu
của Hội
Thánh thì
có rất
nhiều
phương
cách
truyền
giáo. Ví
dụ như:
2.2.2.1
Truyền
giáo bằng
chứng tá
đời sống,
2.2.2.2
Truyền
giáo bằng
loan báo
Tin Mừng,
2.2.2.3
Truyền
giáo bằng
sống hiệp
thông,
2.2.2.4
Truyền
giáo bằng
xây dựng
các cộng
đoàn cơ
bản,
2.2.2.5
Truyền
giáo bằng
tham gia
các phong
trào và
hiệp hội
canh tân,
2.2.2.6
Truyền
giáo bằng
thành lập
các cộng
đoàn
Ki-tô
giáo,
2.2.2.7
Truyền
giáo bằng
các
phương
tiện
truyền
thông xã
hội,
2.2.2.8
Truyền
giáo bằng
đối thoại
với mọi
người,
mọi sắc
dân,
2.2.2.9
Truyền
giáo bằng
đối thoại
liên tôn
(đối
thoại với
các tôn
giáo
khác),
2.2.2.10
Truyền
giáo bằng
đối thoại
đại kết
(đối
thoại với
các Giáo
hội Ki-tô
khác),
2.2.2.11
Truyền
giáo bằng
tiếp xúc
cá nhân,
2.2.2.12
Truyền
giáo bằng
hoạt động
cho sự
thăng
tiến con
người,
2.2.2.13
Truyền
giáo bằng
phụng vụ
Lời Chúa
và bài
giảng
Chúa
nhật,
2.2.2.14
Truyền
giáo bằng
việc
giảng dậy
và học
hỏi giáo
lý,
2.2.2.15
Truyền
giáo bằng
việc cử
hành và
đón nhận
các bí
tích, á
bí tích,
2.2.2.16
Truyền
giáo bằng
việc thực
hành lòng
đạo đức
bình dân
(4).
2.3 GƯƠNG
NÊN THÁNH
VÀ TRUYỀN
GIÁO CỦA
THÁNH
PHAO-LÔ
2.3.1
Guơng nên
thánh của
Thánh
Phao-lô.
Thánh
Phao-lô
được Hội
Thánh tôn
vinh là
Thánh
Tông Đồ
Dân
Ngoại,
bên cạnh
Thánh
Phê-rô
Tông đồ
Trưởng.
Hai Vị
Thánh
Phê-rô và
Phao-lô
luôn được
xem là
cột trụ
của Hội
Thánh.
Đôc các
thư của
Thánh
Phao-lô,
chúng ta
khám ra
thấy đời
sống
thánh
thiện của
Ngài được
bộc lộ
qua những
sự kiện
sau đây:
- Thứ
nhất
Thánh
Phao-lô
khao khát
nên giống
Chúa
Giê-su
Ki-tô
chịu đóng
đinh thập
giá.
* «Tôi đã
không
muốn biết
đến
chuyện gì
khác
ngoài Ðức
Giê-su
Ki-tô, mà
là Giê-su
Ki-tô
chịu đóng
đinh » (1
Cr 2,2).
* «Tôi
cùng chịu
đóng đinh
với Đức
Ki-tô vào
thập
giá.”
(Gl
2,19).
- Thứ hai
Thánh
Phao-lô
để cho
Chúa
Giê-su
hoàn toàn
làm chủ
cuộc sống
(tư
tưởng,
tâm tình
và hành
động) của
Ngài:
* “Tôi
sống
nhưng
không còn
là tôi
sống, mà
là Đức
Ki-tô
sống
trong
tôi” (Gl
2,20).
* “Tôi tạ
ơn Đức
Ki-tô
Giê-su,
Chúa
chúng ta,
Đấng đã
ban sức
mạnh cho
tôi, vì
Người đã
tín nhiệm
mà gọi
tôi đến
phục vụ
Người.
Trước
kia, tôi
là kẻ nói
lộng
ngôn, bắt
đạo và
ngạo
ngược,
nhưng tôi
đã được
Người
thương
xót, vì
tôi đã
hành động
một cách
vô ý
thức,
trong lúc
chưa có
lòng tin.
Đức Ki-tô
Giê-su,
Chúa
chúng ta,
đã ban
cho tôi
đầy tràn
ân sủng,
cùng với
đức tin
và đức
mến của
một kẻ
được kết
hợp với
Người.
Đây là
lời đáng
tin cậy
và đáng
mọi người
đón nhận:
Đức Ki-tô
Giê-su đã
đến thế
gian, để
cứu những
người tội
lỗi, mà
kẻ đầu
tiên là
tôi. Sở
dĩ tôi
được
thương
xót, là
vì Đức
Giê-su
Ki-tô
muốn tỏ
bày tất
cả lòng
đại lượng
của Người
nơi tôi
là kẻ đầu
tiên, mà
đặt tôi
làm gương
cho những
ai sẽ tin
vào
Người, để
được sống
muôn đời.
Kính dâng
Vua muôn
thuở là
Thiên
Chúa bất
diệt, vô
hình và
duy nhất,
kính dâng
Người
danh dự
và vinh
quang đến
muôn thuở
muôn đời.
A-men” (1
Tm
1,12-17).
- Thứ ba
Thánh
Phao-lô
được
Thiên
Chúa mạc
khải và
ban thị
kiến về
mầu
nhiệm:
* “Phải
tự hào ư?
Nào có
ích gì!
Dù thế,
tôi cũng
xin nói
về những
thị kiến
và mặc
khải Chúa
đã ban
cho tôi.
Tôi biết
có một
người môn
đệ Đức
Ki-tô,
trước đây
mười bốn
năm đã
được nhắc
lên tới
tầng trời
thứ ba
-có ở
trong
thân xác
hay
không,
tôi không
biết, có
ở ngoài
thân xác
hay
không,
tôi cũng
không
biết, chỉ
có Thiên
Chúa
biết. Tôi
biết rằng
người ấy
đã được
nhắc lên
tận thiên
đàng
-trong
thân xác
hay ngoài
thân xác,
tôi không
biết, chỉ
có Thiên
Chúa
biết-, và
người ấy
đã được
nghe
những lời
khôn tả
mà loài
người
không
được phép
nói lại.
Về một
người như
thế, tôi
sẽ tự
hào; còn
về bản
thân tôi,
tôi chỉ
tự hào về
những yếu
đuối của
tôi. Quả
vậy, nếu
muốn tự
hào, thì
tôi cũng
không
phải là
người
điên, vì
tôi nói
sự thật.
Nhưng tôi
không làm
thế, kẻo
người ta
đánh giá
tôi quá
cao, so
với điều
họ thấy
nơi tôi
hoặc nghe
tôi nói.”
(2 Cr
12,2-6).
2.3.2
Guơng
truyền
giáo của
Thánh
Phao-lô.
Chỉ cần
chúng ta
nhắc lại
ba cuộc
hành
trình
truyền
giáo của
Thánh
Phao-lô
(3) và
nêu ra
đây một
vài dòng
tâm sự
(vừa là
tâm tình
vừa là
tổng kết
hoạt động
truyền
giáo) của
Thánh
Phao-lô
cũng đủ
cho chúng
ta thấy
Thánh
Phao-lô
tha thiết
và tận
tụy với
công cuộc
truyền
giáo như
thế nào?
- “Khốn
thân tôi
nếu tôi
không rao
giảng Tin
Mừng” (1
Cr
9,16).
- “Hãy
rao giảng
Lời Chúa
hãy lên
tiếng,
lúc thuận
tiện cũng
như lúc
không
thuận
tiện” (2
Tm 4,2).
- “Phần
chúng
tôi,
chúng tôi
chẳng làm
gì gây cớ
cho ai
vấp phạm,
để không
người nào
có thể
đàm tiếu
về công
việc phục
vụ của
chúng
tôi. Trái
lại,
trong mọi
sự, chúng
tôi luôn
chứng tỏ
mình là
những
thừa tác
viên của
Thiên
Chúa:
gian nan,
khốn
quẫn, lo
âu, đòn
vọt, tù
tội, loạn
ly, nhọc
nhằn, vất
vả, mất
ăn mất
ngủ,
chúng tôi
đều rất
mực kiên
trì chịu
đựng.
Chúng tôi
còn chứng
tỏ điều
đó bằng
cách ăn ở
trong
sạch,
khôn
khéo,
nhẫn
nhục,
nhân hậu,
bằng một
tinh thần
thánh
thiện,
một tình
thương
không giả
dối, bằng
lời chân
lý, bằng
sức mạnh
của Thiên
Chúa.
Chúng tôi
lấy sự
công
chính làm
vũ khí
tấn công
và tự vệ,
khi vinh
cũng như
khi nhục,
lúc được
tiếng tốt
cũng như
khi mang
tiếng
xấu. Bị
coi là
bịp bợm,
nhưng kỳ
thực
chúng tôi
chân
thành; bị
coi là vô
danh tiểu
tốt,
nhưng kỳ
thực
chúng tôi
được mọi
người
biết đến;
bị coi là
sắp chết,
nhưng kỳ
thực
chúng tôi
vẫn sống;
coi như
bị trừng
phạt,
nhưng kỳ
thực
không bị
giết
chết; coi
như phải
ưu phiền,
nhưng kỳ
thực
chúng tôi
luôn vui
vẻ; coi
như nghèo
túng,
nhưng kỳ
thực
chúng tôi
làm cho
bao người
trở nên
giàu có;
coi như
không có
gì, nhưng
kỳ thực
chúng tôi
có tất
cả.” (2
Cr
6,3-10).
-
“Họ là
người
Híp-ri ư?
Tôi cũng
vậy!
Họ là
người
Ít-ra-en
ư? Tôi
cũng vậy!
Họ là
dòng
giống
Áp-ra-ham
ư? Tôi
cũng vậy!
Họ là
người
phục vụ
Đức Ki-tô
ư? Tôi
nói như
người
điên: tôi
còn hơn
họ nữa!
Hơn nhiều
vì công
khó, hơn
nhiều vì
ở tù, hơn
gấp bội
vì chịu
đòn, bao
lần suýt
chết. Năm
lần tôi
bị người
Do-thái
đánh bốn
mươi roi
bớt một;
ba lần bị
đánh đòn;
một lần
bị ném
đá; ba
lần bị
đắm tàu;
một đêm
một ngày
lênh đênh
giữa biển
khơi! Tôi
còn hơn
họ, vì
phải thực
hiện
nhiều
cuộc hành
trình,
gặp bao
nguy hiểm
trên
sông,
nguy hiểm
do trộm
cướp,
nguy hiểm
do đồng
bào, nguy
hiểm vì
dân
ngoại,
nguy hiểm
ở thành
phố,
trong sa
mạc,
ngoài
biển
khơi,
nguy hiểm
do những
kẻ giả
danh là
anh em.
Tôi còn
phải vất
vả mệt
nhọc,
thường
phải thức
đêm, bị
đói khát,
nhịn ăn
nhịn uống
và chịu
rét mướt
trần
truồng.
Không kể
các điều
khác, còn
có nỗi
ray rứt
hằng ngày
của tôi
là mối
bận tâm
lo cho
tất cả
các Hội
Thánh! Có
ai yếu
đuối mà
tôi lại
không cảm
thấy mình
yếu đuối?
Có ai vấp
ngã mà
tôi lại
không cảm
thấy lòng
sôi
lên? »
(2 Cr
11,22-29).
III. KẾT
LUẬN
Trong Năm
Thánh
Phao-lô
này phải
nói là
“HỌC VÀ
SỐNG TINH
THẦN
THÁNH
PHAO-LÔ”
quả là
một việc
hấp dẫn
và vĩ
đại,
nhưng
cũng là
một việc
hết sức
khó khăn
và gian
khổ.
Qua các
bài giảng
của các
linh mục
xứ, qua
các tài
liệu, bài
báo mà
anh chị
em có
điều kiện
đọc, nhất
là qua
hai đợt
sinh hoạt
của toàn
thể giáo
dân nòng
cốt ngày
24.11.2008
và ngày
23.03.2009
này, hy
vọng rằng
các anh
chị em đã
học được
khá nhiều
và cũng
đã sống
được một
phần nào
tinh thần
của Thánh
Phao-lô.
Chúng ta
hãy cảm
tạ Ơn
Chúa và
cảm ơn
các đấng
bề trên
đã quan
tâm giúp
đỡ chúng
ta.
Phần tôi,
tôi chân
thành cầu
chúc quý
anh chị
tiếp tục
“học và
sống tinh
thần
Thánh
Phao-lô”
không chỉ
đến hết
ngày
29.06.2009
sắp tới
là ngày
kết thúc
Năm Thánh
Phao-lô,
mà cho
đến ngày
các anh
chị em
gặp được
Vị Tông
đồ Dân
Ngoại
trong
Nước
Trời.
Amen!
---------------
Ghi chú:
(1) Bài
này khá
dài nên
có thể
cắt thành
2 bài
riêng
biệt: một
bài là
“LỜI
MỜI GỌI
PHỔ QUÁT
VỀ NÊN
THÁNH
TRONG NĂM
THÁNH
PHAO-LÔ”
và một
bài khác
là “LỜI
MỜI GỌI
PHỔ QUÁT
VỀ TRUYỀN
GIÁO
TRONG NĂM
THÁNH
PHAO-LÔ”
(2) Xin
đọc thêm
« Được
kêu gọi
để nên
thánh »
trong
Tông Huấn
Ki-tô hữu
giáo dân
của Đức
Thánh Cha
Gio-an
Phao-lô
II, số
16-17.
(3) Xin
mời đọc
cuốn SƯU
TẬP NHỮNG
GIÁO HUẤN
CỦA GIÁO
HỘI VỀ
TRUYỀN
GIÁO do
linh mục
Mi-ca-e
Trần Đình
Nha và
ông
Giê-rô-ni-mô
Nguyễn
Văn Nội
thực
hiện.
(4) Xin
mời đọc
cuốn
TRUYỀN
GIÁO TẠI
VIỆT NAM
của tác
giả
Giê-rô-ni-mô
Nguyễn
Văn Nội,
trong đó
trình bày
khá đầy
đủ về các
phương
cách
truyền
giáo.
(5) Ba
hành
trình
truyền
giáo: vào
các năm
45-49
(hành
trình thứ
nhất),
49-52
(hành
trình thứ
hai) và
53-58
(hành
trình thứ
ba).
PHẦN THỨ
HAI
LỜI MỜI
GỌI PHỔ
QUÁT VỀ
NÊN THÁNH
VÀ TRUYỀN
GIÁO
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[CHIA
SẺ]
CÂu hỎi I:
LỜi
mỜi gỌi
phỔ quÁt
vỀ nÊn
thÁnh.
1.1 Các
anh chị
hiểu thế
nào là
nên
thánh?
1.2 Mỗi
ngày các
anh chị
làm gì để
nên
thánh?
1.3 Anh
chị gặp
những khó
khăn trở
ngại
(khách
quan/chủ
quan) nào
trong
việc nên
thánh?
1.4 Anh
chị khắc
phục
những khó
khăn trở
ngại ấy
như thế
nào? bằng
những
phương
thế nào?
CÂu hỎi
II:
LỜi
mỜi gỌi
phỔ quÁt
vỀ truyỀn
giÁo.
2.1 Các
anh chị
hiểu thế
nào là
truyền
giáo?
2.2 Mỗi
ngày các
anh chị
làm gì để
truyền
giáo?
2.3 Anh
chị gặp
những khó
khăn trở
ngại
(khách
quan/chủ
quan) nào
trong
lãnh vực
truyền
giáo?
2.4 Anh
chị khắc
phục
những khó
khăn trở
ngại ấy
như thế
nào? bằng
những
phương
thế nào?
Ghi chú:
1. Nếu số
người
tham dự
quá đông
hoặc
không có
đủ phòng
ốc hoặc
thời gian
thì có
thể chia
sẻ tại
chỗ từng
4-5 người
thành một
nhóm.
2. Ngoài
việc chia
sẻ trong
nhóm nhỏ,
ban tổ
chức cũng
yêu cầu
mỗi tham
dự viên
ghi lại
phần trả
lời các
câu hỏi
trên giấy
và nộp
lại cho
ban tổ
chức sau
ngày sinh
hoạt. Nếu
nghiên
cứu, phân
tích và
tổng hợp
các câu
trả lời
này, Tòa
Giám Mục
sẽ có một
tài liệu
rất quý
giá, về
đời sống
đạo của
giáo dân.
PHẦN THỨ
BA
BÀI ĐỌC
THÊM (1)
LỜI MỜI
GỌI PHỔ
QUÁT VỀ
NÊN THÁNH
VÀ TRUYỀN
GIÁO
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[GỢI Ý
CỦA ĐỨC
CHA
MICHAEL
SALTARELLI,
GIÁM MỤC
WILMINGTON,
HOA KỲ]
“Khốn cho
tôi nếu
tôi không
rao giảng
Tin Mừng”
(1 Cr
9,16).
Đức Hồng
y Oscar
Andres
Rodriguez
Maradiaga,
SDB, Tổng
Giám mục
Tegu-cigalpa
ở
Hunduras,
viết cho
tôi một
thiệp
Giáng
Sinh mà
trên đó
có đề
những
dòng chữ
này: “Que
el ano de
San
Pablo,
evangelizador
infatigable
sea la
occasion
para
renovar
nuestro
Corazon
misionero.
'Ay de mi
si no
evangelizo'
(1 Cr
9,16)"
(“Chớ gì
Năm Thánh
Phaolô,
nhà
truyền
giáo
không
biết mệt,
thành
thời điểm
để chúng
ta canh
tân tâm
hồn
truyền
giáo của
chúng ta.
‘Khốn cho
tôi nếu
tôi không
rao giảng
Tin Mừng’
(1 Cr
9,16)”.
Tôi chắc
chắn rằng
một trong
những mục
đích của
Đức Thánh
Cha
Bênêđictô
XVI khi
công bố
Năm Thánh
Phaolô là
để cho
mỗi người
Công giáo
đưa gương
lên soi
vào đời
sống mình
và tự
hỏi: Tôi
có quyết
tâm và
hăng say
truyền bá
Đức tin
Công giáo
như Thánh
Phaolô
không? Có
phải việc
truyền bá
Đức tin
bằng
gương
sáng và
bằng việc
đối thoại
với bằng
hữu của
chúng ta
là điều
chúng ta
quan tâm
đến
không?
Điều gì
chúng ta
có thể
làm cách
đặc biệt
để truyền
đạt một
lòng yêu
mến Chúa
Giêsu và
một sự
hiểu biết
về Đức
tin của
chúng ta
trong
trái tim
và tâm
trí của
những
người trẻ
là tương
lai của
Giáo Hội
chúng ta?
Qua những
ẩn dụ
chứa đầy
nghị lực
và có
tính cách
thể thao
của ngài,
gương của
Thánh
Phaolô
phải lôi
cuốn giới
trẻ cách
đặc biệt,
khuyến
khích các
em dùng
nghị lực
và lòng
hăng say
vào việc
truyền bá
Tin Mừng
của Đức
Kitô.
Đức Thánh
Cha Gioan
Phaolô II
luôn luôn
nhắc nhở
chúng ta
rằng Đức
tin Công
giáo của
chúng ta
chỉ có
thể lớn
lên khi
chúng ta
ý thức và
tận tâm
chia sẻ
đức tin
này với
tha nhân.
Đức Kitô
sẽ nhìn
đến mỗi
người
chúng ta
với đôi
mắt từ bi
của Người
khi phán
xét riêng
và hỏi
rằng
chúng ta
đã cố
gắng làm
những gì
trong
cuộc đời
mình để
mời gọi
người
khác đến
hiệp
thông với
Đức Chúa
Giêsu
Kitô và
Giáo Hội
của
Người.
Chúng ta
có ngạc
nhiên
chút nào
không khi
Đức Thánh
Cha
Gioan
Phaolô II
bắt đầu
Thông
điệp của
ngài về
hoạt động
truyền
giáo
-
Redemptoris
Mis-io
-
năm 1990,
bằng một
lời nhắc
đến Thánh
Phaolô
không?
Ngài
viết:
“Sứ vụ
này của
Đức Kitô,
Đấng Cứu
Thế, được
trao phó
cho Giáo
Hội vẫn
còn lâu
lắm mới
được hoàn
thành.
Khi mà
thiên
niên kỷ
thứ hai
sau khi
Đức Kitô
đến sắp
hết, một
cái nhìn
tổng quát
về nhân
loại cho
thấy rằng
sứ vụ này
mới chỉ
bắt đầu
và chúng
ta phải
quyết tâm
hết lòng
phục vụ
nó. Chính
Chúa
Thánh
Thần là
Đấng thúc
đẩy chúng
ta rao
truyền
công
trình vĩ
đại của
Thiên
Chúa: ‘Vì
nếu tôi
rao giảng
Tin Mừng,
thì không
có lý do
gì để tôi
tự hào,
mà đó là
một nhiệm
vụ tôi
phải làm.
Khốn cho
tôi nếu
tôi không
rao giảng
Tin
Mừng!’
(1 Cr
9,16).
Nhân danh
toàn thể
Giáo Hội,
tôi cảm
thấy có
một nhiệm
vụ khẩn
thiết để
nhắc lại
lời kêu
gào này
của Thánh
Phaolô”.
Chớ gì
mỗi người
chúng ta
đang sống
trong thế
kỷ 21 này
cảm thấy
có cùng
một nhiệm
vụ nhắc
lại lời
kêu gào
của Thánh
Phaolô.
Đức Thánh
Cha Gioan
Phaolô II
đã chỉ
cho chúng
ta rằng
tinh thần
siêu
nhiên và
truyền
giáo phải
song hành
với nhau
và lời
mời gọi
nên thánh
phổ quát
được liên
kết chặt
chẽ với
lời mời
gọi
truyền
giáo phổ
quát
.
Đức Thánh
Cha
Phaolô VI
tóm tắt
tâm hồn
của Thánh
Phaolô
trong một
đoạn của
Tông huấn
Evangelii
Nuntiandi:
“Mẫu
gương
truyền
giáo là
Tông Đồ
Phaolô đã
viết
những lời
này trong
thư gửi
tín hữu
Thessalônica,
và cũng
là chương
trình cho
tất cả
chúng ta:
‘Chúng
tôi đã
yêu mến
anh em
tha
thiết,
đến nỗi
sẵn sàng
chia sẻ
với anh
em, không
những chỉ
Tin Mừng
của Thiên
Chúa, mà
cả chính
mình
chúng
tôi, vì
anh em đã
trở nên
rất thân
yêu đối
với chúng
tôi’ (1
Tx 2,8).
Tình yêu
này là
gì? Tình
yêu ấy
phải hơn
tình yêu
của một
vị thầy;
đó là
tình yêu
của một
người
cha; và
cũng là
tình yêu
của một
người mẹ.
Đó chính
là tình
yêu mà
Chúa mong
mỏi nơi
mỗi người
rao giảng
Tin Mừng,
nơi mỗi
người xây
dựng Giáo
Hội. Một
dấu hiệu
của tình
yêu là
quan tâm
ban phát
chân lý
và đưa
người ta
đến hợp
nhất. Một
dấu hiệu
khác của
tình yêu
là một
lòng tận
tuỵ rao
giảng Đức
Chúa
Giêsu
Kitô, mà
không hạn
chế hay
quay đầu
trở lại”
.
Còn gương
sáng nào
hơn gương
của Đức
cha
Fulton J.
Sheen,
một Thánh
Phaolô
của nước
Mỹ chúng
ta, mà
cuộc điều
tra phong
thánh
đang được
tiến
hành.
Sống
trong
buổi bình
minh của
thời đại
truyền
hình,
ngài nhận
ra được
tiềm năng
của những
phương
tiện kỹ
thuật tân
tiến để
truyền bá
Tin Mừng.
Hãy tưởng
tượng xem
Thánh
Phaolô sẽ
dùng vệ
tinh
truyền
thông,
Internet
và
YouTube
như thế
nào. Ở
khuôn
viên của
Trường
Truyền
giáo
Rôma, một
chủng
viện đào
luyện các
linh mục
cho Thế
giới Thứ
ba, có
một trung
tâm tĩnh
tâm mà ở
phòng
chính có
một tượng
bán thân
của Đức
cha
Fulton
Sheen
được đặt
ở giữa
phòng.
Tôi không
thể nghĩ
ra một
hình ảnh
nào diễn
tả ngọn
lửa
truyền
giáo của
Thánh
Phaolô
hơn là
(vị Giám
mục)
người Mỹ
Cao quý
trong thế
kỷ 20
này, một
ngọn lửa
được lan
tràn đến
tận cùng
trái đất
ảnh hưởng
đến việc
đào luyện
không
biết bao
nhiêu
linh mục
và tu sĩ
ở Phi
Châu, Á
Châu và
Ấn Độ.
Nguyện
xin lửa
mà Chúa
Thánh
Thần đã
đổ xuống
lòng
Thánh
Phaolô,
làm cho
lòng của
ngài trở
thành
ngọn lửa
soi sáng
thế gian,
đốt cháy
lòng
chúng ta
để chúng
ta trở
thành
những nhà
truyền
giáo sống
động và
hữu hiệu
trong Năm
Thánh
Phaolô và
suốt đời
chúng ta.
BÀI ĐỌC
THÊM (2)
TIỂU SỬ
THÁNH
PHAOLÔ
[BÀI GIÁO
LÝ MỚI II
CỦA ĐỨC
THÁNH CHA
BÊNÊĐICTÔ
XVI
VỀ THÁNH
PHAOLÔ
[11.10.2008
09:35]
Dưới đây
là bản
dịch bài
Giáo Lý
mới thứ
hai của
Đức Thánh
Cha
Bênêđictô
XVI về
Thánh
Phaolô
trong
buổi
Triều
Kiến
Chung
ngày
27-8-2008
tại Sảnh
Đường
Phaolô
VI. Hôm
nay Đức
Thánh Cha
tiếp tục
chu kỳ
Giáo Lý
dành cho
khuôn mặt
và tư
tưởng của
Thánh
Phaolô.
* * *
Anh chị
em thân
mến,
Trong bài
Giáo Lý
sau cùng
trước
những
ngày lễ
nghỉ -
cách đây
hai tháng
– cha đã
bắt đầu
một loạt
bài mới
về những
đề tài và
cơ hội
của năm
Thánh
Phaolô,
bằng cách
xem xét
cái thế
giới mà
Thánh
Phaolô đã
sống.
Hôm nay
cha muốn
trở lại
và tiếp
tục suy
niệm về
vị Tông
Đồ Dân
Ngoại,
bằng cách
đưa ra
một tiểu
sử ngắn
về ngài.
Bởi vì
chúng ta
sẽ dành
thứ tư
tuần tới
cho một
biến cố
phi
thường đã
xảy ra
trên
đường đi
Đamascô,
là biến
cố Thánh
Phaolô
trở lại,
một khúc
quanh căn
bản trong
cuộc đời
của ngài,
là kết
quả của
cuộc gặp
gỡ Đức
Kitô, hôm
nay chúng
ta nhìn
cách vắn
tắt vào
toàn thể
cuộc đời
của ngài.
Chúng ta
có tiểu
sử về
những
thời điểm
đặc biệt
của cuộc
đời Thánh
Phaolô ở
thư gửi
Philêmôn,
trong đó
ngài
tuyên bố
rằng mình
đã “già”
(Plm
9:
“presbytes),
và sách
Tông Đồ
Công Vụ
diễn tả
ngài còn
“trẻ” khi
người ta
ném đá
Thánh
Têphanô,
(7,58:
“neanias”).
Hai cách
nói trên
có thể
chỉ nói
cách
chung,
nhưng
theo cách
tính ngày
xưa thì
một người
khoảng 30
tuổi được
coi là
“trẻ”, và
khi người
ấy khoảng
60 tuổi
thì được
coi là
“già”.
Theo kỳ
hạn tuyệt
đối thì
ngày sinh
của Thánh
Phaolô
tùy thuộc
nhiều vào
thời gian
mà ngài
viết thư
cho
Philêmôn.
Theo
truyền
thống thì
thư ấy
được viết
vào thời
kỳ ngài
bị giam
tại Rôma,
khoảng
giữa thập
niên 60.
Vậy Thánh
Phaolô có
thể được
sinh ra
vào năm
8; như
thế lúc
đó ngài
khoảng
trên dưới
60 tuổi,
trong khi
ném đá
Thánh
Têphanô
thì ngài
chừng 30
tuổi.
Điều này
chắc là
đúng theo
lịch sử.
Thực ra,
việc cử
hành Năm
Thánh
Phaolô mà
chúng ta
mừng là
dựa vào
lịch sử
này. Chọn
năm 2008
vì nghĩ
rằng năm
sinh của
ngài
khoảng
trên dưới
năm 8.
Trong
trường
hợp nào
đi nữa,
thì ngài
cũng sinh
ra tại
Tarsô
trong
vùng
Cilicia
(x.
Cv 22,3).
Thành phố
này là
thủ phủ
của vùng,
và trong
năm 51
trước
công
nguyên có
một thủ
hiến
không
phải ai
khác hơn
ông Marcô
Tulliô
Cicêrô,
mười năm
sau,
Tarsô là
gặp gỡ
giữa
Marcô
Antôniô
và
Clêopatra.
Là một
người Do
Thái lưu
vong,
ngài nói
tiếng Hy
Lạp mặc
dù có tên
gốc La
Tinh, bắt
nguồn từ
trùng âm
với tên
Saulê/Saulô
của tiếng
Do Thái,
và ngài
là công
dân Rôma
(x.
Cv
22,25-28).
Như thế,
Thánh
Phaolô
được coi
là ở ranh
giới của
ba nền
văn hóa
khác nhau
– Rôma,
Hy Lạp và
Do Thái –
và có thể
cũng vì
thế mà
ngài
thành
công
trong
việc cởi
mở cách
phổ quát,
và làm
trung
gian giữa
các nền
văn hóa,
một sự
phổ quát
thật sự.
Ngài cũng
học làm
việc tay
chân, có
thể từ
thân phụ
ngài, gồm
có việc
của “thợ
làm lều”
(x.
Cv 18:3:
skenopios),
có thể
được hiểu
là thợ
đan lông
dê thô
hay sợi
vải để
làm vải
lót hoặc
làm mái
lều (x.
Cv
20,33-35).
Khi chừng
12 hay 13
tuổi, là
tuổi mà
các trẻ
trai Do
Thái trở
thành
“bar
mitzvah”
(con của
giới
luật),
Thánh
Phaolô
rời Tarsô
đến
Giêrusalem
để được
thụ giáo
dưới chân
Thầy
Gamaliel
Cả, là
cháu của
vị Thầy
vĩ đại
Hilllel,
theo
những
tiêu
chuẩn
khắt khe
nhất của
nhóm Biệt
Phái và
có được
một lòng
hết sức
nhiệt
thành đối
với Lề
Luật Môsê
(x.
Gl 1:14;
Pl 3:5-6;
Cv 22,3;
23,6;
26,5).
Dựa trên
sự chính
thống sâu
sắc mà
ngài đã
học được
ở trường
phái
Hillel
tại
Giêrusalem,
ngài thấy
phong
trào mới
của Giêsu
thành
Nadareth
là một
nguy cơ,
một mối
đe dọa
cho căn
tính Do
Thái, cho
sự chính
thống
chân
chính của
cha ông.
Điều này
giải
thích sự
kiện ngài
“khủng bố
Hội Thánh
của của
Thiên
Chúa”
cách mãnh
liệt, như
ngài đã
thú nhận
ba lần
trong các
Thư của
ngài (1
Cr 15,9;
Gl 1,13;
Pl 3,6).
Mặc dù
khó mà
tưởng
tượng
được việc
khủng bố
này gồm
có những
gì, nhưng
dầu sao
thì cuộc
khủng bố
của ngài
cũng đã
có một
thái độ
không
dung thứ.
Chính vì
thế mới
có biến
cố
Đamascô
mà chúng
ta sẽ trở
lại trong
bài Giáo
Lý sau.
Chắc chắn
rằng từ
giây phút
ấy, cuộc
đời của
ngài thay
đổi và
ngài đã
trở nên
một Tông
Đồ rao
giảng Tin
Mừng
không
biết mệt.
Thực ra,
lịch sử
biết đến
Thánh
Phaolô
như một
Kitô hữu,
hơn nữa,
như một
Tông Đồ,
nhiều hơn
là một
Biệt
Phái.
Hoạt động
tông đồ
của ngài
được chia
theo
truyền
thống dựa
vào ba
cuộc hành
trình
truyền
giáo của
ngài, mà
cuộc hành
trình thứ
tư được
thêm vào
-- cuộc
hành
trình đi
Rôma như
một tù
nhân. Tất
cả được
Thánh
Luca kể
lại trong
sách Tông
Đồ Công
Vụ. Tuy
nhiên khi
nói về ba
cuộc hành
trình
truyền
giáo,
chúng ta
cần phân
biệt cuộc
hành
trình thứ
nhất với
hai cuộc
hành
trình
kia.
Thực ra,
đối với
cuộc hành
trình thứ
nhất (x.
Cv 13-14),
Thánh
Phaolô
không có
nhiệm vụ
trực
tiếp, vì
nhiệm vụ
này được
trao phó
cho Thánh
Cypriô
Barnaba.
Hai người
cùng nhau
khởi hành
từ
Antioch
trên sông
Ôrontê,
được Hội
Thánh ở
đó sai đi
(Cv
13,1-3),
và sau
đó, xuống
tàu ra đi
tại cảng
Xêlêucia
trên bờ
biển
Xyria,
các ngài
đi qua
đảo Cyprô
từ Xalami
đến
Paphô; từ
đó các
ngài đến
bờ biển
phiá nam
của
Anatôlia,
ngày nay
là Thổ
Nhĩ Kỳ,
và đã
ngừng lại
ở các
thành phố
Attalia,
Parga của
Pamphilia,
Antioch
của
Pisiđia,
Iconium,
Lystra và
Derbê, và
từ đó các
ngài trở
lại điểm
khởi
hành.
Như thế
Hội Thánh
của dân
chúng,
Hội Thánh
của Dân
Ngoại
được khai
sinh.
Đồng
thời,
nhất là ở
Giêrusalem,
đã xảy ra
một cuộc
tranh
luận sôi
nổi về
việc các
Kitô hữu
gốc Dân
Ngoại
phải tham
gia vào
đời sống
và lề
luật của
Israel ở
những
điểm nào
– tuân
giữ tất
cả những
luật lệ
là những
điều làm
cho dân
Israel
khác biệt
với các
dân khác
trên thế
giới --
để được
thực sự
tham gia
vào những
lời hứa
của các
ngôn sứ
và tham
gia hữu
hiệu vào
gia
nghiệp
của
Israel.
Để giải
quyết vấn
đề căn
bản này
cho việc
khai sinh
Hội Thánh
tương
lai,
Thánh
Phaolô đã
họp tại
Giêrusalem
với Công
Đồng các
Tông Đồ,
như người
ta gọi,
để giải
quyết vấn
đề này là
vấn đề mà
việc khai
sinh của
Hội Thánh
hoàn vũ
lệ thuộc
vào. Công
Đồng đã
quyết
định là
không bắt
Dân Ngoại
tòng giáo
phải tuân
giữ luật
Môsê (x.
Cv
15,6-30);
có nghĩa
là họ
không
phải giữ
những
điều luật
của người
Do Thái .
Chỉ có
điều họ
cần làm
để thuộc
về Đức
Kitô là
sống với
Đức Kitô
và theo
những lời
của
Người.
Như vậy,
một khi
thuộc về
Đức Kitô
họ cũng
thuộc về
Abraham,
thuộc về
Thiên
Chúa và
được tham
dự vào
tất cả
các lời
hứa.
Sau biến
cố quyết
định này,
Thánh
Phaolô
rời Thánh
Barnaba,
chọn
Thánh
Sila, và
bắt đầu
cuộc hành
trình
truyền
giáo thứ
hai của
ngài (x.
Cv
15,36-18,22).
Sau khi
đi qua
Syria và
Cilicia,
ngài lại
thấy
thành
Lystra, ở
đó ngài
đem theo
Thánh
Timôthê
-- một
khuôn mặt
rất quan
trọng của
Hội Thánh
sơ khai,
con của
một phụ
nữ Do
Thái và
một người
ngoại
giáo – và
ngài cho
ông được
cắt bì,
ngài đi
băng qua
vùng
trung bộ
Anatolia
và đến
thành
Troas ở
bờ biển
phía bắc
của Biển
Aegean. Ở
đây đã
xảy ra
một biến
cố quan
trọng
khác:
trong một
giấc mơ
ngài thấy
có một
người
Macêđônia
ở phía
bên kia
biển, tức
là Âu
Châu, nói
với ngài,
“Xin hãy
đến và
giúp
chúng
tôi!”
Đó là Âu
Châu
tương lai
đã xin
giúp đỡ
và ánh
sáng Tin
Mừng.
Được thị
kiến này
thúc đẩy,
ngài đã
đi sang
Âu Châu
bằng cách
đi tàu
qua
Macêđônia,
và như
thế ngài
đã vào Âu
Châu.
Xuống tàu
ở
Neapolis,
ngài đã
đến
Philippi,
là nơi
ngài đã
thiết lập
một cộng
đồng Kitô
hữu đáng
phục. Rồi
ngài đi
Thessalônica,
và sau
cùng ngài
đã rời
đó, vì
những khó
khăn do
người Do
Thái gây
ra, đến
Bêrôea,
và rồi
tiếp tục
đi đến
Athen.
Sau
Athen,
ngài đến
Côrinthô,
là nơi mà
ngài ở
lại một
năm rưỡi.
Và ở đây
chúng ta
có những
biến cố
theo thứ
tự thời
gian chắc
chắn,
chắc chắn
nhất
trong tất
cả tiểu
sử của
ngài, bởi
vì trong
lần cư
trú tại
Corinthô
đầu tiên
này, ngài
phải ra
trước thủ
hiến của
tỉnh
Achaia,
là thống
đốc
Galliônê,
vì bị
buộc tội
thờ
phượng
trái
phép.
Về ông
Galliônê
thì người
ta đã tìm
thấy một
bia cổ ở
Delphi
trên đó
khắc rằng
ông là
thống đốc
của
Côrinthô
giữa năm
51 và 53.
Như thế,
ở đây
chúng ta
có một dữ
kiện hoàn
toàn chắc
chắn.
Việc
Thánh
Phaolô cư
ngụ tại
Côrinthô
đã xảy ra
vào những
năm đó.
Vậy chúng
ta có thể
cho rằng
ngài đã
đến đó
vào
khoảng
năm 50 và
đã ở đó
cho đến
năm 52.
Rồi từ
Côrinthô,
ngài đi
qua
Cencrê,
một hải
cảng phía
đông của
thành
phố, sau
đó ngài
đi xuống
Palestine
đến
Caesarea
Maritima,
và ngài
rời đó để
đi
Giêrusalem
để sau đó
trở về
Antioch
bằng
đường
sông
Ôrontê.
Cuộc hành
trình
truyền
giáo thứ
ba (x.
Cv 18,23
- 21,16)
khởi đầu
như
thường lệ
từ
Antioch,
là nơi đã
trở thành
khởi điểm
cho Hội
Thánh của
Dân
Ngoại,
cho cuộc
truyền
giáo cho
Dân
Ngoại, và
cũng là
nơi phái
sinh ra
từ “Kitô
hữu”.
Thánh
Luca cho
chúng ta
biết rằng
lần đầu
tiên ở
đây những
người
theo Chúa
Giêsu
được gọi
là “Kitô
hữu.”
Từ đó
Thánh
Phaolô đi
thẳng tới
Êphêsô,
là thủ
phủ của
tỉnh
Asia, và
ngài ở
lại đó
hai năm,
thi hành
mục vụ
đem lại
kết quả
cho vùng.
Từ
Êphêsô,
Thánh
Phaolô đã
viết các
Thư gửi
các tín
hữu
Thessalônica
và
Côrinthô.
Tuy nhiên
dân trong
thành đã
bị các
thợ bạc
xúi dục
chống lại
ngài vì
họ thấy
lợi nhuận
của họ bị
sa sút vì
số người
thờ thần
Artemis
giảm đi
-- đền
thờ để
kính nữ
thần này
ở Êphêsô,
gọi là
Artenysion,
là một
trong bảy
kỳ công
của thế
giới cổ.
Vì việc
này mà
ngài phải
bỏ lên
miền bắc.
Sau khi
đi qua
Macêđônia
một lần
nữa, ngài
lại đi
xuống Hy
Lạp, có
lẽ đến
Côrinthô,
ở đó ba
tháng và
viết Thư
thời danh
gửi tín
hữu Rôma.
Từ đây,
ngài trở
về cùng
một
đường: đi
trở lại
Macêđônia,
đi tầu
qua Troy,
rồi thăm
các đảo
của vùng
Milêtô,
là Kios,
Samos một
chút,
ngài đến
Miltô, là
nơi ngài
nói
chuyện
một bài
quan
trọng với
các kỳ
lão của
Hội Thánh
Êphêsô,
phác họa
một dung
mạo của
một chủ
chăn chân
chính của
Hội Thánh
(x.
Cv 20).
Từ đó
ngài
xuống tàu
đi Tyre,
rồi đến
Caesarea
Maritima
và lại đi
về
Giêrusalem.
Ngài bị
bắt tại
đó vì một
sự hiểu
lầm: có
một số
người Do
Thái đã
lầm tưởng
những
người Do
Thái khác
gốc Hy
Lạp là
dân
ngoại,
được
Thánh
Phaolô
đem vào
khu vực
Đền Thờ
chỉ dành
riêng cho
dân
Israel.
Ngài
tránh
được án
tử hình
mà họ dự
định nhờ
sự can
thiệp của
một cơ
đội
trưởng
canh giữ
khu vực
đền thờ (Cv
21,27-36).
Việc này
xảy ra
khi thủ
hiến
Anthoniô
Feliciô
đang ở
Giuđa.
Sau khi ở
trong tù
một thời
gian –
kéo dài
bao lâu
thì còn
trong
vòng bàn
cãi –
Thánh
Phaolô vì
là một
công dân
Rôma, nên
đã khiếu
nại lên
Caesarê
-- khi ấy
là Nêrô
--- và vị
thủ hiến
sau đó là
Porciô
Festô đã
trao cho
quân đội
giải ngài
về Rôma.
Cuộc hành
trình đi
Rôma qua
đảo Crête
và Malta,
rồi đến
thành
Syracuse,
Rhêgium
và
Putêôli.
Các Kitô
hữu ở
Rôma đã
ra gặp
ngài ở
Via Appia
cùng tại
chợ Appiô
(70 cây
số phía
nam thủ
đô), và
những
người
khác ở Ba
Quán (40
cây số).
Tại Rôma
ngài đã
gặp các
đại diện
của cộng
đồng Do
Thái,
ngài đã
bày tỏ
với họ
rằng “vì
hy vọng
của dân
Israel”
mà ngài
phải chịu
xiềng
xích (Cv
28,20).
Tuy
nhiên,
chuyện
của Thánh
Luca chấm
dứt bằng
việc nói
đến hai
năm bị
giam lỏng
tại gia
của Thánh
Phaolô,
mà không
đề cập
đến việc
Caesarê
(Nerô)
kết án,
hay ít ra
là về cái
chết của
người bị
kết án.
Các
truyền
thống sau
đó nói về
việc ngài
được trả
tự do, là
điều
thuận
tiện cho
một cuộc
truyền
giáo tại
Tây Ban
Nha, hoặc
một cuộc
hành
trình
ngắn về
Đông
Phương
sau đó,
đặc biệt
là đảo
Cretê,
Ephêsô và
Nicôpôlis
ở Êpirô.
Luôn dựa
trên giả
thuyết,
người ta
cho rằng
ngài lại
bị bắt
một lần
nữa và bị
tù ở Rôma
lần thứ
hai -- từ
đó ngài
đã viết
các Thư
gọi là
Thư Mục
Vụ, đó là
hai thư
gửi Thánh
Timôthê
và một
Thư gửi
Thánh
Titô,
cùng lần
ra toà
thứ hai,
mà kết
quả không
thuận lợi
cho ngài.
Tuy
nhiên, có
hàng loạt
lý do
khiến cho
nhiều học
giả về
Thánh
Phaolô
chấm dứt
tiểu sử
Thánh
Phaolô
với câu
truyện
của Thánh
Luca
trong
sách Tông
Đồ Công
Vụ.
Chúng ta
sẽ trở
lại việc
tử vì đạo
của ngài
sau trong
chu kỳ
Giáo Lý
này. Giờ
đây,
trong bài
tường
thuật
ngắn này
về những
cuộc hành
trình của
Thánh
Phaolô,
đủ cho
chúng ta
lưu ý đến
việc ngài
hết mình
tận tâm
tận lực
trong
việc rao
giảng Tin
Mừng mà
không
tiếc nghị
lực, cùng
đương đầu
với hàng
loạt
những thử
thách
nặng nề
mà ngài
đã kể lại
cho chúng
ta trong
Thư Thứ
Hai gửi
tín hữu
Côrinthô
(x.
11,21-28).
Hơn nữa,
chính
ngài
viết:
“Tôi làm
tất cả
những
điều ấy
vì Tin
Mừng” (1
Cr 9,23),
trong lúc
thi hành
điều mà
ngài gọi
là “lo
lắng cho
tất cả
các Hội
Thánh” (2
Cr 11,28)
với một
lòng đại
lượng
tuyệt
đối.
Chúng ta
thấy một
lòng
quyết tâm
chỉ được
giải
thích bởi
một linh
hồn thật
sự được
thu hút
bởi ánh
sáng Tin
Mừng, say
mê Đức
Kitô, một
linh hồn
được nuôi
dưỡng bởi
một quyết
tâm sâu
xa: đó là
cần phải
đem ánh
sáng của
Đức Kitô
đến cho
thế gian,
để công
bố Tin
Mừng cho
mọi
người.
Cha nghĩ
rằng điều
này là
những gì
còn lại
với chúng
ta từ bài
tường
thuật
ngắn này
về những
cuộc hành
trình của
Thánh
Phaolô:
để thấy
lòng say
mê của
ngài đối
với Tin
Mừng, và
như thế
hình dung
được sự
cao cả,
mỹ miều,
và hơn
nữa sự
cần thiết
sâu xa mà
tất cả
chúng ta
phải có
đối với
Tin Mừng.
Chúng ta
hãy cầu
nguyện để
Chúa, là
Đấng làm
cho Thánh
Phaolô
thấy ánh
sáng và
nghe lời
Người và
đánh động
lòng ngài
cách sâu
xa, cũng
làm cho
chúng ta
thấy ánh
sáng của
Người, để
tâm hồn
chúng ta
cũng được
Lời Người
chạm đến,
ngõ hầu
chúng ta
cũng có
thể cho
thế giới
hôm nay,
là thế
giới cần
ánh sáng,
ánh sáng
của Tin
Mừng và
chân lý
của Đức
Kitô.
BÀI ĐỌC
THÊM (3)
THÁNH
PHAO-LÔ,
NHÀ
TRUYỀN
GIÁO THỜI
DANH
CỦA HỘI
THÁNH
KI-TÔ
TIÊN KHỞI
[ĐỀ TÀI 3
CỦA LINH
MỤC LINH
TIÊN KHẢI
VỀ THÁNH
PHAO-LÔ]
Kho tàng
tư tưởng
thần học
sâu sắc
trong các
thư của
thánh
Phaolô có
thể khiến
cho nhiều
người
tưởng lầm
thánh
nhân là
một nhà
trí thức
chuyên
nghiệp
hay một
tư tưởng
gia cổ
điển.
Thực ra
không
phải như
vậy.
Trước
tiên
Phaolô đã
là một
người
hoạt
động. Dĩ
nhiên,
thánh
nhân đã
viết
nhiều và
soạn thảo
ra cả một
thiên chú
giải sâu
sắc về
lòng tin
kitô.
Nhưng
sinh hoạt
thư tín
của ngài
đi liền
với cuộc
đời
truyền bá
Tin Mừng
cho các
cộng đoàn
tại Tiểu
Á và châu
Âu, bôn
ba nay
đây mai
đó. Nói
cách
khác,
Phaolô là
một nhà
truyền
giáo đã
dùng thư
từ của
mình như
phương
tiện
thông
truyền,
phổ biến
và củng
cố lòng
tin.
Ngoài ra
cũng nên
ghi nhận
sự kiện
thánh
nhân
không
phải là
nhà
truyền
giáo duy
nhất của
Giáo Hội
thời khai
sinh, vì
còn có
nhiều vị
khác nữa
như Phêrô
và
Barnaba.
Tuy
nhiên,
chúng ta
có thể
coi
Phaolô
như là
tông đồ
đã sáng
suốt bảo
vệ lập
trường
rộng mở
Giáo Hội
cho thế
giới
ngoài Do
thái
giáo.
Có thể
chia sinh
hoạt
truyền
giáo của
Phaolô
thành ba
giai đoạn
chính:
- Giai
đoạn thứ
nhất khá
tối tăm,
bắt đầu
từ lúc
hoán cải
cho tới
lúc gia
nhập cộng
đoàn
Antiokia
bên
Siria.
- Giai
đoạn thứ
hai bao
gồm các
hoạt động
rao giảng
Tin Mừng
tại
Antiokia,
cứ điểm
truyền
giáo đầu
tiên, nơi
Phaolô đã
trở thành
nhân vật
nổi bật,
và sau đó
được cộng
đoàn đề
cử đem
Tin Mừng
tới cho
các anh
chị em
ngoài Do
thái
giáo.
- Giai
đoạn thứ
ba là
giai đoạn
truyền
giáo độc
lập.
Phaolô
bôn ba
ngang
dọc,
giảng đạo
trong
vùng Tiểu
Á và bên
Hy Lạp,
thành lập
nhiều
cộng đoàn
kitô đia
phương.
Đặc biệt
trong
giai đoạn
này
Phaolô
trở thành
một nhân
vật rất
có uy tín
trong các
giáo đoàn
nói tiếng
hy lạp,
và hoàn
toàn độc
lập đối
với
truyền
thống văn
hóa và
tôn giáo
do thái.
Chúng ta
có ít tin
tức liên
quan tới
giai đoạn
truyền
giáo thứ
nhất.
Chương 9
sách Tông
Đồ Công
Vụ cho
biết sau
cuộc gặp
gỡ đổi
đời với
Chúa Kitô
phục sinh
trên
đường tới
Damasco,
Phaolô bị
mù mắt và
được các
người
đồng hành
dẫn vào
thành.
Chúa Kitô
sai
Anania,
một Kitô
hữu của
cộng đoàn
Kitô
Damasco,
tới gặp
Phaolô để
đặt tay
cho ông
sáng mắt.
Phaolô
được tràn
đầy Chúa
Thánh
Thần và
lãnh nhận
phép rửa
tội, rồi
lưu lại
với các
kitô hữu
Damasco
vài ngày.
Sau đó
Phaolô
bắt đầu
công khai
rao giảng
Chúa Kitô
phục sinh
trong các
hội đường
do thái
tại
Damasco
và vùng
đông nam
Damasco
(Gal
1,17).
Phaolô
trưng dẫn
các lý
chứng
vững vàng
cho thấy
Đức Giêsu
là Đấng
Cứu Thế,
khiến cho
người Do
thái tức
giận lập
mưu hạ
sát ông.
Họ cho
người
canh giữ
cửa thành
nghiêm
ngặt.
Nhưng
đang đêm
các kitô
hữu có
nhà xây
trên
tường
thành
giúp
Phaolô
trốn
thoát,
bằng cách
bỏ Phaolô
vào thúng
và thòng
xuống bên
ngoài
tường
thành.
Sau này
thánh
nhân cũng
nhắc lại
các chống
đối gặp
phải và
lần chết
hụt thứ
nhất này
trong
chương
11,32-33
thư thứ
hai gửi
tín hữu
Côrintô.
Từ
Damasco
Phaolô về
Giêrusalem
và lưu
lại đây
một thời
gian ngắn
để làm
quen với
Kêpha,
tức
Phêrô,
rồi sau
đó sang
Siria và
Cilicia,
miền nam
Thổ Nhĩ
Kỳ ngày
nay, như
thánh
nhân viết
trong thư
gửi tín
hữu Galát
(1,21).
Vài nét
chấm phá
ấy tóm
gọn các
sinh hoạt
của 15
năm trời
kể từ
biến cố
bị đánh
ngã trên
đường đi
Damasco.
Sách Tông
đồ Công
Vụ cũng
không
thêm chi
tiết nào
mới mẻ.
Tuy nhiên
cả hai
tài liệu
đều cho
biết
Phaolô đã
gặp khó
khăn
trong cố
gắng làm
quen và
sát nhập
vào cộng
đoàn.
Kitô hữu
Giêrusalem
chẳng
những
không
quen biết
Phaolô mà
còn tỏ ra
nghi ngờ
đối với
ông (Gl
1,22; Cv
9,26-30).
Qua đó
chúng ta
có thể
kết luận
rằng
Phaolô đã
không gặt
hái nhiều
thành
công
trong
thời gian
hoạt động
này.
Giai đoạn
truyền
giáo thứ
hai có
nhiều tin
tức hơn.
Chương 11
sách Công
Vụ cho
biết
Barnaba,
là nhân
vật nổi
bật của
Kitô giáo
thời khai
sinh, đã
giới
thiệu
Phaolô
với giáo
đoàn
Antiokia
bên Siria
(Cv
11,25).
Antiokia
là thủ
phủ của
vùng này
và là
thành phố
lớn vào
hàng thứ
ba của Đế
quốc Roma
thời đó,
nghĩa là
chỉ sau
Roma và
Alessandria
bên Ai
Cập.
Trong
lịch sử
Giáo Hội
và lịch
sử truyền
giáo,
Antiokia
có địa vị
quan
trọng và
ý nghĩa,
vì là cứ
điểm
truyền
giáo rộng
lớn đầu
tiên, nơi
các môn
đệ chọn
làm bản
doanh cho
công tác
rao
truyền
Tin Mừng
cho dân
ngoại (Cv
11,19
tt.), và
cũng là
nơi lần
đầu tiên
các môn
đệ Chúa
Giêsu
được gọi
là kitô
hữu (Cv
11,26).
Giáo đoàn
Antiokia
là giáo
đoàn hỗn
hợp gồm
các kitô
hữu gốc
do thái
và không
do thái.
Phaolô đã
hoạt động
tại đây
trong
vòng một
năm (Cv
11,26),
và được
giáo đoàn
sai phái
cùng với
Barnaba
đi truyền
giáo tại
đảo
Chypre và
các vùng
đông nam
của Tiểu
Á, như
trình
thuật
trong hai
chương
13-14
sách Công
Vụ.
Qua
chương 2
thư gửi
tín hữu
Galát
chúng ta
biết được
rằng
Phaolô
cộng tác
với
Barnaba,
là thành
phần của
cộng đoàn
Kitô
Antiokia
và gặt
hái thành
qủa tốt
trong
công tác
rao
truyền
Tin Mừng
cho các
anh chị
em ngoài
do thái
giáo.
Tuy
nhiên,
chẳng bao
lâu sau
nảy sinh
ra một
vấn nạn
trầm
trọng
liên quan
tới việc
gia nhập
đạo của
các người
ngoài Do
thái
giáo. Để
trở thành
kitô hữu
họ phải
theo các
điều kiện
nào: chấp
nhận tin
vào Chúa
Giêsu và
Tin Mừng
của Ngài
là đủ,
hay phải
tuân giữ
luật cắt
bì của Do
thái giáo
nữa?
Phaolô
không
phải là
người đầu
tiên khai
mào công
tác
truyền
giáo
trong thế
giới
không do
thái.
Trước ông
đã có một
nhóm các
kitô hữu
gốc do
thái nói
tiếng hy
lạp rao
giảng Tin
Mừng và
thành lập
cộng đoàn
Antiokia.
Nhưng khi
từ một
thói quen
mục vụ
truyền
giáo bước
sang việc
thảo luận
trên bình
diện thần
học, tức
liên quan
tới
nguyên
tắc do
nhóm bảo
thủ gồm
các Kitô
hữu gốc
do thái
đặt ra,
Phaolô đã
tỏ ra là
người có
hành động
sáng suốt
và trung
thực nhất
theo tinh
thần Tin
Mừng giải
phóng của
Chúa
Kitô.
Phaolô
bênh vực
sự tự do
của các
anh chị
em ngoài
do thái
đối với
luật lệ
của Do
thái
giáo, mà
các Kitô
hữu gốc
do thái
vẫn tuân
giữ. Cuộc
tranh
luận đã
sôi nổi
tới độ
giới lãnh
đạo Giáo
Hội đã
phải
triệu tập
hội nghị
tại
Giêrusalem
để thảo
luận và
nghiên
cứu vấn
đề, như
trình
thuật
trong
chương 15
sách Công
Vụ, và
trong
chương 2
thư gửi
tín hữu
Galát.
Hội nghị
Giêrusalem
đã là
Công Đồng
Chung đầu
tiên
trong
lịch sử
Kitô
giáo.
Barnaba
và Phaolô
cùng với
hai nhân
vật khác
của giáo
đoàn
Antiokia
đại diện
cho phe
cởi mở
của cộng
đoàn này
tham dự
Công
Đồng. Sau
khi nghe
Barnaba
và Phaolô
trình bày
và thảo
luận phải
trái
trong
Công
Cồng,
giới lãnh
đạo Giáo
Hội Kitô
tiên khởi
đã chấp
nhận
nguyên
tắc tự do
của các
kitô hữu
ngoài do
thái.
Hàng lãnh
đạo cộng
đoàn kitô
Giêrusalem
thỏa
thuận với
phái đoàn
đại diện
giáo đoàn
Antiokia,
và phân
chia công
tác
truyền
giáo.
Trong
chương
2,9 thư
gửi tín
hữu
Galát,
thánh
Phaolô
viết:
“... sau
khi thừa
nhận đặc
sủng mà
Thiên
Chúa đã
trao phó
cho tôi,
Giacôbê,
Kêpha và
Gioan đã
giơ tay
phải bắt
tay tôi
tỏ tình
liên đới
để chúng
tôi đi
truyền
giáo cho
dân ngoại
còn họ đi
truyền
giáo cho
các anh
chị em
được cắt
bì”, tức
tín hữu
Do thái.
Trong thư
thánh
Phaolô
nêu bật
rằng Công
Đồng đã
không áp
đặt trên
thánh
nhân một
điều lệ
hạn chế
nào.
Trong khi
trình
thuật
sách Công
Vụ lại
gắn liền
với Công
Đồng
Giêrusalem
việc ban
bố một
sắc lệnh
liên quan
tới việc
hạn chế
sự tự do
của tín
hữu không
phải gốc
do thái,
như kiêng
thịt đã
cúng tế
cho các
thần
linh,
kiêng
máu,
kiêng
thịt của
các súc
vật bị
chết ngạt
và xa
lánh tà
dâm (Cv
15,29).
Tuy
nhiên,
sắc lệnh
hay bức
thư do
một phái
đoàn được
giới lãnh
đạo Giáo
Hội
Giêrusalem
cử đem
sang cho
tín hữu
Antiokia
nói trên,
là một dữ
kiện gây
tranh
luận
trong
giới học
giả Kinh
Thánh.
Sắc lệnh
đã là một
giàn xếp
đạt được
trong
Công Đồng
Chung
Giêrusalem
giữa hai
phe tự do
và bảo
thủ, hay
là một
tài liệu
có nguồn
gốc khác,
không
liên quan
gì tới
quyết
định của
Công
Đồng? Nếu
là quyết
nghị của
Công
Đồng, tại
sao thánh
Phaolô đã
lại không
bao giờ
nói tới
trong các
thư, khi
trình
thuật
biến cố
quan
trọng này
của Giáo
Hội kitô
tiên
khởi?
Thánh
nhân đã
không
biết tới
tài liệu
này hay
đã phản
đối không
chấp nhận
nó?
Rất tiếc
là chúng
ta không
có các dữ
kiện giúp
đưa ra
câu trả
lời chắc
chắn cho
khúc mắc
này. Dẫu
thế nào
đi nữa,
Công Đồng
Chung
triệu tập
tại
Giêrusalem
giữa các
năm 48-49
đã đánh
dấu một
khúc rẽ
quan
trọng
trong
lịch sử
Kitô
giáo. Một
đàng, nó
phản ánh
vấn đề
mục vụ
truyền
giáo liên
quan tới
việc hội
nhập văn
hóa, mà
Giáo hội
phải can
đảm thảo
luận và
giải
quyết.
Đàng
khác, nó
đánh dấu
biến cố
Kitô giáo
hoàn toàn
được giải
thoát
khỏi tình
trạng bị
ràng buộc
và điều
kiện hóa
bởi gia
tài văn
hóa và
tôn giáo
do thái.
Nhưng câu
chuyện đã
không kết
thúc một
cách đơn
sơ như
vậy. Thật
thế, phe
bảo thủ
qúa khích
trong
Giáo Hội
kitô tiên
khởi đã
không
chấp nhận
quyết
nghị của
Công
Đồng.
Ngoài ra,
còn có
một vài
khía cạnh
vẫn chưa
được giải
quyết
như: làm
thế nào
để duy
trì sự
sống
chung hòa
bình giữa
các kitô
hữu gốc
do thái
và các
kitô hữu
không
phải gốc
do thái
trong
cùng một
cộng
đoàn, như
cộng đoàn
Antiokia?
Và qủa
vậy,
chẳng bao
lâu sau
lại xảy
ra tranh
luận và
căng
thẳng
trong
cộng đoàn
Antiokia.
Lần này
Phaolô
công khai
xung đột
với
Phêrô,
như thánh
nhân kể
lại trong
chương 2
thư gửi
tín hữu
Galát.
Trong lần
tới thăm
cộng đoàn
Antiokia
cùng với
một vài
Kitô hữu
bảo thủ
Giêrusalem
do
Giacôbê
phái đi,
Phêrô đã
sống phản
chứng.
Ban đầu
ông lui
tới thăm
viếng và
ăn uống
rất tự
nhiên với
các kitô
hữu không
phải gốc
do thái
trong
cộng
đoàn.
Nhưng sau
đó bị
nhóm bảo
thủ
Giêrusalem
nói trên
gây áp
lực,
Phêrô
tránh
không gặp
và ăn
uống với
các kitô
hữu không
do thái
nữa.
Barnaba
và các
kitô hữu
gốc do
thái khác
cũng lây
thái độ
phản
chứng này
của
Phêrô. Và
Phaolô đã
không
ngần ngại
công khai
nặng lời
quở trách
Phêrô
giữa toàn
cộng
đoàn.
Phaolô tố
cáo Phêrô
là đã
phản lại
quyết
nghị của
Công Đồng
và đặt
lại vấn
đề nguyên
tắc tự do
của các
anh chị
em không
do thái
theo Kitô
giáo. Thư
gửi tín
hữu Galát
không cho
chúng ta
biết câu
chuyện đã
kết thúc
ra sao.
Nhưng khi
so sánh
với giọng
kể chiến
thắng của
trình
thuật
Công Đồng
Giêrusalem,
chúng ta
có thể
đoán được
rằng lần
này tại
Antiokia
Phaolô đã
không
thắng thế
trong
cuộc
tranh
luận.
Có điều
chắc chắn
là sau vụ
đụng độ
công khai
ấy,
Phaolô
tách rời,
không đi
truyền
giáo với
Barnaba
nữa, mà
hoạt động
một cách
độc lập
với giáo
đoàn
Antiokia.
Phaolô
trở thành
tông đồ
của Chúa
Kitô, và
không
phải
tường
trình với
ai về
công tác
truyền
giáo của
mình, như
thánh
nhân viết
trong
chương
4,4 thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Côrintô.
BÀI ĐỌC
THÊM (4)
CHIẾN
THUẬT
TRUYỀN
GIÁO CỦA
THÁNH
PHAO-LÔ
[ĐỀ TÀI 4
CỦA LINH
MỤC LINH
TIÊN KHẢI
VỀ THÁNH
PHAO-LÔ]
Khi đọc
các thư
của thánh
Phaolô và
sách Tông
Đồ Công
Vụ, chúng
ta có thể
thu thập
một số dữ
kiện cho
phép phác
họa ra
chiến
thuật
truyền
giáo của
thánh
Phaolô.
Trước hết
công tác
rao
truyền
Tin Mừng
đã chỉ
được thực
hiện
trong các
thành
phố. Thật
ra, các
vị truyền
giáo cũng
không thể
làm khác,
vì thời
đó hệ
thống
đường lộ
của đế
quốc Roma
chỉ nối
liền các
thành phố
của đế
quốc với
nhau. Từ
thủ đô
Roma của
đế quốc,
phát xuất
các con
lộ chính
ngang dọc
nước
Italia
chạy sang
cho tới
Gallia
tức nước
Pháp,
Germania
tức nước
Đức, rồi
Macedonia
bên Hy
Lạp, vòng
sang vùng
Tiểu Á,
Siria,
Libăng
rồi xuống
Palestina
và Ai
Cập.
Ngoài hệ
thống
đường bộ
còn có hệ
thống
đường
biển nữa.
Các tầu
chiến và
tầu buôn
của đế
quốc đi
lại quanh
năm ngang
dọc Địa
Trung
Hải, chỉ
ngoại trừ
mấy tháng
mùa đông
là không
thể dùng
đường
biển, vì
có mưa
bão.
Ngoài ra,
các vị
truyền
giáo chỉ
có thể
rao giảng
bằng
tiếng hy
lạp, là
ngôn ngữ
thông
dụng
trong các
thành phố
của đế
quốc hồi
đó. Vì
thế chúng
ta thấy
thánh
Phaolô
rao
truyền
Tin Mừng
tại
Damasco,
Tarso,
Antiokia
bên Siria
và các
thành phố
đông nam
vùng Tiểu
Á, tức
Thổ Nhĩ
Kỳ ngày
nay, cũng
như tại
các thành
phố trung
bắc vùng
Galazia.
Bên châu
Âu thánh
Phaolô
rao
truyền
Tin Mừng
tại các
thành phố
hy lạp
như:
Philiphê,
Thexalônica,
Bêrêa,
Athènes,
Côrintô
và sau
cùng là
tại
Êphêxô
thuộc
tỉnh hạt
Á châu
của đế
quốc.
Thánh
Phaolô
chọn một
thành phố
lớn làm
cứ điểm
chính,
rồi từ đó
rao
truyền
Tin Mừng
cho các
vùng
chung
quanh.
Điển hình
là trường
hợp thành
Côrintô,
nơi thánh
nhân đã
lưu lại
truyền
giáo từ
năm 49
tới 52,
và đặc
biệt là
Êphêxô
trong
chuyến
truyền
giáo thứ
hai giữa
các năm
53 tới
57.
Việc len
lỏi và
hội nhập
vào cuộc
sống tại
các thành
phố này
đã được
dễ dàng
chính là
nhờ có
các cộng
đoàn do
thái sinh
sống tại
đây.
Nghĩa là
thánh
Phaolô đã
sống giữa
các người
đồng
hương
trong
cộng đoàn
do thái
hải
ngoại, và
rao giảng
Tin Mừng
cho họ
trước
tiên.
Trong các
hội đường
do thái
thánh
Phaolô đã
gặp rất
nhiều
người
ngoại
giáo có
thiện cảm
hay tân
tín đồ do
thái, và
họ đã là
những
người đầu
tiên theo
Kitô
giáo.
Trái lại,
các người
đồng
hương,
tức các
tín hữu
do thái,
càng ngày
càng thù
nghịch
với thánh
Phaolô.
Họ tố cáo
Phaolô là
người
phản bội
Do thái
giáo, rao
giảng
ngày cáo
chung của
Do thái
giáo và
của các
truyền
thống do
thái.
Thái độ
thù
nghịch
của các
người
đồng
hương
khiến cho
sứ mệnh
truyền
giáo của
thánh
Phaolô
ngày càng
mang
đường nét
rõ ràng:
rời bỏ
hội đường
do thái
để dấn
thân rao
giảng Tin
Mừng cứu
độ cho
các anh
chị em
không do
thái.
Trong
sách Công
vụ chương
19,8-10
thánh sử
Luca cho
chúng ta
biết tại
Êphêxô,
sau khi
giảng dậy
trong hội
đường do
thái ba
tháng,
thánh
Phaolô đã
chọn
trường
học của
ông
Tirannos
làm nơi
giảng
dậy.
Trong hai
năm liên
tiếp
thánh
nhân đã
dùng
phòng ốc
trường
học này
để rao
truyền
Tin Mừng
cho các
anh chị
em ngoại
giáo, từ
giờ thứ 5
tới giờ
thứ 10,
tức từ 11
giờ sáng
cho tới
16 giờ
chiều, là
giờ
trường ốc
rảnh rỗi,
vì dân
chúng ăn
trưa và
nghỉ
trưa.
Trong
sách Công
Vụ thánh
Luca lập
đi lập
lại là
Phaolô
rao giảng
cho dân
do thái
trước,
nhưng sau
khi gặp
sự khước
từ và
chống đối
của họ,
thánh
nhân quay
ra rao
giảng cho
người
ngoài Do
thái
giáo. Tuy
đây là
một lược
đồ thần
học nhằm
chứng
minh cho
thấy nếu
người do
thái đã
không tin
nhận Tin
Mừng là
do lỗi
của họ,
chứ không
phải do
lỗi của
thánh
Phaolô,
khẳng
định này
phản ánh
sự thật
lịch sử.
Nét đặc
thù thứ
ba trong
chiến
thuật
truyền
giáo của
thánh
Phaolô là
thường
chọn các
nơi chưa
có ai tới
rao
truyền
Tin Mừng
trước đó.
Thánh
Phaolô và
các cộng
sự viên
theo
nguyên
tắc không
tới rao
giảng tại
những nơi
đã có
người rao
truyền
Chúa
Giêsu
rồi, để
không qúa
hãnh diện
vì kết
qủa đã do
người
khác nhọc
công gieo
vãi.
Chính
Phaolô
cho chúng
ta biết
trong
chương
15,20 thư
gửi tín
hữu Roma
và trong
thư thứ
hai gửi
giáo đoàn
Côrintô
chương
10,12-18.
Thật thế,
thánh
nhân cảm
thấy mình
được Chúa
gọi loan
báo Tin
Mừng cho
những
người
chưa bao
giờ biết
Chúa,
thành lập
các cộng
đoàn Kitô
mới và mở
rộng biên
giới Kitô
giáo tới
tận cùng
bờ cõi
trái đất.
Mọi dân
tộc không
do thái
phải được
nghe loan
báo Tin
Mừng của
Chúa
Kitô. Đó
là chương
trình
Thiên
Chúa
muốn, và
thánh
Phaolô
xác tín
rằng
Thiên
Chúa đã
chọn ngài
như dụng
cụ cho
công tác
này, như
thánh
nhân
khẳng
định với
tín hữu
Roma
trong các
chương
1,14-15
và
15,15-19.24-28.
Tuy nhu
cầu loan
báo Tin
Mừng Nước
Trời khắp
nơi cấp
bách,
thánh
Phaolô đã
không vội
vã bỏ nơi
này sang
nơi khác.
Trái lại,
ngài dừng
lại lâu
trong
thành phố
này hay
thành phố
nọ, để
củng cố
cộng đoàn
kitô đã
thành lập
được và
giúp cộng
đoàn
trưởng
thành và
tự lập
chừng nào
có thể.
Và đây là
nét đặc
thù thứ
bốn trong
chiến
thuật
truyền
giáo của
ngài.
Nòng cốt
Tin Mừng
liên quan
tới cái
chết và
sự sống
lại của
Chúa
Giêsu
Kitô (1
Cr
15,3-5),
liên quan
tới biến
cố Ngài
sẽ quang
lâm phán
xét vũ
trụ và
loài
người
trong
thời cánh
chung và
khai mào
Vương
Quốc của
Thiên
Chúa (1
Ts
1.9-10;
4,13-5,11)
là vốn
liếng
giáo lý
quan
trọng của
lòng tin,
nhưng vẫn
chưa đủ.
Còn cần
phải
giảng
giải cho
tín hữu
hiểu biết
sâu rộng
giáo lý
và luân
lý kitô
nữa. Đây
là lý do
giải
thích tại
sao thánh
Phaolô
dừng lại
một thời
gian lâu
trong các
cộng đoàn
để giảng
dậy, và
sau khi
từ giã
cộng đoàn
ngài vẫn
tiếp tục
giảng dậy
khuyên
nhủ qua
thư tín.
Công tác
rao
truyền
Tin Mừng
chắc chắn
đã tốn
kém không
ít, vì
thánh
Phaolô
phải
thanh
toán chi
phí di
chuyển,
thuê
phòng ốc
để giảng
dậy và tụ
tập các
tín hữu,
cũng như
cung cấp
phương
tiện sống
cho chính
mình và
các cộng
sự viên.
Ai là
người tài
trợ các
chi phí
đó? Ở đây
thánh
Phaolô
theo
nguyên
tắc ”tay
làm hàm
nhai”.
Đây là
nét đặc
thù thứ 5
trong
chiến
lược
truyền
giáo.
Mặc dù đã
có thể
kêu gọi
hay đòi
buộc tín
hữu đóng
góp trợ
giúp cho
các phí
tổn như
thói quen
thời đó,
thánh
Phaolô và
các cộng
sự viên
của ngài
đã thích
làm một
nghề
riêng để
có phương
tiện sinh
sống, để
không trở
thành
gánh nặng
cho cộng
đoàn, như
thánh
nhân viết
trong thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Thêxalônica
chương
2,9, hay
trong thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Côrintô
chương
9,18.
Ngoài
những giờ
giảng dậy
và công
tác tông
đồ mục
vụ, các
vị đã
phải làm
việc ngày
đêm để có
phương
tiện chi
dùng cho
cuộc sống
thường
ngày. Tin
Mừng các
vị rao
giảng là
món qùa
nhưng
không
thánh
Phaolô và
các cộng
sự viên
trao tặng
cho tín
hữu.
Không ai
có thể
mua bán
Lời Chúa
và ơn
thánh
được.
Tuy nhiên
thánh
nhân cũng
công nhận
là tín
hữu các
giáo đoàn
vùng
Macedonia
đã trợ
giúp
phương
tiện tài
chánh để
ngài dành
trọn thời
giờ cho
việc loan
báo Tin
Mừng tại
Côrintô.
Và trong
suốt các
năm lưu
lại
Côrintô,
thánh
nhân đã
luôn luôn
chú ý để
không trở
thành
gánh nặng
cho bất
cứ tín
hữu nào
trong
cộng đoàn
như ngài
nhắc cho
họ biết
trong
chương
11,9-10
thư thứ
hai.
Trong
chương
4,10-20
thư gửi
tín hữu
Philiphê,
thánh
nhân cũng
sung
sướng tỏ
lòng biết
ơn họ vì
đã gửi
tiền giúp
ngài
trong
thời gian
truyền
giáo tại
Macedonia.
Một đôi
lần thánh
nhân có
xin các
tín hữu
trợ giúp
để ngài
có phương
tiện di
chuyển
trong
hành
trình
truyền
giáo (1
Cr 16,6)
hay để
sang Tây
Ban Nha
như ngài
xin với
tín hữu
Roma
trong
chương
15,24 thư
gửi cho
họ. Ngoài
ra thánh
nhân cũng
không
quên các
tín hữu
đã quảng
đại tiếp
đón ngài
và các
cộng sự
viên tới
ở trong
nhà họ
như ông
Gaius (Rm
16,23),
ông
Philêmôn
(Plm 22),
hay các
thợ làm
lều da
(Cv
18,3).
Nét đặc
thù thứ
sáu trong
chiến
lược
truyền
giáo của
thánh
Phaolô đó
là có các
cộng sự
viên và
làm việc
theo
nhóm.
Trong số
các cộng
sự viên
đắc lực
và thân
tín nhất
phải kể
tới Sila
hay
Silvanô,
Timôtêô
và Titô.
Dĩ nhiên
thánh
Phaolô
luôn là
người
lãnh đạo
và phối
trí công
tác
truyền
giảng Tin
Mừng,
nhưng
thánh
nhân rất
trân
trọng và
qúy mến
các cộng
sự viên
của mình.
Đó là lý
do giải
thích tại
sao khi
kể lại
cho tín
hữu nghe
công tác
truyền
giáo
thánh
Phaolô
dùng từ
“chúng
tôi” số
nhiều (1
Ts; 2 Cr
1,19).
Trong
các liên
hệ khó
khăn giữa
thánh
nhân và
tín hữu
cộng đoàn
Côrintô
Timôtêô
(1 Cr
4,17;
16,10-11)
và nhất
là Titô
(Cr 2,13;
7,6 tt.;
16,10-11)
đã đóng
vai trung
gian qúy
báu và
hữu hiệu.
Thánh
Phaolô
gọi
Timôtêô
là “người
con rất
yêu dấu
và trung
tín trong
Chúa” (1
Cr 4,17),
là “người
anh em và
cộng sự
viên của
Thiên
Chúa
trong
công tác
rao giảng
Tin Mừng
của Chúa
Kitô” (1
Ts 3,2).
Timôtêô
đã như là
“người
con sát
cánh bên
cha mình,
trong
việc phục
vụ Tin
Mừng” (Pl
2,22).
Còn Titô
thì được
thánh
Phaolô
gọi là
“người
bạn đồng
hành và
cộng sự
viên” của
ngài vì
các tín
hữu (2 Cr
8,23).
Điểm sau
cùng cần
ghi nhận
trong
chiến
lược
truyền
giáo của
thánh
Phaolô,
đó là
tinh thần
liêm
chính và
sự thẳng
thắn đối
với các
tín hữu.
Hiện
tượng các
trường
phái
triết học
và các
tôn giáo
gửi đồ đệ
đi thuyết
giảng và
chiêu mộ
tín đồ là
một sự
kiện rất
thịnh
hành thời
đó. Các
người này
cũng
thường
dùng
triết
thuyết và
tôn giáo
làm bậc
tiến
thân.
Nhưng đó
không
phải là
thái độ
của
Phaolô và
của các
cộng sự
viên của
thánh
nhân.
Trái lại,
Phaolô và
các cộng
sự viên
của ngài
thường
lột trần
mặt nạ
lừa đảo,
giả dối,
mị dân
của các
thừa sai
giả này,
như viết
trong thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Thêxalônica
chương
2,3.5-6.
Còn hơn
thế nữa
trong
chương 2
và chương
4 thư thứ
hai gửi
tín hữu
Côritnô,
Phaolô đã
mạnh mẽ
chỉ trích
thái độ
giả hình,
lắt léo
và thiếu
liêm
chính của
các thừa
sai Kitô
gốc do
thái có
khuynh
hướng qúa
khích. Họ
chủ
trương
bắt các
anh chị
em không
do thái
phải tuân
giữ luật
lệ do
thái, và
nói xấu
nói hành
thánh
Phaolô
trước tín
hữu
Côrintô,
nhưng họ
đã bị
thánh
nhân sửa
mắng
thẳng
mặt.
BÀI ĐỌC
THÊM (5)
THÁNH
PHAO-LÔ,
CON NGƯỜI
CỦA TIN
MỪNG
[ĐỀ TÀI 5
CỦA LINH
MỤC LINH
TIÊN KHẢI
VỀ THÁNH
PHAO-LÔ]
Đọc các
thư của
thánh
Phaolô
chúng ta
nhận thấy
thánh
nhân là
người có
ý thức
cao độ về
vai trò
riêng là
người
loan báo
tin vui:
Thiên
Chúa cống
hiến ơn
cứu độ
cho mọi
người qua
Đức Giêsu
Kitô.
Thánh
Phaolô là
sứ giả
Tin Mừng
trong
nghĩa đen
của từ
“euangellion”.
Ý thức đó
mạnh mẽ
tới độ
Phaolô
viết
trong
chương
1,17 thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Côrintô:
“Thật ra
Chúa Kitô
không gửi
tôi đi
rửa tội,
nhưng là
để loan
báo Tin
Mừng”.
Tuy
nhiên, ở
đây
Phaolô
không
hiểu việc
loan báo
Tin Mừng
như là
thông báo
tin vui
cứu độ
bằng lời
nói.
Tin Mừng
mà thánh
nhân rao
giảng
không chỉ
là lời
rao giảng
đề cập
tới sáng
kiến cứu
độ của
Thiên
Chúa, cái
chết và
sự sống
lại của
của Chúa
Kitô, mà
là lời
của chính
Thiên
Chúa và
là lời
của Chúa
Kitô.
Chính
Thiên
Chúa và
Chúa Kitô
nói với
mọi người
qua Tin
Mừng, mà
thánh
nhân loan
truyền.
Do đó,
không
phải
thánh
Phaolô mà
chính
Thiên
Chúa Cha
và Chúa
Giêsu
phục sinh
loan báo
Tin Mừng
cứu độ.
Xác tín
này khiến
cho
Phaolô
khẳng
định với
tín hữu
Côrintô
trong
chương
5,18-20
thư thứ
hai gửi
cho họ
rằng:
“Tất cả
mọi sự
đến từ
Thiên
Chúa là
Đấng đã
hòa giải
trần gian
với Ngài
qua Đức
Kitô và
đã trao
phó cho
chúng tôi
bổn phận
phục vụ
sự hòa
giải đó.
Phải,
chính
Thiên
Chúa hòa
giải trần
gian với
Ngài qua
Đức Kitô,
bằng cách
không
chấp tội
lỗi loài
người
nữa, và
đặt trên
môi miệng
chúng tôi
sứ điệp
hòa giải.
Vì thế
chúng tôi
là đại sứ
của Chúa
Kitô, và
chính
Thiên
Chúa
khuyến
khích qua
miệng của
chúng
tôi”.
Như thế
thánh
Phaolô
muốn nói
rằng lời
thánh
nhân rao
giảng có
cùng sự
hữu hiệu
như lời
tạo dựng
của Thiên
Chúa. Vì
thế ngài
viết
trong
chương
2,13 thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Thêxalônica
như sau:
“... khi
tiếp nhận
lời Thiên
Chúa do
chúng tôi
rao
giảng,
anh chị
em không
tiếp nhận
như lời
của con
người
trần
gian, mà
như lời
của Thiên
Chúa”. Và
thánh
nhân
khẳng
định ngay
trong
chương 1
thư gửi
tín hữu
Roma
rằng:
“Tin Mừng
ngài rao
giảng
chính ”là
quyền
năng của
Thiên
Chúa nhằm
đem lại
ơn cứu độ
cho tất
cả những
ai tin”
(Rm
1,16).
Lòng tin
như một
dấn thân
cá nhân
có ý thức
tuân giữ
các giáo
huấn của
Chúa
Giêsu, đó
là điều
kiện
khiến cho
tín hữu
được ơn
cứu độ,
như thánh
Phaolô
khẳng
định
trong
chương 15
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Côrintô:
“Tôi xin
nhắc cho
anh chị
em nhớ
Phúc Âm
tôi đã
rao giảng
và anh
chị em đã
tin nhận
cùng tuân
giữ vững
vàng. Nếu
anh chị
em tuân
giữ như
tôi đã
rao
giảng,
thì anh
chị em sẽ
được cứu
rỗi. Nếu
không,
anh chị
em có tin
cũng vô
ích” (1
Cr
15,1-2).
Ý thức
cao độ về
nhiệm vụ
loan báo
Tin Mừng
cứu độ đó
còn đẩy
thánh
Phaolô đi
xa hơn
nữa. Một
đàng
Phaolô
khẳng
định rằng
Tin Mừng
cứu độ,
mà ngài
rao
giảng,
chính
ngài cũng
nhận được
từ truyền
thống
tông đồ,
như viết
trong
cùng
chương 15
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Côrintô:
“Trước
hết tôi
truyền
lại cho
anh chị
em điều
tôi đã
nhận
được: đó
là Chúa
Kitô đã
chết vì
tội lỗi
chúng ta,
đúng như
lời Kinh
Thánh.
Ngài đã
được an
táng
trong mồ
và đã
sống lại
ngày thứ
ba, đúng
như lời
Kinh
Thánh.
Ngài đã
hiện ra
với Kêpha
và hiện
ra với 12
tông đồ”
(1 Cr
15,3-5).
Đàng
khác,
thánh
nhân cũng
khẳng
định rằng
nó là Tin
Mừng của
mình, hay
đúng hơn
“Tin Mừng
của chúng
tôi” (Rm
2,16; 2
Cr 4,3),
trong
nghĩa là
Tin Mừng
thánh
nhân và
các cộng
sự viên
rao giảng
cho các
anh chị
em không
do thái.
Khẳng
định này
quan
trọng,
bởi vì nó
cho chúng
ta thấy
tiến
trình
giải
thoát Tin
Mừng của
Chúa Kitô
khỏi mọi
ràng buộc
của một
nền văn
hóa nhất
định, hồi
đó là nền
văn hóa
và các
đòi buộc
của luật
lệ do
thái, để
khiến cho
Tin Mừng
trở thành
Tin Mừng
đại đồng,
có thể
hội nhập
vào mọi
nền văn
hóa khác
trên thế
giới.
Những gì
thánh
Phaolô
nói với
tín hữu
Galát
trong các
chương 2
và 3
chứng
minh cho
bước tiến
quan
trọng
này. Để
giải
quyết
xung khắc
do một
nhóm Kitô
hữu gốc
do thái
từ
Giêrusalem
tới
Antiokia
gây ra,
Phaolô và
Barnaba
đã về
Giêrusalem
trình bầy
vấn đề.
Hai vị
cho hàng
lãnh đạo
Giáo hội
Giêrusalem
lúc đó là
Giacôbê,
Phêrô và
Gioan
thấy rằng
yêu sách
bắt các
Kitô hữu
không do
thái phải
tuân giữ
luật lệ
do thái
trong đó
có luật
cắt bì,
là điều
vô lý.
Nội vụ đã
được giải
quyết khi
giới lãnh
đạo Giáo
Hội
Giêrusalem
đồng ý
với
Phaolô và
Barnaba
phân chia
công tác
rao
truyền
Tin Mừng.
Phêrô và
các vị
khác
truyền
giáo cho
các anh
chị em
gốc do
thái, còn
Phaolô và
Barnaba
rao giảng
Tin Mừng
cho các
anh chị
em không
do thái.
Tính
chất đại
đồng của
Tin Mừng
cứu độ và
sự hiệp
nhất
trong
khác biệt
ấy được
thánh
Phaolô
nêu bật
trong
chương 3
thư gửi
tín hữu
Galát:
“Khi đức
Tin xuất
hiện rồi
thì chúng
ta không
còn phải
nằm dưới
ách của
luật lệ
nữa. Bởi
vì do
lòng Tin
vào Chúa
Kitô anh
chị em
hết thảy
là con
cái Thiên
Chúa.
Phải, tất
cả anh
chị em đã
chịu phép
Rửa tội
trong
Chúa Kitô
thì đều
được mặc
lấy Chúa
Kitô.
Không còn
phân biệt
người Hy
lạp hay
người Do
thái, nô
lệ hay tự
do, nam
giới hay
nữ giới
nữa. Vì
hết thảy
anh chị
em chỉ là
một với
Chúa
Giêsu
Kitô” (Gl
3,25-28).
Đây không
phải là
một yếu
tố phụ
thuộc, mà
là sự
thật của
Tin Mừng
(Gl
2,5.15).
Sở dĩ
thánh
Phaolô đã
phải đưa
ra các
khẳng
định rõ
ràng và
quyết
liệt như
trên, vì
hồi đó có
một nhóm
Kitô hữu
gốc do
thái tìm
lung lạc
tinh thần
của Kitô
hữu Galát
bằng cách
rao giảng
lập
trường
bắt buộc
anh chị
em không
do thái
theo Kitô
giáo phải
tuân giữ
luật lệ
Do thái
giáo. Vì
thế ngay
trong
chương
đầu thư
gửi cho
họ, thánh
Phaolô đã
xác quyết
rằng:
”Không có
một Tin
Mừng khác
đâu.
Chẳng qua
chỉ có
mấy người
gieo
hoang
mang giữa
anh chị
em và
muốn
xuyên tạc
Tin Mừng
của Chúa
Kitô
thôi.
Nhưng cho
dù chính
chúng tôi
hay một
thiên
thần từ
trời
xuống
loan báo
một Tin
Mừng khác
với Tin
Mừng
chúng tôi
đã loan
báo cho
anh chị
em, thì
kẻ đó
đáng bị
loại ra
khỏi cộng
đoàn dân
Chúa!”
(Gl
1,7-8).
Nhiệt tâm
đối với
việc rao
giảng Tin
Mừng cứu
độ khiến
cho thánh
Phaolô
tận hiến
trọn tâm
hồn và
thân xác,
mọi sức
lực và
tài năng
của ngài
cho công
tác
truyền
giáo.
Phaolô
không
ngần ngại
đương đầu
với nhóm
Kitô hữu
gốc do
thái qúa
khích len
lỏi vào
trong
cộng đoàn
Côrintô
để gieo
hoang
mang và
đánh phá
cộng đoàn
do thánh
nhân nhọc
công xây
dựng.
Thánh
Phaolô đã
đau đớn
ghi nhận
sự suy
thoái và
rạn nứt
giữa cộng
đoàn.
Trong
chương 11
thư thứ
hai gửi
cho họ
Phaolô
nói ngài
phải bất
đắc dĩ tự
khoe
khoang và
so sánh
khả năng
và công
lao của
ngài với
bọn tông
đồ giả
hiệu, để
cho tín
hữu
Côrintô
thấy mặt
nạ gian
dối thâm
độc của
họ. Vì
không
những họ
vu khống
và triệt
hạ uy tín
thánh
nhân
trước mặt
tín hữu,
mà còn
muốn lôi
kéo các
tín hữu
theo các
lập
trường
sai lạc
phản tinh
thần Tin
Mừng của
Chúa
Kitô.
Phaolô
phải lột
mặt nạ
của họ,
vì ngài
“sợ rằng
như con
Rắn xưa
đã dùng
mưu chước
qủy quyệt
lừa dối
Evà thế
nào, thì
lòng trí
tín hữu
Côrintô
cũng sẽ
dần dần
ra hư
hỏng và
mất sự
ngay
thẳng
trước mặt
Chúa Kitô
như thế”.