ĐỀ TÀI V
TĂNG
CƯỜNG
TÌNH YÊU
ĐỐI VỚI
THÁNH THỂ
VÀ HỘI
THÁNH
(1)
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ.
CÁCH TIỀN
HÀNH
VIỆC CHIA
SẺ VÀ HỌC
HỎI ĐỀ
TÀI V
Tiết 1
(45
phút):
Bước 1:
Các tham
dự viên
chia sẻ
tình yêu
của mình
đối với
Thánh Thể
và Hội
Thánh.
Tiết 2
(45
phút):
Bước 2:
Thuyết
trình
viên
trình bày
Đề Tài V
là
TĂNG
CƯỜNG
TÌNH YÊU
ĐỐI VỚI
THÁNH THỂ
VÀ HỘI
THÁNH
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ.
Bước 3:
Linh mục
chủ trì
phát biểu
ý kiến.
PHẦN THỨ
NHÂT
TÌNH YÊU
CỦA MỖI
CHÚNG TA
ĐỐI VỚI
THÁNH THỂ
VÀ HỘI
THÁNH
[CHIA SẺ]
1. Cách
tổ chức
Chia các
tham dự
viên làm
nhiều
Nhóm/Tổ.
Mỗi
Nhóm/Tổ
chừng
10-12
người, có
một người
điều phối
buổi chia
sẻ, không
cần người
ghi chép
và báo
cáo lại.
2. Gợi ý
tổng quát
Xin phép
được gợi
ý với anh
chị em
một điều
rất đơn
sơ mà ai
trong
chúng ta
cũng
biết,
cũng
tường,
dựa vào
kinh
nghiệm
đời
thường.
Chỉ cần
mỗi người
tự hỏi
“Yêu ai
thì chúng
ta thường
làm gì?”
và tự trả
lời:
“Yêu ai
thì chúng
ta”:
- luôn
nghĩ tới
người ấy?
- luôn
muốn ở
bên người
ấy?
- muốn
làm cho
người ấy
hài lòng,
hạnh
phúc?
- muốn
nên giống
người ấy?
- muốn
người ấy
được yêu
mến, kính
trọng?
Chúng ta
có thể áp
dụng kinh
nghiệm
nhân linh
này vào
kinh
nghiệm
tâm linh
là mối
tương
quan tình
yêu của
mỗi người
chúng ta
với Thánh
Thể và
Hội
Thánh!
3. Câu
hỏi gợi ý
3.1 Lòng
yêu mến
Thánh Thể
3.1.1 Mỗi
ngày, mỗi
tuần, mỗi
tháng anh
chị em
thể hiện
tình yêu
của mình
đối với
Thánh Thể
như thế
nào? Bằng
những
phương
cách nào?
Anh chị
thích
phương
cách nào
nhất? Tại
sao?
3.1.2 Mỗi
ngày, mỗi
tuần, mỗi
tháng anh
chị em
làm gì để
tăng
cường hơn
nữa tình
yêu của
mình đối
với Thánh
Thể?
3.2 Lòng
yêu mến
Hội Thánh
3.2.1 Mỗi
ngày, mỗi
tuần, mỗi
tháng anh
chị em
thể hiện
tình yêu
của mình
đối với
Hội Thánh
như thê
nào? bằng
những
phương
cách nào?
Anh chị
thích
phương
cách nào
nhất? Tại
sao?
3.2.2
Mỗi
ngày, mỗi
tuần, mỗi
tháng anh
chị em
làm gì để
tăng
cường hơn
nữa tình
yêu của
mình đối
với Hội
Thánh, cụ
thể là
đối với
Hội Thánh
địa
phương
tức giáo
phận và
giáo xứ?
PHẦN THỨ
HAI
TĂNG
CƯỜNG
TÌNH YÊU
ĐỐI VỚI
THÁNH THỂ
VÀ HỘI
THÁNH
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[TRÌNH
BÀY]
I. VÀO ĐỀ
1.1 Xin
mời mọi
người đọc
lại lời
mở đầu
của Tông
Huấn “Bí
Tích Tình
Yêu” của
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI:
“Thánh
Thể là
hồng ân
mà chính
Chúa
Giêsu
Kitô
thiết
lập, mặc
khải cho
chúng ta
tình yêu
vô biên
của Thiên
Chúa dành
cho mọi
người. Bí
tích kỳ
diệu này
biểu lộ
tình yêu
“cao cả
nhất”,
tình yêu
đã thúc
đẩy Người
“hy sinh
mạng sống
mình vì
bạn hữu”
(Ga 15,
13).
Quả thật,
Chúa
Giêsu đã
yêu họ
“cho đến
cùng”
(Ga 13,
1).
Qua những
lời đó,
vị Thánh
Sử giới
thiệu
hành vi
khiêm hạ
thẳm sâu
của Chúa
Kitô:
trước khi
chết cho
chúng ta
trên
Thánh
Giá,
Người
cuốn một
tấm khăn
và rửa
chân cho
các môn
đệ. Cũng
vậy,
trong Bí
tích
Thánh
Thể, Chúa
Giêsu
tiếp tục
yêu chúng
ta “cho
đến
cùng”,
đến độ
ban mình
và máu
Người cho
chúng ta.
Thật là
một điều
sửng sốt
các Tông
Đồ hẳn đã
được cảm
nhận khi
chứng
kiến Chúa
hành động
và thổ lộ
trong bữa
Tiệc Ly
ấy! Thật
là điều
kỳ diệu
mà Mầu
nhiệm
Thánh Thể
khơi lên
trong tâm
hồn chúng
ta.”
(số 1).
1.2 Xin
mời mọi
người đọc
lại một
đoạn văn
của “Hiến
chế Tín
Lý về
Giáo Hội”
của Công
đồng
Vaticanô
II:
“Chúa
Kitô,
Ðấng
Trung
Gian duy
nhất, đã
thiết lập
Giáo Hội
thánh
thiện,
một cộng
đoàn đức
tin, cậy
và mến,
như một
toàn bộ
cấu trúc
hữu hình
trên trần
gian mà
Người
không
ngừng bảo
vệ
(Leô
XIII, Tđ.
Sapientiae
christianae.
10-1-1890:
AAS 22
(1889-90),
trg 392.
n.t., Tđ.
Satis
cognitum
29-6-1896:
AAS 28
(1895-96),
trg 710
và 724
tt. Piô
XII, Tđ.
Mystici
Corporis,
n.v.t.,
trg
199-200).
Qua Giáo
Hội,
Người đổ
tràn chân
lý và ân
sủng cho
mọi
người.
Giáo Hội
là xã hội
có tổ
chức qui
củ, và
Nhiệm Thể
Chúa
Kitô,
đoàn thể
hữu hình
và cộng
đoàn
thiêng
liêng,
Giáo Hội
tại thế
và Giáo
Hội dư
tràn của
cải trên
trời
không
được quan
niệm như
hai thực
thể nhưng
chỉ là
một thực
thể phức
tạp, duy
nhất, do
yếu tố
nhân loại
và thần
linh kết
thành
(Xem Piô
XII Tđ.
Mystici
Corporis,
n.v.t.,
trg 221
tt. n.t.,
Tđ.
Humani
generis,
12-8-1950:
AAS 42
(1950),
trg 571).
Vì thế,
nhờ loại
suy xác
thực,
chúng ta
có thể ví
Giáo Hội
với mầu
nhiệm
Ngôi Lời
nhập thể.
Thực vậy,
nhân tính
mà Ngôi
Lời mặc
lấy phục
vụ Người
như cơ
quan cứu
rỗi sống
động và
kết hợp
với Người
cách bất
khả phân
ly; cũng
thế, toàn
thể cơ
cấu xã
hội của
Giáo Hội
phục vụ
Thánh
Thần Chúa
Kitô,
Ðấng làm
cho Giáo
Hội sống
động để
tăng
triển
thân thể
(x. Ep
4,16)
(Leô
XIII, Tđ.
Satis
Cognitum,
n.v.t.,
trg 713)
(số 8).
Đã là
người
Kitô hữu
thì chúng
ta không
thể không
yêu mến
Thánh Thể
và Hội
Thánh.
Nhân dịp
Năm Thánh
Phaolô
chúng ta
thử nhìn
xem Thánh
Phaolô đã
yêu mến
Thánh Thể
và Hội
Thánh như
thế nào
để chúng
ta tăng
cưòng hơn
nữa lòng
yêu mến
của chúng
ta đối
với Thánh
Thể và
Hội Thánh
trong Năm
Thánh
Phaolô
này.
II. THÂN
BÀI
2.1 THÁNH
PHAOLÔ
HẾT LÒNG
YÊU MẾN
THÁNH THỂ
VÀ HỘI
THÁNH CỦA
CHÚA
2.1.1
Thánh
Phaolô
thể hiện
lòng yêu
mến Thánh
Thể.
Thánh
Phaolô
thể hiện
lòng yêu
mến Thánh
Thể ít là
qua 3
cách sau
đây:
- Cách
thứ nhất
là Thánh
Phaolô
nhắc đến
Bữa Tối
của Chúa
trong Thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Côrintô.
Đây là
bản văn
có sớm
nhất của
Tân Uớc
về Bữa
Tối của
Chúa (2).
Bản văn
phản ảnh
truyền
thống và
thực hành
của các
cộng đoàn
Kitô hữu
thuở ban
đầu:
“Thật
vậy, điều
tôi đã
lãnh nhận
từ nơi
Chúa, tôi
xin
truyền
lại cho
anh em:
trong đêm
bị nộp,
Chúa
Giêsu cầm
lấy bánh
dâng lời
chúc tụng
tạ ơn,
rồi bẻ ra
và nói:
"Anh em
cầm lấy
mà ăn,
đây là
Mình
Thầy,
hiến tế
vì anh
em; anh
em hãy
làm như
Thầy vừa
làm để
tưởng nhớ
đến
Thầy."
Cũng thế,
cuối bữa
ăn, Người
nâng chén
và nói:
"Đây là
chén Máu
Thầy, Máu
đổ ra để
lập Giao
Ước Mới;
mỗi khi
uống, anh
em hãy
làm như
Thầy vừa
làm để
tưởng nhớ
đến Thầy"
(1 Cr
11,23-25).
- Cách
thứ hai
là Thánh
Phaolô
nói về ý
nghĩa của
việc các
tín hữu
tham dự
Bàn Tiệc
Thánh:
“Thật
vậy, cho
tới ngày
Chúa đến,
mỗi lần
ăn Bánh
và uống
Chén này,
là anh em
loan
truyền
Chúa đã
chịu chết”
(1 Cr
11,26).
- Cách
thứ ba là
Thánh
Phaolô
cảnh báo
các tín
hữu phải
hết sức
trận
trọng khi
Ăn Bánh
và Uống
Rượu:
“bất cứ
ai ăn
Bánh hay
uống Chén
của Chúa
cách bất
xứng, thì
cũng phạm
đến Mình
và Máu
Chúa”
(1 Cr
11,27).
Thánh
Phaolô
xem hai
hạng
người này
là những
người ăn
Bánh và
uống Chén
của Chúa
một cách
bất
xứng:
* Trước
hết là
những
người
tham dự
Bữa Tối
của Chúa
mà không
biết chia
sẻ của ăn
vất chất
với những
anh em
nghèo
trong
cộng
đoàn:
“Khi anh
em họp
nhau, thì
không
phải là
để ăn bữa
tối của
Chúa.
Thật vậy,
mỗi người
lo ăn bữa
riêng của
mình
trước, và
như thế,
kẻ thì
đói,
người lại
say. Anh
em không
có nhà để
ăn uống
sao? Hay
anh em
khinh dể
Hội Thánh
của Thiên
Chúa và
làm nhục
những
người
không có
của? Tôi
phải nói
gì với
anh em?
Chẳng lẽ
tôi khen
anh em
sao? Về
điểm này,
tôi chẳng
khen
đâu!”
(1 Cr
11,21-22),
* Kế đến
là những
người
không
phân biệt
được Bánh
Thánh,
Rượu
Thánh với
bánh
thường
rượu
thưòng:
“Ai nấy
phải tự
xét mình,
rồi hãy
ăn Bánh
và uống
Chén này.
Thật vậy,
ai ăn và
uống mà
không
phân biệt
được Thân
Thể Chúa,
là ăn và
uống án
phạt
mình.”
(1 Cr
11,28-29).
2.1.2
Thánh
Phaolô
thể hiện
lòng yêu
mến Hội
Thánh
Thánh
Phaolô
thể hiện
lòng yêu
mến Hội
Thánh của
Chúa ít
là qua 5
cách sau
đây:
- Cách
thứ nhất
là Thánh
Phaolô
xem Hội
Thánh ở
bất cứ
địa
phương
nào
(Côrintô,
Galát,
Êphêsô,
Côlôxê,
Philípphê,
Rôma hay
Thê-xalônica)
là Hội
Thánh của
Chúa như
trong lời
mở đầu
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Côrintô:
“Tôi
là
Phaolô,
bởi ý
Thiên
Chúa được
gọi làm
Tông Đồ
của Đức
Kitô
Giêsu, và
ông
Xốtthênê
là người
anh em
của chúng
tôi,
kính gửi
Hội
Thánh của
Thiên
Chúa ở
Côrintô,
(1 Cr
1,1).
Và trong
lời mở
đầu thư
thứ hai
gửi tín
hữu
Côrintô:
“Tôi là
Phao-lô,
bởi ý
Thiên
Chúa được
làm Tông
Đồ của
Đức Kitô
Giêsu, và
Timôthê
là người
anh em,
kính
gửi Hội
Thánh của
Thiên
Chúa ở
Côrintô…”
(2 Cr
1,1).
Giải
thích chữ
Hội Thánh
của Thiên
Chúa
nhà
chú giải
William
Barclay
viết
những
dòng như
sau:
“Phaolô
nói về
Hội Thánh
Chúa tại
Côrintô.
Đây không
phải là
Hội Thánh
của
Côrintô
mà là Hội
Thánh của
Thiên
Chúa.
Theo
Phaolô,
một cộng
đoàn
riêng lẻ
dầu bất
cứ ở đâu
vẫn là
một thành
phần
thuộc Hội
Thánh duy
nhất của
Thiên
Chúa. Ông
không
muốn nói
về Hội
Thánh của
một xứ
nào, một
quốc gia
nào, cũng
không đặt
tên cho
một Hội
Thánh
bằng tên
của địa
phương
đó. Với
Phaolô
Hội Thánh
là Hội
Thánh của
Chúa. Nếu
nghĩ về
Hội Thánh
như vậy,
chắc
chúng ta
sẽ nhớ
lại Hội
Thánh như
là một
thực tại
kết hợp,
thống
nhất
chúng ta
với nhau
nhiều hơn
và sẽ bớt
nhìn thấy
những dị
biệt có
tính địa
phương
vẫn hay
chia rẽ
chúng ta”
(3).
- Cách
thứ hai
là Thánh
Phaolô
rất coi
trọng các
tín hữu
là những
người làm
nên Hội
Thánh của
Chúa.
Thánh
Phaolô đã
gọi họ là
“những
người đã
được hiến
thánh
trong Đức
Kitô
Giêsu,
được kêu
gọi làm
dân
thánh”
(1
Cr 1,2).
- Cách
thứ ba là
đối với
Thánh
Phaolô
không có
một Hội
Thánh
trừu
tượng,
chung
chung mà
là một
Hội Thánh
với những
con người
cụ thể,
với những
vấn đề cụ
thể.
- Cách
thứ bốn
là Thánh
Phaolô
hết lòng
chăm sóc,
dậy dỗ,
giáo dục
các tín
hữu của
Hội Thánh
Chúa. Vì
các tín
hữu cũng
chỉ là
những con
người tội
lỗi, yếu
đuối và
mê muội
nên họ
không
tránh
khỏi
những sai
phạm, lầm
lạc đáng
trách và
cần được
chỉ dạy.
Đọc lướt
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Côrintô
chúng ta
thấy ngay
những tội
lỗi và
thiếu sót
của cộng
đoàn này:
chia rẽ
(1 Cr 1,
10-16),
loạn luân
(1 Cr 5,
1-13),
kiện nhau
ra tòa
đời (1 Cr
6,1-11),
dâm ô (1
Cr 6,
12-20),
không
phân biệt
Bữa Tối
của Chúa
với bữa
ăn thường
(1 Cr 11,
29), tham
dự Bàn
Tiệc
Thánh mà
sống ích
kỷ không
chia sẻ
với nhau
(1 Cr 11,
21), vênh
vang kiêu
ngạo khi
được ban
đặc sủng
nói tiếng
lạ (1 Cr
13-14),
không tin
vào sự
phục sinh
của Chúa
Giêsu (1
Cr 15).
Vì yêu
mến Hội
Thánh của
Chúa và
vì yêu
thương
các tín
hữu của
Hội Thánh
ấy mà
Thánh
Phaolô đã
nhắc nhở,
khuyên
nhủ, chỉ
dậy cặn
kẽ một
cách vừa
thẳng
thắn,
nghiêm
khắc vừa
yêu
thương
đặm đà
như một
người
cha:
- “Thưa
anh em,
nhân danh
Đức
Giê-su
Ki-tô,
Chúa
chúng ta,
tôi
khuyên
tất cả
anh em
hãy nhất
trí với
nhau
trong lời
ăn tiếng
nói, và
đừng để
có sự
chia rẽ
giữa anh
em, nhưng
hãy sống
hòa
thuận,
một lòng
một ý với
nhau.”
(1 Cr
1,10).
- “Nào
anh em
chẳng
biết rằng
anh em là
Đền Thờ
của Thiên
Chúa, và
Thánh
Thần
Thiên
Chúa ngự
trong anh
em sao?
Vậy ai
phá huỷ
Đền Thờ
Thiên
Chúa,
thì Thiên
Chúa sẽ
huỷ diệt
kẻ ấy. Vì
Đền Thờ
Thiên
Chúa là
nơi
thánh, và
Đền Thờ
ấy chính
là anh
em.”
(1 Cr
3,16-17).
- “Tôi
viết
những lời
đó không
phải để
làm anh
em xấu
hổ, nhưng
là để sửa
dạy anh
em như
những
người con
yêu quý
của tôi.
Thật thế,
cho dầu
anh em có
ngàn vạn
giám thị
trong Đức
Ki-tô,
anh em
cũng
không có
nhiều cha
đâu, bởi
vì trong
Đức Ki-tô
Giê-su,
nhờ Tin
Mừng,
chính tôi
đã sinh
ra anh
em. Vậy
tôi
khuyên
anh em:
hãy bắt
chước
tôi. Vì
lẽ đó,
tôi đã
phái
người con
yêu quý
và trung
tín của
tôi trong
Chúa, là
anh
Ti-mô-thê,
đến với
anh em.
Anh ấy sẽ
nhắc cho
anh em
những quy
tắc hướng
dẫn đời
sống
trong Đức
Ki-tô mà
tôi đã đề
ra, những
quy tắc
mà tôi
vẫn giảng
dạy khắp
nơi,
trong mọi
Hội
Thánh.”
(1 Cr
4,14-17).
- Cách
thứ năm
là Thánh
Phaolô
chấp nhận
mọi hy
sinh gian
khổ để
xây dựng
Hội Thánh
Chúa ở
mọi nơi
mà ngài
được Chúa
sai đến.
Chúng ta
đọc lại
bài tổng
kết của
Thánh
Phaolô
trong 2
Cr
11,23-25:
“Họ là
người
phục vụ
Đức Kitô
ư? Tôi
nói như
người
điên: tôi
còn hơn
họ nữa!
Hơn nhiều
vì công
khó, hơn
nhiều vì
ở tù, hơn
gấp bội
vì chịu
đòn, bao
lần suýt
chết.
Năm lần
tôi bị
người Do
Thái đánh
bốn mươi
roi bớt
một; ba
lần bị
đánh đòn;
một lần
bị ném
đá; ba
lần bị
đắm tàu;
một đêm
một ngày
lênh đênh
giữa biển
khơi!
Tôi còn
hơn họ,
vì phải
thực hiện
nhiều
cuộc hành
trình,
gặp bao
nguy hiểm
trên
sông,
nguy hiểm
do trộm
cướp,
nguy hiểm
do đồng
bào, nguy
hiểm vì
dân
ngoại,
nguy hiểm
ở thành
phố,
trong sa
mạc,
ngoài
biển
khơi,
nguy hiểm
do những
kẻ giả
danh là
anh em.
Tôi còn
phải vất
vả mệt
nhọc,
thường
phải thức
đêm, bị
đói khát,
nhịn ăn
nhịn uống
và chịu
rét mướt
trần
truồng.
Không kể
các điều
khác, còn
có nỗi
ray rứt
hằng ngày
của tôi
là mối
bận tâm
lo cho
tất cả
các Hội
Thánh! Có
ai yếu
đuối mà
tôi lại
không cảm
thấy mình
yếu đuối?
Có ai vấp
ngã mà
tôi lại
không cảm
thấy lòng
sôi lên?”
2.2 CHÚNG
TA TĂNG
CUỜNG
LÒNG YÊU
MẾN THÁNH
THỂ VÀ
HỘI THÁNH
2.2.1
Chúng ta
tăng
cường
lòng yêu
mến Thánh
Thể:
2.2.1.1
Trong
Tông huấn
“Bí Tích
Tình Yêu”
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI đã
trình bày
Mầu Nhiệm
Thánh Thể
với ba
nội dung
(cũng là
ba phần
chính của
Tông
huấn):
Thánh
Thể: Mầu
Nhiệm mà
chúng ta
tin (từ
số 06 đến
hết số
33),
Thánh
Thể: Mầu
Nhiệm
được cử
hành (từ
số 34 đến
hết số
69) và
Thánh
Thể: Mầu
Nhiệm để
sống (từ
số 70 đến
hết số
83).
2.2.2.2
Vậy thì
anh chị
em chúng
ta có thể
dựa vào 3
nội dung
trên của
Tông huấn
“Bí Tích
Tình Yêu”
mà tăng
cường
lòng yêu
mến Mầu
Nhiệm/Bí
Tích
Thánh
Thể. Bằng
ba cách
sau đây:
- Cách
thứ nhất
là chúng
ta tăng
cường
lòng tin
của chúng
ta đối
với Mầu
Nhiệm/Bí
Tích
Thánh
Thể. Lời
của Chúa
Giêsu
trong
Phúc Âm
thì hết
sức rõ
ràng,
không thể
hiểu khác
được:
(a)
Về
việc Chúa
Giêsu lập
Bí Tích
Thánh
Thể:
“Cũng
trong bữa
ăn, Đức
Giê-su
cầm lấy
bánh,
dâng lời
chúc
tụng, rồi
bẻ ra,
trao cho
môn đệ và
nói: "Anh
em cầm
lấy mà
ăn, đây
là mình
Thầy."
Rồi Người
cầm lấy
chén,
dâng lời
tạ ơn,
trao cho
môn đệ và
nói: "Tất
cả anh em
hãy uống
chén này,
vì đây là
máu Thầy,
máu Giao
Ước, đổ
ra cho
muôn
người
được tha
tội.”
(Mt
26,26-28).
(b) Về ý
nghĩa và
hiệu quả
của Thánh
Thể trong
đời sống
kẻ tin:
"Chính
tôi là
bánh
trường
sinh. Ai
đến với
tôi,
không hề
phải đói;
ai tin
vào tôi,
chẳng
khát bao
giờ!...
Tôi là
bánh
trường
sinh. Tổ
tiên các
ông đã ăn
man-na
trong sa
mạc,
nhưng đã
chết. Còn
bánh này
là bánh
từ trời
xuống, để
ai ăn thì
khỏi phải
chết. Tôi
là bánh
hằng sống
từ trời
xuống. Ai
ăn bánh
này, sẽ
được sống
muôn đời.
Và bánh
tôi sẽ
ban tặng,
chính là
thịt tôi
đây, để
cho thế
gian được
sống…. Ai
ăn thịt
và uống
máu tôi,
thì được
sống muôn
đời, và
tôi sẽ
cho người
ấy sống
lại vào
ngày sau
hết, vì
thịt tôi
thật là
của ăn,
và máu
tôi thật
là của
uống. Ai
ăn thịt
và uống
máu tôi,
thì ở lại
trong
tôi, và
tôi ở lại
trong
người
ấy."
(Ga
6,34.48-51.54-56).
Vấn đề
còn lại
và là vấn
đề của
mỗi người
chúng ta
là chúng
ta tin
như thế
nào và
tin đến
mức độ
nào vào
Lời của
chính
Chúa?
Để củng
cố và
tăng
cường
lòng tin
của mình
vào Bí
Tích
Thánh
Thể,
chúng ta
nên tìm
hiểu và
học hỏi
về Bí
Tích này,
nhất là
nên tìm
hiểu
những gì
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI đã
viết
trong
Tông huấn
“Bí Tích
Tình Yêu
/phần I.”
- Cách
thứ hai
là chúng
ta tăng
cường
việc cử
hành và
tham dự
vào Mầu
Nhiệm/Bí
Tích
Thánh
Thể.
Chúng ta
hãy đọc
lại lời
của Chúa
Giêsu:
“Rồi
Người cầm
lấy bánh,
dâng lời
tạ ơn, bẻ
ra, trao
cho các
ông và
nói: "Đây
là mình
Thầy,
hiến tế
vì anh
em.
Anh em
hãy làm
việc này,
mà tưởng
nhớ đến
Thầy."
(Lc
22,19).
và lời
của Thánh
Phaolô:
“Thật
vậy, điều
tôi đã
lãnh nhận
từ nơi
Chúa, tôi
xin
truyền
lại cho
anh em:
trong đêm
bị nộp,
Chúa
Giê-su
cầm lấy
bánh,
dâng lời
chúc tụng
tạ ơn,
rồi bẻ ra
và nói:
"Anh em
cầm lấy
mà ăn,
đây là
Mình
Thầy,
hiến tế
vì anh
em; anh
em hãy
làm như
Thầy vừa
làm để
tưởng nhớ
đến
Thầy."
Cũng thế,
cuối bữa
ăn, Người
nâng chén
và nói:
"Đây là
chén Máu
Thầy, Máu
đổ ra để
lập Giao
Ước Mới;
mỗi khi
uống, anh
em hãy
làm như
Thầy vừa
làm để
tưởng nhớ
đến
Thầy."
Thật vậy,
cho tới
ngày Chúa
đến, mỗi
lần ăn
Bánh và
uống Chén
này, là
anh em
loan
truyền
Chúa đã
chịu
chết. Vì
thế, bất
cứ ai ăn
Bánh hay
uống Chén
của Chúa
cách bất
xứng, thì
cũng phạm
đến Mình
và Máu
Chúa. Ai
nấy phải
tự xét
mình, rồi
hãy ăn
Bánh và
uống Chén
này. Thật
vậy, ai
ăn và
uống mà
không
phân biệt
được Thân
Thể Chúa,
là ăn và
uống án
phạt
mình”
(1
Cr
11,23-29).
Nói cách
cụ thể và
vắn gọn
là chúng
ta phải
cử hành
và tham
dự Bí
Tích
Thánh Thể
một cách
ý thức,
trân
trọng,
sốt sáng,
có chuẩn
bị và am
hiểu ý
nghĩa.
Chúng ta
hãy nhìn
lại cách
cộng đoàn
và cá
nhân mỗi
người
chúng cử
hành và
tham dự
Thánh Thể
như thế
nào?
Để ý thức
hơn về
tầm quan
trọng của
việc cử
hành và
tham dự
Bí Tích
Thánh
Thể,
chúng ta
nên tìm
hiểu và
học hỏi
những
điều Đức
Thánh Cha
Bênêđitô
XVI đã
viết về
vấn đề
này trong
Tông huấn
“Bí Tích
Tình
Yêu/phần
II”.
- Cách
thứ ba là
chúng ta
tăng
cường
cách sống
Mầu
Nhiệm/Bí
Tích
Thánh
Thể. Bí
tích
Thánh Thể
là Bí
Tích Tình
Yêu, một
tình yêu
dâng hiến
và cho
đi. Dâng
hiến trọn
vẹn cho
Thiên
Chúa và
cho đi
hết những
gì Người
có cho
nhân
loại.
Chúng ta
hãy nhìn
lại cách
mỗi người
chúng ta
sống Bí
Tích
Thánh Thể
trong đời
sống cá
nhân và
cộng đoàn
như thế
nào?
Để củng
cố và
tăng
cường
cách sống
Bí Tích
Thánh
Thể,
chúng ta
nên
nghiên
cứu những
gì Đức
Thánh Cha
Bênêđitô
XVI viết
về nội
dung này
trong
Tông huấn
Bí Tích
Tình Yêu,
phần III.
2.2.2
Chúng ta
tăng
cường
lòng yêu
mến Hội
Thánh:
2.2.2.1
Trong
truyền
thống
công giáo
có một
câu châm
ngôn bằng
tiếng la
tinh nói
lên tình
yêu và sự
hiệp
thông của
người tín
hữu đối
với Hội
Thánh.
Câu châm
ngôn đó
là
“sentire
cum
Ecclesia”.
Sentire
có khá
nhiều
nghĩa: có
thể dịch
là cùng
rung cảm,
cùng cảm
nhận,
cùng đập
một nhịp
tim, có
cùng một
suy nghĩ,
một tâm
tình, một
ước mơ và
một hành
động như
Hội Thánh
của Chúa,
cùng hiệp
thông với
Hội
Thánh.
Chúng ta
chọn cụm
từ
“cùng
hiệp
thông với
Hội
Thánh”
để
chuyển
dịch câu
châm ngôn
“sentire
cum
Ecclesia”
với điều
kiện là
trong tâm
trí chúng
ta
hiệp
thông
không chỉ
bằng tâm
tình mà
bằng cả
tâm tình
lẫn hành
động cụ
thể. Và
chúng ta
có thể đi
vào cụ
thể để áp
dụng cụm
từ cùng
hiệp
thông với
Hội Thánh
của Chúa
ở ba cấp
bậc khác
nhau:
trên toàn
thế giới,
tại Việt
Nam và ở
tổng giáo
phận
(Huế) của
chúng ta.
Vậy nếu
muốn
cùng hiệp
thông với
Hội Thánh
thì chúng
ta phải
biết hiện
giờ Hội
Thánh của
Chúa trên
toàn thế
giới (hay
Hội Thánh
toàn
cầu), Hội
Thánh của
Chúa tại
Việt Nam
và Hội
Thánh của
Chúa ở
địa
phương
chúng ta
(giáo
phận Huế)
đang nghĩ
gì? cảm
nhận gì?
ước mơ
gì? làm
gì?
2.2.2.2
Trước hết
chúng ta
tìm cách
cùng
hiệp
thông với
Hội Thánh
của Chúa
trên
toàn thế
giới.
Chúng ta
thấy Hội
Thánh
toàn cầu
của Chúa
đang theo
đuổi
những
định
hướng
quan
trọng sau
đây:
* Một là
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI đã
thiết lập
Năm Thánh
Phaolô từ
28.6.2008
đến
29.6.2009
với mục
đích là
mời gọi
hết mọi
thành
phần Dân
Chúa trên
toàn thế
giới “học
và sống
tinh thần
Thánh
Phaolô”
để trở
thành
chứng
nhân của
Tin Mừng
Cứu Độ
trong thế
giới hôm
nay!
* Hai là
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI đã tổ
chức
Thượng
Hội Đồng
Giám Mục
Thế Giới
về Lời
Chúa (hồi
tháng
10.2008)
với mục
đích thúc
đẩy mọi
tầng lớp
tín hữu
trân
trọng,
nghiên
cứu, học
hỏi và
sống Lời
Chúa
nhiều hơn
nữa.
* Ba là
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI gửi
Sứ Điệp
Giáng
Sinh Urbi
et Orbi,
tức Sứ
Điệp cho
thành
Rôma và
cho toàn
thế giới,
với những
lời tha
thiết như
sau:
“Ân sủng
của Thiên
Chúa đã
xuất hiện
cho tất
cả mọi
người.
Phải,
Chúa
Giêsu,
dung nhan
của Thiên
Chúa Đấng
Cứu độ,
đã xuất
hiện
không chỉ
cho một
vài
người,
một số
người,
nhưng cho
hết mọi
người.
Thật vậy,
trong căn
nhà tồi
tàn ở
Bêlem,
chỉ ít
người đến
gặp Chúa,
nhưng
Chúa đã
đến cho
tất cả
mọi
người: Do
Thái và
dân
ngoại,
người
giàu và
người
nghèo,
người gần
người xa,
người có
tín
ngưỡng và
người vô
tín
ngưỡng..
hết mọi
người. Ân
sủng siêu
phàm,
theo ý
định của
Thiên
Chúa,
được dành
cho tất
cả mọi
người.
Tuy
nhiên,
con người
cần tiếp
nhận ân
sủng, cần
đáp lại
“xin
vâng”,
như Đức
Maria,
ngõ hầu
con tim
được soi
chiếu bởi
ánh sáng
Thiên
Chúa. Vào
đêm ấy,
để đón
tiếp Ngôi
Lời nhập
thể, có
Đức Maria
và thánh
Giuse
đang
trông chờ
Người với
lòng yêu
mến, có
các mục
đồng canh
giữ đàn
chiên
(xc. Lc
2,1-20).
Thực là
một nhóm
nhỏ đã
đến thờ
lạy Hài
nhi
Giêsu;
một cộng
đoàn bé
nhỏ tượng
trưng cho
Hội Thánh
và tất cả
những
người
lòng
ngay.
Ngày hôm
nay cũng
vậy,
những ai
đang
trông chờ
và tìm
kiếm
Người đều
gặp thấy
Thiên
Chúa vì
yêu
thương đã
trở nên
người anh
em của
chúng ta;
những ai
hướng
lòng lên
với
Người,
ước ao
nhận biết
dung nhan
Người và
góp phần
kiến tạo
vương
quốc của
Người.
Chúa
Giêsu sẽ
nói trong
bài
giảng: đó
là những
người có
tinh thần
nghèo
khó,
những kẻ
sầu muộn,
những kẻ
hiền
lành,
những
người
khao khát
công lý,
những
người lân
tuất,
những
người có
tâm hồn
thanh
tịnh,
những kẻ
xây dựng
hòa bình,
những kẻ
bị bách
hại vì
công lý
(x. Mt
5,3-10).
Những
người này
nhận biết
nơi đức
Giêsu
khuôn mặt
của Thiên
Chúa, và
trở về
nhà với
con tim
được đổi
mới nhờ
niềm vui
của tình
thương,
giống như
các mục
đồng
Belem.
“Thưa anh
chị em
đang nghe
tôi nói.
Trọng tâm
của sứ
điệp
Giáng
sinh là
lời loan
báo hy
vọng dành
cho tất
cả mọi
người.
Đức Giêsu
đã sinh
ra cho
hết mọi
người, và
cũng như
tại
Belem, Mẹ
Maria đã
giới
thiệu
Người cho
các mục
đồng, thì
ngày hôm
nay, Hội
thánh
cũng giới
thiệu
Người cho
toàn thể
nhân
loại, ngõ
hầu mỗi
người và
mỗi hoàn
cảnh đều
có thể
cảm
nghiệm
quyền
năng của
ân sủng
cứu độ
của Thiên
Chúa. Duy
chỉ ân
sủng
Thiên
Chúa mới
có thể
thay đổi
trái tim
của con
người và
biến nó
nên hoa
viên của
hoà bình.
“Mong sao
cho các
dân tộc
còn đang
sống
trong đêm
đen và
bóng tối
của sự
chết được
cảm
nghiệm
quyền
năng của
ân sủng
cứu độ
của Thiên
Chúa.
Mong sao
cho ánh
sáng
thiên
linh của
Belem
được lan
rộng sang
thánh
địa, nơi
mà chân
trời xem
ra tối
sầm lại
cho người
Do thái
và người
Palestin.
Xin ánh
sáng ấy
tăng sức
mạnh cho
những kẻ
không
chịu
khuất
phục con
đường phi
lý của
đụng độ
và vũ
lực, đối
lại họ
đang gắng
tìm con
đường đối
thoại và
thương
thuyết để
giải
quyết
những
căng
thẳng
giữa các
dân tộc
và tìm
những
giải pháp
công bằng
và bền bỉ
cho những
cuộc xung
đột đang
xảy ra
trong
vùng. Các
dân tộc
Zimbabwe
bên Phi
châu, từ
lâu đã bị
đè bẹp
bởi những
khủng
hoảng
chính trị
và xã hội
đang tiếp
tục gia
tăng,
cũng như
nhân dân
Cộng hoà
dân chủ
Congo,
đặc biệt
người dân
miền
Kivu,
Darfur,
người dân
Somalia,
đang hứng
chịu
những sự
đau khổ
do hậu
quả của
tình
trạng
thiếu yên
ổn và
thiếu hòa
bình: họ
đang
trông
ngóng Ánh
sáng ấy
đến để
canh tân
đổi mới.
Nhất là
các nhi
đồng ở
các quốc
gia vừa
kể và
thuộc các
quốc gia
đang gặp
khó khăn
cũng mong
chờ Ánh
sáng đó,
để chúng
được trả
lại niềm
hy vọng
vào tương
lai.
“Nơi nào
phẩm giá
và quyền
lợi của
con người
bị chà
đạp; nơi
nào tính
ích kỷ cá
nhân hay
tập thể
đang lấn
át công
ích, nơi
nào cảnh
huynh đệ
tương tàn
và cảnh
khai thác
bóc lột
con người
có nguy
cơ trở
thành
thói
quen; nơi
nào những
cuộc nội
chiến đã
chia rẽ
các bộ
tộc và
phá tan
cuộc
chung
sống; nơi
nào thiếu
thốn
lương
thực cần
thiết để
sống; nơi
nào người
ta đang
lo ngại
khi nhìn
về tương
lai bấp
bênh: ước
mong cho
ánh sáng
lễ Giáng
sinh hãy
chiếu
sáng, và
khuyến
khích mỗi
người hãy
góp phần
của mình
trong
tinh thần
liên đới.
Nếu mỗi
người chỉ
nghĩ tới
ích lợi
riêng tư
của mình,
thì thế
giới sẽ
đi tới
chỗ diệt
vong mà
thôi.”
Sơ kết 1:
Chúng ta
được mời
gọi
cùng hiệp
thông với
Hội Thánh
toàn cầu
trong 3
định
hướng
quan
trọng nêu
trên của
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI.
Nhưng thử
hỏi đại
đa số
giáo dân
nòng cốt
của chúng
ta biết
được
những gì
đang diễn
ra ở cấp
bậc Hội
Thánh
toàn cầu?
Có được
bao nhiêu
anh chị
em cán bộ
giáo dân
có điều
kiện tiếp
cận với
nghiên
cứu, tìm
hiểu và
học hỏi
các tài
liệu, văn
kiện của
Hội Thánh
toàn cầu?
2.2.2.3
Kế đến
chúng ta
tìm cách
cùng
hiệp
thông với
Hội Thánh
của Chúa
tại Việt
Nam.
Chúng ta
thấy nổi
bật những
điểm sau
đây trong
đời sống
của Hội
Thánh
Chúa ở
Việt Nam
vào thời
điểm này:
* Một là
Hội Đồng
Giám Mục
Việt Nam
đã quyết
định tổ
chức cử
hành Năm
Thánh
2010 nhằm
mục đích
kỷ niệm
50 năm
việc
thiết lập
Hàng Giáo
Phẩm Việt
Nam
(1960-2010)
và thúc
đầy việc
trưởng
thành của
Hội Thánh
Việt Nam
tức của
mọi thành
phần giáo
sĩ, tu sĩ
và giáo
dân.
* Hai là
Hội Đồng
Giám Mục
Việt Nam
đã ban
hành Thư
chung
2007 về
Giáo Dục
Kitô giáo
nhằm mục
đích chấn
chỉnh, bổ
sung và
tăng
cường
việc giáo
dục nhân
bản và
giáo dục
đức tin
trong các
gia đình
và các
giáo xứ.
* Ba là
Hội Đồng
Giám Mục
Việt Nam
vừa phổ
biến Thư
Mục vụ
2008 về
Giáo dục
Gia đình
nhằm mục
đích nhấn
mạnh đến
tầm quan
trọng của
việc giáo
dục gia
đình:
giáo dục
nhân bản
và giáo
dục đức
tin cho
con em,
cho giới
trẻ là
tương lai
của xã
hội và
Giáo hội
Việt Nam.
Sơ kết 2:
Chúng ta
được mời
gọi
cùng hiệp
thông với
Hội Thánh
Chúa tại
Việt Nam
trong 3
đường
hướng
quan
trọng kể
trên của
Hội Đồng
Giám Mục
Việt Nam.
Nhưng thử
hỏi đại
đa số
giáo dân
nòng cốt
của chúng
ta biết
được
những gì
đang diễn
ra ở cấp
bậc Hội
Thánh
toàn quốc
Việt Nam?
Có được
bao nhiêu
anh chị
em cán bộ
giáo dân
có điều
kiện tiếp
cận với
nghiên
cứu, tìm
hiểu, học
hỏi các
tài liệu,
văn bản
(ví dụ
Thư Chung
2007 và
Thư Mục
Vụ 2008)
của Hội
Đồng Giám
Mục Việt
Nam?
2.2.2.4
Và sau
cùng
chúng ta
tìm cách
cùng
hiệp
thông với
Hội Thánh
của Chúa
tại địa
phương
mình (vd:
tổng giáo
phận
Huế):
Chúng ta
có thể
quả quyết
rằng
những
đường
hướng mục
vụ quan
trọng của
Hội Thánh
của Chúa
trên toàn
thế giới
và tại
Việt Nam
cũng là
những
đường
hướng mục
vụ của
Hội Thánh
địa
phương
(Huế) của
chúng ta.
Sơ kết 3:
Chúng ta
được mời
gọi
cùng hiệp
thông với
Hội
Thánh
của Chúa
tại địa
phương
(giáo
phận Huế)
của chúng
ta trong
6 đường
hướng
quan
trọng nêu
trên của
Đức Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI và
của Hội
Đồng Giám
Mục Việt
Nam.
Nhưng thử
hỏi đại
đa số
giáo dân
nòng cốt
của chúng
ta biết
được
những gì
đang diễn
ra ở cấp
bậc Hội
Thánh
toàn cầu
và Hội
Thánh tại
Việt Nam?
Có được
bao nhiêu
anh chị
em cán bộ
giáo dân
có điều
kiện tiếp
cận với
nghiên
cứu, tìm
hiểu và
học hỏi
các tài
liệu, văn
kiện của
Hội Thánh
toàn cầu
và của
Hội Thánh
Việt Nam?
III. KẾT
LUẬN
Khi trình
bày phần
nội dung
trên thì
trong tâm
trí tôi
xuất hiện
ý tưởng
này: Nếu
người
giáo dân
nòng cốt
của Hội
Thánh
Việt Nam
nói chung
và của
Giáo phận
Huế nói
riêng
được mời
gọi
cùng hiệp
thông với
Hội Thánh
của Chúa
ở cả ba
cấp bậc:
toàn cầu,
quốc gia
và giáo
phận thì
không thể
không có
những
việc làm
sau đây:
- Thứ
nhất
người
giáo dân
nòng cốt
phải là
những
người ham
đọc sách
và tài
liệu. Họ
không cần
phải là
những con
mọt sách
hay những
nhà trí
thức,
nhưng
chắc chắn
việc tiếp
cận với
các tài
liệu của
Hội Thánh
(tông
huấn,
tông thư,
sứ điệp,
thư
chung,
thư mục
vụ) là
điều kiện
đầu tiên
phải có!
- Thứ hai
là ở cấp
giáo xứ
và nhất
là ở cấp
giáo phận
cần phải
có những
đợt sinh
hoạt, học
hỏi, tập
huấn
thường
xuyên và
định kỳ
cho hàng
ngũ giáo
dân nòng
cốt.
Trong các
bài giảng
thánh lễ
Chúa nhật
các linh
mục không
có đủ
thời gian
để trình
bày,
triển
khai các
tài liệu
quan
trọng của
Hội Thánh
nên cần
phải có
những đợt
sinh
hoạt,
những
khóa học
hỏi liên
tục.
Ước gì
những gợi
ý chân
thành và
khả thi
trên được
mọi thánh
phần Dân
Chúa
trong
giáo phận
và nhất
là các vị
lãnh đạo
quan tâm
và áp
dụng.
----------------
Ghi chú:
(1) Bài
này khá
dài nên
có thể
cắt thành
2 bài
riêng
biệt: một
bài là
“Tăng
cưỜng
Tình Yêu
đỐi vỚi
Thánh ThỂ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ”,
một bài
khác là
“Tăng
cưỜng
Tình Yêu
đỐi vỚi
HỘi Thánh
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ.”
(2) Thư 1
Cr được
viết vào
năm 55.
Phúc Âm
Máccô
được viết
vào năm
64, Phúc
Âm
Mátthêu
được viết
vào năm
70, Phúc
Âm Luca
và Sách
Tông đồ
Công vụ
được viết
vào năm
85-90,
Phúc Âm
Gioan
cũng được
viết vào
năm
85-90.
(3)
William
Barclay,
Thư gửi
tín hữu
Côrintô,
NXB Tôn
giáo
2008,
trang 5.
PHẦN THỨ
BA
BÀI ĐỌC
THÊM (1)
PHỤC HỒI
TÌNH YÊU
ĐỐI VỚI
THÁNH THỂ
VÀ GIÁO
HỘI
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[GỢI Ý
CỦA ĐỨC
CHA
MICHAEL
SALTARELLI,
GIÁM MỤC
WILMINGTON,
HOA KỲ]
“Chén
hồng phúc
mà chúng
ta chúc
tụng
không
phải là
sự dự
phần vào
Máu Đức
Kitô sao?
Tấm Bánh
mà chúng
ta bẻ ra
không
phải là
sự dự
phần vào
Thân Thể
Ðức Kitô
sao?”
(1 Cr
10,16).
Một trong
những
hình ảnh
cổ điển
thuộc về
Học
thuyết
Thánh
Phaolô là
hình ảnh
Nhiệm Thể
Đức Kitô
là một sự
hiệp
thông của
nhiều cá
nhân với
những đặc
sủng và
tài năng
riêng để
xây dựng
Nhiệm
Thể.
Thánh
Phaolô
cho chúng
ta thấy
rằng Bí
tích
Thánh Thể
là nguồn
mạch của
sự hợp
nhất, hoà
đồng và
hiệp
thông của
Nhiệm
Thể. Việc
chúng ta
lãnh nhận
Bí tích
Thánh Thể
cách kính
cẩn là
mồi lửa
lớn của
hoạt động
truyền
giáo, dẫn
đưa chúng
ta đến
tận cùng
trái đất
như Thánh
Phaolô.
Trong
Thông
điệp
Ecclesia
de
Eucharistia
năm 2003,
Đức Thánh
Cha Gioan
Phaolô II
đã lồng
những
giáo huấn
của Thánh
Phaolô
vào trong
bài suy
niệm của
ngài về
Thánh
Thể:
“Lời của
Thánh
Tông Đồ
Phaolô
đưa chúng
ta trở
lại khung
cảnh cảm
động mà
trong đó
Bí tích
Thánh Thể
được sinh
ra… Về
phần
ngài,
Thánh
Tông Đồ
Phaolô
nói rằng
một cộng
đồng Kitô
hữu mà
chia rẽ
và coi
thường
người
nghèo thì
‘không
đáng tham
dự vào
Bữa Tiệc
của Chúa”
(x. 1 Cr
11,17-22.27-34).
Công bố
cái chết
của Chúa
‘đến khi
Người trở
lại’
(1 Cr
11,26)
đòi buộc
tất cả
những ai
dự phần
vào tiệc
Thánh Thể
phải
quyết tâm
thay đổi
đời sống
mình và
làm cho
đời sống
một cách
nào đó
hoàn toàn
là ‘đời
sống
Thánh
Thể’”
(số 20).
Học hỏi
và cầu
nguyện
theo các
thư của
Thánh
Phaolô về
Bí Tích
Thánh Thể
giúp
chúng ta
“nhóm lại
sự kinh
ngạc của
chúng ta
về Bí
Tích
Thánh
Thể”
và ý thức
rằng mỗi
Thánh Lễ
“có ý
nghĩa phổ
quát”
.
Mỗi Thánh
Lễ được
“cử hành
trên Bàn
Thờ của
thế giới”
.
Khi chúng
ta nhóm
lại ngọn
lửa Đức
Tin vào
Bí Tích
Thánh Thể
của mình,
chúng ta
sẽ kính
sợ và
ngạc
nhiên về
chân lý
của sự
Hiện Diện
Đích
Thật, đời
sống hôn
nhân và
gia đình
của chúng
ta cũng
sẽ lại
được bùng
cháy
trong Đức
Kitô. Ơn
gọi linh
mục và tu
trì sẽ
được nhen
nhúm lại.
Một tinh
thần
truyền
giáo và
dạy Giáo
Lý cách
hiệu quả
trên mọi
mức độ sẽ
được khơi
dậy. Như
đã đề cập
đến ở
trên, một
sự sùng
kính Lời
Linh Hứng
của Thiên
Chúa cũng
được nhen
nhúm lại,
và kết
quả sẽ là
“một mùa
xuân mới
về tâm
linh”.
Chúng ta
nhen nhúm
lại một
cách sống
cụ thể
việc tôn
trọng sự
sống và
công bằng
xã hội
đối với
người
nghèo, tù
nhân,
ngoại
kiều và
các thai
nhi đang
còn trong
bụng mẹ.
Trong
Tông huấn
Sacramentum
Caritatis,
năm 2007,
Đức Thánh
Cha
Beneđictô
XVI tóm
tắt quyền
năng của
Bí tích
Thánh Thể
như sau:
“Chúng
ta không
chỉ lãnh
nhận Ngôi
Lời Nhập
Thể cách
thụ động,
nhưng
chúng ta
còn được
lôi cuốn
một cách
tích cực
vào sự tự
hiến của
Người”.
Người
“cuốn hút
chúng ta
vào trong
Người”.
Sự biến
đổi bánh
và rượu
thành
Mình và
Máu Thánh
Chúa đưa
vào các
thụ tạo
một
nguyên
nhân biến
đổi tận
gốc,
giống như
một thứ
“bùng nổ
hạt
nhân”,
theo kiểu
nói quen
thuộc của
thời đại
chúng ta,
sự biến
đổi thấm
nhập vào
trong tâm
của thực
tại nhằm
khởi động
một tiến
trình
biến đổi
thực tại,
hướng tới
mục đích
cuối cùng
là biến
đổi toàn
thể vũ
trụ cho
đến khi
Thiên
Chúa là
tất cả
trong mọi
sự”
(x. 1 Cr
15,28)
.
Nhờ lời
cầu bầu
của Thánh
Phaolô,
chúng ta
cũng có
thể trở
thành
những
tông đồ
của Sự
Hiện Diện
Đích Thực
của Đức
Kitô
trong Bí
tích
Thánh Thể
trong thế
giới.
(Đức Giám
mục
Michael
Saltarelli,
Thư Mục
Vụ “Học
và sống
tinh thần
Thánh
Phaolô)
BÀI ĐỌC
THÊM (2)
TƯƠNG
QUAN GIỮA
THÁNH
PHAOLÔ
VÀ TÍN
HỮU THUỘC
CÁC CỘNG
ĐOÀN KITÔ
TIÊN KHỞI
(ĐỀ TÀI
7)
CỦA LINH
MỤC LINH
TIẾN KHẢI
Khi đề
cập tới
gương mặt
và cuộc
đời thánh
Phaolô,
chúng ta
không thể
bỏ qua
liên hệ
giữa
thánh
nhân và
tín hữu
thuộc các
cộng đoàn
Kitô tiên
khởi do
chính
ngài
thành lập
và nhọc
công vun
trồng.
Nhiều văn
bản trong
các thư
của ngài
chứng
minh cho
thấy
thánh
nhân là
một vị
chủ chăn
rất nhậy
cảm và
đầy nhiệt
huyết.
Chẳng hạn
khi chứng
minh cho
tín hữu
Côrintô
thấy tính
chất
trung
thực
trong sứ
mệnh thừa
tác để
chống lại
các người
vu khống
chống đối
ngài,
thánh
Phaolô đã
bất đắc
dĩ phải
nói về
những lao
công khổ
nhọc,
những âu
lo khắc
khoải và
cả những
điêu đứng
của ngài
nữa.
Thánh
nhân viết
trong
chương 11
thư thứ
hai gửi
cho họ:
“Ngoài
những cơ
cực bề
ngoài ấy,
tôi còn
phải ngày
đêm lo
lắng cho
các giáo
đoàn. Có
ai yếu
đuối mà
tôi không
cảm thấy
yếu đuối?
Có ai sa
ngã mà
tôi không
cảm thấy
như thiêu
như đốt?
Nếu cần
phải khoe
khoang,
thì tôi
chỉ khoe
khoang về
sự yếu
hèn của
tôi thôi”
(2 Cr
11,28-30).
Nghĩa là
ngoài các
hệ thống
tư tưởng
thần học
sâu sắc,
các thư
cũng còn
cho chúng
ta thấy
Phaolô là
một chủ
chăn đặc
biệt có
khả năng
chia sẻ
cuộc sống
của các
tín hữu,
giầu nhân
bản, biết
duy trì
các tương
quan liên
bản vị
sâu sắc
vững
vàng,
nhậy cảm
đối với
lòng
thương
mến và
tình bạn
một đôi
khi rất
đam mê và
gây hấn
nữa.
Trong
chương 2
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Thêxalônica,
Phaolô đã
dùng hình
ảnh cha
mẹ để
diễn tả
các liên
hệ của
ngài và
các cộng
sự viên
với tín
hữu. Ngài
gợi lại
thời gian
sống và
hoạt động
giữa họ
với những
lời lẽ
cảm động
như sau:
“Trong tư
cách là
tông đồ
của Chúa,
lẽ ra
chúng tôi
được
quyền đòi
hỏi anh
chị em
phải
trọng
đãi.
Nhưng
chúng tôi
đã ăn ở
khiêm tốn
giữa anh
chị em,
như người
mẹ săn
sóc con
mình.
Chúng tôi
tha thiết
yêu mến
anh chị
em. Chúng
tôi không
chỉ ước
ao cống
hiến cho
anh chị
em Tin
Mừng của
Chúa, mà
còn muốn
hiến dâng
cả mạng
sống
chúng tôi
cho anh
chị em
nữa.
Chúng tôi
đã vất vả
khó nhọc
thế nào
chắc anh
chị em
còn nhớ.
Đang lúc
chúng tôi
rao giảng
Tin Mừng
cho anh
chị em,
chúng tôi
cũng đã
phải làm
việc ngày
đêm, để
không
phải
phiền lụy
ai trong
anh chị
em. Có
anh chị
em và
Thiên
Chúa làm
chứng đó.
Chúng tôi
đã ăn ở
trước mặt
anh chị
em và các
tín hữu
một cách
thánh
thiện,
công
chính,
không có
gì đáng
chê
trách.
Anh chị
em cũng
đã biết
chúng tôi
cư xử với
mỗi người
với tình
cha con.
Chúng tôi
đã khuyên
bảo, an
ủi và đã
nài xin
anh chị
em sống
xứng đáng
với Thiên
Chúa,
Đấng đã
gọi anh
chị em
vào hưởng
vinh
quang
trong
Nước của
Ngài” (1
Ts
2,8-12).
Liên hệ
của thánh
nhân với
tín hữu
cộng đoàn
Côrintô
đã thiết
tha và
khổ đau
nhất.
Nhưng
lòng
thương
mến sẽ
luôn luôn
là động
lực thúc
đẩy ngài,
ngay cả
khi có
phải
nghiêm
nghị cảnh
cáo họ đi
nữa.
Chẳng hạn
ngài viết
trong
chương 2
thứ thứ
hai gửi
cho họ:
“Thật ra
tôi đã
viết
những
dòng này
cho anh
chị em
trong khổ
đau, với
tâm lòng
đầy âu lo
và tràn
trề nước
mắt.
Không
phải để
làm cho
anh chị
em buồn
sầu,
nhưng là
để cho
anh chị
em biết
tình yêu
thương vô
bờ của
tôi đối
với anh
chị em”
(2 Cr
2,4).
Trong
chương 11
cùng thư
Phaolô so
sánh mình
với một
người làm
mai mối,
đã hứa
hôn tín
hữu
Côrintô
với Chúa
Giêsu,
nên ghen
tương khi
thấy họ
phản bội
Chúa Kitô
là hôn
phu của
họ: “Thật
thế, đối
với anh
chị em
tôi cảm
thấy ghen
tương như
Thiên
Chúa ghen
tương. Vì
tôi đã
đính hôn
anh chị
em với
một vị
hôn phu
duy nhất
để giới
thiệu anh
chị em
với Chúa
Kitô như
giới
thiệu một
trinh nữ
thanh
khiết” (2
Cr 11,2).
Mọi hình
ảnh ấy
chứng
minh cho
thấy
Phaolô
yêu
thương
tín hữu
thật tình
và vô vị
lợi. Do
đó thánh
nhân viết
trong
chương 12
cùng thư:
“Phần
tôi, tôi
sẵn lòng
tiêu dùng
mọi thứ
tôi có,
và hoàn
toàn tiêu
hao chính
mình vì
anh chị
em. Cho
dù tôi có
yêu mến
anh chị
em nhiều
như thế
mà anh
chị em ít
thương
mến tôi,
thì thôi
cũng
không hệ
gì đâu”
(2 Cr
12,15).
Tuy
nhiên,
nói thì
nói thế,
chứ thật
tình
Phaolô
muốn rằng
tình yêu
thương ấy
phải là
tình yêu
thương
hai
chiều. Vì
vậy trong
chương 6
thứ thứ
hai gửi
tín hữu
Côrintô
thánh
nhân mới
nhắn nhủ
họ như
sau: “Anh
chị em
Côrintô,
chúng tôi
đã thẳng
thắn nói
chuyện
với anh
chị em và
con tim
chúng tôi
rộng mở,
chứ không
đóng kín
hạn hẹp.
Trái lại
chính tâm
lòng của
anh chị
em hẹp
hòi. Hãy
đáp trả
lại sự
rộng rãi
của chúng
tôi. Tôi
nói với
anh chị
em như
nói với
con cái,
hãy rộng
mở con
tim cho
chúng
tôi” (2
Cr
6,11-13).
Riêng đối
với tín
hữu Galát
Phaolô
vừa cảm
động nhắc
lại sự
tiếp đón
quảng đại
chân tình
mà họ đã
dành cho
ngài
trước
đây. Lần
đầu tiên
khi tới
rao giảng
Tin Mừng
cho họ,
dù thánh
nhân ốm
yếu bệnh
hoạn, họ
cũng
không
khinh chê
hay từ
chối,
trái lại
đã tiếp
nhận ngài
như thiên
sứ Chúa
gửi tới
để loan
báo sự
thật cứu
độ cho
họ. Họ đã
thương
mến
Phaolô
tới độ
giá có
phải móc
mắt mà
cho ngài,
họ cũng
chẳng
lưỡng lự.
Thế mà
giờ đây
chỉ vì
thánh
nhân cảnh
cáo họ
đừng mắc
bẫy các
người thù
hằn và
chống đối
thánh
nhân,
muốn
chiếm cảm
tình của
họ bằng
cách chia
rẽ họ và
các liên
hệ tốt
đẹp giữa
họ và
thánh
nhân, mà
họ thay
lòng đổi
dạ, coi
người đã
loan báo
Tin Vui
cứu độ
cho họ
như thù
địch.
Thật
chẳng còn
gì đau
đớn hơn
như
Phaolô
viết
trong
chương
4,13-17.
Tình
thương
mến đối
với tín
hữu cũng
khiến cho
Phaolô
sung
sướng khi
biết rằng
họ sống
lòng tin
kiên vững
và vẫn
thương
nhớ ngài.
Trong
chương 3
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Thêxalônica
Phaolô
viết:
“Giờ đây
Timôtêô
đã từ giã
anh chị
em mà trở
về với
chúng
tôi, và
đem tin
vui liên
quan tới
lòng tin
và lòng
mến của
anh chị
em, cũng
như cho
chúng tôi
biết rằng
anh chị
em nhớ và
ước mong
gặp lại
chúng tôi
cũng như
chúng tôi
mong ước
gặp lại
anh chị
em”. Với
tín hữu
Côritnô
Phaolô
khen ngợi
họ đã nhớ
tới ngài
trong mọi
trường
hợp và
duy trì
các
truyền
thống
lòng tin
như ngài
đã thông
truyền
cho họ (1
Cr 11,2).
Sau cùng
lòng
thương
mến hiệp
thông ấy
được tỏ
hiện ra
trong các
lời
nguyện mà
thánh
Phaolô
hằng dâng
lên Thiên
Chúa để
khẩn cầu
cho các
cộng đoàn
tín hữu
do ngài
thành
lập.
Chính
Phaolô
cho tín
hữu biết
điều đó
trong các
thư gửi
cho họ.
Điển hình
như trong
chương 3
thư thứ
nhất gửi
giáo đoàn
Thêxalônica,
chương 1
thư gửi
giáo đoàn
Roma và
chương 1
thư gửi
tín hữu
Philiphê
(1 Ts
3,12-13;
Rm
1,9-10;
Pl 1,4).
Thánh
nhân cũng
thường
xin họ
nhớ tới
ngài
trong lời
cầu
nguyện (1
Ts 5,25;
2 Cr
1,11; Rm
15,30-32).
Chẳng hạn
vào cuối
chương 15
thư gửi
giáo đoàn
Roma
Phaolô
viết:
“Nhân
danh Chúa
Giêsu
Kitô,
Chúa
chúng ta
và nhân
danh Chúa
Thánh
Thần là
nguồn yêu
thương,
tôi nài
xin anh
chị em
cùng
chiến đấu
với tôi
qua lời
cầu, mà
anh chị
em dâng
lên Thiên
Chúa để
khẩn cầu
cho tôi,
để tôi
thoát
khỏi tay
các kẻ
bất tín
vùng
Giuđa và
để cho
tín hữu
Giêrusalem
vui lòng
chấp nhận
đồ cứu
trợ tôi
đem tới
cho họ”
(Rm
15,30-31).
Có thể
nói
Phaolô
chẳng yên
tâm khi
phải rời
xa các
tín hữu
của ngài.
Vì thế
nên thánh
nhân luôn
luôn muốn
nhận được
tin tức
của họ,
để biết
rằng mọi
chuyện
trong
cộng đoàn
xuôi chảy
và đồng
thời cũng
là để
được an
ủi vì
tình liên
đới của
họ. Do đó
Phaolô
gửi các
cộng sự
viên thay
ngài thăm
viếng các
tín hữu.
Trong lúc
lưu lại
Côrintô,
thánh
nhân lo
lắng cho
số phận
của tín
hữu
Thêxalônica,
mà ngài
đã phải
vội vàng
rời bỏ,
vì người
do thái
tại đây
truy nã
ngài.