ĐỀ TÀI
IV
NÂNG
CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ
TRONG
NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
CÁCH
TIỀN
HÀNH
VIỆC HỌC
HỎI VÀ
CHIA SẺ
ĐỀ TÀI
IV
Tiết 1
(45
phút):
Bước 1:
Thuyết
trình
viên
trình
bày Đề
Tài IV
“NÂNG
CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ
TRONG
NĂM
THÁNH
PHAOLÔ.”
Tiết 2
(45
phút):
Bước 2:
Các tham
dự viên
chia sẻ
kinh
nghiệm
nâng cao
thánh
giá
trong
đời sống
cá nhân
và đời
sống
phục vụ
cộng
đoàn của
mình.
Bước 3:
Linh mục
chủ trì
phát
biểu ý
kiến.
PHẦN THỨ
NHẤT
NÂNG CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ
TRONG
NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[TRÌNH
BÀY]
I. VÀO
ĐỀ
Nói đến
ơn cứu
độ của
Thiên
Chúa
cũng như
nói đến
Chúa
Giêsu
Kitô thì
không
thể
không
nói đến
cuộc Khổ
Nạn
(Thương
Khó) và
Thập giá
của Chúa
Giêsu
Kitô. Vì
với
Thiên
Chúa và
Chúa
Giêsu
Kitô thì
Thập giá
là biểu
hiện của
một Tình
Yêu thần
linh tột
cùng và
tuyệt
diệu
trong kế
hoạch
Thiên
Chúa cứu
độ nhân
loại.
Nói đến
các
Thánh,
nhất là
Thánh
Phaolô,
thì cũng
không
thể
không
nói đến
Thập
giá. Vì
với các
Thánh -
và nhất
là với
Thánh
Phaolô -
thì thập
giá là
dấu
chứng
của một
tâm hồn
và cuộc
sống
thánh
thiện,
kết hiệp
mật
thiết
với
Thiên
Chúa.
Còn với
các Kitô
tầm
thường
như
chúng ta
thì thập
giá là
con
đường
dẫn
chúng ta
tới Chúa
Giêsu
Kitô là
Cứu Chúa
của
chúng
ta. Thập
giá cũng
là con
đường mà
chúng ta
không
thể
không
bước vào
vì Thầy
Giêsu
của
chúng ta
đã đi
vào con
đường
ấy. Thập
giá là
con
đường an
toàn,
bảo đảm,
vững
chắc và
ngắn
nhất!
Vi thế
mà trong
6 đề tài
học hỏi,
chia sẻ
và thực
hành
trong
Năm
Thánh
Phaolô
phải có
chỗ cho
đề tài
“NÂNG
CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ.”
II. THÂN
BÀI
2.1
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ
TRONG
CUỘC ĐỜI
CỦA
THÁNH
PHAOLÔ.
2.1.1
Trước
biến cố
trên
đường
Đamát.
Trước
khi trở
lại tức
trước
lúc gặp
Chúa
Giêsu
Kitô
Phục
Sinh
trên
đường
Đamát,
Phaolô
nhìn
thập giá
với não
trạng
hay quan
niệm của
một
người Do
Thái và
của một
người
Roma. Bà
Chantal
Reynier,
nữ tiến
sĩ thần
học và
giáo sư
môn chú
giải Tân
ước tại
Centre
Sèvres ở
Paris,
có nhận
định về
hai quan
niệm này
như sau:
“Cây gỗ
trên đó
Ðức
Giêsu bị
treo là
một vật
gia hình
tàn ác
và ô
nhục.
Ðối với
người
Rôma,
hình
phạt ấy
bất xứng
ngay cả
với công
dân đáng
khinh bỉ
nhất của
họ; nó
dành cho
những
tên nô
lệ.
Người ta
có thể
hiểu dễ
dàng tại
sao kẻ
bị treo
trên
thập giá
dầu thế
nào đi
nữa cũng
không
thể là
một vị
thần,
cũng
không
thể là
một
trong
những vị
thần ẩn
tàng
thỉnh
thoảng
ghé thăm
trái
đất,
càng
không
thể là
một vị
anh hùng
biết
cách
biến
hình đổi
dạng.
Dám coi
kẻ chịu
đóng
đinh
thập giá
là một
vị thần,
đó thật
là một
sự điên
rồ.
Ðối với
người Do
Thái, kẻ
bị treo
(trên
thập
giá) là
một
người bị
Thiên
Chúa
chúc dữ
theo
khẳng
định của
Ðnl
21,22-23
(1).
Chướng
ngại này
được
nhân đôi
nếu kẻ
bị treo
này tự
xưng là
đấng
Mêsia
muôn dân
trông
đợi.
Nói cách
khác,
“đối với
những kẻ
này,
ngôn ngữ
của thập
giá là
điên rồ,
một sự
vô nghĩa
tuyệt
đối, một
sự phi
lý; đối
với
những kẻ
khác, đó
là một
chướng
ngại,
một cớ
vấp phạm
(1 Cr
1,23).
Như thế,
thập giá
là cái
lật đổ
các nền
văn hóa
ngay
chính
tại điểm
các nền
văn hoá
ấy đang
trông
chờ
(hoặc sự
khôn
ngoan
hoặc
đấng
Mêsia)”
(2).
2.1.2
Sau biến
cố trên
đường
Đamát.
2.1.2.1
Sau khi
trở lại
tức sau
lúc gặp
Chúa
Giêsu
Kitô
Phục
Sinh
trên
đường
Đamát,
Phaolô
đã khẳng
định sự
chọn lựa
dứt
khoát và
triệt để
của
ngài:
«Trong
khi
người Do
Thái đòi
hỏi
những
điềm
thiêng
dấu lạ,
còn
người Hy
Lạp tìm
kiếm lẽ
khôn
ngoan,
thì
chúng
tôi lại
rao
giảng
một Đấng
Kitô bị
đóng
đinh,
điều mà
người Do
Thái coi
là ô
nhục
không
thể chấp
nhận, và
dân
ngoại
cho là
điên
rồ.”
(1 Cr
1,22-23).
Ngài còn
tuyên bố
là vô
ích, là
hão
huyền
một đức
tin muốn
chối bỏ
sự Phục
Sinh của
Chúa
Giêsu
Kitô tức
chối bỏ
giá trị
của cái
chết
Thập giá
của Chúa
Giêsu,
vì Chúa
Giêsu có
chết
trên
Thập giá
để cứu
chuộc
nhân
loại thì
mới được
Thiên
Chúa Cha
làm cho
trỗi dậy
tức phục
sinh!
2.1.2.2
Thánh
Phaolô
còn sống
mật
thiết
gắn bó
với Đấng
bị treo
trên cây
gỗ:
«Tôi đã
không
muốn
biết đến
chuyện
gì khác
ngoài
Ðức
Giêsu
Kitô, mà
là Giêsu
Kitô
chịu
đóng
đinh »
(1 Cr
2,2), và
“Tôi
sống,
nhưng
không
còn phải
là tôi,
mà là
Đức Kitô
sống
trong
tôi.”
(Gl
2,20).
2.1.2.3
Thánh
Phaolô
chấp
nhận mọi
gian
nan,
khốn khó
để rao
giảng
Chúa
Giêsu
Kitô bị
đóng
đinh
thập giá
và chứng
tỏ tình
yêu của
ngài đối
với Chúa
Giêsu
Kitô:
Họ là
người
phục vụ
Đức Kitô
ư? Tôi
nói như
người
điên:
tôi còn
hơn họ
nữa! Hơn
nhiều vì
công
khó, hơn
nhiều vì
ở tù,
hơn gấp
bội vì
chịu
đòn, bao
lần suýt
chết.
Năm lần
tôi bị
người Do
Thái
đánh bốn
mươi roi
bớt một;
ba lần
bị đánh
đòn; một
lần bị
ném đá;
ba lần
bị đắm
tàu; một
đêm một
ngày
lênh
đênh
giữa
biển
khơi!
Tôi còn
hơn họ,
vì phải
thực
hiện
nhiều
cuộc
hành
trình,
gặp bao
nguy
hiểm
trên
sông,
nguy
hiểm do
trộm
cướp,
nguy
hiểm do
đồng
bào,
nguy
hiểm vì
dân
ngoại,
nguy
hiểm ở
thành
phố,
trong sa
mạc,
ngoài
biển
khơi,
nguy
hiểm do
những kẻ
giả danh
là anh
em. Tôi
còn phải
vất vả
mệt
nhọc,
thường
phải
thức
đêm, bị
đói
khát,
nhịn ăn
nhịn
uống và
chịu rét
mướt
trần
truồng.
Không kể
các điều
khác,
còn có
nỗi ray
rứt hằng
ngày của
tôi là
mối bận
tâm lo
cho tất
cả các
Hội
Thánh!
Có ai
yếu đuối
mà tôi
lại
không
cảm thấy
mình yếu
đuối? Có
ai vấp
ngã mà
tôi lại
không
cảm thấy
lòng sôi
lên?
(2 Cr
11,23-25).
2.1.2.4
Thánh
Phaolô
không
chỉ rao
giảng
Chúa
Giêsu
Kitô bị
đóng
đinh
thập giá
mà ngài
còn cùng
chịu
đóng
đinh vào
thập giá
với Chúa
Giêsu
Kitô :
«Tôi
cùng
chịu
đóng
đinh với
Đức Kitô
vào thập
giá.”
(Gl
2,19).
2.2 MỌI
KITÔ HỮU
ĐỀU ĐƯỢC
MỜI NÂNG
CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ
TRONG
ĐỜI
MÌNH.
2.2.1
Thế nào
là nâng
cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
Kitô
hữu?
Nâng cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
Kitô hữu
gồm
những
nội dung
sau đây:
2.2.1.1
Nâng cao
Thánh
giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
Kitô hữu
là nhìn
nhận ý
nghĩa và
giá trị
cứu
chuộc
của Thập
giá của
Chúa
Giêsu
Kitô,
tức
nhìn
nhận
rằng nhờ
Đức
Giêsu đã
chết
trên
thập giá
mà mình
được ơn
cứu
chuộc.
Vì Chúa
Giêsu đã
phục
sinh sau
khi bị
treo
trên cây
gỗ ấy và
vì Người
là Con
Một
Thiên
Chúa,
nên thập
giá của
Người
mới có
giá trị
cứu
chuộc,
mới trở
thành
Thánh
Giá đối
với các
kẻ tin.
Bà
Chantal
Reynier
viết về
ý nghĩa
và giá
trị của
Thánh
giá như
sau:
«Khi
nhấn
mạnh đến
phong
cách
chết "và
chết
trên
thập
giá" (Pl
2, 8),
Phaolô
nêu lên
tính
chất đặc
thù của
cái chết
ấy; cái
chết ấy
là một
cái chết
ô nhục
mà người
Con nhận
lãnh vì
tình yêu
đối với
Cha của
Người và
đối với
chúng
ta. Như
vậy cái
chết đó
là cái
chết
hiến
dâng nhờ
đó tỏ
bày tình
yêu của
Con đối
với Cha
và đối
với
chúng
ta. Ðức
Giêsu
chấp
nhận làm
một
người bị
chúc dữ
(trước
mắt
những
người Do
Thái),
làm một
kẻ ngu
dại
(trước
mắt
những
người
Rôma),
đang khi
Người là
kẻ được
Thiên
Chúa
chúc
phúc, là
đấng
Mêsia,
là người
Con, kẻ
cho ta
hưởng
muôn vàn
ân phúc
(Ep
1,3).
Khi dùng
cái chết
trên
thập giá
để mặc
khải một
sự dâng
hiến đi
tới chỗ
tột cùng
của nhục
nhã và
đau khổ,
Người
lật đổ
mọi tiên
thức về
Thiên
Chúa và
về con
người»
(3).
2.2.1.2
Nâng
cao
Thánh
giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
Kitô
hữu là
ý thức
về tội
lỗi
(tội
nguyên
tổ và
tội cá
nhân)
là
nguyên
nhân của
cái chết
của Chúa
Giêsu
Kitô.
Nói
cách
khác
Chúa
Giêsu
Kitô đã
chết
trên
thập giá
để xóa
sạch mọi
tội lỗi
của nhân
loại (4)
và chuộc
con
người
lại cho
Thiên
Chúa,
làm hòa
con
người
với
Thiên
Chúa.
2.2.1.3
Nâng cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
Kitô
hữu, là
rao
truyền
Mầu
Nhiệm
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
tức rao
giảng
Chúa
Giêsu
Kitô bị
đóng
đinh
thập giá
để cứu
chuộc
nhân
loại.
Rao
truyền
không
chỉ bằng
lời mà
bằng cả
cuộc
sống, cá
nhân và
cộng
đoàn.
2.2.1.4
Nâng cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
Kitô
hữu là
thông
hiệp với
Chúa
Giêsu
Kitô
chịu
đóng
đinh
thập giá
bằng
cách
chấp
nhận
chết cho
con
người cũ
(là con
nguời
tội lỗi,
bất
hiếu,
bất
trung)
để sông
cuộc
sống mới
của Đấng
Phục
Sinh,
như
Thánh
Phaolô
đã dậy
trong
thư gửi
tín hữu
Roma:
“Vậy
tội lỗi
đừng có
thống
trị thân
xác phải
chết của
anh em
nữa,
khiến
anh em
phải
nghe
theo
những
dục vọng
của thân
xác. Anh
em đừng
dùng chi
thể của
anh em
như khí
cụ để
làm điều
bất
chính,
phục vụ
cho tội
lỗi nữa.
Trái
lại, anh
em là
những
người
sống đã
từ cõi
chết trở
về, anh
em hãy
hiến
toàn
thân cho
Thiên
Chúa, và
dùng chi
thể của
anh em
như khí
cụ để
làm điều
công
chính,
phục vụ
Thiên
Chúa.
Tội lỗi
sẽ không
còn
quyền
chi đối
với anh
em nữa,
vì anh
em không
còn lệ
thuộc
vào Lề
Luật,
nhưng lệ
thuộc
vào ân
sủng.”
(Rm
5,12-14).
2.2.2
Nâng cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
cá nhân
và phục
vụ cộng
đoàn của
giáo dân
nòng
cốt.
2.2.2.1
Nâng cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
cá nhân
của giáo
dân
nòng cốt
là
tự
nguyện
đi vào
con
đường
hẹp của
Phúc âm
là con
đường hy
sinh, từ
bỏ,
khiêm
nhường,
tự hạ,
cống
hiến,
chịu
thiệt
thòi và
mất mát
vì tình
yêu (yêu
Chúa và
yêu
người)
như hạt
lúa chấp
nhận
thối rữa
trong
lòng đất
để cây
vươn lên
và cho
nhiều
bông
trái.
Chọn con
đường
hẹp là
chọn con
đường
sống như
lời của
Chúa
Giêsu
trong
Phúc Âm:
“Rồi Đức
Giêsu
nói với
các môn
đệ: "Ai
muốn
theo
Thầy,
phải từ
bỏ chính
mình,
vác thập
giá mình
mà theo.
Quả vậy,
ai muốn
cứu mạng
sống
mình,
thì sẽ
mất; còn
ai liều
mất mạng
sống
mình vì
Thầy,
thì sẽ
tìm được
mạng
sống ấy.
Vì nếu
người ta
được cả
thế giới
mà phải
thiệt
mất mạng
sống,
thì nào
có lợi
gì? Hoặc
người ta
sẽ lấy
gì mà
đổi mạng
sống
mình?”
(Mt
16,24-26).
Chọn con
đường
hẹp
không
phải là
chúng ta
coi
thường
hay xem
khinh
những
giá trị
của các
thực tại
trần thế
mà chúng
ta đặt
chúng
vào đúng
bậc
thang
giá trị
của
chúng mà
thôi.
Đối với
con
người
thì giá
trị nhân
linh
(human)
cao hơn
giá trị
vật
chất,
thể lý
(material,
physical).
Đối với
Kitô hữu
thì giá
trị tâm
linh
(spiritual)
cao
trọng
hơn tất
cả các
giá trị
vật
chất,
thể lý
và nhân
linh.
2.2.2.2
Nâng cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
phục vụ
cộng
đoàn
của giáo
dân nòng
cốt
là
xác định
thái độ
và cung
cách
phục vụ
của mình
là làm
tôi tớ
của mọi
người
như Chúa
Giêsu đã
dậy
trong
Phúc Âm:
“Nhưng
Đức
Giêsu
gọi các
ông lại
và nói:
"Anh em
biết:
thủ lãnh
các dân
thì dùng
uy mà
thống
trị dân,
những
người
làm lớn
thì lấy
quyền mà
cai quản
dân.
Giữa anh
em thì
không
được như
vậy: Ai
muốn làm
lớn giữa
anh em,
thì phải
làm
người
phục vụ
anh em.
Và ai
muốn làm
đầu anh
em thì
phải làm
đầy tớ
anh em.
Cũng như
Con
Người
đến
không
phải để
được
người ta
phục vụ,
nhưng là
để phục
vụ và
hiến
dâng
mạng
sống làm
giá
chuộc
muôn
người."
(Mt
20,25-28).
Là giáo
dân nòng
cốt (cán
bộ/lãnh
đạo)
trong
giáo xứ,
cộng
đoàn,
hội đoàn
không
phải là
để chúng
ta nổi
danh,
nổi
tiếng mà
để Chúa
Giêsu và
Thiên
Chúa
được
vinh
danh,
các tín
hữu được
dồi dào
ân sủng
và lương
dân nhận
biết
Thiên
Chúa là
Cha, là
Tình
Yêu, là
Cứu
Chúa!
Câu châm
ngôn của
chúng ta
là lời
của
Thánh
Gioan
Tiền Hô:
“Người
phải nổi
bật lên,
còn thầy
phải lu
mờ đi”
(Ga
3,30).
III. KÊT
LUẬN
Để kết
luận tôi
xin chia
sẻ một
kinh
nghiệm
cá nhân
còn kéo
dài
trong
hơn ba
muơi năm
qua: Vào
khoảng
cuối năm
1975 đầu
năm
1976,
tôi được
giới
thiệu
vào làm
trong
nhà máy
Thuốc Lá
Vĩnh
Hội,
Quận 4
Sàigòn.
Nhưng
đến năm
1979,
tôi bắt
buộc
phải xin
nghỉ vì
nạn «kỳ
thị lý
lịch»
của giới
lãnh đạo
nhà máy
(và của
chế độ).
Tôi thấy
mình bị
oan ức
vì không
được làm
việc như
người
công dân
bình
thường
mà lại
còn bị
nghi kỵ
nữa. Tôi
cảm nhận
rằng
những
người
công
giáo như
tôi
không
được đón
nhận bởi
những
người
cộng sản
nắm
quyền
cai trị
đất
nước.
Cũng vào
thời
gian ấy,
tôi bị
một số
bạn bè,
họ hàng,
bề trên
nghi ngờ
là người
thân
cộng, là
đảng
viên nằm
vùng.
Thậm chí
có người
còn bịa
chuyện
là những
năm ở Âu
châu
(1969-1971),
tôi đã
gia nhập
đảng
cộng sản
Pháp,
nay về
Việt Nam
hoạt
động. Sự
thực là
trong
vài năm
tôi sống
ở Âu
châu là
để được
đào tạo
(nhà thử
và nhà
tập)
trong
dòng
Tiểu Đệ
của Chân
Phuớc
Charles
de
Foucauld
và chỉ
có thế
thôi.
Trong
khi
những
người
của bộ
máy
chính
quyền
lại nghi
ngờ tôi
là nhân
viên
C.I.A.được
cài lại.
Tôi lâm
vào cảnh
bị hiểu
lầm, bị
nghi ngờ
và e
ngại và
thậm chí
bị xa
lánh và
loại trừ
từ cả
hai
phía: xã
hội và
giáo
hội. Tôi
không
biết
đường
nào mà
đi, làm
thế nào
mà sống!
Có thể
nói là
tôi rơi
vào
khủng
hoảng
tinh
thần và
tâm
linh.
Vào lúc
ấy tôi
may mắn
gặp được
một cuốn
sách rất
hay có
tựa đề
là
«THIÊN
CHÚA BỊ
ĐÓNG
ĐINH
THẬP
GIÁ»
(DIEU
CRUCIFIÉ)
của nhà
thần học
Tin Lành
người
Đức nổi
tiếng là
Moltmann.
Trong
sách,
tác giả
đã phân
tích rất
sâu sắc
ý nghĩa
của việc
Chúa
Giêsu,
Con Một
Thiên
Chúa và
là Thiên
Chúa bị
đóng
đinh
thập giá
để cứu
chuộc
nhân
loại. Từ
đó tác
giả rút
ra những
hệ luận
cho thân
phận của
những
người
Kitô hữu
là môn
đệ của
Chúa
Giêsu:
Theo lô
gích thì
người
Kitô hữu
phải
chịu
chung
một số
phận (bị
hiểu
lầm, vu
khống,
kết án,
đánh
đòn,
loại trừ
và bị
giết)
như Chúa
Kitô là
Thầy và
là Chúa
của
mình!
Cuốn
Sách
«Thiên
Chúa bị
đóng
đinh
thập
giá» đã
đem lại
cho tôi
ánh sáng
và sức
mạnh.
Tôi hiểu
rằng
thân
phận của
tôi với
tư cách
là một
Kitô hữu
thì phải
là như
vậy. Tôi
tìm thấy
hạnh
phúc
trong
đau khổ,
vì tôi
được nên
giống
Chúa
Giêsu
Kitô
hơn,
điều mà
tôi hằng
khát
khao
trong
những
năm ở
Chủng
Viện và
Dòng
Tiểu Đệ
Phúc Âm
Charles
de
Foucauld.
Dần dần
tôi lấy
lại được
sự bình
an và
lạc
quan,
tin
tưởng.
Có thể
xem đây
là «cuộc
trở lại»
hay «đổi
đời» của
tôi,
theo
hướng
chấp
nhận
thân
phận của
người
môn đệ
Chúa
Giêsu
Kitô và
con
đường
Thập Giá
là con
đường
tôi phải
đi, vì
chính
Chúa
Giêsu
Kitô đã
đi con
đường ấy
và mời
gọi
những ai
muốn
theo
Người đi
theo con
đường
ấy! Sự
kiện này
chẳng
những
giúp tôi
thoát
khỏi
cuộc
khủng
hoảng
của
những
năm
75-80 mà
còn giúp
tôi
«kiên
vững»
trong
cuộc
sống
những
năm sau
này,
thậm chí
ngay cả
ngày hôm
nay.
Cuộc
sống của
tôi gặp
rất
nhiều
khó
khăn,
ghen tỵ,
hiểu
lầm,
nghi kỵ,
thành
kiến,
suy diễn
và vu
khống
của
những
người
xung
quanh,
kể cả
của một
số bạn
bè và bề
trên...
Nhưng
nhờ có
ánh sáng
của Mầu
Nhiệm
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô soi
chiếu mà
tôi
không
gục ngã
và thất
vọng...
trái lại
vẫn hăng
say
nhiệt
thành
phục vụ
Giáo Hội
và xã
hội. Cảm
tạ Thánh
Giá Chúa
Kitô
Giêsu!
…………..
Ghi chú
(1) Đnl
21,22-23:
«Khi một
người có
tội đáng
phải án
chết đã
bị xử
tử, và
anh (em)
đã treo
nó lên
cây, thì
xác nó
không
được để
qua đêm
trên
cây,
nhưng
anh (em)
phải
chôn
ngay hôm
ấy, vì
người bị
treo là
đồ bị
Thiên
Chúa
nguyền
rủa. Anh
(em)
không
được làm
cho đất
của anh
(em) ra
ô uế,
đất mà
Đức
Chúa,
Thiên
Chúa của
anh
(em),
ban cho
anh (em)
làm gia
nghiệp.»
(2)
Chantal
Reynier,
Une
lecture
de Paul
(Paris,
Cerf
1995).
(3) Như
trên.
(4) Hôm
sau, ông
Gioan
thấy Đức
Giêsu
tiến về
phía
mình,
liền
nói:
"Đây là
Chiên
Thiên
Chúa,
đây Đấng
xóa bỏ
tội trần
gian.»
(Ga
1,29).
PHẦN THỨ
HAI
NÂNG CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
GIÊSU
KITÔ
TRONG
NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[CHIA SẺ
KINH
NGHIỆM]
1. Cách
tổ chức
Chia các
tham dự
viên làm
nhiều
Nhóm/Tổ.
Mỗi tổ
chừng
10-12
người,
có một
người
điều
phối
buổi
chia sẻ,
không
cần
người
ghi chép
và báo
báo cáo
lại.
2. Câu
hỏi gợi
ý
Anh chị
em nào
trong
chúng ta
cũng có
kinh
nghiệm
về nâng
cao
Thánh
giá của
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
đời sống
cá nhân,
gia đình
và cộng
đoàn của
mình.
Xin mỗi
người
chia sẻ
với
những
anh chị
em cùng
tham dự
buổi học
hỏi,
chia sẻ
và cầu
nguyện
của
chúng ta
hôm nay,
một kinh
nghiệm
sâu sắc,
và tác
động
mạnh mẽ
& lâu
dài
nhất.
3. Những
yếu tô
cần quan
tâm khi
chia sẻ
Khi chia
sẻ kinh
nghiệm
riêng
của mình
xin mỗi
người
nêu rõ
các yếu
tô sau
đây liên
quan tới
kinh
nghiệm
«Nâng
cao
Thánh
Giá của
Chúa
Giêsu
Kitô»
của
mình :
3.1 Bối
cảnh
3.2
Cường độ
3.3 Sức
mạnh
nâng đỡ
và
3.4 Kết
quả
3.5 Bài
học rút
ra được
từ kinh
nghiệm
ấy.
Ghi chú:
Nếu số
người
tham dự
quá đông
hoặc
không có
đủ phòng
ốc hoặc
thời
gian thì
có thể
chia sẻ
tại chỗ
từng 4-5
người
thành
một
nhóm.
PHẦN THỨ
BA
BÀI ĐỌC
THÊM (1)
NÂNG CAO
THÁNH
GIÁ CỦA
CHÚA
KITÔ
TRONG
NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[GỢI Ý
CỦA ĐỨC
CHA
MICHAEL
SALTARELLI,
GIÁM MỤC
WILMINGTON]
“Tôi
nhất
quyết
rằng khi
nào tôi
còn ở
cùng anh
chị em,
thì tôi
sẽ không
nói về
một điều
nào khác
ngoài
Chúa
Giêsu và
Đấng
Chịu
Đóng
Đinh”
(1 Cr
2,2).
Thập giá
của Đức
Kitô nằm
ngay ở
trung
tâm của
mọi việc
Thánh
Phaolô
làm.
Ngài dạy
chúng ta
đương
đầu với
những
khó khăn
và đau
khổ
trong
cuộc
đời.
Thánh
Phaolô
đã trải
qua tất
cả: bị
từ bỏ,
chịu tai
họa, bị
coi
thường,
đắm tàu,
tù đày,
và cuối
cùng là
tử vì
đạo,
được
biểu
tượng
trong
nghệ
thuật
bằng
việc
ngài cầm
một
thanh
gươm
.
Thánh
Giá ảnh
hưởng
đến tất
cả mọi
liên
quan đến
Thánh
Phaolô.
Ngài
nói:
“Tôi
giảng
dạy về
Đức Kitô
và Đấng
Chịu
Đóng
Đinh.”
Thánh
Giá đã
biến đổi
giáo
huấn của
ngài và
cho phép
ngài
truyền
giáo cho
người
khác
bằng
cách
giúp họ
giải
thích ý
nghĩa
của sự
đau khổ
của
chính
họ. Ngài
cũng
dùng một
câu lạ
lùng:
“Tôi tự
hào
trong
Thánh
Giá của
Đức
Kitô”
(Gl
6,14).
Ngài đặt
Thánh
Giá của
Đức Kitô
trên cám
dỗ trở
nên tự
hào và
kiêu
căng.
Thánh
Giá là
nguồn
mạch
thật sự
của các
hiệu quả
của việc
tông đồ.
Các thư
của
Thánh
Phaolô
cho
chúng ta
thấy một
cá tính
chủ động
mãnh
liệt.
Văn liệu
trong
các thư
của ngài
cũng cho
thấy
việc
ngài
phấn đấu
với tính
nóng nảy
của
ngài. Dễ
bị tổn
thương,
ngài có
khuynh
hướng
răn đe,
nhất là
khi các
cộng
đoàn
Kitô hữu
tiên
khởi
không
sống
xứng hợp
với Tin
Mừng.
Cuộc
chiến
đấu nội
tâm của
ngài cho
chúng ta
can đảm
và sức
mạnh để
tiếp tục
phấn đấu
đối với
tính
tình và
sự nóng
nảy của
chúng
ta.
Cùng với
Thánh
Phaolô,
chúng ta
chiến
đấu một
cuộc
chiến
anh
hùng, cố
gắng làm
cho Tám
Mối
Phúc,
các nhân
đức đối
thần và
tự
nhiên,
các việc
làm
thương
linh hồn
và
thương
xác, và
nhất là
để Chúa
Cha,
Chúa Con
và Chúa
Thánh
Thần
thống
trị
chúng
ta. Chết
cho
chính
mình và
sống lại
trong
Đức
Kitô,
chúng ta
ôm lấy
Thánh
Giá và
nhớ
rằng:
“Đức ái
chấp
nhận tất
cả, tin
tất cả,
hy vọng
vào tất
cả, chịu
đựng tất
cả. Đức
ái không
bao giờ
mất
được”
(1 Cr
13,7-8).
Thánh
Giáo
hoàng
Clêmentê
I trong
thư của
ngài gửi
tín hữu
Côrintô,
đoạn 5
[
diễn tả
Thánh
Phaolô
tiến bộ
trong
những
phấn đấu
này như
thế nào:
“Nhờ
lòng
nhiệt
thành và
những va
chạm mà
Thánh
Phaolô
chỉ cho
chúng ta
thấy con
đường
đến phần
thưởng
của sự
kiên
trì.
Ngài bị
xiềng
xích 7
lần, bị
lưu đày,
bị ném
đá; là
một
người
tiền
phong cả
ở Đông
phương
lẫn Tây
phương,
ngài đã
được
tiếng
tốt nhờ
Đức Tin
của
mình.
Ngài dạy
sự công
chính
cho cả
thế
giới, và
ngài đã
đến tận
cùng của
thế giới
Tây
phương,
ngài làm
chứng
trước
mặt
những
người
quyền
thế; rồi
ngài từ
bỏ cõi
đời này
và được
đưa về
nơi
thánh,
một
gương
sáng
ngoại
hạng về
sự chịu
đựng.”
Thông
điệp gần
đây của
Đức
Thánh
Cha
Beneđictô
XVI về
Đức Cậy
tựa đề
Spe
Salvi
có nhiều
trích
dẫn về
cách
sống Đức
Cậy của
Thánh
Phaolô
khi ngài
ở trong
chốn lao
tù
[
và cho
chúng ta
thấy sự
linh
hứng mà
thủ bút
của ngài
cung cấp
cho các
Thánh
sau này
như
Thánh
Augustinô
Thánh Tử
đạo Lê
Bảo
Tịnh,
người
Việt Nam
(+1857)
và Thánh
Giôsêphine
Bakhita,
một nữ
tu người
Phi Châu
Trong
Năm
Thánh
Phaolô,
mỗi
người
chúng ta
được mời
gọi để
nâng cao
cây
Thánh
giá của
Đức Kitô
và vác
Thánh
giá này
bằng
lòng can
đảm,
quyết
tâm và
tín thác
vào kế
hoạch
quan
phòng
của
Thiên
Chúa của
Thánh
Phaolô
(Đức
Giám mục
Michael
Saltarelli,
Thư Mục
Vụ “Học
và sống
tinh
thần
Thánh
Phaolô)
BÀI ĐỌC
THÊM (2)
THẦN HỌC
VỀ THẬP
GIÁ CỦA
THÁNH
PHAOLÔ
[BÀI
GIÁO LÝ
MỚI X
CỦA ĐỨC
THÁNH
CHA
BÊNÊĐITÔ
VỀ THÁNH
PHAOLÔ]
Dưới đây
là bản
dịch bài
Huấn Từ
của Đức
Thánh
Cha
Bênêđictô
về Thánh
Phaolô
trong
buổi
triều
yết
chung
tại
Quảng
Trưởng
Thánh
Phêrô.
Hôm nay
Đức
Thánh
Cha tiếp
tục chu
kỳ Giáo
Lý về
Thánh
Phaolô.
****
Anh chị
em thân
mến,
Trong
kinh
nghiệm
cá nhân
của
Thánh
Phaolô,
có một
sự kiện
không
thể nào
chối cãi
được:
lúc ban
đầu ngài
là một
người
bắt đạo
và đã
dùng bạo
lực
chống
lại các
Kitô
hữu,
nhưng từ
khi trở
lại trên
đường đi
Đamascô,
ngài đã
đổi sang
phía Đức
Kitô
Chịu
Đóng
Đinh,
ngài đã
biến
Người
thành lý
do cho
đời sống
của ngài
và động
lực cho
việc rao
giảng
của
ngài.
Cuộc đời
của ngài
được
hiến
trọn để
cứu các
linh hồn
(x. 2 Cr
12,15),
ngài
chẳng
mấy khi
được
thanh
bình và
an toàn
khỏi
những
nguy
hiểm
cùng
những
khó
khăn.
Trong
cuộc gặp
gỡ Đức
Kitô,
ngài
biết rõ
ý nghĩa
trọng
tâm của
Thập
Giá:
Ngài đã
hiểu
rằng
Chúa
Giêsu đã
chết và
sống lại
cho mọi
người,
và cũng
cho
ngài. Cả
hai yếu
tố trên
đều quan
trọng và
phổ
quát:
Chúa
Giêsu
thật sự
đã chết
cho mọi
người,
và cách
chủ
quan:
Người
cũng đã
chết cho
tôi.
Như thế,
trong
Thập Giá
biểu lộ
tình yêu
nhưng
không và
từ bi
của
Thiên
Chúa.
Chính
Thánh
Phaolô
đã cảm
nghiệm
được
tình yêu
này
trước
hết (x.
Gl 2,20)
và đã từ
một
người
tội lỗi
trở
thành
người có
đức tin,
từ một
tên
khủng bố
thành
một Tông
Đồ. Ngày
này qua
ngày
khác,
trong
đời sống
mới của
ngài,
ngài cảm
nghiệm
được
rằng ơn
cứu độ
là ‘ân
sủng’,
và tất
cả đều
được đổ
xuống từ
cái chết
của Đức
Kitô chứ
không
phải nhờ
công
trạng
của
ngài, là
điều
không
thể có
được
trong
bất cứ
trường
hợp nào.
“Tin
Mừng về
ân sủng”
như thế
đối với
ngài trở
thành
một cách
duy nhất
để hiểu
Thập
Giá, là
tiêu
chuẩn
không
những
cho cuộc
sống mới
của
ngài, mà
còn là
câu trả
lời cho
những
người
chất vấn
ngài.
Trước
hết là
người Do
Thái,
những
người
đặt niềm
hy vọng
trên
việc làm
và mong
rằng
những
việc làm
ấy sẽ
cứu độ
họ, rồi
đến
những
người Hy
Lạp, là
những kẻ
đem sự
khôn
ngoan
loài
người
của họ
ra mà
đối chọi
với Thập
Giá,
cuối
cùng có
những
nhóm lạc
giáo, là
những
người
được
huấn
luyện
theo
những ý
tưởng
của họ
về Kitô
giáo
theo
khuôn
mẫu
riêng
của họ
về đời
sống.
Đối với
Thánh
Phaolô,
Thập Giá
có vai
trò ưu
tiên
thiết
yếu
trong
lịch sử
nhân
loại;
Thập Giá
là điểm
chính
yếu của
nền thần
học của
ngài,
bởi vì
nói về
Thập Giá
có nghĩa
là nói
về ơn
cứu độ
như ân
sủng mà
Thiên
Chúa ban
cho mọi
tạo vật.
Đề tài
Thập Giá
của Đức
Kitô trở
thành
một
nguyên
lý cần
thiết và
chính
yếu cho
việc rao
giảng
của
Thánh
Tông Đồ,
mà thí
dụ điển
hình
nhất
liên
quan đến
cộng
đoàn
Côrinthô.
Phải
đương
đầu với
một Hội
Thánh mà
ở đó có
những
cuộc nổi
loạn và
gương mù
đáng lo
ngại, là
nơi mà
sự hiệp
thông bị
đe dọa
bởi chia
rẽ nội
bộ và bè
phái, có
thể làm
rạn nứt
Nhiệm
Thể Đức
Kitô,
Thánh
Phaolô
hiện
diện với
họ không
bằng
những
lời cao
siêu hay
sự khôn
ngoan,
nhưng
bằng
việc rao
giảng
Đức
Kitô,
một Đức
Kitô
Chịu
Đóng
Đinh.
Sức mạnh
của ngài
không
phải là
ngôn ngữ
có sức
thuyết
phục,
nhưng
mâu
thuẫn
thay,
lại là
sự yếu
đuối và
run rẩy
của
những
người
chỉ biết
dựa vào
“quyền
năng của
Thiên
Chúa” (x
1 Cr
2,1-4).
Thập
Giá, vì
tất cả
những gì
nó tượng
trưng,
cũng như
của sứ
điệp
thần học
mà nó
chứa
đựng, là
chướng
ngại và
sự điên
rồ.
Thánh
Tông Đồ
quả
quyết
điều ấy
bằng một
cách
mạnh mẽ
khó
quên,
tốt hơn
là chúng
ta nghe
từ chính
lời
ngài:
“Quả
thật
lời rao
giảng về
Thập Giá
là một
sự điên
rồ đối
với
những kẻ
đang hư
mất,
nhưng
đối với
chúng ta
là những
người
được cứu
độ, thì
đó lại
là quyền
năng của
Thiên
Chúa...
Thiên
Chúa đã
vui lòng
dùng sự
điên rồ
của lời
rao
giảng để
cứu
những
người
tin.
Trong
khi
người Do
Thái đòi
hỏi
những
dấu lạ,
còn
người Hy
Lạp tìm
sự khôn
ngoan,
thì
chúng
tôi lại
rao
giảng
Đức Kitô
chịu
đóng
đinh,
một
chướng
ngại cho
người Do
Thái, và
một sự
điên rồ
đối với
Dân
Ngoại”
(1 Cr
1,18-23).
Những
cộng
đồng
Kitô hữu
tiên
khởi mà
Thánh
Phaolô
nói với,
biết rất
rõ rằng
Chúa
Giêsu đã
sống lại
và vẫn
còn đang
sống;
Thánh
Tông Đồ
muốn
nhắc nhở
không
những
chỉ
người
Côrinthô
hay
Galatê,
mà tất
cả chúng
ta, rằng
Đấng
Phục
Sinh
luôn
luôn là
Đấng Đã
Chịu
Đóng
Đinh.
“Chướng
ngại” và
“sự điên
rồ” của
Thập Giá
được tìm
thấy
chính ở
sự kiện
là ở đâu
xem ra
chỉ có
thất
bại, đau
đớn,
thua
thiệt,
thì ở đó
thực ra
lại là
tất cả
quyền
năng của
tình
thương
vô biên
của
Thiên
Chúa,
bởi vì
Thập Giá
là cách
diễn tả
tình
yêu, và
tình yêu
là quyền
năng
thật
được tỏ
lộ trong
sự yếu
đuối bề
ngoài
này. Đối
với
người Do
Thái,
Thập Giá
là một
skandalon,
nghĩa là
một tảng
đá làm
cho
người ta
vấp ngã:
Thập Giá
dường
như cản
trở đức
tin của
những
người
Israel
đạo đức,
là những
người đã
không
tìm được
điều gì
tương tự
trong
Thánh
Kinh.
Thánh
Phaolô,
với
nhiều
can đảm
dường
như muốn
nói ở
đây
rằngcó
một nguy
cơ rất
lớn: đối
với
người Do
Thái,
Thập Giá
trái
ngược
với
chính
bản chất
của
Thiên
Chúa, là
Đấng
luôn
luôn tỏ
mình ra
bằng
những
dấu hiệu
phi
thường.
Vì thế
chấp
nhận
Thập Giá
của Đức
Kitô là
trải qua
một cuộc
thay đổi
sâu xa
trong
cách
liên hệ
với
Thiên
Chúa.
Nếu đối
với
người Do
Thái, lý
do để
chối bỏ
Thập Giá
được tìm
thấy
trong
mặc
khải,
nghĩa là
trong
việc
trung
thành
với
Thiên
Chúa
Cha, thì
đối với
người Hy
Lạp, tức
là dân
ngoại,
tiêu
chuẩn để
chống
lại Thập
Giá nằm
ở lý
trí.
Thực ra
đối với
họ Thập
Giá là
sự chết,
là sự
điên rồ,
theo
nguyên
ngữ là
insipienza,
nghĩa là
thức ăn
không có
muối, vì
thế theo
nghĩa
thông
thường
thì đó
không
những
chỉ là
một lầm
lỗi, mà
còn là
một điều
sỉ nhục.
Chính
Thánh
Phaolô
đã hơn
một lần
có cái
kinh
nghiệm
cay đắng
về việc
lời công
bố của
Kitô
giáo bị
chối bỏ,
bị phán
đoán là
“vô vị”,
là không
thích
hợp, là
không
đáng để
người ta
đếm xỉa
đến trên
mức độ
luận lý.
Đối với
những
người
như
người Hy
Lạp, là
những kẻ
đã đi
tìm sự
hoàn hảo
trong
tinh
thần,
trong tư
tưởng
trong
sạch,
thì việc
Thiên
Chúa trở
thành
phàm
nhân, tự
mình lặn
ngụp
trong
tất cả
các giới
hạn của
không
gian và
thời
gian là
điều
không
thể chấp
nhận
được.
Cho nên
lại càng
là điều
không
thể
tưởng
tượng
được khi
tin rằng
Thiên
Chúa có
thể bị
[đóng
đinh]
trên
Thập
Giá! Và
chúng ta
thấy tại
sao lý
luận của
người Hy
Lạp cũng
là lý
luận
thông
thường ở
thời đại
chúng
ta.
Quan
niệm về
“apátheia”,
sự thờ
ơ, như
là thiếu
vắng sự
say mê
Thiên
Chúa:
làm sao
mà người
ta có
thể hiểu
được một
Thiên
Chúa làm
người và
bị đánh
bại, là
Đấng sau
đó lấy
lại thân
xác mình
để như
thế sự
sống
được
phục
hồi?
“Chúng
tôi sẽ
nghe ông
nói về
điều này
vào lúc
khác”
(Cv
17,32
), dân
Athen
khinh
miệt nói
với
Thánh
Phaolô
khi nghe
ngài nói
về việc
kẻ chết
sống
lại. Họ
tin rằng
người ta
đạt đến
sự hoàn
hảo khi
giải
thoát
mình
khỏi
thân
xác,
được coi
là một
nhà tù:
làm sao
không
coi là
lầm lạc
khi lấy
lại thân
xác
mình?
Trong
một nền
văn hóa
cổ,
dường
như sứ
điệp về
Thiên
Chúa
nhập thể
đã không
có một
chỗ
đứng.
Toàn thể
biến cố
của
“Chúa
Giêsu
thành
Nadareth”
xem ra
được
đánh dấu
bằng sự
hoàn
toàn
lạnh
nhạt, và
chắc
chắn
rằng
Thập Giá
là điểm
điển
hình
nhất của
việc
này.
Nhưng
tại sao
Thánh
Phaolô
lại biến
lời này,
lời của
Thập
Giá, làm
điểm nền
tảng cho
việc rao
giảng
của
ngài?
Câu trả
lời
không
mấy khó
khăn:
Thập Giá
tiết lộ
“quyền
năng của
Thiên
Chúa”
(x. 1 Cr
1,24),
là quyền
năng
khác với
quyền
năng của
loài
người.
Thực ra,
Thập Giá
tiết lộ
tình yêu
của
Thiên
Chúa:
“vì sự
điên rồ
của
Thiên
Chúa còn
hơn sự
khôn
ngoan
của loài
người,
và sự
yếu đuối
của
Thiên
Chúa còn
mạnh hơn
sức mạnh
của loài
người”
(1 Cr
1,25).
Vài thế
kỷ sau
Thánh
Phaolô,
chúng ta
thấy
rằng
Thập Giá
đã chiến
thắng,
chứ
không
phải sự
khôn
ngoan
chống
lại Thập
Giá.
Đấng
Chịu
Đóng
Đinh là
sự Khôn
Ngoan,
bởi vì
Người
bày tỏ
trong
chân lý
Thiên
Chúa là
ai,
nghĩa
là,
Người
bày tỏ
chính
quyền
năng của
tình yêu
đến nỗi
đi đến
tận Thập
Giá để
cứu độ
con
người.
Thiên
Chúa
dùng các
phương
tiện và
dụng cụ
thoáng
nhìn đối
với
chúng ta
chỉ là
yếu
đuối.
Đấng
Chịu
Đóng
Đinh,
một đàng
biểu lộ
sự yếu
đuối của
con
người,
đằng
khác,
biểu lộ
quyền
năng
thật của
Thiên
Chúa,
nghĩa
là, sự
nhưng
không
của tình
yêu:
Chính sự
nhưng
không
của tình
yêu này
là sự
khôn
ngoan
thật.
Thánh
Phaolô
đã cảm
nghiệm
được
điều này
ngay cả
trong
thân xác
của
ngài, và
ngài làm
chứng
cho điều
ấy trong
những
chặng
đường
khác
nhau của
cuộc
hành
trình
thiêng
liêng
của
ngài,
đến nỗi
nó trở
thành
điểm quy
chiếu
cần
thiết
cho mọi
môn đệ
của Chúa
Gêsu:
“Người
bảo tôi
rằng,
‘Ơn sủng
của Thầy
đủ cho
con rồi,
vì quyền
năng của
Thầy
được nên
trọn vẹn
trong sự
yếu
đuối’”
(2 Cr
12,9);
và ngay
cả:
“Thiên
Chúa đã
chọn
những gì
yếu kém
trong
thế gian
để làm
cho
những kẻ
hùng
mạnh
phải bẽ
bàng” (1
Cr
1,28).
Thánh
Tông Đồ
đồng hóa
mình với
Đức Kitô
đến độ,
ngay cả
giữa
nhiều
thử
thách,
ngài
cũng vẫn
sống
trong
Đức Tin
vào Con
Thiên
Chúa, là
Đấng đã
yêu ngài
và hiến
chính
mạng
sống
Người vì
tội của
ngài và
của mọi
người
(x. Gl
1,4;
2,20).
Chi tiết
này về
tiểu sử
của
Thánh
Tông Đồ
là mẫu
mực cho
tất cả
chúng
ta.
Thánh
Phaolô
cống
hiến cho
chúng ta
một tổng
hợp thần
học
tuyệt
vời về
Thập Giá
trong
Thư Thứ
Hai gửi
tín hữu
Côrintô
(5,4-21),
ở đó mọi
sự được
chứa
đựng
trong
hai xác
quyết
căn bản
này: một
đàng,
Đức
Kitô, là
Đấng đã
bị Thiên
Chúa đối
xử như
tội lỗi
vì chúng
ta (câu
21), đã
chết cho
chúng ta
(câu
14);
đằng
khác,
Thiên
Chúa đã
hòa giải
chúng ta
với
Chính
Ngài, mà
không
quy tội
cho
chúng ta
(câu
18-20).
Nhờ
“thừa
tác vụ
hòa giải
này” tất
cả mọi
nô lệ
đều đã
được
chuộc
lại (x.
1 Cr
6,20;
7,23
).
Ở đây
chúng ta
thấy tất
cả những
điều
trên
thích
hợp với
đời sống
chúng ta
thế nào.
Chúng ta
cũng
phải đi
vào
“thừa
tác vụ
hoà giải
này”, là
thừa tác
vụ luôn
bao hàm
việc từ
bỏ sự
cao vượt
của
chính
mình và
chọn sự
điên rồ
của tình
yêu.
Thánh
Phaolô
đã từ bỏ
chính sự
sống của
ngài,
hoàn
toàn
hiến
mình cho
thừa tác
vụ hòa
giải,
cho Thập
Giá là
ơn cứu
độ của
tất cả
chúng
ta. Và
đây là
điều
chúng ta
cũng
phải
biết
làm:
Chúng ta
có thể
tìm thấy
sức mạnh
của mình
chính
trong sự
khiêm
nhường
của tình
yêu, và
tìm thấy
sự khôn
ngoan
của mình
trong sự
yếu đuối
của việc
từ bỏ
[mình]
để đi
vào sức
mạnh của
Thiên
Chúa.
Chúng ta
phải xây
dựng đời
sống
mình
trong sự
khôn
ngoan
thật
này:
Không
sống cho
chính
mình,
nhưng
sống
trong
Đức Tin
vào
Thiên
Chúa
này, là
Đấng mà
tất cả
chúng ta
có thể
nói về
Người
rằng:
“Người
đã yêu
tôi và
hiến
mạng
sống
Người
cho
tôi”.
Đức
Thánh
Cha
Bênêđíctô
XVI.
(Phaolô
Phạm
Xuân
Khôi
chuyển
ngữ -
Nguồn:
giaoly.org)
BÀI ĐỌC
THÊM (3)
PHAOLÔ,
VỊ TÔNG
ÐỒ GẶP
NHIỀU
ÐỐI
KHÁNG
và CON
ĐƯỜNG
THẬP GIÁ
CỦA
THÁNH
PHAOLÔ
[HAI BÀI
CỦA LINH
MỤC
GIUSE
LINH
TIẾN
KHẢI]
I.
PHAOLÔ,
VỊ TÔNG
ÐỒ GẶP
NHIỀU
ÐỐI
KHÁNG
[ÐỀ TÀI
9]
Khi
duyệt
xét Kitô
giáo
thời
khai
sinh,
chúng ta
nhận
thấy
quyền
lãnh ðạo
nằm
trong
tay của
các môn
ðệ lịch
sử của
Ðức
Giêsu
thành
Nagiarét.
Các vị
này là
những
người đã
được
chính
Chúa
Giêsu
tuyển
chọn, đã
chia sẻ
cuộc
sống của
Chúa
Giêsu và
được
Ngài
hiện ra
gặp gỡ
sau ngày
phục
sinh. Do
ðó các
vị có
thể làm
chứng
cho Chúa
Giêsu
Kitô, và
tuyên
xưng
rằng
”Ðấng bị
đóng
đanh đã
sống
lại” (Mc
16,6).
Nói các
khác,
các môn
ðệ lịch
sử của
Ðức
Giêsu
thành
Nagiarét
là những
người có
thể nối
liền
hiện tại
với quá
khứ, có
thể đảm
bảo cho
căn cước
của Chúa
Kitô
phục
sinh và
Ðức
Giêsu
lịch sử.
Qua các
vị, lòng
tin của
tín hữu
vào Chúa
Kitô gắn
liền với
các biến
cố và
chứng
tích
lịch sử
và được
xây dựng
vững
vàng
trên các
biến cố
lịch sử
ðó, chứ
nó không
phải là
một giáo
thuyết
trừu
tượng
hay một
thứ thần
bí đạo
đức vu
vơ. Lời
nói của
các vị
là lời
của các
người
chứng
trực
tiếp. Nó
đặt nền
cho một
sự
chuyển
tiếp
định
đoạt làm
phát
sinh ra
Kitô
giáo.
Chuyển
tiếp từ
Ðức
Giêsu
Ðấng
loan báo
Tin Mừng
Nước
Thiên
Chúa,
tức từ
người
đem sứ
điệp,
sang Ðức
Giêsu
Ðấng
được
loan
báo, tức
sang nội
dung của
sứ điệp.
Trong
nhóm nhỏ
các Tông
đồ và
môn đệ
đó có
gương
mặt của
Phêrô,
tông đồ
đầu tiên
ðược
Chúa
Kitô
phục
sinh tự
tỏ hiện
ra, là
nổi bật
hơn cả.
Tuy
nhiên,
trong
cộng
đoàn
Giêrusalem
tông đồ
Gioan và
đặc biệt
tông đồ
Giacôbê
anh em
họ của
của Ðức
Giêsu,
cũng là
những
người có
địa vị
quan
trọng.
Là người
mãi sau
này mới
tin vào
Chúa
Giêsu,
Phaolô
không có
được
vinh dự
ấy của
các Tông
đồ, cũng
không
thể tự
giới
thiệu
như là
chứng
nhân
biến cố
sống lại
của Chúa
Kitô.
Trên
bình
diện
pháp
định
thánh
nhân lại
còn lâm
tình
trạng
què quặt
hơn nữa,
vì đã
từng là
người
bắt bớ
đàn áp
các kitô
hữu,
nghĩa là
có quá
khứ
không
trong
sạch.
Nhưng từ
từ
Phaolô
trở
thành
một nhà
truyền
giáo có
tầm mức,
cừ khôi
và vô
địch.
Nhưng
các
thành
công
trong
việc rao
truyền
Tin Mừng
của
Phaolô
và của
các vị
khác làm
nảy sinh
ra vấn
ðề tương
quan
giữa
Phaolô
với các
Tông Ðồ
trong
cộng
ðoàn
Giêrusalem.
Nếu quan
sát lời
dẫn nhập
các thư,
qua đó
Phaolô
giới
thiệu
căn cước
của
ngài,
chúng ta
có thể
nhận ra
sự kiện
này: đó
là trong
lá thư
đầu tiên
viết
giữa nãm
50-51
thánh
nhân chỉ
ghi:
”Phaolô
gửi cho
tín hữu
Thêxalônica”
(1 Tx
1,1).
Trái lại
trong
các thư
sau đó
Phaolô
cố ý
nhấn
mạnh
rằng
ngài là
tông ðồ.
Và lời
tự giới
thiệu
mình là
tông đồ
ấy có
sắc thái
tranh
luận.
Chẳng
hạn
trong
thư thứ
nhất và
thư thứ
hai gửi
giáo
đoàn
Côrintô
Phaolô
viết:
”Tôi là
Phaolô
ðược
chọn làm
tông đồ
Ðức
Giêsu
Kitô
theo ý
muốn của
Thiên
Chúa” (1
Cr 1,1;
2 Cr
1,1).
Trong
lời mở
đầu thư
gửi tín
hữu
Galát, ý
thức là
tông đồ
ấy gia
tăng rõ
rệt:
”Tôi là
Phaolô,
được
chọn làm
tông đồ
không
bởi sáng
kiến của
loài
ngýời
cũng
không do
trung
gian của
một
người
nào, mà
là bởi
Ðức
Giêsu
Kitô và
bởi
Thiên
Chúa
Cha,
Ðấng đã
cho Ðức
Giêsu
Kitô
sống lại
từ vương
quốc các
kẻ chết”
(Gl
1,1). Và
lời nhập
đề thư
gửi giáo
ðoàn
Roma
diễn tả
trọn vẹn
ý thức
ðó: “Tôi
là
Phaolô
nô lệ
Ðức
Giêsu
Kitô,
được gọi
làm tông
đồ, được
tuyển
chọn để
loan báo
Tin Mừng
của
Thiên
Chúa...
Chính từ
Ngài mà
chúng
tôi đã
lãnh
nhận ơn
thánh là
tông đồ
để dẫn
đưa tất
cả mọi
người
ngoại
giáo tới
chỗ tuân
phục của
lòng
tin, hầu
vinh
danh
Ngài”
(Rm
1,1.5).
Lý do
nào đã
khiến
cho
Phaolô
có ý
thức là
tông đồ
của Chúa
Giêsu
Kitô như
vậy?
Chúng ta
đang
sống
giữa các
năm
54-57,
là thời
gian có
một số
kitô hữu
gốc Do
Thái len
lỏi vào
các cộng
đoàn
Côrintô
và Galát
để gây
chia rẽ,
xáo
trộn. Họ
không
chấp
nhận Ðức
Giêsu
Kitô
chịu
đóng
đanh như
trọng
tâm của
Tin
Mừng, và
quá
khích
chủ
trưõng
bắt các
anh chị
em Kitô
không Do
Thái
phải
tuân giữ
luật lệ
Do Thái.
Ðể đạt
hai mục
tiêu này
họ tìm
lôi kéo
tín hữu
các cộng
đoàn này
theo họ,
bằng
cách đặt
điều vu
khống và
hạ uy
tín của
thánh
Phaolô.
Phaolô
đã cương
quyết
phản
ứng. Và
trong
trận
chiến
chống
lại các
kẻ bêu
xấu
ngài,
thánh
nhân đạt
ý thức
mình là
tông đồ
của Chúa
Kitô
phục
sinh.
Chúng ta
hãy theo
dõi tiến
trình
triển nở
của ý
thức
này.
Trong
thư thứ
nhất gửi
tín hữu
Côrintô
Phaolô
tự biện
hộ cho
mình
bằng
cách
khẳng
định với
họ hai
ðiều.
Thứ
nhất,
thánh
nhân
không bị
gạt bỏ
ra khỏi
số các
tông ðồ
được
Chúa
Kitô
phục
sinh tự
tỏ hiện
ra, như
các
người
Kitô gốc
Do Thái
nói trên
rêu rao.
Vì kinh
nghiệm
gặp gỡ
của ngài
với Chúa
Kitô
phục
sinh
trên
đường
đến
thành
Damasco
là bằng
chứng
cho thấy
Chúa
Kitô
phục
sinh
cũng
hiện ra
với
Phaolô.
Còn hơn
thế nữa,
Ngài còn
còn quật
cho
Phaolô
té xuống
đất và
đánh mù
mắt
Phaolô
nữa. Do
ðó biến
cố hiện
ra này
cũng có
giá trị
y như
biến cố
Chúa
Kitô
phục
sinh
hiện ra
với các
môn ðệ
lịch sử
của Ngài
vậy. Sau
khi liệt
kê những
người đã
được
Chúa
Kitô
phục
sinh
hiện ra
như:
Phêrô,
12 Tông
ðồ, 500
môn đệ,
Giacôbê,
tất cả
các tông
ðồ,
Phaolô
viết
tiếp
trong
chương
15,8 thư
thứ nhất
gửi giáo
đoàn
Côrintô:
“Sau
cùng,
Ngài
cũng đã
hiện ra
với tôi
là bào
thai bị
phá” (1
Cr
15,8).
Trước đó
trong
chương
9,1
Phaolô
ðã hỏi
các tín
hữu:
“Tôi
không
phải là
tông đồ
hay sao?
Hay có
lẽ tôi
đã không
trông
thấy
Chúa
Giêsu
Chúa
chúng ta
hay
sao?”.
Và từ
kinh
nghiệm
gặp gỡ
Chúa
Kitô
phục
sinh
trên
ðường
Damasco,
Phaolô
khẳng
định
rằng dù
là người
bất xứng
ngài
cũng vẫn
là tông
đồ, ðược
chính
Chúa
Kitô
phục
sinh
hiện ra
và tuyển
chọn (1
Cr
15,9).
Lý do
thứ hai
khiến
Phaolô
xác tín
mình là
tông đồ
của Chúa
Kitô, vì
ơn thánh
Chúa ban
và vì
ngài đã
nỗ lực
cộng tác
với ơn
thánh đó
để làm
cho lòng
tin và
cuộc đời
của ngài
sinh hoa
trái
phong
phú. Vì
thế
Phaolô
viết
tiếp
trong
chương
15 thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Côrintô:
“Nhưng
sở dĩ
tôi được
như bây
giờ
chính là
nhờ ơn
thánh
Chúa. Và
ơn thánh
của Ngài
đã không
vô hiệu
trong
tôi.
Trái
lại, tôi
đã khó
nhọc vất
vả hơn
tất cả
mọi
người
khác.
Nhưng
không
phải
tôi, mà
là ơn
thánh
Chúa ở
trong
tôi” (1
Cr
15,10).
Chính
các tín
hữu
Côrintô
là bằng
chứng
sống
động cho
thấy
Phaolo
thật là
tông đồ
với tất
cả mọi
hiệu quả
của chức
vị đó.
Vì thế
Phaolô
viết
trong
chương 9
cùng
thư:
“Anh chị
em há
lại
không
phải là
công
trình
của tôi
trong
Chúa
sao? Nếu
đối với
các
người
khác tôi
không
phải là
tông đồ,
thì ít
nhất tôi
chắc
chắn là
tông đồ
đối với
anh chị
em. Thật
ra chính
anh chị
em là
dấu ấn
chức vụ
tông đồ
của tôi
trong
Chúa”.
(1 Cr
9,1-2).
Các sự
kiện
minh
chứng
cho thấy
Phaolô
được
chọn làm
tông đồ.
Ðây
không
phải là
việc tấn
phong
theo thể
chế, mà
là một
tấn
phong
đặc
sủng.
Trong
chương
3,2-3
thư thứ
hai gửi
tín hữu
Côrintô
thánh
Phaolô
nói tuy
ngài và
các cộng
sự viên
không có
thư giới
thiệu là
tông đồ
như các
kitô hữu
gốc Do
Thái từ
nơi khác
tới đang
đánh phá
cộng
ðoàn,
nhưng
chính
các tín
hữu là
thư ủy
nhiệm
của ngài
và của
các cộng
sự viên.
Một lá
thư ủy
nhiệm
được
viết
trong
con tim
các tín
hữu,
được mọi
người
biết tới
và đọc.
Các tín
hữu
Côrintô
rõ ràng
là bức
thư của
Chúa
Kitô, do
thánh
Phaolô
và các
cộng sự
viên của
ngài
soạn
thảo ra
trong
chức
thừa
tác. Nó
không
được
viết
bằng mực
đen, mà
được
viết
bằng
Thánh
Thần của
Thiên
Chúa
hằng
sống. Nó
không
được
viết
trên
bảng đá,
mà được
viết
trên con
tim bằng
thịt của
các tín
hữu (2
Cr
3,2-3).
Nhưng
chưa
hết,
Phaolô
còn phải
đương
đầu với
một luận
điệu
khác nữa
của các
người
kitô gốc
Do Thái
kể trên.
Họ khoe
khoang
các kinh
nghiệm
đặc sủng
ngoạn
mục của
họ, làm
như thể
họ giống
ông Môsê
từ núi
Sinai
xuống,
mặt rạng
ngời ánh
sáng
thiên
linh (2
Cr
3.1-11).
Do đó có
lạ gì
khi họ
được các
tín hữu
trầm trồ
thán
phục và
tin
theo.
Còn
Phaolô
là con
người
nghèo
nàn yếu
đuối,
làm sao
lại có
thể là
người do
Thiên
Chúa
toàn
năng
vinh
hiển sai
tới
được?
Phaolô
không
chối bỏ
sự thật
ngài là
một
người
nghèo
nàn yếu
đuối.
Nhưng
thánh
nhân nêu
bật rằng
chính sự
nghèo
nàn yếu
đuối ấy
là chứng
tích
minh xác
cho chức
vụ tông
đồ của
Ngài.
Phaolô
là vị
tông đồ
của Chúa
Kitô bị
đóng
đanh, và
chia sẻ
cái bất
lực nhục
nhã của
Ðức Kitô
bị đóng
đanh.
Nhưng
chính
lúc bất
lực nhất
lại là
lúc Chúa
Kitô cứu
ðộ trần
gian (2
Cr
13,3-4).
Và cái
luận lý
ngược
đời của
thập giá
đó ghi
đậm dấu
trên
toàn
cuộc đời
của
thánh
nhân. Do
đó
Phaolô
viết
trong
chương
12,10:
“Bởi vì
khi tôi
yếu
đuối,
lại
chính là
lúc tôi
mạnh
mẽ”.
Sau
cùng
Phaolô
còn phải
đối phó
với các
chống
đối do
nhóm
kitô hữu
gốc Do
Thái len
lỏi vào
giáo
đoàn
Galát
gây ra.
Họ cho
rằng Tin
Mừng tự
do thánh
nhân rao
giảng
không
tinh
tuyền,
mà là
kết quả
việc
nghiền
gẫm của
trí khôn
con
người.
Họ tìm
hạ uy
tín
Phaolô
bằng
cách so
sánh
ngài với
các tông
đồ lãnh
đạo cộng
đoàn
Giêrusalem,
đặc biệt
với
Phêrô.
Vì thế
trong
chương 1
thư gửi
tín hữu
Galát,
Phaolô
khẳng
định
rằng:
“Thưa
anh chị
em, tôi
xin quả
quyết
với anh
chị em
rằng Tin
Mừng tôi
rao
giảng
không
phải của
loài
người
đâu.
Cũng
không
phải tôi
đã nhận
được hay
học được
của một
người
nào, mà
là do
chính
Chúa
Giêsu
Kitô đã
mạc khải
cho tôi”
(Gl
1,11-12).
Không
phải vị
sứ giả
bảo đảm
cho sự
thật của
sứ điệp
Tin
Mừng, mà
chính sự
thật của
sứ điệp
Tin Mừng
bảo đảm
cho tính
chất
đáng tin
cậy của
sứ giả.
Do đó
nếu lập
trường
của các
kẻ chống
đối
thánh
Phaolô
thật sự
là đúng,
nghĩa là
con
người
được ơn
cứu độ
qua việc
tuân giữ
luật lệ
như họ
chủ
trương,
thì Chúa
Kitô đã
chết một
cách vô
ích (Gl
2,21).
Nhưng sự
thật
không
phải như
vậy.
Chính
cái chết
của Chúa
Kitô đã
trao ban
ơn cứu
rỗi cho
con
người,
chứ
không
phải
luật lệ.
Vì thế
nhân
danh
luật lệ
Do thái
để xa
lánh các
anh chị
em kitô
không Do
Thái như
Phêrô đã
làm vì
bị bọn
người
nói trên
cám dỗ
và gây
áp lực,
là sống
trái với
tinh
thần Tin
Mừng tự
do của
Chúa
Kitô (Gl
2,11-14).
Tóm lại,
Thánh
Phaolô
là một
tông đồ
với đầy
đủ danh
nghĩa
của từ
tông đồ,
nghĩa là
người
được
Chúa
Kitô
phục
sinh sai
đi rao
giảng
Tin
Mừng.
Bởi vì
Thiên
Chúa Cha
đã mạc
khải cho
thánh
nhân
biết mầu
nhiệm
của Chúa
Giêsu
Kitô Con
Ngài, và
đã trao
cho
thánh
nhân sứ
mệnh rao
giảng
Tin Mừng
cho dân
ngoại
(Gl
1,15-16).
Các
thành
quả rực
rỡ của
công tác
truyền
giáo
minh
chứng
cho sự
thật
này.
Chính vì
thế
trong
chương
15 thư
gửi tín
hữu
Roma,
Phaolô
nói ngài
có lý do
để khoe
khoang
trong
Chúa
Kitô và
trước
mặt
Thiên
Chúa.
Chính
Chúa
Kitô đã
dùng
ngài như
dụng cụ
được
Chúa
Thánh
Thần
hướng
dẫn để
đem Tin
Mừng tự
do và
giải
phóng
tới cho
mọi dân
tộc
ngoài Do
Thái
chưa
biết
Chúa. Do
đó
Phaolô
không
cần phải
được các
tông đồ
lãnh đạo
cộng
đoàn
Giêrusalem
tấn
phong
trên
bình
diện
pháp chế
(Gl
1,17).
Phaolô
cũng
không về
Giêrusalem
để được
xác định
là tông
ðồ.
Nhưng
ngài về
Giêrusalem
để đối
chiếu
xác tín
và nội
dung lời
rao
giảng
của
mình,
bởi vì
thánh
nhân xác
tín rằng
trước
ngài đã
có các
vị khác
là chứng
nhân của
Chúa
Kitô
phục
sinh và
là tông
đồ rao
giảng
Tin Mừng
của Chúa
Kitô rồi
(Gl
2,9).
II. CON
ĐƯỜNG
THẬP GIÁ
CỦA
THÁNH
PHAOLÔ
[ĐỀ TÀI
10]
Khi đọc
các thư
của
Thánh
Phaolô,
chúng ta
có thể
nhận ra
một nét
đặc thù
khác
trong
cuộc
sống của
ngài: đó
là cuộc
đời của
thánh
nhân là
một con
đường
thập
giá.
Thật
vậy,
Phaolô
không
chỉ là
vị tông
đồ say
mê thập
giá Chúa
Kitô và
loan báo
Chúa
Kitô
chịu
đóng
đanh, mà
toàn
cuộc
sống của
ngài
cũng là
một con
đường
thập
giá.
Sau cuộc
gặp gỡ
đổi đời
với Chúa
Kitô
phục
sinh
trên
đường
đến
thành
Damasco,
và sau
khi được
Anania
ban phép
Rửa tội
và nhận
lấy Chúa
Thánh
Thần,
Phaolô
đã mạnh
mẽ rao
giảng
Tin Mừng
tại đây.
Nhưng
thánh
nhân gặp
chống
đối mãnh
liệt.
Các
người Do
Thái âm
mưu sát
hại
Phaolô.
Họ cho
canh gác
cửa
thành
ngày
đêm, cố
ý không
để cho
Phaolô
thoát
nạn.
Nhưng
một đêm
kia, các
môn đệ
đã bỏ
Phaolô
vào
trong
một cái
thúng
rồi
thòng
xuống
ngoài
tường
thành.
Nhờ thế
Phaolô
thoát
chết,
như Sách
Tông Đồ
Công Vụ
trình
thuật
trong
chương
9,23-25.
Trong
chương
11 thư
thứ hai
viết cho
tín hữu
Côrintô,
Phaolô
cũng
nhắc lại
biến cố
này:
“Tại
thành
Damascô,
quan
châu
trưởng
của vua
Areta đã
cho canh
gác
thành,
để mưu
bắt tôi.
Nhưng
người ta
đã cho
tôi ngồi
vào một
chiếc
thúng
rồi
thòng
dây qua
cửa sổ
theo
tường
thả
xuống.
Thế là
tôi
thoát
khỏi tay
ông” (2
Cr
11,32-33).
Trong
chuyến
truyền
giáo tại
châu Âu,
Phaolô
cũng
phải
sống
kinh
nghiệm
bị các
người
đồng
hương Do
Thái
chống
đối.
Thánh
nhân bị
họ nhục
mạ và
hành
hung tại
Philiphê,
như ngài
kể lại
cho tín
hữu
Thêxalônica
trong
chương 2
thư thứ
nhất gửi
cho họ.
Chương
17 sách
Công Vụ
cũng
thuật
lại rằng
khi tới
Thêxalônica
Phaolô
và Sila
giảng
trong
hội
đường Do
Thái và
thuyết
phục
được một
số tín
hữu Do
Thái,
cùng với
nhiều
người Hy
Lạp và
một số
phụ nữ
thượng
lưu.
Nhưng
người Do
Thái nổi
giận
thuê bọn
du đãng
ẩu đả và
gây rối
loạn
trong
dân
chúng.
Họ kéo
nhau tới
nhà ông
Giason
nhưng
không
thấy
Phaolô
và Sila
đâu. Họ
liền
điệu
Giason
và một
vài Kitô
hữu ra
trước
giới hữu
trách và
vu khống
cho họ
là phá
rối trị
an.
Trước
tiếng
gào thét
của họ,
giới
chức
thành
phố bắt
các kitô
hữu phải
trả tiền
ký quỹ
để được
tại
ngoại.
Trong
khi đó
các Kitô
hữu khác
đưa
Phaolô
và Sila
trốn
khỏi
Thêxalônica
và tới
Berea.
Tại đây
Phaolô
và Sila
đã được
tiếp đón
tử tế.
Hai
người đã
rao
giảng
Tin Mừng
trong
hội
đường Do
Thái và
không
gặp sự
chống
đối nào.
Trái lại
đã có
nhiều
người Do
Thái tin
theo
Chúa
Giêsu
Kitô.
Nhưng
khi
người Do
Thái
Thêxalônica
nghe
biết như
thế, họ
liền kéo
đến
Berea và
xúi giục
dân
chúng
nổi lên
chống
đối
Phaolô.
Các Kitô
hữu đã
vội vã
đem
Phaolô
xuống
thuyền
rời
Berea
(Cv
17,1-15).
Tại
Côrintô
người Do
Thái
điệu
Phaolô
ra trước
quan
quyền
lãnh sự
Gallione,
và tố
cáo
Phaolô
là xúi
dục dân
chúng
tôn thờ
Thiên
Chúa
trái
phép,
như kể
trong
chương
18 sách
Công Vụ
(Cv
18,12-17).
Sở dĩ
các
người
đồng
hương Do
Thái đã
không
ngừng
dùng mọi
thủ đoạn
bắt bớ
Phaolô,
vì họ
coi ngài
là kẻ
phản bội
Do Thái
giáo và
truyền
thống
của cha
ông. Khi
rao
giảng
Chúa
Giêsu
Kitô và
Tin Mừng
của
Ngài,
Phaolô
tuyên bố
ngày cáo
chung
của luật
lệ Môsê
và
truyền
thống
tôn giáo
của dân
Do thái.
Do đó
khi thì
họ xúi
dục giới
chức
chính
quyền
địa
phương
gây khó
dễ đối
với
Phaolô,
khi khác
họ trực
tiếp
đứng ra
trừng
phạt và
áp dụng
luật của
hội
đường do
thái đối
với
Phaolô.
Trong
chương
11 thư
thứ hai
gửi tín
hữu
Côrintô
Phaolô
kể cho
họ nghe
các hình
phạt
ngài đã
phải
chịu: bị
đánh
bằng gậy
5 lần,
mỗi lần
39 gậy,
bị quật
bằng roi
da có
các hòn
chì 3
lần, và
bị ném
đá 1
lần.
Không
những
thế họ
lại còn
đe dọa
tới mạng
sống của
Phaolô
nữa. Vì
thế
trong
chương
15 thư
gửi cho
tín hữu
Roma
Phaolô
xin mọi
người
cầu
nguyện
cho ngài
thoát
khỏi tay
của
người
Giuđêa,
và để
cho tiền
cứu trợ
ngài đem
về
Giêrusalem
được
kitô hữu
tại đây
chấp
nhận (Rm
15,30-31).
Tại
Êphêxô,
Phaolô
đã chỉ
thoát
chết
trong
gang
tấc.
Trong
chương
1,8 thư
thứ hai
gửi tín
hữu
Côrintô,
Phaolô
chia sẻ
với họ
các khổ
đau của
Ngài và
của các
cộng sự
viên như
sau:
“Thưa
anh chị
em chúng
tôi
chẳng
muốn dấu
anh chị
em thảm
cảnh đã
xảy ra
cho
chúng
tôi bên
vùng
tiểu Á:
chúng
tôi đã
bị áp
bức qúa
sức chịu
đựng của
chúng
đến độ
thất
vọng
không
còn muốn
sống
nữa”. Từ
trong
ngục,
Phaolô
viết thư
thăm tín
hữu
Philiphê.
Xem ra
thánh
nhân
không
chắc có
được
trắng án
hay
không,
nên ngài
nói tới
cái chết
gần kề,
và chuẩn
bị tâm
hồn cho
ngày bị
hành
quyết
(Pl
1.7.21-24;
2,17-18).
Sách
Tông Đồ
Công Vụ
cho
chúng ta
biết
rằng
Phaolô
đã bị
bắt tại
Giêrusalem,
bị giam
tại đây
rồi bị
giải về
Cesarea,
và sau
cùng bị
giải về
Roma. Và
chúng ta
biết
chắc
chắn là
thánh
nhân đã
chịu tử
đạo dưới
thời
hoàng đế
Neron.
Tuy
nhiên,
những
bắt bớ
mà
Phaolô
phải
chịu chỉ
giống
như một
phần nổi
nhỏ của
tảng
băng
khổng lồ
chìm
dưới mặt
nước
biển bắc
cực. Nó
che dấu
cuộc đời
“ba
chìm,
bẩy nổi,
chín cái
lênh
đênh” và
khổ đau
trăm
chiều
của vị
tông đồ
dân
ngoại,
có một
không
hai
trong
lịch sử
rao
truyền
Tin
Mừng.
Chính
Phaolô
đã cho
tín hữu
Côrintô
biết
điều đó
trong
chương
11 thư
thứ hai
gửi cho
họ. Bất
đắc dĩ
Phaolô
phải so
sánh
mình với
các tông
đồ giả
hiệu
đang gây
chia rẽ
và đánh
phá cộng
đoàn
Côrintô:
“Họ khoe
họ là
các thừa
tác của
Đức Kitô
ư? Tôi
sắp nói
như
người
điên
dại, tôi
còn hơn
họ, vì
trong
lao
nhọc:
tôi hơn
họ,
trong tù
tội: tôi
hơn họ,
bị đánh
đập: tôi
lại càng
hơn họ,
trong
hiểm
nguy mất
mạng: đã
nhiều
phen!
Tôi bị
người do
thái
đánh tôi
bằng gậy
năm lần,
mỗi lần
39 gậy.
Tôi bị
đánh
bằng roi
da 3
lần, bị
ném đá
một lần,
bị đắm
tầu 3
lần. Tôi
đã qua
một ngày
một đêm
trên vực
thẳm.
Trong
các
chuyến
hành
trình đi
bộ tôi
rất
thường
gặp hiểm
nguy
trên
sông,
hiểm
nguy vì
cướp
bóc,
hiểm
nguy vì
các
người
đồng
hương,
hiểm
nguy vì
dân
ngoại,
hiểm
nguy
trong
thành
phố,
hiểm
nguy
trong sa
mạc,
hiểm
nguy
trên
biển cả,
hiểm
nguy vì
các anh
em giả
dối.
Phải vất
vả, lao
nhọc,
thường
thức
khuya
dậy sớm
chịu đói
chịu
khát,
thường
nhịn ăn
nhịn
uống,
chịu rét
mướt,
trần
trụi.
Không kể
mọi
chuyện
còn lại,
tôi còn
phải
ngày
ngày lo
lắng cho
các giáo
đoàn
nữa” (2
Cr
11,23-28).
Thêm vào
đó là
thái độ
không
hiểu
biết của
tín hữu
Côrintô
và chiến
dịch vu
khống
bôi nhọ
Phaolô,
do một
số thừa
sai Kitô
gốc do
thái
xách
động.
Nhưng
tín hữu
Côrintô
lại bỏ
vị tông
đồ “chỉ
biết tới
Đức
Giêsu
Kitô
chịu
đóng
đanh” (1
Cr 2,2),
để chạy
theo các
bậc thầy
hùng
biện và
sáng giá
hơn (1
Cr
1,10-4,21).
Họ đã
giải
thích
sai thái
độ của
Phaolô,
khi thấy
thánh
nhân
khước từ
quyền
được đòi
hỏi tín
hữu chu
cấp cho
cuộc
sống vật
chất của
người,
mà lại
lựa chọn
tự lực
cánh
sinh, để
không
trở
thành
chướng
ngại cho
việc
chấp
nhận Tin
Mừng (1
Cr 9,1
tt.; 2
Cr
12,13-15).
Cuộc lạc
quyên do
Phaolô
phát
động để
trợ giúp
tín hữu
giáo
đoàn mẹ
Giêrusalem
cũng bị
nghi ngờ
xuyên
tạc (2
Cr 8,
20;
12,16-18).
Trong
cộng
đoàn
Côrintô
thì nhóm
các thừa
sai xấu
bụng nói
trên
phao đồn
Phaolô
là người
không
biết giữ
lời hứa
(2 Cr
1,12
tt.), có
lời
giảng
dậy khó
hiểu ( 2
Cr 4,4)
không có
khoa ăn
nói hùng
biện (2
Cr 11,6)
và là
người
yếu đuối
(2 Cr
10,1.10;
11,12).
Đã vậy,
tín hữu
Côrintô
lại thụ
động
trước
thái độ
hiếu
chiến
của
những
người
chống
đối
Phaolô,
đến độ
chính
thánh
nhân
cũng
than thở
khi viết
trong
chương
11 thư
thứ hai
gửi cho
họ: “Thế
mà anh
chị em
lại chịu
đựng kẻ
biến anh
chị em
thành nô
lệ, xâu
xé cắn
nuốt,
khai
thác bóc
lột,
ngạo
ngược và
tát vào
mặt anh
chị em.
Tôi thật
xấu hổ
nói lên
điều
này:
chúng ta
đã quá
nhu
nhược”
(2 Cr
11,20.21).
Nhóm
thừa sai
Kitô gốc
Do Ti
cực đoan
còn đi
tới chỗ
tổ chức
các cuộc
truyền
giáo
chống
lại
Phaolô
trong
các giáo
đoàn
Côrintô,
Galát,
và
Philiphê
nữa. Họ
cho
Phaolô
không
phải là
tông đồ
thật, vì
chỉ là
người
tập nghề
và không
được ủy
quyền
như họ.
Tuy gặp
trăm
ngàn
nguy khó
như thế,
nhưng
Phaolô
và các
cộng sự
viên
không
đầu hàng
bỏ cuộc.
Trong
thứ thứ
hai gửi
tín hữu
Côrintô
thánh
nhân lập
đi lập
lại điệp
khúc:
“Chúng
tôi
không
nản
lòng” (2
Cr
4,1.6),
“Chúng
tôi đầy
can đảm”
(2 Cr
5,6.8).
Còn hơn
thế nữa,
Phaolô
cảm
nghiệm
được
niềm vui
sâu xa
khi gặp
bắt bớ
thử
thách và
khổ đau
vì Chúa
Kitô và
Tin Mừng
của
Ngài.
Trong
thư thứ
hai gửi
tín hữu
Côrintô
và trong
thư gửi
giáo
đoàn
Philiphê,
Phaolô
nói với
các tín
hữu:
“Con tim
tôi được
tràn đầy
niềm an
ủi và
tôi tràn
trề niềm
vui
trong
mọi nỗi
khổ đau
của
chúng
tôi” (2
Cr 7,4;
2 Cr
6,10; Pl
1,4.7.18;
2,17-18).
Ai không
hiểu có
thể cho
Phaolô
là một
người
bệnh
hoạn.
Nhưng
thật ra
niềm vui
của
thánh
nhân
phát
xuất từ
xác tín
các khổ
đau phải
chịu
trong
cuộc đời
tông đồ
khiến
cho
thánh
nhân
được
chia sẻ
thập gía
của Chúa
Giêsu
Kitô.
Các khổ
đau của
ngài
cũng
chính là
các khổ
đau của
Chúa
Kitô như
thánh
nhân
viết
trong
chương
1,5 thư
thứ hai
gửi tín
hữu
Côrintô.
Thánh
nhân
mang
chính
cái chết
của Chúa
Kitô
trong
thân thể
mình (2
Cr
4,10).
Trong
chương
6,17 thư
gửi tín
hữu
Galát,
Phaolô
viết:
“Tôi
mang
trong
mình tôi
các
thương
tích của
Chúa
Giêsu”.
Phaolô
linh cảm
rằng cái
luận lý
ngược
ngạo của
lịch sử
cứu rỗi
đang
hiện
thực
trong
chính
cuộc
sống của
ngài: từ
cái chết
nảy sinh
sự sống,
từ hư
không
phát
xuất ra
mọi sự.
Đây là
lý do
giải
thích
tại sao
Phaolô
lại viết
cho tín
hữu
Côrintô
trong
chương
4,8-12
thư thứ
hai gửi
cho họ
như sau:
“Bị đàn
áp tứ bề
nhưng
chúng
tôi
không bị
đè bẹp,
bị lạc
hướng
nhưng
không
thất
vọng, bị
bách hại
nhưng
không bị
bỏ rơi,
bị đánh
ngã
nhưng
không bị
nghiền
nát,
chúng
tôi
thường
xuyên
mang
trong
thân xác
mình cái
chết của
Chúa
Giêsu,
để sự
sống của
Chúa
Giêsu
cũng
được tỏ
hiện ra
trên
thân xác
chúng
tôi như
vậy...
(2 Cr
4,8-12).
Chính
qua sự
yếu đuối
của con
người mà
Thiên
Chúa tỏ
hiện
quyền
năng của
Ngài,
nên
trong
chương
12 cùng
thư
thánh
nhân
sung
sướng
khoe với
tín hữu
các sự
yếu hèn
của
Ngài. Vì
tình yêu
đối với
Chúa
Kitô
Phaolô
vui chịu
mọi đau
khổ, xỉ
nhục,
mọi gian
nan bắt
bớ và cơ
cực. Vì
chính
khi cảm
thấy yếu
đuối là
lúc
thánh
nhân
mạnh mẽ
(2 Cr
12,9-10).
Chúa
Kitô bị
đóng
đanh
nhưng đã
phục
sinh,
giờ đây
sống lại
trong
thân xác
của
thánh
nhân, và
trong
thân xác
của mọi
tín hữu,
nhờ
quyền
năng của
Thiên
Chúa,
như viết
trong
thư thứ
hai gửi
tín hữu
Côrintô
chương
13,4.
Mầu
nhiệm
cái chết
và sự
phục
sinh của
Chúa
Kitô mà
Phaolô
loan
báo,
chính
thánh
nhân đã
sống
trong
cuộc đời
tông đồ
và cảm
nghiệm
thấm
thía
trên
thân xác
ngài.
Nói cách
khác,
cuộc
sống
chịu
đóng
đanh của
Phaolô
là chứng
tá sống
động
hùng hồn
cho Tin
Mừng mà
ngài rao
giảng.
Sự yếu
đuối
nhân
loại
được
quyền
năng tạo
dựng của
Thiên
Chúa
biến đổi
trở
thành
thụ tạo
mới.
Cũng
chính vì
thế khi
thấy tín
hữu
Côrintô
bị kiểu
cách
giải
thích
hiếu
thắng
khải
hoàn của
cuộc
sống
Kitô lôi
cuốn và
làm lóe
mắt,
trong
chương
4,9-13
thứ thứ
nhất gửi
cho họ,
Phaolô
nhắc họ
đừng
quên
thập gía
và đêm
đen của
ngày thứ
sáu tuần
thánh và
mọi thử
thách,
bắt bớ,
khổ đau
mà họ
cũng
phải
gánh
chịu để
được ơn
cứu độ.