PHẦN ĐỌC THÊM
Để tăng thêm giá trị cho cuốn Sách
nhỏ này, tôi đưa hai bài đọc thêm
vào phần cuối Sách. Bài thứ nhất
“ĐỌC THƯ CHUNG HĐ GIÁM MỤC VIỆT NAM
2007: GƯƠNG SÁNG” là của Đức Cha
Gioan Baotixita Bùi Tuần. Ngài chẳng
những cho phép mà còn hoan nghênh ý
kiến của tôi là đưa bài của ngài vào
Sách này. Bài thứ hai “ĐÀO TẠO LUÂN
LÝ VÀ TÔN GIÁO TRONG GIÁO DỤC” là
của Đức Cha
Phaolô Bùi Văn Đọc. Dù tôi
không nhận được thư cho phép của
ngài nhưng vẫn mạn phép đưa bài của
ngài vào Sách, vì giả thiết là ngài
cũng đồng ý. Con xin hết lòng cảm ơn
Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần và
Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc.
BÀI MỘT
ĐỌC THƯ CHUNG HĐGM VIỆT NAM: 2007
GƯƠNG SÁNG
Thư chung HĐGMVN 2007 mới vừa tới
tay tôi. Tôi đã đọc và rất vui mừng.
Nhiều điều trong thư đáng suy gẫm.
Riêng đối với tôi, cụm từ
"Chấn chỉnh"
ở cuối thư đã gợi ý nhiều.
Thực sự, có nhiều điều cần được chấn
chỉnh trong giáo dục Kitô giáo tại
Việt Nam hôm nay. Nhưng thiết nghĩ
điều cần chấn chỉnh nhất sẽ là "làm
gương sáng".
Tôi xin phép chia sẻ đôi chút suy tư
của tôi. Mong suy tư nhỏ bé này cũng
phản ánh tâm tư các vị chủ chăn.
1/ Trước hết, cần nhấn mạnh đến nhu
cầu làm gương sáng trong sứ vụ yêu
thương
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu và các
tông đồ luôn kêu gọi sống yêu
thương. Vì yêu thương là đặc điểm
của những người tin theo Chúa Giêsu.
"Thầy ban cho các con một điều răn
mới là các con hãy thương yêu nhau,
như chính Thầy đã yêu thương các
con.
"Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết
các con là môn đệ Thầy, là các con
có lòng thương yêu nhau" (Ga
14,24-25).
Sống yêu thương là một thách đố lớn
nhất trong đời tôi. Đời tôi phải
trải qua những chặng đường lịch sử
có nhiều mâu thuẫn, có nhiều xung
đột, có nhiều hận thù.
Khi được sai đến địa phương này, tôi
thấy dân địa phương này sống đạo rất
đơn sơ. Họ đặt nặng đạo hiếu, tình
liên đới tương trợ, và từ thiện đối
với người nghèo. Những điều tôi thấy
đã giúp tôi suy nghĩ nhiều về điều
răn mới của Chúa Giêsu. Nếu tôi và
những người công giáo của tôi không
triệt để thực thi điều răn yêu
thương, chỉ mãi lo chuyện khác, thì
tôi sợ đạo Chúa sẽ mang một bộ mặt
thiếu hấp dẫn.
Một lần, tôi đề cập đến vấn đề theo
đạo công giáo với một tín đồ Phật
giáo Hoà Hảo ở đây, tôi sửng sốt
được nghe câu trả lời như sau "Ai
dại gì lại bỏ cái tốt mà theo cái
không tốt".
Lỗi tại họ chưa thấy hết vẻ đẹp của
đạo ta, hay lỗi tại ta chưa đủ vẻ
đẹp đạo đức để làm chứng cho đạo
mình?
2/ Cùng với gương sáng về yêu
thương, chúng ta cần quan tâm hơn
nữa về gương sáng trong sứ vụ tu
thân
Nhiều tín đồ tôn giáo bạn rất chú
trọng đến việc sống tu thân. Sống
đạo của họ rất nhẹ về cơ chế và tổ
chức, thích đi vào tu thân.
Họ coi tu thân bên trong bên ngoài
như một dấu chỉ đạo đức. Nhiều lần,
trong những bữa cơm được mời, người
ta thấy các vị tu bên Phật giáo thì
giữ chay, các vị tu bên Tin Lành thì
không uống rượu, còn các vị tu bên
Công giáo thì hoà mình. Chọn lựa này
chắc phải có lý do chính đáng.
Xưa Chúa Giêsu phán xưa: "Ai muốn
theo Thầy, phải từ bỏ chính mình,
vác thập giá mình mà theo" (Mt
16,24). Chúa phán lời trên đây cho
mọi người công giáo, nhưng nhất là
cho các bậc tu trì. Nhiều người đã
thực thi lời đó cả trong cả ngoài
với tất cả lương tâm người tin theo
Chúa. Tiếc thay là gương sáng về tu
thân hiện nay có vẻ như đang trong
thử thách.
Hiện nay, những chuyện lôi thôi về
tiền bạc, về hưởng thụ, về tục hoá,
về ghen tương, về hưởng thụ thoải
mái xem ra đang có chiều hướng gia
tăng, ngay cả trong giới nhà tu. Tuy
không tràn lan, nhưng đủ để trở
thành phản chứng. Đang khi tu thân
vẫn được coi là một nhân đức xã hội
rất cần cho việc chấn chỉnh đạo đức
trong đạo ngoài đời.
3/ Sau cùng, rất cần có nhiều gương
sáng trong sứ vụ truyền giáo
Đọc Tông đồ Công vụ, tôi thấy có ba
trường hợp truyền giáo làm tôi rất
kinh ngạc.
Một là trường hợp Chúa chọn ông
Saolô là người đang hăng hái bắt bớ
đạo Chúa trở nên tông đồ dân ngoại.
Chúa phán bảo ông Khanania phải đi
đến tìm Saolô. Khanania sợ hãi,
không muốn vâng. Nhưng Chúa phán:
"Con cứ đi, vì người ấy là lợi khí
Ta chọn, để mang danh Ta đến trước
mặt các dân ngoại" (Cv 9,15).
Hai là trường hợp thánh Phaolô thấy
Chúa Thánh Thần xuống trên những
người ngoại giáo đang nghe Ngài
giảng. Thánh Phêrô nói: "Những người
dân ngoại này cũng được Chúa Thánh
Thần xuống, cũng như chúng ta" (Cv
10,47). Vì thế, thánh Phêrô đã làm
phép rửa cho họ.
Bà là trường hợp thánh Phaolô ra đi
truyền giáo cho những nơi Ngài biết
là sẽ gặp khổ. Ngài nói: "Giờ đây,
bị Thần Khí trói buộc, tôi về
Giêrusalem, mà không biết những gì
sẽ xảy ra cho tôi tại đó, trừ ra
điều này là: Tôi đến thành nào, thì
Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng
xiềng xích và gian truân đang chờ
đợi tôi" (Cv 20,22-23).
Trong truyền giáo, Chúa có những
chương trình bất ngờ. Người truyền
giáo cần khiêm tốn vâng phục ý Chúa.
Dù hướng Chúa sai vào coi như quá
mở, dù hướng Chúa sai đến phải nhận
là quá khổ.
Thời nay là thời truyền giáo. Nhiều
gương sáng đã được ghi nhận. Nhưng
vẫn còn không ít những tính toán thế
tục trong việc loan báo Tin Mừng.
Để kết bài chia sẻ này, tôi xin một
lần nữa nói về cái nhìn riêng tư.
Đó là tôi tin: Chúa Giêsu đã phục
sinh. Người đang sống giữa chúng ta.
Người đang hoạt động giữa chúng ta
lúc này. Chính Người lúc này đang
gọi chúng ta hãy theo Người. Chính
Người lúc này đang đợi chờ tình yêu
chúng ta trả lời tình yêu của Người.
Chính lúc này, nhiều người đã đáp
lại. Họ đang trở nên gương sáng.
Gương sáng về sự khiêm tốn trở về.
Gương sáng về sự âm thầm dấn thân.
Gương sáng về sự quảng đại sống yêu
thương. Gương sáng về sự can đảm
chọn nếp tu thân. Gương sáng về đức
tin khiêm nhường phó thác.
Nhờ vậy nhiều nơi, nền giáo dục Kitô
giáo tại Việt Nam hôm nay đang gieo
niềm vui và hy vọng.
+ Gm. Gioan Baotixita Bùi Tuần (Long
Xuyên, ngày 21/10/2007).
BÀI HAI
ĐÀO TẠO LUÂN LÝ VÀ TÔN GIÁO TRONG
GIÁO DỤC
(Ghi chép từ hội nghị FABC về giáo
dục tại Thái Lan (24-28.10.2007,
Assumption University)
Từ ngày 24-28 tháng 10 năm 2007, tại
Đại học Assumption, Thái Lan, đã
diễn ra hội nghị về Đối thoại trong
đào tạo luân lý và tôn giáo trong
giáo dục, được tổ chức bởi Văn Phòng
về Giáo Dục và Tuyên Uý Sinh Viên
(Office of Education and Student
Chaplaincy – OESC), trực thuộc Liên
Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC). Uỷ
Ban Giáo Lý Đức Tin đã cử linh mục
đại diện tham dự Hội nghị này. Bài
viết sau đây là những ghi nhận tóm
lược từ những gì diễn ra tại Hội
nghị nêu trên. Xin trân trọng giới
thiệu.
Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC)
là tổ chức xuyên quốc gia nhằm liên
kết Hội Đồng Giám Mục của các quốc
gia tại Á châu trong tình hiệp
thông, và chia sẻ với nhau những suy
tư cũng như nỗ lực trong công cuộc
loan báo Tin Mừng cho các dân tộc Á
châu. Để thực hiện mục đích trên,
FABC có nhiều Văn Phòng (Offices),
mỗi văn phòng đặc trách một lãnh vực
trong sinh hoạt mục vụ đa dạng của
Hội Thánh. Như tên gọi của nó, Văn
Phòng về Giáo Dục và Tuyên Uy Sinh
Viên (Office of Education and
Student Chaplaincy – OESC) quan tâm
đặc biệt đến lãnh vực giáo dục và
trong những năm qua, Văn phòng này
đã tổ chức nhiều hội nghị về nhiều
chủ đề khác nhau như : Đối thoại với
Hồi giáo (2005), Công giáo gặp gỡ
Khổng giáo, Lão giáo, và tôn giáo
bình dân (2006), Dạy giáo lý trong
gia đình : những thách đố từ thực tế
của châu Á (2006). Cũng Văn phòng
này đã tổ chức hội nghị về Đối thoại
trong đào tạo luân lý và tôn giáo
trong giáo dục, từ 24-28 tháng 10
năm 2007 tại Đại học Assumption,
Thái Lan.
Hội nghị đã quy tụ khoảng 40 tham dự
viên từ 15 quốc gia, hầu hết là đại
diện các Ủy ban về giáo dục thuộc
các Hội đồng giám mục. Phía Giáo hội
Việt Nam có một linh mục đi thay cho
Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc (Chủ tịch
Ủy ban Giáo lý đức tin), một bạn trẻ
hiện đang học tại Manila,
Philippines, và một bạn trẻ Việt Nam
đang làm việc cho văn phòng Thanh
Sinh Công châu Á tại Manila,
Philippines.
TỪ NHỮNG GÌ ĐƯỢC NGHE
Trong ngày làm việc đầu tiên, hội
nghị đã lắng nghe hai bài thuyết
trình của cha Charles Morerod, O.P.,
khoa trưởng khoa Triết học tại Đại
học Thánh Tôma, Roma, và của cha
Vimal Tirimanna, Cssr., Thư ký
thường trực của Ủy ban Thần học
FABC. Với tựa đề Bốn thập niên đối
thoại, cha Charles Morerod đã dựa
vào những giáo huấn chính yếu của
Công đồng Vaticanô II và của các vị
giáo hoàng từ Đức Phaolô VI đến Đức
Bênêđitô XVI để cho thấy quan điểm
của Giáo Hội công giáo về đối thoại
tôn giáo. Một đàng đối thoại là chọn
lựa rõ ràng và xuyên suốt của Giáo
Hội, đàng khác cần xác định những
chuẩn mực để tránh những quan điểm
sai lầm, vd. chủ thuyết loại trừ
(exclusivism) hoặc chủ trương đa
nguyên tôn giáo (religious
pluralism), đồng thời để có thể tiến
hành cuộc đối thoại thật sự hữu ích
và phong phú. Bài thuyết trình của
cha Vimal vẫn nhấn mạnh đến đối
thoại tôn giáo nhưng đặt nó trong
một bối cảnh cụ thể hơn là châu Á,
đồng thời mang tính mục vụ hơn là lý
thuyết khi tìm cách đưa cuộc đối
thoại đó vào trong việc đào tạo luân
lý và tôn giáo cho con người ngày
nay.
Cùng với những bài thuyết trình mang
tính lý thuyết và định hướng trên là
những chia sẻ kinh nghiệm của nhiều
anh chị em giáo dân về nỗ lực đào
tạo luân lý và tôn giáo trong môi
trường họ làm việc : giáo sư đại
học, người cha trong gia đình, lãnh
đạo sinh viên, phóng viên... Riêng
phía Việt Nam, một bạn trẻ thuộc
giáo phận Xuân Lộc hiện đang học
ngành Truyền giáo tại Manila đã
trình bày đề tài Giới trẻ Việt Nam
trong tiến trình toàn cầu hoá ngày
nay : những thời cơ và thách đố. Bài
trinh bày này đã được hội nghị đón
nhận rất tích cực và đầy thiện cảm.
Sau khi lắng nghe những định hướng
thần học cũng như chia sẻ kinh
nghiệm sống, sang ngày thứ hai, hội
nghị tập trung vào việc phân tích và
suy nghĩ về tình hình giáo dục luân
lý và tôn giáo tại Á châu. Công việc
này được tiến hành bằng cách tổng
kết những bài tường trình của các
quốc gia. Trước khi tham dự hội
nghị, mỗi Giáo hội địa phương được
yêu cầu gửi bài tường trình về tình
hình giáo dục tại đất nước mình. Á
châu là một đại lục mênh mông chiếm
gần 2/3 dân số thế giới, vì thế tuy
cùng sống tại Á châu nhưng tình hình
giáo dục trong mỗi quốc gia có thể
rất khác nhau. Trong khi Philippines
được coi là đất nước đại đa số công
giáo, thì tại nhiều đất nước khác,
người công giáo chỉ là một thiểu số
hết sức khiêm tốn. Trong khi hầu hết
các Giáo hội hoạt động rất mạnh
trong lãnh vực giáo dục học đường
thì Việt Nam và Myanmar không hề có
trường công giáo... Vì thế, những
bản tường trình của các quốc gia
giúp cho hội nghị có một tầm nhìn
bao quát hơn về chủ đề đang quan
tâm, đồng thời phát huy tình liên
đới giữa các giáo hội chị em trong Á
châu rộng lớn. Tình liên đới này
được cụ thể hoá hơn nữa trong những
buổi họp nhóm theo từng miền : Nam
Á, Đông Nam Á, Trung Á, và Đông Bắc
Á châu, bởi lẽ trong những cuộc họp
nhóm đó, các tham dự viên không chỉ
nghe những bài tường trình mà còn
gặp gỡ chính con người và có thể đặt
những câu hỏi mà mình quan tâm.
Ngày cuối cùng của hội nghị được
dành cho việc tổng kết và lên kế
hoạch. Ban Tổ chức sử dụng phương
pháp SWOT (Strengths, Weaknesses,
Opportunities, Threats – Những diểm
mạnh, Những điểm yếu, Thuận lợi, Đe
doạ) để tổng kết tình hình đào tạo
luân lý và tôn giáo chủ yếu trong
giáo dục học đường. Tất cả những
tổng kết này sẽ được dùng làm tư
liệu góp ý cho các giám mục Á châu
để các ngài suy nghĩ và có những
định hướng cụ thể.
ĐẾN NHỮNG ĐIỀU ĐỂ NGHĨ
Mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức
khiêm tốn là 2%, Giáo Hội công giáo
lại đóng vai trò rất tích cực trong
công cuộc giáo dục tại Á châu đến
nỗi giáo dục được coi là yếu tố
chính yếu cho sự hiện diện của Giáo
Hội trên đại lục này (x. Ecclesia in
Asia, số 37). Hãy thử lấy đại học
Assumption, nơi diễn ra hội nghị,
làm ví dụ minh hoạ. Bất cứ ai đến
đây đều phải ngỡ ngàng trước tầm vóc
và quy mô rộng lớn của đại học này.
Toạ lạc trên một vùng đất rộng 200
mẫu, campus của Assumption
University là một tổng thể kiến trúc
vĩ đại và hài hoà được dùng làm nơi
học tập, nghiên cứu, sinh hoạt của
20.000 sinh viên đến từ 74 quốc gia,
dĩ nhiên phần lớn từ các nước Á
châu, trong đó có Việt Nam. Một đất
nước như Thái Lan chỉ có 0.5% dân số
là công giáo nhưng lại có một đại
học công giáo ngang tầm với những
đại học lớn trên thế giới, chưa kể
đến những đại học công giáo khác như
St. John University... Sự kiện đó đủ
nói lên vai trò của Giáo Hội công
giáo trong công cuộc giáo dục tại Á
châu.
Tuy nhiên việc đào tạo luân lý và
tôn giáo, và sâu hơn nữa là chính
căn tính công giáo của những đại học
đó lại đang bị đặt thành vấn đề. Có
thể nói đến những lý do từ phía bên
ngoài cũng như từ phía bên trong.
Thế giới ngày nay in đậm dấu ấn của
chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa
tương đối, theo đó những giá trị
tinh thần và đạo đức bị đặt xuống
hàng thứ yếu. Đây quả là một thách
đố rất lớn cho việc giáo dục luân lý
nói chung, và cách riêng trong giáo
dục học đường. Trong xu thế cạnh
tranh giữa các đại học, các trường
công giáo cũng phải phát huy nghiên
cứu chuyên môn (academic research)
đến mức tối đa, và nhiều khi coi nhẹ
việc đào tạo luân lý, tôn giáo. Hơn
thế nữa, đôi khi vì để theo kịp cái
gọi là “xu thế tiến bộ của thời
đại,” các trường công giáo cũng chấp
nhận những lập trường về luân lý
hoặc những khuynh hướng thần học vốn
không phù hợp với giáo huấn truyền
thống của Giáo Hội. Cuối cùng, như
một trắc nghiệm cụ thể, câu hỏi được
đặt ra cho giáo dục công giáo là
liệu nền giáo dục đó có mang lại
hiệu quả tích cực cho đời sống xã
hội không? Trong một buổi họp nhóm,
câu hỏi này đã được đặt ra cho một
vị đại diện người Philippines :
trong một đất nước mà nền giáo dục
công giáo được coi là thống lĩnh và
những nhà lãnh đạo đất nước đều được
đón nhận nền giáo dục đó, tại sao
tình trạng tham nhũng và bất công
vẫn cứ lan tràn? Chắc chắn đây là
câu hỏi rất đau đớn nhưng không nhằm
công kích mà chỉ được nêu lên để tự
tra vấn về giáo dục công giáo.
Đặt mình vào bối cảnh trên mới thấy
rõ hơn ý nghĩa của chủ đề hội nghị
là Đối thoại trong đào tạo luân lý
và tôn giáo trong giáo dục. Nói đến
định hướng mục vụ của FABC là nói
đến cuộc đối thoại ba mặt : (1) với
các tôn giáo, (2) với các nền văn
hoá, (3) với người nghèo. Vì thế
không lạ gì khi hai bài thuyết trình
chủ chốt của hội nghị đều nhấn mạnh
đến đối thoại tôn giáo. Tuy nhiên
tôn giáo nào cũng cần quan tâm đến
nền văn hoá hiện đại, hay như người
ta nói ngày nay là văn hoá hậu hiện
đại. Chính nền văn hoá đó đã và đang
xói mòn và hủy diệt những giá trị
đạo đức và tôn giáo, và đó là mối đe
doạ cho mọi tôn giáo chứ không riêng
gì công giáo. Do đó, việc đối thoại
với nền văn hoá đó sẽ trở thành miền
đất chung (common ground) cho cuộc
đối thoại giữa các tôn giáo, nhằm
bảo vệ và phát huy những giá trị
tinh thần và tôn giáo thông qua con
đường giáo dục.
Trông người lại nghĩ đến ta. Xem ra
Giáo Hội Việt Nam có vẻ lạc lõng
quá! Đi họp về giáo dục học đường
trong khi mình không có lấy một
trường công giáo thì lạc lõng là
phải rồi. Nhưng chính trong hoàn
cảnh khó khăn và eo hẹp đó, có thể
ta lại quan tâm hơn đến những lãnh
vực khác mà người có phương tiện
không quan tâm đủ.
Trước hết là một lãnh vực liên quan
trực tiếp đến giáo dục học đường,
tức là những nhà trẻ do các nữ tu
đảm trách. Không ít người trong Giáo
Hội chỉ thấy đây là cách kiếm kế
sinh nhai của các nhà dòng. Dĩ nhiên
không thể phủ nhận sự thật này nhưng
nếu chỉ có thế thì thật đáng buồn,
nếu không nói là sự xúc phạm đối với
các nữ tu. Tại sao lại không thấy
giai đoạn nhà trẻ là giai đoạn hết
sức quan trọng trong việc hình thành
nhân cách của một con người? Tại sao
lại không thấy giai đoạn này là giai
đoạn căn bản để gieo trồng những giá
trị đạo đức và tinh thần cho các em?
Và nếu các phụ huynh – không chỉ
công giáo mà rất nhiều người ngoài
công giáo – mong ước được gửi con
đến những nhà trẻ của các nữ tu công
giáo, chẳng phải vì họ hi vọng rằng
con cái họ sẽ được gieo trồng những
giá trị đạo đức căn bản cho cuộc
sống làm người trong tương lai đó
sao? Đặt những câu hỏi như thế để
nêu bật tầm quan trọng của công việc
giáo dục nhà trẻ mà nhiều nhà dòng
đang dấn thân vào. Đó thật sự là một
dấn thân tông đồ rất đáng khuyến
khích và cần phải phát huy hơn nữa,
phát huy khả năng và nghiệp vụ
chuyên môn cũng như phát huy ý thức
sắc bén về việc giáo dục đạo đức và
tôn giáo cho các em.
Một lãnh vực khác cần được nhắc đến
ở đây là các lớp tình thương. Trong
hội nghị, một bạn trẻ đại diện của
Thái Lan than thở là học phí tại các
trường công giáo đều quá cao so với
mức sống trung bình của người dân,
nên muốn vào cũng không được. Chính
các vị có trách nhiệm về giáo dục
công giáo tại Thái Lan cũng không
phủ nhận sự thật đó. Giáo Hội dường
như đứng trước ngõ bí vì nếu muốn
phát triển trường học ở mức độ cao,
đòi hỏi phải trang bị phương tiện
hiện đại, đội ngũ giảng viên có
trình độ và tiếng tăm... và như thế
bắt buộc phải lấy học phí cao. Vậy
phải làm gì để nền giáo dục công
giáo cũng được mang tới cho những
thành phần nghèo trong xã hội? Tại
Việt Nam, trong hoàn cảnh không được
mở trường công giáo, nhiều dòng tu
và giáo xứ lại cố gắng mở các lớp
tình thương để lo cho những trẻ em
nghèo, những trẻ em đường phố, những
trẻ em trong các gia đình có hoàn
cảnh khó khăn... để các em cũng được
học hành như các thiếu nhi khác, và
để cuộc đời các em không sớm bị
những tệ nạn xã hội quật ngã. Lại
chẳng phải là sự dấn thân tông đồ
tuyệt vời trong lãnh vực giáo dục đó
sao?
Ngoài hai hình thức liên quan trực
tiếp đến giáo dục học đường nêu
trên, làm sao không thể không nói
đến vai trò của gia đình trong việc
giáo dục, đặc biệt là đào tạo những
giá trị luân lý và tôn giáo. Một
trong những nét văn hoá truyền thống
của các dân tộc châu Á là nhấn mạnh
đến gia đình. Gia đình chính là nhà
trường đầu tiên và xuyên suốt cho
việc đào tạo những giá trị đạo đức
và tôn giáo. Hơn thế nữa, gia đình
còn là nơi giáo dục hiệu quả nhất vì
ở đó, những bài học luân lý và tôn
giáo không chỉ được thông truyền như
những kiến thức xuông mà như kinh
nghiệm để sống và bầu khí quyển để
thở. Những nhà giáo dục trong ngôi
trường này là các bậc cha mẹ cũng
không chỉ làm công việc giảng dạy
như một công việc được trả lương
nhưng như công việc của tình yêu
(labor of love, một châm ngôn của
các nhà giáo dục dòng Gabriel).
Chính vì thế gia đình là nơi không
thể thay thế trong công việc thông
truyền những giá trị đạo đức và tinh
thần cho con người, từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Tuy nhiên trong
tiến trình toàn cầu hoá ngày nay,
đời sống gia đình tại nhiều nước
châu Á đang bị đe doạ. May mắn thay
là tại Việt Nam, mối dây gia đình,
cách riêng gia đình công giáo, còn
khá bền chặt, và vì thế gia đình vẫn
đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc đào tạo cho những giá trị
đạo đức và tôn giáo cho thế hệ tương
lai. Dù vậy, những gì đang diễn ra
tại nhiều nước châu Á cũng như tại
Việt Nam khiến ta không thể không
quan tâm đến sự liên kết mật thiết
giữa Mục vụ Gia đình và công việc
giáo dục đức tin.
Cuối cùng, một điểm son của Giáo Hội
Việt Nam là vai trò của các giáo xứ.
Trong nhiều đất nước có trường công
giáo, việc giáo dục đạo đức và tôn
giáo được trao cho nhà trường, còn
giáo xứ chỉ đóng vai trò khiêm tốn
trong lãnh vực này. Tuy nhiên trong
khuôn khổ học đường, nhiều khi việc
giảng dạy các giá trị đạo đức và tôn
giáo chỉ được coi như một môn học
cung cấp kiến thức chứ không nhằm
chuyển thông sự sống đức tin, và như
thế chưa thể nói là đã đạt hiệu quả.
Tại Việt Nam, việc giáo dục đức tin
công giáo hoàn toàn do các giáo xứ
đảm nhận. Trong khuôn khổ giáo xứ,
các lớp giáo lý được tổ chức không
chỉ nhằm chuẩn bị cho các thiếu nhi
rước lễ lần đầu và chịu phép Thêm
sức, nhưng còn tiếp tục huấn luyện
cho đến khi trưởng thành. Hơn thế
nữa, những giờ giáo lý tại các giáo
xứ được gắn liền với đời sống phụng
vụ và những sinh hoạt của xứ đạo, do
đó có khả năng thông truyền sự sống
đức tin cách sống động và hiệu quả
hơn. Đây quả là điểm tích cực mà các
giáo xứ cần phát triển mạnh mẽ hơn
cho dù có không ít khó khăn.
Để kết
Dù phải sống trong hoàn cảnh còn eo
hẹp về mặt giáo dục học đường, Giáo
Hội công giáo tại Việt Nam vẫn luôn
cố gắng để chu toàn trách nhiệm đào
tạo đạo đức và tôn giáo cho thế hệ
tương lai. Dẫu sao việc dấn thân xa
hơn vào lãnh vực giáo dục học đường
vẫn là niềm thao thức và mơ ước của
nhiều người trong Giáo Hội, không để
cạnh tranh quyền lực với bất cứ ai
nhưng chỉ để chu toàn sứ mạng yêu
thương và phục vụ của Chúa Kitô trên
quê hương mình. Cũng ở đó phát sinh
một lời hỏi : giả như ngay bây giờ,
Giáo Hội được phép mở trường học như
tại các quốc gia khác, liệu Giáo Hội
đã sẵn sàng chưa, và có thể làm công
việc đó với hiệu quả tốt nhất chưa?
+ Phaolô BÙI VĂN ĐỌC, Giám mục Mỹ
Tho, Chủ Tịch UBGLĐT
LỜI CÁM ƠN
Con xin chân thành cảm ơn Đức Cha
Giuse Trần Xuân Tiếu, Giám Mục Long
Xuyên, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Dân của
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Cha
Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Giám Đốc
Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo Phận
Sàigòn là hai người đã dành nhiều
thời gian đọc bản thảo và cho con
nhận xét quý báu và góp ý cặn kẽ,
để cuốn Sách nhỏ của con được như
thế này.
Seatlle ngày 20 tháng 11 năm 2007
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội