VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Nhập
Ðề
Thân
Phận
Con
Người
Trong
Thế
Giới
Ngày
Nay
4*
4.
Hy
vọng
và
lo
âu.
Ðể
chu
toàn
phận
vụ
ấy,
lúc
nào
Giáo
Hội
cũng
có
bổn
phận
tìm
hiểu
tường
tận
những
dấu
chỉ
của
thời
đại
5*
và
giải
thích
dưới
ánh
sáng
Phúc
Âm;
như
vậy
mới
có
thể
giải
đáp
một
cách
thích
ứng
với
từng
thế
hệ
những
thắc
mắc
muôn
thuở
của
con
người
về
ý
nghĩa
cuộc
sống
hiện
tại
và
mai
hậu
cũng
như
về
mối
tương
quan
giữa
hai
cuộc
sống
ấy.
Do
đó,
cần
phải
biết
và
hiểu
thế
giới
chúng
ta
đang
sống
với
những
chờ
đợi,
mong
ước
và
cả
tính
chất
thường
là
bi
thảm
của
nó.
Có
thể
phác
họa
một
vài
nét
chính
yếu
của
thế
giới
ngày
nay
như
sau:
Nhân
loại
ngày
nay
đang
sống
vào
một
giai
đoạn
mới
trong
lịch
sử
của
mình
6*.
Ðó
là
giai
đoạn
chất
chứa
những
đổi
thay
sâu
xa
và
mau
chóng
đang
dần
dần
lan
rộng
tới
toàn
thể
hoàn
cầu.
Những
thay
đổi
do
óc
thông
minh
và
nổ
lực
sáng
tạo
của
con
người
khơi
dậy,
đang
trở
lại
ảnh
hưởng
trên
chính
con
người,
trên
những
phán
đoán
và
ước
vọng
cá
nhân
hay
tập
thể
con
người,
trên
cách
suy
tư
và
hành
động
đối
với
sự
vật
cũng
như
con
người.
Như
vậy,
chúng
ta
có
thể
nói
đến
sự
biến
đổi
đích
thực
về
mặt
xã
hội
cũng
như
văn
hóa,
sự
biến
đổi
này
đang
lan
tràn
tới
cả
đời
sống
tôn
giáo.
Cũng
như
trong
bất
cứ
cơn
khủng
hoảng
tăng
trưởng
nào,
sự
biến
đổi
này
kéo
theo
những
khó
khăn
không
nhỏ.
Chẳng
hạn
như
đang
khi
bành
trướng
quá
rộng
quyền
lực
của
mình,
không
phải
lúc
nào
con
người
cũng
có
thể
bắt
nó
phục
vụ
mình.
Cố
gắng
đi
sâu
hơn
vào
thâm
tâm
mình,
con
người
nhiều
khi
lại
tỏ
ra
hoang
mang
hơn
về
chính
mình.
Dò
dẫm
tìm
hiểu
rõ
hơn
những
luật
lệ
của
đời
sống
xã
hội,
con
người
lại
do
dự
không
dám
định
đoạt
hướng
đi
cho
mình.
Chưa
bao
giờ
nhân
loại
dồi
dào
của
cải,
khả
năng
và
quyền
lực
kinh
tế
như
ngày
nay,
vậy
mà
tới
nay,
một
phần
rất
lớn
nhân
loại
trên
thế
giới
đang
quằn
quại
vì
đói
ăn
và
thiếu
thốn,
rồi
không
biết
bao
nhiêu
người
đang
chịu
cảnh
mù
chữ.
Chưa
bao
giờ
con
người
ý
thức
mãnh
liệt
được
sự
tự
do
như
ngày
nay,
đang
khi
đó,
lại
thấy
sống
dậy
những
hình
thức
nô
lệ
mới
mẻ
về
mặt
xã
hội
cũng
như
tâm
lý.
Trong
lúc
đang
mãnh
liệt
cảm
thấy
sự
duy
nhất
cũng
như
sự
kiện
tất
cả
lệ
thuộc
nhau
trong
sự
liên
đới
cần
thiết,
thì
thế
giới
lại
bị
lôi
kéo
kịch
liệt
theo
những
chiều
hướng
tương
phản
do
những
lực
lượng
chống
đối
nhau;
thực
vậy
vẫn
còn
kéo
dài
mãi
tới
ngày
nay
những
bất
đồng
trầm
trọng
về
chính
trị,
xã
hội,
kinh
tế,
chủng
tộc
và
ý
thức
hệ,
và
một
cuộc
chiến
diệt
vong
vẫn
còn
đe
dọa.
Ðang
khi
sự
trao
đổi
tư
tưởng
phát
triển,
thì
những
ngôn
ngữ
dùng
để
diễn
tả
những
quan
niệm
có
tầm
mức
quan
trọng
lại
mang
ý
nghĩa
khác
nhau
tùy
từng
ý
thức
hệ
riêng
biệt.
Sau
hết,
người
ta
nỗ
lực
đi
tìm
một
tổ
chức
trần
thế
hoàn
hảo
hơn,
nhưng
lại
không
lo
tiến
tới
sự
phát
triển
tinh
thần
tương
xứng.
Do
những
hoàn
cảnh
phức
tạp
như
thế
chi
phối,
rất
nhiều
người
đương
thời
thấy
khó
lòng
có
thể
nhận
chân
được
những
giá
trị
trường
cửu
và
đồng
thời
cũng
khó
mà
hòa
hợp
những
giá
trị
ấy
cho
đúng
với
những
phát
minh
gần
đây.
Do
đó,
bị
lay
động
giữa
hy
vọng
và
lo
âu,
băn
khoăn
về
sự
xoay
chuyển
hiện
tại
của
thế
giới,
họ
cảm
thấy
một
nỗi
ưu
tư.
Sự
xoay
chuyển
của
thế
giới
đang
thách
đố
và
thúc
bách
con
người
tìm
câu
giải
đáp.
5.
Những
hoàn
cảnh
biến
đổi
sâu
rộng.
Sự
giao
động
tâm
hồn
hiện
nay
và
sự
thay
đổi
cảnh
sống
gắn
liền
với
một
biến
chuyển
rộng
lớn
hơn.
Trong
phạm
vi
trí
dục,
sự
biến
chuyển
này
làm
cho
toán
học,
vạn
vật
học
và
các
khoa
học
nhân
văn
càng
ngày
càng
thêm
quan
trọng,
còn
trong
phạm
vi
hoạt
động,
thì
kỹ
thuật,
con
đẻ
của
khoa
học,
lại
mỗi
ngày
một
thêm
uy
thế.
Tinh
thần
khoa
học
này
đang
tạo
ra
một
nền
văn
hóa
và
những
lối
suy
tư
khác
với
trước
kia.
Kỹ
thuật
phát
hiện
đến
độ
thay
đổi
cả
cục
diện
địa
cầu
và
còn
đang
cố
gắng
chinh
phục
không
gian.
Tâm
trí
con
người
như
đang
nới
rộng
phạm
vi
chế
ngự
trên
cả
thời
gian:
chế
ngự
dĩ
vãng
nhờ
sử
học,
và
chế
ngự
tương
lai
nhờ
dự
liệu
và
tổ
chức
các
kế
hoạch.
Những
khoa
học
đang
tiến
bộ
như
sinh
vật
học,
tâm
lý,
xã
hội,
không
những
giúp
con
người
hiểu
biết
chính
mình
hơn,
mà
còn
giúp
con
người
biết
lợi
dụng
những
phương
pháp
kỹ
thuật
để
trực
tiếp
ảnh
hưởng
tới
đời
sống
các
xã
hội.
Ðồng
thời
nhân
loại
mỗi
ngày
mỗi
lưu
tâm
hơn
để
tìm
cách
tiên
liệu
và
giải
quyết
vấn
đề
gia
tăng
dân
số.
Chính
lịch
sử
đang
tiến
bước
quá
nhanh
đến
nỗi
từng
cá
nhân
riêng
rẽ
khó
lòng
theo
kịp.
Vận
mạng
cộng
đoàn
nhân
loại
trở
thành
một
mà
thôi
và
không
còn
bị
phân
tán
thành
nhiều
dòng
lịch
sử
khác
nhau
nữa.
Như
vậy
từ
một
quan
niệm
tĩnh
về
vũ
trụ,
nhân
loại
đã
bước
sang
một
quan
niệm
động
và
tiến
hóa
hơn
7*,
do
đó
phát
sinh
những
vấn
đề
hết
sức
phức
tạp
mới
mẻ
đòi
phải
có
những
phân
tích
và
tổng
hợp
mới.
6.
Những
biến
đổi
trong
phạm
vi
xã
hội.
Cũng
vì
vậy,
các
cộng
đoàn
cổ
truyền
địa
phương,
như
gia
tộc,
"thị
tộc",
bộ
lạc,
xóm
làng,
các
tập
thể
khác
và
các
liên
hệ
trong
cộng
đoàn
xã
hội
đều
thay
đổi
mỗi
ngày
mỗi
sâu
xa
hơn.
Tổ
chức
xã
hội
theo
khuôn
mẫu
kỹ
nghệ
dần
dần
bành
trướng,
đưa
một
số
quốc
gia
tới
mức
thịnh
vượng
kinh
tế
và
thay
đổi
tận
gốc
rễ
những
quan
niệm
và
hoàn
cảnh
đời
sống
xã
hội
đã
cố
định
từ
lâu
đời.
Sự
ham
chuộng
theo
đuổi
đời
sống
thị
thành
cũng
gia
tăng,
vì
các
thành
phố
càng
ngày
càng
mọc
lên
nhiều,
dân
cư
càng
ngày
càng
đông,
và
vì
cách
sống
thị
thành
đang
lan
rộng
tới
cả
thôn
quê.
Những
phương
tiện
truyền
thông
mới
mẻ
và
mỗi
ngày
một
thuận
tiện
hơn
giúp
con
người
theo
dõi
được
các
biến
cố
cũng
như
phổ
biến
hết
sức
mau
lẹ
và
rộng
rãi
những
cách
cảm
nghĩ
và
suy
tư,
do
đó
chúng
gây
nên
nhiều
âm
hưởng
vang
dội
có
liên
quan
với
nhau.
Một
hiện
tượng
không
kém
quan
trọng
khác:
biết
bao
người
bởi
nhiều
lý
do
phải
di
cư,
và
vì
di
cư
đã
thay
đổi
cả
cách
sống.
Do
vậy
mà
những
liên
hệ
của
con
người
với
đồng
loại
không
ngừng
tăng
thêm
mãi,
đồng
thời
chính
sự
"xã
hội
hóa"
8*
lại
tạo
thêm
những
liên
hệ
mới,
tuy
nhiên,
những
liên
hệ
mới
ấy
không
phải
lúc
nào
cũng
giúp
nhân
vị
trưởng
thành
một
cách
thích
hợp,
hoặc
cổ
võ
những
liên
hệ
thực
sự
người
(nhân
vị
hóa).
Thực
vậy,
sự
tiến
hóa
ấy
phát
hiện
rõ
rệt
hơn
tại
những
quốc
gia
hưởng
thụ
những
tiện
nghi
kinh
tế
và
kỹ
thuật,
nhưng
sự
tiến
hóa
ấy
cũng
thúc
đẩy
các
dân
tộc
còn
đang
cố
gắng
tiến
lên,
vì
họ
là
những
người
mong
mỏi
cho
xứ
sở
mình
được
hưởng
ích
lợi
của
nền
kỹ
nghệ
và
đô
thị
hóa.
Các
dân
tộc
ấy,
nhất
là
các
dân
tộc
đã
bám
víu
vào
những
truyền
thống
cổ
kính,
đồng
thời
cảm
thấy
bị
thúc
đẩy
muốn
tự
mình
xử
dụng
tự
do
một
cách
trưởng
thành
và
hợp
nhân
vị
hơn.
7.
Những
biến
đổi
về
tâm
lý,
luân
lý
và
tôn
giáo.
Sự
thay
đổi
tâm
thức
và
cơ
cấu
thường
làm
cho
con
người
bất
đồng
ý
kiến
về
những
giá
trị
đã
được
chấp
nhận,
nhất
là
nơi
những
người
trẻ
là
lứa
tuổi
đôi
khi
thiếu
nhẫn
nại;
hơn
nữa
vì
lo
âu,
nên
họ
mới
nổi
loạn,
và
vì
ý
thức
tầm
quan
trọng
của
riêng
mình
trong
đời
sống
xã
hội,
nên
họ
mong
muốn
sớm
được
dự
phần
vào
đời
sống
xã
hội
hơn.
Do
đó,
nhiều
khi
cha
mẹ
và
các
nhà
giáo
dục
càng
ngày
càng
gặp
nhiều
khó
khăn
trong
việc
chu
toàn
bổn
phận.
Các
định
chế,
luật
pháp,
những
lối
suy
tư
và
cảm
nghĩ
của
người
xưa
truyền
lại,
hình
như
không
phải
lúc
nào
cũng
phù
hợp
với
tình
thế
hiện
tại,
do
đó,
có
sự
xáo
trộn
trầm
trọng
trong
phương
thức
và
trong
cả
các
tiêu
chuẩn
hành
động.
Sau
hết,
những
hoàn
cảnh
mới
cũng
ảnh
hưởng
tới
đời
sống
tôn
giáo.
Một
phần
vì
khả
năng
phán
đoán
sâu
sắc
hơn
đã
thanh
lọc
khỏi
đời
sống
tôn
giáo
quan
niệm
ma
thuật
về
thế
giới
9*
và
những
mê
tín
vẫn
còn
lan
tràn
tới
ngày
nay.
Khả
năng
sâu
sắc
ấy
đòi
hỏi
đức
tin
phải
được
chấp
nhận
mỗi
ngày
một
thêm
cá
biệt
và
linh
hoạt;
bởi
đó,
nhiều
người
đạt
được
một
ý
thức
sống
động
hơn
về
Thiên
Chúa.
Phần
khác,
số
người
lìa
xa
Thiên
Chúa
trong
cách
sống
thực
tế
càng
ngày
càng
đông.
Khác
với
thời
xưa,
sự
từ
chối
hoặc
tránh
né
đề
cập
tới
Thiên
Chúa
hay
tôn
giáo
không
còn
là
một
hành
vi
dị
thường
và
có
tính
cách
cá
nhân
nữa,
vì
ngày
nay,
biết
bao
người
coi
đó
như
một
đòi
hòi
của
tiến
bộ
khoa
học
10*
hay
của
nền
nhân
bản
mới
11*.
Tại
nhiều
nơi,
quan
niệm
này
không
những
được
diễn
tả
trong
các
trường
phái
triết
học,
mà
còn
ảnh
hưởng
rất
nhiều
tới
văn
chương,
nghệ
thuật,
các
giải
thích
của
các
khoa
học
nhân
văn
và
sử
học,
cũng
như
ảnh
hưởng
tới
cả
dân
luật
khiến
cho
nhiều
người
hoang
mang.
8.
Những
chênh
lệch
trong
thế
giới
ngày
nay.
Sự
biến
chuyển
quá
mau
chóng
và
thường
thiếu
trật
tự,
hơn
nữa,
sự
ý
thức
càng
ngày
càng
bén
nhạy
hơn
về
những
sự
khác
biệt
hiện
có
trong
thế
giới,
đó
là
những
yếu
tố
làm
phát
sinh
hoặc
gia
tăng
nhiều
mâu
thuẫn
và
chênh
lệch.
Chính
nơi
con
người
thường
phát
sinh
sự
thiếu
quân
bình
giữa
óc
thực
tế
hiện
thời
và
lối
suy
tư
thuyết
lý.
Lối
suy
tư
này
không
còn
khả
năng
làm
chủ
và
tổng
hợp
gọn
gàng
toàn
thể
mọi
tri
thức.
Cũng
vậy,
sự
thiếu
quân
bình
hiển
hiện
giữa
những
lo
âu
đạt
được
hiệu
quả
cụ
thể
và
những
đòi
hỏi
của
lương
tâm,
và
nhiều
lúc
giữa
những
cảnh
sống
tập
thể
và
những
điều
khẩn
thiết
cho
suy
tư
cá
nhân
và
nhất
là
cho
sự
chiêm
niệm.
Sau
hết
là
sự
chênh
lệch
giữa
sự
chuyên
biệt
hóa
các
sinh
hoạt
nhân
loại
và
cái
nhìn
phổ
quát
về
muôn
vật.
Trong
gia
đình
cũng
xuất
hiện
nhiều
mâu
thuẫn,
hoặc
do
những
hoàn
cảnh
ngột
ngạt
về
dân
số,
kinh
tế,
xã
hội,
hoặc
do
những
khó
khăn
phát
xuất
giữa
những
thế
hệ
tiếp
nối
nhau,
hoặc
do
những
xã
giao
mới
giữa
người
nam
và
nữ.
Ngoài
ra
còn
có
những
sự
khác
biệt
lớn
lao
giữa
các
chủng
tộc
và
kể
cả
giữa
những
giai
cấp
xã
hội
khác
nhau,
giữa
những
quốc
gia
cường
thịnh
và
những
quốc
gia
nghèo
nàn
yếu
kém,
sau
hết
giữa
những
tổ
chức
quốc
tế
đã
được
thiết
lập
vì
sự
mong
mỏi
hòa
bình
của
các
dân
tộc
và
tham
vọng
gieo
rắc
ý
thức
hệ
riêng
cùng
những
ham
hố
tập
thể
hiện
hữu
trong
các
quốc
gia
hoặc
các
tập
thể
khác.
Từ
đó,
phát
sinh
ngờ
vực
và
thù
nghịch
nhau,
xung
đột
và
thống
khổ
mà
chính
con
người
là
nguyên
nhân
và
nạn
nhân.
9.
Những
khát
vọng
phổ
quát
hơn
của
nhân
loại.
Trong
khi
đó,
người
ta
thêm
xác
tín
rằng
nhân
loại
không
những
có
thể
và
phải
mỗi
ngày
mỗi
củng
cố
thêm
sự
thống
trị
của
mình
trên
tạo
vật
mà
còn
phải
thiết
lập
một
trật
tự
chính
trị,
xã
hội
và
kinh
tế
để
phục
vụ
con
người
ngày
đắc
lực
hơn,
giúp
mỗi
cá
nhân,
mỗi
tập
thể
khẳng
định
và
trau
dồi
phẩm
giá
riêng
của
mình.
Bởi
đó,
rất
nhiều
người
đòi
hỏi
gắt
gao
những
của
cải
mà
họ
ý
thức
mãnh
liệt
rằng
họ
bị
cướp
mất
vì
bất
công
hay
vì
phân
chia
không
đồng
đều.
Các
quốc
gia
đang
trên
đường
phát
triển
cũng
như
các
quốc
gia
mới
giành
được
chủ
quyền
mong
muốn
dự
phần
vào
những
lợi
ích
của
nền
văn
minh
hiện
nay
không
những
trong
phạm
vi
chính
trị
mà
cả
trong
phạm
vi
kinh
tế
nữa,
và
mong
muốn
tự
do
chu
toàn
vai
trò
của
mình
trong
thế
giới.
Tuy
nhiên,
trong
khi
ấy,
càng
ngày
càng
gia
tăng
sự
cách
biệt
giữa
các
quốc
gia
này,
cũng
như
thường
thấy
gia
tăng
sự
lệ
thuộc
cả
về
phạm
vi
kinh
tế
đối
với
những
quốc
gia
khác
giàu
mạnh
và
tiến
bộ
nhanh
hơn.
Các
dân
tộc
bị
đói
khổ
hoành
hành
đang
kêu
gọi
các
dân
tộc
phồn
thịnh
hơn.
Ở
đâu
nữ
giới
chưa
được
bình
quyền
với
nam
giới
đều
đứng
lên
đòi
hỏi
cho
mình
được
bình
đẳng
trước
pháp
lý
và
trên
thực
tế.
Các
công
nhân
và
nông
gia
cũng
muốn
rằng
họ
làm
việc
không
những
để
mưu
sống
nhưng
còn
để
phát
huy
những
tài
năng
của
con
người
họ,
hơn
nữa
họ
còn
muốn
tham
gia
vào
việc
tổ
chức
đời
sống
kinh
tế,
xã
hội,
chính
trị
và
văn
hóa.
Ðây
là
lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử
nhân
loại,
toàn
thể
các
dân
tộc
đã
xác
tín
mình
có
thể
và
phải
thực
sự
phổ
biến
những
thành
quả
của
văn
hóa
tới
hết
mọi
dân
tộc.
Dưới
tất
cả
những
đòi
hỏi
đó
tàng
ẩn
một
ước
vọng
sâu
xa
và
đại
đồng
hơn:
mọi
cá
nhân
và
tập
thể
đều
khao
khát
một
cuộc
sống
đầy
đủ
và
tự
do
xứng
với
con
người;
để
phục
vụ
cho
chính
mình,
họ
muốn
chế
ngự
tất
cả
những
gì
thế
giới
ngày
nay
có
thể
cung
ứng
hết
sức
dồi
dào
cho
họ.
Hơn
nữa,
các
quốc
gia
vẫn
ngày
một
cố
gắng
hơn
để
đạt
tới
một
thứ
cộng
đoàn
đại
đồng.
Như
vậy,
thế
giới
ngày
nay
tỏ
ra
vừa
mạnh
vừa
yếu,
có
khả
năng
thực
hiện
những
điều
tốt
đẹp
nhất
hoặc
xấu
xa
nhất,
đang
khi
ấy
trước
mặt
nó
là
con
đường
dẫn
tới
tự
do
hoặc
nô
lệ,
tiến
bộ
hoặc
thoái
hóa,
huynh
đệ
hoặc
đố
kỵ.
Lại
nữa,
con
người
đã
ý
thức
được
chính
họ
phải
điều
khiển
cho
đúng
những
năng
lực
do
chính
mình
tạo
nên
và
đó
là
những
năng
lực
có
thể
đè
bẹp
họ
hoặc
phục
vụ
cho
họ.
Do
đó
họ
phân
vân.
10.
Những
vấn
nạn
sâu
xa
hơn
của
nhân
loại.
Thực
vậy,
những
chênh
lệch
dày
vò
thế
giới
ngày
nay
được
nối
liền
với
một
chênh
lệch
căn
bản
hơn
phát
xuất
từ
đáy
lòng
con
người.
Bởi
vì,
ngay
chính
trong
con
người
có
nhiều
yếu
tố
xung
khắc
nhau.
Vì
một
đàng,
là
tạo
vật,
con
người
nhận
thấy
mình
bị
giới
hạn
trong
nhiều
phương
tiện,
nhưng
đàng
khác,
lại
cảm
thấy
mình
có
những
khát
vọng
vô
biên
và
còn
cảm
thấy
được
mời
gọi
tới
một
cuộc
sống
cao
cả
hơn.
Bị
lôi
kéo
giữa
nhiều
quyến
rũ,
con
người
luôn
bị
bó
buộc
phải
lựa
chọn
một
số
hoặc
loại
bỏ
một
số
khác.
Hơn
nữa,
vì
yếu
đuối
và
tội
lỗi,
nhiều
khi
con
người
làm
điều
mình
không
muốn
và
không
làm
được
điều
mình
muốn
làm
4.
Bởi
vậy,
có
sự
phân
rẽ
trong
chính
con
người,
từ
đó,
sinh
ra
bao
nhiêu
là
bất
hòa
lớn
lao
trong
xã
hội.
Thực
vậy
rất
nhiều
người
vì
đời
sống
thấm
nhiễm
chủ
nghĩa
duy
vật
thực
hành
nên
đã
không
nhìn
nhận
rõ
ràng
thảm
trạng
ấy,
hay
ít
ra
vì
lối
sống
cơ
cực
đè
nặng
không
cho
phép
họ
nghĩ
tới
nữa.
Ðàng
khác,
dựa
vào
mớ
lý
thuyết
mà
họ
đã
tìm
ra
để
giải
thích
vũ
trụ,
nhiều
người
tưởng
như
thế
là
đủ
an
tâm.
Còn
có
những
người
chỉ
trông
vào
nỗ
lực
của
con
người
mới
đem
lại
cho
nhân
loại
sự
giải
phóng
đích
thực
và
trọn
vẹn,
và
họ
xác
tín
rằng
sự
thống
trị
mai
hậu
của
con
người
trên
trái
đất
sẽ
làm
mãn
nguyện
mọi
ước
vọng
của
con
tim
nhân
loại.
Cũng
không
thiếu
những
người
thất
vọng
về
ý
nghĩa
cuộc
sống
tán
dương
những
kẻ
táo
bạo
nghĩ
rằng
sự
hiện
hữu
của
con
người
tự
nó
không
mang
một
ý
nghĩa
nào
nên
họ
cố
gắng
dùng
nguyên
tài
năng
của
mình
để
tạo
nên
tất
cả
ý
nghĩa
cho
sự
hiện
hữu
ấy.
Tuy
nhiên,
trước
sự
tiến
hóa
hiện
nay
của
thế
giới,
càng
ngày
càng
có
nhiều
người
hoặc
đặt
vấn
đề
hoặc
nhận
thức
một
cách
sâu
sắc
mới
mẻ
về
những
vấn
đề
hết
sức
căn
bản
như:
con
người
là
gì?
Ðâu
là
ý
nghĩa
của
đau
khổ,
sự
dữ,
cái
chết?
Sao
chúng
còn
tiếp
tục
tồn
tại
mặc
dù
đã
có
bao
nhiêu
tiến
bộ?
Bao
chiến
thắng
đạt
được
với
một
giá
đắt
ấy
có
ích
gì?
Con
người
có
thể
đem
lại
gì
cho
xã
hội
và
có
thể
trông
đợi
gì
ở
xã
hội?
Cái
gì
sẽ
tiếp
theo
sau
cuộc
sống
trần
gian
này?
Giáo
Hội
tin
rằng
Chúa
Kitô
đã
chết
và
đã
sống
lại
cho
mọi
người
5.
Vì
thế
qua
Thánh
Thần
của
Người,
Người
ban
cho
con
người
ánh
sáng
và
sức
mạnh
để
con
người
có
thể
đáp
lại
thiên
chức
cao
cả
của
mình.
Giáo
Hội
cũng
tin
rằng
dưới
bầu
trời
này
chẳng
còn
danh
hiệu
nào
khác
được
ban
cho
loài
người
để
loài
người
phải
nhờ
đó
mà
được
cứu
rỗi
6.
Cũng
thế,
Giáo
Hội
tin
rằng
đầu
mối,
trung
tâm
và
cùng
đích
của
toàn
thể
lịch
sử
nhân
loại
đều
ở
trong
Ðức
Kitô
là
Chúa
và
là
Thầy
của
Giáo
Hội.
Hơn
nữa,
Giáo
Hội
còn
xác
nhận
rằng
qua
mọi
thay
đổi,
có
nhiều
điều
vẫn
không
đổi
thay
vì
nền
tảng
cuối
cùng
của
những
điều
không
thay
đổi
này
là
Chúa
Kitô,
Ðấng
hôm
qua,
hôm
nay
và
mãi
mãi
7.
Vậy
dưới
ánh
sáng
Chúa
Kitô,
Hình
Ảnh
của
Thiên
Chúa
vô
hình,
Trưởng
Tử
giữa
mọi
thụ
sinh
8,
Công
Ðồng
muốn
nói
với
mọi
người
để
làm
sáng
tỏ
mầu
nhiệm
về
con
người
và
để
cùng
nhau
tìm
giải
đáp
cho
những
vấn
đề
chính
yếu
của
thời
đại
chúng
ta.
Chú
Thích:
4*
Công
Ðồng
mời
gọi
ta
cùng
tìm
hiểu
thế
giới
hiện
đại
(số
4a)
để
ta
có
thể
đối
thoại
với
nó
và
đem
ánh
sáng
Chúa
Kitô
chiếu
dọi
các
vấn
đề
của
nó
(số
10b).
Vì
thế
Công
Ðồng:
1)
Kể
lại
những
sự
kiện
tương
phản
với
nhau:
trạng
thái
thừa
thãi
và
đói
khát;
tiến
bộ
và
mù
chữ;
khát
vọng
tự
do
và
nhiều
thứ
nô
lệ;
khát
vọng
hiệp
nhất
và
vô
số
chia
rẽ
cũng
như
tư
tưởng
hỗn
độn;
tiến
bộ
kỹ
thuật,
văn
hóa
và
tinh
thần
không
tương
hợp
với
nhau
(số
4).
2)
Những
thay
đổi
thuộc
về:
a)
Cơ
cấu
về
trí
óc:
vì
ảnh
hưởng
do
khoa
học
và
kỹ
thuật
gây
nên;
vì
được
biết
lịch
sử
rộng
hơn,
cũng
như
vì
phép
dự
liệu
và
thuật
kế
hoạch;
vì
nhận
thấy
con
người
bắt
đầu
có
quyền
trên
đời
mình
cũng
như
trên
lịch
sử.
Quan
niệm
tĩnh
ngày
xưa
chuyển
thành
quan
niệm
động
(số
5).
b)
Cơ
cấu
xã
hội:
nếp
sống
cổ
điển
biến
mất;
có
những
hiện
tượng
mới
như
kỹ
nghệ
hóa,
thành
thị
hóa,
các
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội,
những
cuộc
di
cư,
sự
xã
hội
hóa
(số
6).
3)
Bởi
đó
đặt
vấn
đề
theo
cách
mới:
a)
Về
tôn
giáo:
Giới
thanh
niên
phản
đối,
lạc
hướng;
tinh
thần
phê
bình;
lối
sống
bỏ
đạo
thực
hành;
tuyên
xưng
vô
thần
(số
7).
b)
Về
cá
nhân:
vì
những
phán
đoán
thiếu
quân
bình,
vì
những
xung
đột
giữa
lương
tâm
và
trí
óc
trong
việc
đi
tìm
kết
quả
thực
tiễn
giữa
nhu
cầu
chuyên
môn
và
một
quan
niệm
tổng
quát
về
vũ
trụ.
c)
Về
gia
đình:
vì
vấn
đề
dân
số,
khó
khăn
kinh
tế
xã
hội,
những
khác
biệt
giữa
các
thế
hệ,
những
liên
quan
mới
giữa
nam
giới
và
nữ
giới.
d)
Về
quốc
gia:
vì
những
sự
khác
nhau
giữa
các
chủng
tộc,
các
giai
cấp;
giàu
có
và
nghèo
khổ;
vì
những
lý
thuyết
ảnh
hưởng
các
phong
trào
hòa
bình
(số
8).
4)
Nguyện
vọng
mới:
vì
con
người
ý
thức
về
quyền
thế
mình,
nhận
thấy
rằng
có
thể
đòi
hỏi
tham
gia
vào
những
thành
quả
của
văn
minh
và
cảm
thấy
có
quyền
sống
đầy
đủ
và
xứng
hợp
với
bản
tính
con
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Ðức
Gioan
XXIII,
đã
dựa
theo
Mt
16,4
và
Lc
21,7
để
dùng
câu
này
trong
thông
điệp
Pacem
in
Terris,
và
sau
đó
câu
này
trở
thành
một
biểu
ngữ
cho
việc
canh
tân
Giáo
Hội.
Trong
số
11a
Công
Ðồng
lại
diễn
tả
thái
độ
dò
xét
thời
điểm
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Ta
phải
chú
ý
rất
kỹ
đến
câu
quả
quyết
quan
trọng
này
(xem
lại
trong
số
54a).
Ðặc
biệt
tất
cả
những
ai
có
trách
nhiệm
giáo
dục
lớp
trẻ
phải
suy
xét
lại
rằng:
cố
gắng
tiếp
tục
sống
theo
nếp
cũ
trong
"giai
đoạn
mới
của
lịch
sử"
tất
nhiên
là
lỗi
thời.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Công
Ðồng
muốn
nói
rằng,
thời
xưa
(và
gần
đây)
người
ta
coi
những
thực
tại
nhân
loại
là
vững
bền
và
ít
thay
đổi.
Ví
dụ
các
luật
trong
lãnh
vực
pháp
lý,
những
tổ
chức
gia
đình,
làng
xóm,
đô
thị
trong
lãnh
vực
xã
hội;
những
nhu
cầu
của
dân
chúng
trong
lãnh
vực
kinh
tế,
v.v...
Qua
bốn
thế
kỷ
vừa
qua
chưa
có
những
thay
đổi
trong
phụng
vụ
Thánh
Lễ!...
Nhưng
ngày
nay
thì
khác
hẳn.
Người
ta
không
còn
thích
coi
lãnh
vực
nào
là
bất
di
dịch
nữa.
Ngày
nay
con
người
dễ
tỏ
lòng
nghi
ngờ
khi
người
ta
nại
vào
những
nguyên
tắc
bất
biến
hay
là
dựa
trên
quan
niệm
cổ
điển
để
giải
thích
các
vấn
đề.
Hiện
nay
người
ta
không
còn
tin
như
xưa
rằng
lịch
sử
là
"thầy
dạy
cho
cuộc
sống",
hay
ít
ra
cũng
không
phải
theo
cùng
một
quan
niệm
như
xưa.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Thông
điệp
Mater
et
Magister
của
Ðức
Gioan
XXIII
diễn
tả
hiện
tượng
"đời
sống
xã
hội"
này
và
Công
Ðồng
(số
25b)
trích
lại
lời
đó.
Dĩ
nhiên
đó
là
hiện
tượng
mới
trong
xã
hội
kỹ
nghệ
Âu
Mỹ.
Trong
xã
hội
nông
thôn
Á
Ðông,
nó
đã
có
từ
nghìn
xưa
(dù
dưới
hình
thức
khác),
đến
nỗi
nhiều
khi
gây
ra
nguy
hại
cho
quyền
tự
do
cá
nhân
(xem
Phaolô
VI,
Populorum
progressio,
số
36).
Hiện
tượng
này
không
phải
đồng
hóa
với
xã
hội
chủ
nghĩa
đã
bị
Giáo
Hội
lên
án
nhiều
lần
(đặc
biệt
trong
Tđ.
Quadragesimo
Anno
của
Ðức
Piô
XI,
năm
1931).
Sau
đó
chính
xã
hội
chủ
nghĩa
đã
biến
đổi
không
ít.
Sự
kiện
xã
hội
hóa
có
thể
sa
vào
những
chỗ
nguy
hại
như
Công
Ðồng
nhắc
lại
trong
đoạn
này,
nhưng
cũng
có
thể
đem
lại
kết
quả
tốt
đẹp:
ngoài
sự
phát
triển
vật
chất,
có
thể
giúp
để
thỏa
mãn
nhiều
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người
như
về
giáo
dục,
đào
tạo
nghề
nghiệp,
sự
cứu
trợ
xã
hội,
cứu
trợ
y
khoa,
về
hoàn
cảnh
làm
việc,
nhà
ở,
v.v...
(Xem
MV
25a
và
42c).
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Vì
thiếu
óc
khoa
học,
giới
bình
dân
tin
tưởng
vào
những
sức
lực
vô
hình
do
những
quỉ
thần
nào
đó
gây
nên
để
giải
thích
hiện
tượng
thiên
nhiên.
Nhờ
những
nghi
lễ
lạ
lùng
vàhuyền
bí
cố
định
từ
ngàn
xưa
truyền
lại,
họ
tìm
cách
gây
ảnh
hưởng
trên
những
ma
lực
đó
(x.33a).
Tin
tưởng
vào
số
tử
vi
cũng
phải
được
coi
như
một
hành
thức
biểu
thị
quan
niệm
phù
phép.
Ðây
là
quan
niệm
rất
tai
hại
cho
đức
tin,
vì
quyền
tự
do,
lòng
yêu
mến
Thiên
Chúa
là
Ðấng
hiểu
biết
và
âu
yếm
điều
khiển
đời
ta,
chẳng
chiếm
chỗ
nào
trong
quan
niệm
đó.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Những
quốc
gia
tân
tiến
hơn
(Hoa
Kỳ,
Nga
Sô,
Thụy
Ðiển...)
lại
chẳng
phải
là
những
nước
bỏ
đạo
nhiều
hơn
sao!
Giới
trí
thức,
không
kể
giới
bác
học
cũng
không
phải
như
thế
sao!
Nhiều
khi
người
ta
nghe
nói
như
vậy.
Thực
sự
nhiều
khi
người
trí
thức
học
sâu
về
khoa
học
trong
khi
lại
quên
phát
triển
những
điều
học
hỏi
về
tôn
giáo
lúc
còn
bé.
Trường
hợp
như
thế
dễ
mất
đức
tin,
nhưng
không
được
nói
rằng
đó
là
đòi
hỏi
của
khoa
học!
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Trong
số
9c
và
10a,
Công
Ðồng
tóm
tắt
ý
nghĩa
đại
khái
của
những
hình
thức
nhân
bản
chủ
nghĩa
khác
nhau:
nhân
bản
dân
chủ
mong
ước
giải
thoát
con
người
khỏi
mọi
trạng
thái
hỗn
độn
nhờ
giáo
dục,
kỹ
thuật,
quyền
tự
do...
không
cần
đến
Thiên
Chúa,
tôn
giáo,
và
chủ
trương
tự
sức
mình,
con
người
sẽ
đạt
tới
hạnh
phúc...
Nhân
bản
khoa
học,
một
cách
tương
tự,
chủ
trương
con
người
tìm
được
tất
cả
các
câu
trả
lời
nơi
khoa
học
và
không
cần
biết
đến
thực
tại
về
tội
lỗi
và
nguồn
gốc
tội
lỗi
nơi
con
người,
thực
tại
về
công
cuộc
cứu
chuộc
của
Ðấng
Cứu
Thế,
v.v...
Nhân
bản
Mác
xít
đánh
giá
việc
làm
như
giá
trị
duy
nhất
của
con
người.
Nhờ
đảng
điều
khiển,
con
người
sẽ
xây
dựng
thế
giới
và
xã
hội
mới,
loại
trừ
mọi
bất
công.
Tôn
giáo
là
một
dụng
cụ
của
các
chế
độ
tư
bản
dĩ
nhiên
sẽ
biến
mất.
Nhân
bản
Quốc
gia:
đã
chiếm
được
độc
lập
thì
phải
tự
trị
để
phát
triển
đầy
đủ
không
chấp
nhận
bất
cứ
hình
thức
đế
quốc
nào
nữa,
mà
tôn
giáo
chẳng
phải
là
một
thứ
đế
quốc
văn
hóa
sao?
Nhân
bản
hiện
sinh
chủ
trương
rằng
đời
sống
là
phi
lý.
Từ
con
số
không,
con
người
đang
đi
tới
con
số
không
nữa.
Chỉ
cần
lòng
can
đảm
để
tự
tạo
ý
nghĩa
cho
đời
mình,
và
tạo
nên
một
thế
giới
tiện
nghi
hơn
cho
con
cháu
(xem
số
10a).
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Rm
7,14tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
2Cor
5,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CvTđ
4,12.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Dth
13,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Col
1,15.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II