ĐỀ TÀI II
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
CÁCH TIỀN
HÀNH
VIỆC CHIA
SẺ VÀ HỌC
HỎI ĐỀ
TÀI II
Tiết 1
(45
phút):
Bước 1:
Chia
những
người
tham dự
thành
nhiều tổ,
mỗi tổ
12-14
người.
Mỗi tổ
chỉ định
một người
làm Tổ
Trưởng
điều hành
buổi chia
sẻ và một
người làm
Thư Ký
phụ trách
việc báo
cáo tổng
hợp các
phát biểu
của tổ.
Bước 2:
Sinh hoạt
tổ bằng
cách trả
lời 2 câu
hỏi nêu ở
phần thứ
nhất.
Tiết 2
(45
phút):
Bước 3:
Thư ký
các tổ
báo cáo
cáo tổng
hợp các
phát biểu
của tổ.
Bước 4:
Thuyết
trình
viên
trình bày
đề tài
II.
Bước 5:
Linh mục
chủ trì
phát biểu
kết thúc.
PHẦN THỨ
NHẤT
CHIA SẺ
CÁCH MỖI
NGƯỜI
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
Trong giờ
sinh hoạt
tổ mỗi
anh chị
em sẽ
chia sẻ
cách mình
sống và
cầu
nguyện
với Chúa
Kitô, dựa
vào hai
câu hỏi
gợi ý ở
dưới. Mỗi
câu hỏi
có 4
ý/phần
nhỏ.
Để giúp
mọi người
chia
sẻ
đúng nội
dung và
có chất
lượng,
xin được
phép lưu
ý một số
điều:
- Một là
chỉ chia
sẻ những
gì có
liên hệ
với bản
thân mình
và những
điều đã
thực
hiện.
- Hai là
trả lời
trực tiếp
vào câu
hỏi không
nói ra
ngoài.
- Ba là
chia sẻ
càng ngắn
gọn, xúc
tích, dễ
hiểu càng
tốt.
- Bốn là
viết câu
trả lời
trên giây
sẽ phát
trong đó
có ghi
sẵn câu
hỏi.
|
Câu hỏi
1 |
1.1 Mỗi
ngày
anh chị
sống và
cầu
nguyện
cùng
Chúa
Kitô
như thế
nào?
|
|
|
1.2
Nhờ/bằng
những
phương
thế
nào?
|
|
|
1.3 Đối
với anh
chị
phương
thế nào
tỏ ra
ích lợi
và hữu
hiệu
nhất?
|
|
|
1.4 Anh
chị đã
đạt
được
những
kết quả
nào từ
việc
sống và
cầu
nguyện
cùng
Chúa
Kitô? |
|
Câu hỏi
2 |
2.1 Anh
chị gặp
những
khó
khăn
trở
ngại
nào
trong
việc
sống và
cầu
nguyện
cùng
Chúa
Kitô?
|
|
|
2.2 Anh
chị
giải
quyết
những
khó
khăn
trở
ngại ấy
như thế
nào? |
|
|
2.3 Anh
chị
mong
đợi sự
trợ
giúp
nào từ
hội
đoàn?
|
|
|
2.4 Anh
chị
mong
đợi sự
trợ
giúp
nào từ
các vị
lãnh
đạo
giáo
xứ,
giáo
phận? |
PHẦN THỨ
HAI
TRÌNH BÀY
VỀ CÁCH
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
I. VÀO ĐỀ
Nói đến
Thánh
Phaolô
thì người
ta nghĩ
ngay đến
lòng hăng
say
truyền
giáo của
ngài.
Điều đó
hoàn toàn
chính xác
vì quả
thật
Thánh
Phaolô là
Nhà
Truyền
Giáo Vĩ
Đại vào
bậc nhất
của Kitô
giáo.
Nhưng nếu
chăm chú
đọc các
Thư của
Thánh
Phaolô
thì người
đọc không
thể không
có một ấn
tượng
mạnh về
đời sống
cầu
nguyện,
chiêm
niệm đặm
đà và sâu
sắc của
ngài. Nói
cách khác
là qua
các Thư
của ngài
người đọc
khám phá
ra nơi
ngài một
đời sống
cầu
nguyện,
thân mật
và tha
thiết với
Thiên
Chúa
(Cha, Con
và Thánh
Thần),
nhất là
với Chúa
Giêsu
Kitô Phục
Sinh.
Vì thế mà
đề tài
thứ hai
của loạt
6 đề tài
của chúng
ta là
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ.
Chúng ta
đã chia
sẻ với
nhau cách
mỗi người
sống và
cầu
nguyện
cùng Chúa
Kitô như
thế nào.
Kinh
nghiệm
của anh
chị em
mình có
thể giúp
đời sống
cầu
nguyện
của chúng
ta được
tốt hơn.
Sau đây
chúng ta
sẽ tìm
hiểu thêm
ý nghĩa
của cách
sống và
cầu
nguyện
cùng Chúa
Kitô và
sẽ học
cùng
Thánh
Phaolô để
biết sống
mật thiết
hơn với
Chúa Kitô
và cầu
nguyện
tha thiết
hơn với
Người.
II. TRÌNH
BÀY
2.1. MỖI
NGƯỜI
CHÚNG TA
PHẢI/NÊN/ĐƯỢC
MỜI GỌI
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
2.1.1
Trong
cuộc sống
đời
thường.
(a) Con
người
sống là
sống
với
(cha mẹ,
vợ chồng,
con cái,
bạn bè,
hàng xóm
láng
giềng và
những
người
cùng địa
bàn, cùng
cộng
đồng).
(b) Con
người
sống là
sống
nhờ
(cha mẹ,
vợ chồng,
con cái,
bạn bè,
hàng xóm
láng
giềng và
những
người
cùng địa
bàn, cùng
cộng
đồng).
(c) Con
người
sống là
sống
vì, sống
cho
(cha mẹ,
vợ chồng,
con cái,
bạn bè,
hàng xóm
láng
giềng và
những
người
cùng địa
bàn, cùng
cộng
đồng).
Ghi chú:
Điều làm
nên giá
trị nhân
linh của
một người
là sống
vì, sống
cho người
khác,
nhất là
cho những
người
không
thuộc họ
hàng ruột
thịt mà
là những
người cần
đến sự
giúp đỡ,
cống hiến
của mình.
2.1.2
Trong đời
sống Đức
Tin và
Tâm Linh.
(a) Kitô
hữu sống
là
sống với
Thiên
Chúa Cha,
với Chúa
Kitô là
Con, với
Chúa
Thánh
Thần,
(b) Kitô
hữu sống
là
sống nhờ
Thiên
Chúa Cha,
nhờ Chúa
Kitô là
Con, nhờ
Chúa
Thánh
Thần,
(c) Kitô
hữu sống
là
sống
vì,
sống cho
Thiên
Chúa Cha,
sống vì,
sống cho
Chúa Kitô
là Con,
sống vì,
sống cho
Chúa
Thánh
Thần.
Ghi chú:
Điều làm
nên giá
trị
thiêng
liêng của
một Kitô
hữu là
sống vì,
sống cho
Thiên
Chúa và
tha nhân,
nhất là
cho những
người
nghèo
khổ, kém
may mắn,
bị gạt ra
ngoài lề
xã hội...
(x. Dụ
ngôn
người
Samari
tốt lành
trong Lc
10,29-37).
(d) Kitô
hữu sống
với Thiên
Chúa
trong tư
cách là
tạo vật,
là con
với/của
Chúa Cha;
là em, là
bạn, là
môn đệ
với/của
Chúa
Giêsu; là
Đền Thờ
của Chúa
Thánh
Thần.
(e) Kitô
hữu cầu
nguyện
cùng
Thiên
Chúa
trong tư
cách là
tạo vật,
là con
với/của
Chúa Cha;
là em, là
bạn, là
môn đệ
với/của
Chúa
Giêsu; là
Đền Thờ
của Chúa
Thánh
Thần.
(f) Kitô
hữu cầu
nguyện
cùng
Thiên
Chúa là
chúc
tụng,
ngợi
khen, cảm
tạ, sám
hối và
xin ơn
(chứ
không chỉ
là xin
ơn) với
Chúa Cha,
với Chúa
Giêsu là
Con và
với Chúa
Thánh
Thần, vì
tất cả
những gì
người
Kitô hữu
LÀ
(being)
và
CÓ
(having)
đều là
hồng ân
“nhưng
không”
của Thiên
Chúa!
(g) Trong
đời sống
Đức Tin
và Tâm
Linh,
Chúa Kitô
là Đấng
Trung
Gian duy
nhất, hữu
hình và
toàn năng
giữa
Thiên
Chúa và
kẻ tin.
Nên khi
nói sống
và cầu
nguyện
cùng Chúa
Kitô có
nghĩa là
sống và
cầu
nguyện
cùng
Thiên
Chúa
Cha-Con-và-
Thánh-Thần.
2.2 THÁNH
PHAOLÔ
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ NHƯ
THÊ NÀO?
2.2.1
Trước khi
trở lại
Thánh
Phaolô
sống và
cầu
nguyện
cùng
Thiên
Chúa như
thế nào?
Trước khi
trở lại
tức trước
lúc gặp
Chúa
Giêsu
Kitô Phục
Sinh trên
đường
Đamát,
Phaolô đã
sống và
cầu
nguyện
cùng
Thiên
Chúa như
một tín
đồ Do
Thái giáo
guơng
mẫu, như
một
Pharisêu
đạo đức
và nhiệt
thành.
Cách sông
ấy của
Phaolô
được thể
hiện
trong ba
lãnh vực
trọng yếu
là
* học hỏi
Thánh
Kinh,
* tuân
giữ Lề
Luật và
* bênh
vực quyền
của Thiên
Chúa.
2.2.2 Sau
khi trở
lại Thánh
Phaolô
sống và
cầu
nguyện
cùng Chúa
Giêsu như
thế nào?
Sau khi
trở lại
tức sau
lúc gặp
Chúa
Giêsu
Kitô Phục
Sinh trên
đuờng
Đamát,
Phaolô đã
sống và
cầu
nguyện
cùng Chúa
Giêsu
Kitô như
một người
môn đệ
chí côt,
một chiến
sĩ kiên
cường và
một đồng
chí hết
mình vì
lý tưởng
của Thầy.
Cách sống
ấy của
Phaolô
được thể
hiện
qua/trong:
* các
hoạt động
Rao Giảng
Tin Mừng,
* các
cuộc Hành
Trình
Truyền
Giáo,
* các
Chuyến
Thăm các
Cộng Đoàn
và
* các Thư
được ngài
biên soạn
và gửi
cho các
giáo đoàn
và một
vài cá
nhân.
Có thể
nói Thánh
Phaolô
chỉ còn
biết sống
với/nhờ/vì/cho
Chúa Kitô
và Tin
Mừng của
Người mà
thôi.
Lòi khẳng
định:
“Tôi
sống
nhưng
không còn
là tôi
sống mà
là Chúa
Kitô sống
trong
tôi”
(Gl 2,20)
là tóm
kết đời
sống nội
tâm và
hoạt động
Tông đồ
của Thánh
Phaolô.
Cũng có
thể hiểu
là Thánh
Phaolô đã
ĐƯỢC Chúa
Giêsu
Kitô Phục
Sinh
chiếm hữu
trọn vẹn.
III. KẾT
LUẬN
Ra đi rao
giảng Tin
Mừng cho
lương dân
hay dậy
giáo lý,
thánh
kinh cho
người
người tân
tòng hay
cựu tòng
đòi chúng
ta phải
có một số
hiểu biết
tối thiểu
và một số
điều kiện
khác nữa.
Nhưng
sống và
cầu
nguyện
cùng Chúa
Kitô thì
ai ai
cũng làm
được vì
trong
lãnh vực
và công
việc này
chưa hẳn
người
hiểu biết
trí thức
đã hơn
người đơn
sơ mộc
mạc, vì
điểm cốt
yếu là
trái tim
chứ không
phải là
cái đầu!
Vậy thì
mỗi người
chúng ta
không có
gì phải
mang mặc
cảm cả.
Chúng ta
có thể
không có
kiến thức
về giáo
lý, thánh
kinh
nhưng
điều đó
không
ngăn cản
chúng ta
sống mật
thiết gắn
bó với
Chúa
Giêsu
Kitô và
cầu
nguyện
thân mật
với
Người!
PHẦN THỨ
BA
BÀI ĐỌC
THÊM (1)
SỐNG VÀ
CẦU
NGUYỆN
CÙNG CHÚA
KITÔ
TRONG NĂM
THÁNH
PHAOLÔ
[GỢI Ý
CỦA ĐỨC
CHA
MICHAEL
SALTARELLI,
GIÁM MỤC
WILMINGTON]
“Tôi sống
nhưng
không còn
là tôi
sống, mà
là Đức
Kitô sống
trong
tôi”
(Gl
2,20).
Nhiều vị
Thánh vĩ
đại đã
xây dựng
đời mình
trên câu
Galate
2,20 này:
“Tôi
sống,
nhưng
không còn
là tôi
sống, mà
là Đức
Kitô sống
trong
tôi”.
Nghe đi
nghe lại
những lời
này trong
suốt đời
sống của
chúng ta
thì thật
dễ nhưng
thực ra
chúng ta
không bao
giờ hiểu
nổi tính
chất cách
mạng của
câu này.
Đức Kitô
sống
trong
chúng ta.
Người
muốn dùng
diện mạo,
giọng
nói, và
ngay cả
cử chỉ
của chúng
ta để bày
tỏ chính
Người.
Thánh
Phaolô ý
thức được
sự yếu
đuối của
mình, sự
giới hạn
của trí
khôn và
cá tính
của mình,
cuộc vật
lộn không
tên với
“cái gai
đâm vào
thịt
ngài”
(2 Cr
12,7).
Nhưng ý
thức
khiêm
nhường
này về
những yếu
đối của
ngài làm
cho ngài
thêm tín
thác vào
Đức Kitô:
“Tôi có
thể làm
được
mọi sự
trong
Đấng làm
cho tôi
được mạnh
mẽ”
(Pl
4,13). Sự
hiểu biết
của ngài
về những
yếu đuối
của mình
làm cho
ngài mở
lòng ra
để đón
nhận sự
hiện diện
và quyền
năng của
Đức Kitô
trong
ngài.
Khi chúng
ta ý thức
được sự
hiện diện
của Đức
Kitô theo
cách này,
chúng ta
có thể
nhóm ngọn
lửa này
lên bằng
nhiều
cách: qua
việc cầu
nguyện,
suy niệm,
Thánh lễ
và các bí
tích,
cùng
thánh hoá
các việc
làm
thường
nhật của
chúng ta
[,
qua đời
sống gia
đình đầy
niềm vui
và hy
sinh. Rồi
ánh sáng
của Đức
Kitô sẽ
tỏa ra
cách tự
nhiên từ
chúng ta
có thể
trở thành
ánh sáng
chiếu soi
nhiều
hạng
người
khác
nhau, dù
họ là các
tín hữu
khác, hay
những
người
thiện tâm
sẽ đi
trên
đường đức
tin hoặc
họ là
những
người vô
thần hay
theo
thuyết vô
tri. Tất
cả những
người mà
chúng ta
gặp sẽ
cảm thấy
có một
điều gì
khác lạ
nơí chúng
ta và đưa
họ đến
việc tự
mình đặt
những câu
hỏi có
thể thay
đổi đời
sống và
định mệnh
của họ.
Chúng ta
đã thấy
điều này
không
những
trong đời
sống của
các Thánh
như Thánh
Stêphanô
và Thánh
Phaolô,
mà còn
trong đời
sống của
nhiều
người
khác. Hãy
nghĩ đến
Thánh
Thomas
More, là
Quan thầy
các Công
chức, các
Chính trị
gia và
các Luật
sư, cùng
gương
nhân đức
của ngài
trong
việc cai
trị và
đời sống
gia đình
[.
Hãy nghĩ
đến Thánh
Vincent
de Paul
và Thánh
Louise de
Marillac
phục vụ
người
nghèo
trên
đường phố
Paris.
Hãy nghĩ
đến Chân
phước
Đamien
phục vụ
những
người
phong hủi
ở
Molokai.
Hãy nghĩ
đến Chân
phước
Têrêxa
thành
Calcutta
phục vụ
những
người
khốn cùng
và xấu xí
nơi các
đường phố
trên thế
giới ngay
cả khi
ngài can
trường
lèo lái
đời mình
vượt qua
những
giai đoạn
khô khan
của đời
sống nội
tâm của
ngài. Hãy
nghĩ đến
gương mặt
rạng ngời
và vui
tươi của
Đức Thánh
Cha Gioan
Phaolô II
trong
những
chuyến
tông du
của ngài.
Hãy nghĩ
đến hàng
triệu tín
hữu Công
giáo qua
nhiều thế
kỷ đã
sống bí
tích Hôn
Phối cách
anh hùng
và đã
rạng
chiếu Đức
Kitô cho
các thế
hệ đi
trước và
sau họ.
Tất cả
các cuộc
sống này
đều là
những
minh
chứng
hùng hồn
và cụ thể
cho lời
chứng của
Thánh
Phaolô
rằng:
“Tôi
sống
nhưng
không còn
là tôi
sống, mà
là Đức
Kitô sống
trong
tôi”.
Năm Thánh
Phaolô là
thời điểm
cho chúng
ta đứng
sánh vai
với các
Thánh của
Công giáo
qua các
kỷ
nguyên,
và sống
những lời
làm đổi
đời của
Thánh
Phaolô
nói lên
sự cần
thiết của
việc nên
thánh
trên thế
giới
trong thế
kỷ thứ 21
này.
-------------
(Đức Giám
mục
Michael
Saltarelli,
Thư Mục
Vụ “Học
và sống
tinh thần
Thánh
Phaolô)
BÀI ĐỌC
THÊM (2)
Thánh
Phaolô
biẾt ĐỨc
Kitô như
thẾ nào?
[Bài Giáo
Lý mỚI
VII cỦa
ĐỨC THÁNH
CHA
Bênêđictô
XVI
VỀ Thánh
Phaolô]
Dưới đây
là bản
dịch bài
huấn từ
của Đức
Thánh Cha
Bênêđictô
XVI trong
buổi
triều yết
chung
ngày thứ
tư mùng
8/10/2008
tại quảng
trường
Thánh
Phêrô.
Đức Thánh
Cha tiếp
tục chu
kỳ Giáo
Lý dành
cho khuôn
mặt và tư
tưởng của
Thánh
Phaolô.
Anh Chị
em thân
mến,
Trong
những bài
Giáo Lý
trước về
Thánh
Phaolô,
cha đã
nói về
cuộc gặp
gỡ của
ngài với
Đức Kitô
Phục
Sinh, là
biến cố
thay đổi
cuộc đời
ngài tận
căn bản,
và sau đó
về liên
hệ của
ngài với
Mười Hai
Tông Đồ
là những
vị đã
được Chúa
Giêsu
gọi, đặc
biệt là
với các
Thánh
Giacôbê,
Phêrô và
Gioan,
cũng như
liên hệ
của ngài
với Hội
Thánh tại
Giêrusalem.
Vấn nạn
còn lại
bây giờ
là Thánh
Phaolô
biết gì
về Chúa
Giêsu khi
Người còn
tại thế:
về cuộc
đời của
Người, vầ
giáo huấn
của
Người, về
cuộc Khổ
Nạn của
Người.
Trước khi
đi vào
vấn đề
này,
chúng ta
nên nhớ
rằng
chính
Thánh
Phaolô đã
phân biệt
hai cách
để biết
Chúa
Giêsu,
nói chung
là hai
cách để
biết một
người.
Ngài viết
trong Thư
thứ 2 gửi
tín hữu
Côrintô:
“Cho nên
từ nay
trở đi
chúng tôi
không còn
biết một
ai theo
xác thịt.
Mặc dầu
chúng tôi
đã biết
Ðức Kitô
theo xác
thịt,
nhưng bây
giờ chúng
tôi không
còn biết
Người như
thế nữa”
(5,16).
Biết
“theo xác
thịt”,
một cách
hữu hình,
có nghĩa
là chỉ
biết vẻ
bề ngoài,
với những
tiêu
chuẩn bên
ngoài:
một người
có thể
thấy một
người
khác
nhiều
lần, nhận
ra được
những đặc
tính về
dung mạo
của người
ấy và
nhiều chi
tiết về
cách
người ấy
hoạt
động:
người ấy
nói
chuyện,
đi
đứng,…thế
nào.
Nhưng dù
biết
người nào
cách này,
một người
vẫn không
thật sự
biết
người ấy,
một người
không thể
biết được
cái tâm
của người
ấy. Chỉ
với trái
trái tim,
người ta
mới thật
sự biết
một
người.
Thực thế,
các người
Biệt Phái
và Xađốc
đã biết
Chúa
Giêsu
cách bề
ngoài, họ
đã nghe
Người
giảng
dạy, và
biết
nhiều chi
tiết về
Người,
nhưng họ
đã không
biết
Người và
chân lý
của
Người. Có
một sự
phân biệt
tương tự
trong
những Lời
của Chúa
Giêsu.
Sau khi
Hiển
Dung,
Người đã
hỏi các
Tông Đồ:
“Người ta
bảo Thầy
là ai?”
và
“Các
con nói
Thầy là
ai?”
Dân
chúng đã
biết
Người,
nhưng chỉ
biết cách
hời hợt;
họ biết
nhiều
điều về
Người,
nhưng họ
đã thật
sự không
biết
Người.
Trái lại,
nhở tình
bằng hữu,
và vai
trò của
con tim
của các
ngài,
Nhóm Mười
Hai ít ra
là đã
hiểu
những
điều
chính yếu
và đã bắt
đầu học
thêm về
Người
thực sự
là ai.
Ngày nay
cũng có
cách hiểu
biết khác
nhau đó:
Có nhiều
cá nhân
học rộng
cùng biết
nhiều chi
tiết về
Đức Kitô,
và nhiều
người
chất phác
không
biết
những chi
tiết ấy,
nhưng họ
lại biết
Đức Kitô
và chân
lý của
Người:
“Con tim
nói với
con tim”.
Và Thánh
Phaolô
thật sự
nói rằng
ngài biết
Đức Kitô
cách ấy,
bằng con
tim, và
rằng ngài
thật sự
biết con
người và
chân lý
của
Người; và
rồi sau
đó, ngài
biết các
chi tiết.
Sau khi
đã nói
thế, vấn
đề vẫn
còn lại
là: Thánh
Phaolô đã
biết gì
về cuộc
đời, các
lời nói,
cuộc Khổ
Nạn và
các phép
lạ của
Chúa
Giêsu?
Dường như
ngài đã
chưa bao
giờ được
gặp Chúa
Giêsu
trong
cuộc đời
dương thế
của
Người.
Chắc chắn
rằng ngài
đã học
những chi
tiết về
cuộc đời
dương thế
của Đức
Kitô từ
các Tông
Đồ và Hội
Thánh Sơ
Khai.
Trong các
Thư của
ngài,
chúng ta
tìm thấy
ba hình
thức ngài
dùng để
nói về
Chúa
Giêsu
tiền Phục
Sinh.
Trước
hết, là
những đề
cập dứt
khoát và
trực
tiếp.
Thánh
Phaolô
nói về
dòng dõi
vua Đavít
của Chúa
Giêsu (x.
Rm 1,3).
Ngài biết
Chúa có
các “anh
em” hay
bà con họ
hàng theo
huyết
thống (1
Cr 9,5;
Gl 1,19),
ngài biết
về việc
tiến hành
trong Bữa
Tiệc Ly
(x. 1 Cr
11,23).
Ngài biết
những câu
nói khác
của Chúa
Giêsu,
thí dụ
như sự
bất khả
phân ly
của hôn
nhân (x.
1 Cr 7,10
với Mc
10,11-12),
về nhu
cầu mà
những
người rao
giảng Tin
Mừng cần
được cộng
đồng nâng
đỡ như là
người làm
đáng được
tiền công
(x. 1 Cr
11,24-25
và Lc
22,19-20),
và ngài
cũng biết
về Thập
Giá của
Chúa
Giêsu.
Những
điều này
là những
đề cập
trực tiếp
đến những
lời nói
và các sự
kiện
trong đời
sống của
Chúa
Giêsu.
Thứ đến,
chúng ta
có thể
thấy từ
một vài
câu trong
các Thư
Thánh
Phaolô
một số ám
chỉ khác
nhau đã
được
truyền
thống
Nhất Lãm
xác nhận.
Thí dụ
các lời
mà chúng
ta đọc
trong Thư
thứ nhất
gửi tín
hữu
Thêxalônica,
theo đó
thì
“ngày
của Chúa
sẽ đến
như kẻ
trộm
trong
đêm”
(5,2),
không thể
dựa theo
các lời
tiên tri
trong Cựu
Ước mà
giải
thích
được, bởi
vì việc
so sánh
với kẻ
trộm
trong đêm
chỉ được
tìm thấy
trong Tin
Mừng
Thánh
Matthêu
và Luca,
như thế
những lời
ấy phải
được
trích ra
từ truyền
thống
Nhất Lãm.
Và khi
một người
đọc rằng
Thiên
Chúa
“chọn
sự điên
dại của
thế gian”
(1 Cr
1,27-28),
người ta
có thể
nhận ra
đó là
tiếng
vang vọng
trung
thực của
Giáo Huấn
của Chúa
Giêsu về
những
người đơn
sơ và khó
nghèo (x.
Mt 5,3;
11,25;
19,30).
Cũng có
những lời
của Chúa
Giêsu
trong Lễ
Đại Xá
cứu thế;
“Lạy Cha,
là Chúa
Trời đất,
Con cảm
tạ Cha vì
cha đã
giấu
không cho
bậc khôn
ngoan
thông
thái biết
những
điều này,
nhưng lại
mặc khải
cho những
người như
trẻ nhỏ."
Thánh
Phaolô
biết --
từ kinh
nghiệm
truyền
giáo của
ngài --
rằng
những lời
này là
chân
thật,
những
người
giống trẻ
nhỏ là
những
người có
con tim
mở ra để
đón nhận
sự hiểu
biết về
Đức Kitô.
Cũng thế,
việc nhắc
đến sự
vâng phục
của Chúa
Giêsu
“cho
đến chết”
mà chúng
ta thấy
trong thư
gửi tín
hữu
Philipphê
2,8 không
nói về
điều gì
khác
ngoài
việc hoàn
toàn sẵn
lòng của
Chúa
Giêsu khi
còn tại
thế để
làm trọn
Thánh Ý
Chúa Cha
(x. Mc
3,35; Ga
4,34).
Cho nên
Thánh
Phaolô đã
biết về
Cuộc Khổ
Nạn của
Đức Kitô,
Thập Giá
của
Người, và
cách
Người đã
sống
trong
những
giây phút
cuối cùng
của đời
Người.
Thập Giá
của Chúa
Giêsu và
truyền
thống về
sự thật
của Thập
Giá nằm ở
trọng tâm
của Lời
Rao Giảng
của Thánh
Phaolô.
Một cột
trụ khác
của cuộc
đời Chúa
Giêsu mà
Thánh
Phaolô đã
biết là
Bài Giảng
Trên Núi,
một số
yếu tố
của Bài
Giảng này
được nhắc
lại hầu
như từ
chương
khi ngài
viết cho
tín hữu
Rôma:
“Anh
chị em
hãy yêu
thương
nhau. …
Phúc cho
những ai
bị bách
hại. …
Anh chị
em hãy
sống hòa
thuận với
mọi
người. …
Hãy thắng
sự dữ
bằng việc
lành”.
Trong các
Thư của
ngài có
sự diễn
tả trung
thực
[những
điều
trong]
Bài Giảng
Trên Núi
(x. Mt
5-7).
Sau cùng,
chúng ta
có cách
thứ ba để
tìm thấy
lời của
Chúa
Giêsu
trong các
Thư của
Thánh
Phaolô:
đó là khi
ngài hoán
chuyển
truyền
thống của
thời Tiền
Phục Sinh
thành Hậu
Phục
Sinh. Một
thí dụ cụ
thể là đề
tài về
Nước
Thiên
Chúa. Đây
chắc chắn
là trung
tâm của
việc
giảng dạy
của Đức
Kitô lịch
sử (x. Mt
3,2; Mc
1,15; Lc
4,43).
Trong
cách hoán
chuyển
của Thánh
Phaolô đề
tài này
được thấy
rõ ràng,
vì sau
khi Phục
Sinh rõ
ràng là
Chúa
Giêsu,
Đấng Phục
Sinh, là
Nước
Thiên
Chúa. Khi
ấy, Chúa
Giêsu ở
đâu thì
Nước
Thiên
Chúa ở
đó. Và
như thế
sự cần
thiết của
đề tài về
Nước
Thiên
Chúa, mà
trong đó
mầu nhiệm
của Đức
Kitô đã
được thấy
trước,
được biến
đổi thành
Kitô học.
Các giáo
huấn của
chính
Chúa
Giêsu về
việc làm
sao để
được vào
Nước
Thiên
Chúa cũng
đúng đối
với Thánh
Phaolô về
việc công
chính hóa
nhờ Đức
Tin: Cả
hai đòi
hỏi một
thái độ
khiêm
nhường
hết sức
và sẵn
lòng,
không tự
phụ, để
nhận được
ân sủng
của Thiên
Chúa. Thí
dụ, dụ
ngôn
người
Biệt Phái
và người
Thu Thuế
(x. Lc
18,9-14)
dạy chính
điều mà
Thánh
Phaolô
bàn đến
khi ngài
quả quyết
rằng
không ai
được tự
khoe mình
trước sự
hiện diện
của Thiên
Chúa.
Cũng thế,
giáo huấn
của Chúa
Giêsu về
những
người thu
thuế và
gái điếm,
là những
người sẵn
sàng đón
nhận Tin
Mừng hơn
những
người
Biệt Phái
(x. Mt
21,31; Lc
7,36-50),
và quyết
định ngồi
ăn cùng
bàn với
họ của
Người (x.
Mt
9:10-13;
Lc
15:1-2),
được tìm
thấy
trong học
thuyết
của Thánh
Phaolô về
mầu nhiệm
tình yêu
của Thiên
Chúa dành
cho những
người tội
lỗi (x.
Rm 5,8-10
và Ep
2,3-5).
Bằng cách
này, đề
tài về
Nước
Thiên
Chúa được
đề ra
bằng một
phương
thức mới
mẻ, nhưng
luôn luôn
trung
thành với
truyền
thống của
Chúa
Giêsu
lịch sử.
Một thí
dụ khác
về việc
hoán
chuyển
một cách
trung
thành
trọng tâm
giáo
thuyết
của Chúa
Giêsu
được tìm
thấy
trong các
“tước
hiệu” nói
về Người.
Trước
Phục
Sinh, Đức
Kitô tự
xưng mình
là “Con
Người”;
sau Phục
Sinh rõ
ràng là
Con Người
cũng là
Con Thiên
Chúa. Cho
nên, tước
hiệu mà
Thánh
Phaolô
thích
dùng để
nói về
Chúa
Giêsu là
“Kyrios”
– Chúa
(x. Pl
9,11) --
tước hiệu
ấy ám chỉ
Thiên
Tính của
Chúa
Giêsu.
Với tước
hiệu này
Chúa
Giêsu
xuất hiện
trong ánh
sáng sung
mãn của
sự Phục
Sinh của
Người.
Trên Núi
Cây Dầu,
trong
giây phút
“cực kỳ
đau buồn”
của Chúa
Giêsu (x.
Mc
14,36),
các môn
đệ, trước
khi mê
ngủ, đã
nghe Chúa
Giêsu nói
với Chúa
Cha và
gọi Ngái
là “Abba
– Cha
ơi”. Đây
là một
lời rất
thân
tình,
giống như
“bố ơi”,
chỉ dành
cho con
cái gọi
cha mình.
Cho đến
giây phút
ấy, việc
một người
Hipri
dùng lời
như vậy
mà gọi
Thiên
Chúa là
một điều
không
tưởng;
nhưng
Chúa
Giêsu, là
người Con
thật, nói
như thế
trong giờ
mật thiết
và gọi
“Abba,
Cha ơi”.
Trong Thư
Thánh
Phaolô
gửi tín
hữu Rôma
và
Galatê,
điều đáng
ngạc
nhiên là
chữ
“Abba”
dùng để
diễn tả
liên hệ
riêng cuả
Chúa
Giêsu với
Chúa Cha
được phát
ra từ
miệng
những
người
được rửa
tội (x.
Rm 8,15;
Gl 4,6).
Họ đã
nhận được
“Thần Khí
làm Nghĩa
Tử” và
giờ đây
mang
trong
chính
mình họ
Thần Khí
này, và
họ có thể
nói như
Chúa
Giêsu và
cùng với
Chúa
Giêsu như
những con
cái thật
của Chúa
Cha. Họ
có thể
gọi
“Abba”
bởi vì họ
đã được
biến đổi
thành con
cái trong
Chúa Con.
Và cuối
cùng, cha
muốn vạch
ra chiều
kích cứu
độ của
cái chết
của Chúa
Giêsu,
như chúng
ta thấy
trong Tin
Mừng mà
trong đó
“Con
Người
không đến
để được
phục vụ
mà để
phục vụ
và hiến
mạng sống
mình làm
giá chuộc
tội nhiều
người”
(Mc
10,45; Mt
20,28).
Cách diễn
tả trung
thực câu
này của
Chúa
Giêsu
xuất hiện
trong học
thuyết
Thánh
Phaolô về
cái chết
của Chúa
Giêsu như
là một sự
giải
thoát (x.
1 Cr
6,20),
như sư
cứu độ
(x. Rm
3,24),
như giải
phóng (x.
Gl 5,1)
và như
hòa giải
(x. Rom
5,10; 2
Cr
5,18-20).
Đây là
trung tâm
của Thần
Học Thánh
Phaolô,
là một
nền thần
học dựa
vào câu
này của
Chúa
Giêsu.
Để kết
luận,
Thánh
Phaolô đã
không
nghĩ rằng
Chúa
Giêsu là
điều gì
lịch sử,
điều gì
trong quá
khứ. Ngài
chắc chắn
biết
truyền
thống cao
cả về
cuộc sống
của
Người,
lời nói,
cái chết
và sự
Phục Sinh
của
Người,
nhưng
ngài
không coi
những
biến cố
đó là
những gì
trong quá
khứ; ngài
đưa các
biến cố
này ra
như những
thực tại
của Chúa
Giêsu vẫn
còn sống.
Những lời
nói và
hành động
này của
Chúa
Giêsu đối
với Thánh
Phaolô
không gắn
liền với
một thời
điểm lịch
sử, với
quá khứ.
Chúa
Giêsu
hiện vẫn
sống và
nói với
chúng ta,
và sống
cho chúng
ta. Đó là
cách đích
thực để
biết Chúa
Giêsu,
không
phải cách
tự nhiên,
như một
người
trong quá
khứ,
nhưng như
là Chúa
và Anh
của chúng
ta, mà
ngày nay
đang ở
với chúng
ta cùng
chỉ cho
chúng ta
phải sống
thế nào
và chết
thế nào.
Đức Thánh
Cha
Bênêđíctô
XVI.
(Phaolô
Phạm Xuân
Khôi
chuyển
ngữ -
Nguồn:
giaoly.org)