VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Phần
Thứ
Hai
Chương
V
Cổ
Võ
Hòa
Bình
Và
Xây
Dựng
Cộng
Ðoàn
Các
Dân
Tộc
90*
77.
Nhập
đề.
Hiện
nay,
trong
khi
những
nỗi
đau
khổ
và
lo
âu
hết
sức
trầm
trọng
còn
tồn
tại
giữa
loài
người
do
cuộc
chiến
tranh
không
ngừng
hiện
đang
đe
dọa
gây
nên,
toàn
thể
nhân
loại
trong
tiến
trình
trưởng
thành
đã
bước
vào
một
giai
đoạn
hết
sức
quyết
định.
Gia
đình
nhân
loại
dần
dần
hiệp
nhất
với
nhau
và
đã
ý
thức
hơn
về
sự
hiệp
nhất
của
mình
ở
mọi
nơi,
do
đó
công
việc
mà
gia
đình
nhân
loại
phải
bắt
tay
vào
là
xây
dựng
một
thế
giới
thực
sự
nhân
bản
hơn
cho
tất
cả
mọi
người
ở
mọi
nơi.
Công
việc
này
chỉ
được
hoàn
thành
cách
tốt
đẹp
nếu
tất
cả
mọi
người
đều
cải
tạo
tâm
hồn
để
hướng
về
hòa
bình
đích
thực.
Như
thế,
sứ
điệp
Phúc
Âm
phụ
họa
với
những
khát
vọng
và
cố
gắng
cao
cả
của
nhân
loại
mới
rực
sáng
lên
ở
thời
đại
chúng
ta
bằng
luồng
sáng
mới,
khi
công
bố
phúc
cho
những
người
kiến
tạo
hòa
bình
"vì
họ
sẽ
được
gọi
là
con
Thiên
Chúa"
(Mt
5,9).
Do
đó,
khi
làm
sáng
tỏ
ý
nghĩa
đích
thực
và
rất
cao
cả
của
hòa
bình,
và
sau
khi
đã
lên
án
sự
dã
man
của
chiến
tranh,
Công
Ðồng
muốn
tha
thiết
kêu
mời
các
Kitô
hữu,
với
sự
trợ
giúp
của
Chúa
Kitô,
Ðấng
sáng
tạo
hòa
bình,
hãy
cộng
tác
với
tất
cả
mọi
người
để
chuẩn
bị
các
phương
tiện
xây
dựng
hòa
bình
và
để
củng
cố
nền
hòa
bình
đích
thực
giữa
họ
trong
công
bằng
và
yêu
thương.
78.
Bản
chất
của
hòa
bình.
Hòa
bình
không
hẳn
là
vắng
bóng
chiến
tranh,
cũng
không
chỉ
được
giản
lược
vào
sự
quân
bình
hóa
giữa
các
lực
lượng
đối
phương,
cũng
không
phát
xuất
do
một
nền
cai
trị
độc
tài,
nhưng
theo
đúng
định
nghĩa
thì
hòa
bình
là
"công
trình
của
công
bằng"
(Is
32,7).
Hòa
bình
là
kết
quả
của
một
trật
tự
đã
được
chính
Thiên
Chúa,
Ðấng
Sáng
Lập,
ghi
khắc
vào
xã
hội
loài
người
và
phải
nhờ
những
người
luôn
luôn
khao
khát
một
nền
công
bằng
hoàn
hảo
hơn
thể
hiện
ra
trong
hành
động.
Thật
thế,
mặc
dù
tự
bản
chất
công
ích
của
nhân
loại
dĩ
nhiên
phải
được
định
luật
đời
đời
qui
định,
tuy
nhiên
trong
những
đòi
hỏi
cụ
thể
của
nó,
công
ích
vẫn
phải
chịu
những
thay
đổi
không
ngừng
với
diễn
biến
của
thời
gian.
Do
đó,
hòa
bình
không
bao
giờ
đạt
được
một
lần
là
xong,
nhưng
phải
xây
dựng
mãi
mãi.
Hơn
nữa,
vì
ý
chí
của
con
người
yếu
đuối
và
bị
tội
lỗi
làm
tổn
thương,
do
đó
muốn
có
hòa
bình
mỗi
người
phải
luôn
luôn
kiềm
chế
dục
vọng
của
mình
và
chính
quyền
phải
canh
phòng
cẩn
thận.
Nhưng
như
thế
chưa
đủ.
Hòa
bình
ấy
chỉ
có
được
trên
trần
gian,
nếu
giá
trị
của
từng
cá
nhân
được
đảm
bảo
và
mọi
người
tin
tưởng
cũng
như
tự
nguyện
san
sẻ
cho
nhau
những
của
cải
tinh
thần
và
tài
năng
của
họ.
Ý
chí
cương
quyết
muốn
tôn
trọng
người
khác,
những
dân
tộc
khác
cũng
như
phẩm
giá
của
họ
và
sự
ân
cần
thực
thi
tình
huynh
đệ
là
những
điều
kiện
thiết
yếu
để
xây
dựng
hòa
bình.
Như
thế,
hòa
bình
cũng
là
kết
quả
của
tình
thương,
một
thứ
tình
thương
vượt
xa
những
gì
công
bằng
có
thể
đem
đến.
Phát
sinh
từ
tình
yêu
tha
nhân,
hòa
bình
trần
gian
là
hình
ảnh
và
là
kết
quả
của
hòa
bình
Chúa
Kitô,
hòa
bình
do
Ðức
Chúa
Cha
mà
đến.
Vì
chính
Chúa
Con
Nhập
Thể
là
thái
tử
hòa
bình
đã
dùng
thập
giá
Người
để
hòa
giải
mọi
người
với
Thiên
Chúa;
Người
đã
tái
lập
sự
hiệp
nhất
mọi
người
thành
một
dân
tộc
và
một
thân
thể.
Người
đã
hủy
diệt
hận
thù
trong
chính
xác
thể
Người
1,
và
sau
khi
đã
khải
hoàn
phục
sinh,
Người
đã
đổ
tràn
Thánh
Thần
tình
yêu
đầy
lòng
con
người.
Do
đó,
trong
khi
"thực
thi
chân
lý
trong
bác
ái"
(Eph
4,15),
mọi
Kitô
hữu
được
khẩn
thiết
kêu
mời
hãy
kết
hiệp
với
những
người
thực
sự
yêu
chuộng
hoà
bình
để
cầu
khẩn
và
thiết
lập
hòa
bình
91*.
Cũng
trong
tinh
thần
đó,
chúng
tôi
không
thể
không
ca
ngợi
những
ai
tranh
đấu
cho
quyền
lợi
mà
không
dùng
bạo
động,
nhưng
dùng
những
phương
tiện
tự
vệ
sẵn
có
cho
những
người
yếu
kém,
miễn
sao
không
hại
đến
quyền
lợi
và
bổn
phận
của
người
khác
và
của
cộng
đoàn.
Bao
lâu
con
người
còn
là
những
kẻ
tội
lỗi,
hiểm
họa
chiến
tranh
còn
đe
dọa
và
vẫn
sẽ
còn
đe
dọa
cho
tới
khi
Chúa
Kitô
đến.
Tuy
nhiên,
nhờ
kết
hiệp
trong
bác
ái,
con
người
thắng
vượt
tội
lỗi
và
cũng
thắng
vượt
bạo
động
cho
tới
khi
lời
sau
đây
được
hoàn
tất:
"Họ
sẽ
rèn
gươm
thành
lưỡi
cày
và
giáo
thành
lưỡi
liềm.
Các
dân
tộc
sẽ
không
rút
gươm
đâm
chém
nhau
và
sẽ
không
còn
tập
luyện
để
chiến
đấu"
(Is
2,4).
Ðoạn
1:
Tránh
Chiến
Tranh
78.
Giảm
thiểu
sự
vô
nhân
đạo
của
chiến
tranh.
Mặc
dù
những
trận
chiến
tranh
gần
đây
đã
gây
cho
thế
giới
chúng
ta
những
thiệt
hại
quá
nặng
nề
về
vật
chất
cũng
như
tinh
thần,
thế
mà
cho
tới
nay
trên
một
vài
miền
chiến
tranh
vẫn
còn
hàng
ngày
liên
tục
tàn
phá.
Lại
nữa,
khi
người
ta
sử
dụng
những
khí
giới
khoa
học
đủ
loại
trong
chiến
tranh
thì
tính
cách
dã
man
của
chiến
tranh
lăm
le
đưa
những
kẻ
tham
chiến
tới
một
sự
man
rợ
còn
khốc
hại
hơn
những
ngày
trước.
Vả
lại,
hoàn
cảnh
phức
tạp
ngày
nay
và
những
mối
bang
giao
rối
ren
giữa
các
quốc
gia
càng
giúp
cho
chiến
tranh
ngấm
ngầm
kéo
dài
với
những
phương
pháp
mới
quỷ
quyệt
và
tàn
bạo.
Trong
nhiều
trường
hợp,
sự
xử
dụng
những
phương
pháp
khủng
bố
được
coi
như
một
hình
thức
mới
của
chiến
tranh.
Ðứng
trước
thảm
trạng
này
của
nhân
loại,
tiên
vàn
Công
Ðồng
muốn
nhắc
nhở
đến
giá
trị
ngàn
đời
của
quyền
lợi
tự
nhiên
của
các
dân
tộc
và
những
nguyên
tắc
phổ
quát
của
nó.
Chính
lương
tâm
nhân
loại
công
bố
những
nguyên
tắc
đó
một
cách
càng
ngày
càng
cương
quyết
hơn.
Những
ai
mưu
toan
hành
động
ngược
lại
những
nguyên
tắc
đó
cũng
như
những
ai
ra
lệnh
những
hành
động
như
thế,
đều
phạm
tội
ác
cả;
sự
thừa
lệnh
mù
quáng
cũng
không
đủ
để
chạy
tội
cho
những
người
tuân
theo
những
mệnh
lệnh
trên.
Trong
số
những
hành
động
tội
ác
trên,
trước
hết
phải
kể
đến
hành
động
tiêu
diệt
một
chủng
tộc,
một
dân
tộc
hay
một
dân
tộc
thiểu
số
bằng
bất
cứ
lý
do
hay
phương
pháp
nào.
Những
hành
động
như
thế
phải
được
gắt
gao
lên
án
như
những
tội
ác
đáng
ghê
tởm.
Và
phải
hết
sức
ca
ngợi
tinh
thần
can
đảm
của
những
người
dám
công
khai
chống
đối
laị
những
kẻ
ra
lệnh
thi
hành
những
tội
ác
trên.
Về
vấn
đề
chiến
tranh,
hiện
có
nhiều
hiệp
ước
quốc
tế
mà
khá
nhiều
quốc
gia
đã
ký
kết
nhằm
làm
cho
những
hoạt
động
quân
sự
và
những
hậu
quả
của
chúng
bớt
vô
nhân
đạo
hơn.
Chẳng
hạn
có
những
hiệp
ước
liên
quan
đến
số
phận
của
thương
binh
hoặc
tù
bình,
và
nhiều
thỏa
ước
tương
tự
khác.
Những
hiệp
ước
như
thế
cần
phải
được
tôn
trọng.
Hơn
nữa,
mọi
người,
nhất
là
chính
quyền
và
những
nhà
chuyên
môn
về
vấn
đề
này,
tùy
theo
khả
năng
của
mình,
cần
phải
cố
gắng
làm
sao
cho
những
hiệp
ước
đó
được
hoàn
hảo,
và
như
thế
tức
là
họ
giúp
ngăn
chặn
một
cách
tốt
đẹp
và
hữu
hiệu
hơn
tính
cách
vô
nhân
đạo
của
chiến
tranh.
Vả
lại,
cũng
là
một
điều
hợp
lý
nếu
vì
lòng
nhân
đạo
mà
có
những
khoản
luật
dành
cho
những
người
vì
lý
do
lương
tâm
từ
chối
không
xử
dụng
khí
giới,
miễn
là
họ
chấp
nhận
phục
vụ
cộng
đoàn
nhân
loại
dưới
một
hình
thức
khác
92*.
Dĩ
nhiên,
nhân
loại
chưa
trừ
được
tận
gốc
chiến
tranh.
Và
bao
lâu
nguy
cơ
chiến
tranh
tồn
tại,
bao
lâu
chưa
có
quyền
bính
quốc
tế
có
thẩm
quyền
và
có
đủ
sức
mạnh,
thì
mỗi
khi
đã
dùng
hết
mọi
phương
thế
ôn
hòa,
các
chính
phủ
được
phép
xử
dụng
quyền
tự
vệ
chính
đáng.
Do
đó,
các
thủ
lãnh
quốc
gia
và
những
ai
có
trách
nhiệm
trong
nước
có
bổn
phận
phải
bảo
vệ
dân
chúng
đã
được
ủy
thác
cho
mình,
họ
phải
thận
trọng
trong
những
vấn
đề
nghiêm
trọng
như
thế.
Tuy
nhiên,
chiến
tranh
để
bảo
vệ
dân
tộc
một
cách
chính
đáng
là
một
việc,
còn
mưu
toan
đặt
ách
đô
hộ
trên
các
quốc
gia
khác
lại
là
việc
khác.
Không
phải
mọi
việc
xử
dụng
sức
mạnh
của
khí
giới
vào
mục
tiêu
chính
trị
hay
quân
sự
đều
là
hợp
pháp.
Không
phải
vì
chiến
tranh
đã
chẳng
may
khai
diễn
mà
các
đối
phương
đều
được
phép
làm
gì
thì
làm.
Ðối
với
những
ai
hy
sinh
phục
vụ
tổ
quốc
trong
quân
ngũ,
họ
cũng
phải
coi
mình
như
những
người
đem
lại
an
ninh
và
tự
do
cho
các
dân
tộc.
Và
nếu
họ
chu
toàn
bổn
phận
này,
họ
thực
sự
đóng
góp
vào
việc
củng
cố
hòa
bình.
80.
Chiến
tranh
toàn
diện.
Sự
phát
triển
khí
giới
khoa
học
làm
cho
chiến
tranh
tăng
thêm
phần
ghê
tởm
và
khốc
hại
khôn
lường.
Thực
vậy,
những
hành
động
hiếu
chiến
đi
đôi
với
việc
xử
dụng
những
khí
giới
này
có
thể
đưa
lại
những
tàn
phá
lớn
lao
và
không
phân
định,
do
đó
vượt
xa
giới
hạn
của
việc
tự
vệ
chính
đáng.
Hơn
nữa,
nếu
tận
dụng
tất
cả
những
phương
tiện
hiện
có
trong
các
kho
vũ
khí
của
các
cường
quốc,
thì
sẽ
có
một
cuộc
tương
tàn
hầu
như
hoàn
toàn
và
mỗi
bên
sẽ
bị
đối
phương
tận
diệt,
đó
là
chưa
kể
đến
nhiều
cuộc
tàn
phá
xảy
ra
trong
thế
giới
và
những
hậu
quả
khốc
hại
do
việc
xử
dụng
những
khí
giới
nói
trên.
Tất
cả
những
điều
nói
trên
buộc
chúng
ta
phải
xét
lại
chiến
tranh
trong
một
tinh
thần
hoàn
toàn
mới
mẻ
2.
93*
Con
người
thời
đại
này
phải
biết
rằng
họ
sẽ
chịu
trách
nhiệm
nặng
nề
về
những
hành
động
hiếu
chiến
của
họ,
vì
các
biến
chuyển
tương
lai
sẽ
tùy
thuộc
nhiều
ở
những
quyết
định
của
họ
hôm
nay.
Trước
tình
trạng
đó,
thừa
nhận
những
lời
kết
án
về
chiến
tranh
toàn
diện
của
những
vị
Giáo
Hoàng
gần
đây
3,
Thánh
Công
Ðồng
tuyên
bố
rằng:
Mọi
hành
động
hiếu
chiến
nhằm
tiêu
diệt
bừa
bãi
nguyên
cả
thành
phố
hay
những
vùng
rộng
lớn
cùng
với
dân
cư
ở
đó
là
một
tội
ác
chống
lại
Thiên
Chúa
và
chính
con
người.
Vậy
phải
cực
lực
và
không
ngần
ngại
lên
án
tội
ác
đó.
Mối
nguy
cơ
đặc
biệt
của
chiến
tranh
hiện
nay
hệ
tại
ở
chỗ
hầu
như
tạo
cơ
hội
cho
những
người
có
khí
giới
tối
tân
phạm
những
tội
ác
như
thế
và
hậu
quả
tất
nhiên
là
có
thể
thúc
đẩy
ý
muốn
con
người
đi
tới
những
quyết
định
hiểm
độc
nhất.
Vậy
để
cho
thảm
trạng
đó
không
bao
giờ
xảy
đến,
các
Giám
Mục
trên
toàn
thể
thế
giới
hợp
nhau
nên
một
tha
thiết
kêu
gọi
mọi
người,
nhất
là
những
nhà
cầm
quyền
quốc
gia
cũng
như
những
vị
chỉ
huy
quân
sự
hãy
luôn
luôn
cân
nhắc
trách
nhiệm
lớn
lao
của
mình
trước
mặt
Thiên
Chúa
và
toàn
thể
nhân
loại.
81.
Thi
đua
võ
trang.
Thực
ra,
khí
giới
khoa
học
không
phải
được
thu
trữ
chỉ
để
dùng
vào
thời
chiến
tranh,
vì
người
ta
cho
rằng
sự
phòng
thủ
kiên
cố
của
mỗi
phe
tùy
thuộc
ở
khả
năng
trả
đũa
đối
phương
một
cách
vũ
bão,
cho
nên
sự
tích
trữ
khí
giới
mỗi
năm
một
gia
tăng
chính
là
nhằm
đe
dọa
đối
phương
có
thể
bất
thần
tấn
công.
Nhiều
người
cho
rằng
đó
là
phương
cách
hữu
hiệu
nhất
để
bảo
toàn
hòa
bình
giữa
các
quốc
gia
ngày
nay.
Dù
cho
phương
thức
ngăn
chặn
đối
phương
có
thế
nào
đi
nữa,
con
người
vẫn
phải
xác
tín
rằng
cuộc
thi
đua
võ
trang,
công
việc
mà
khá
nhiều
quốc
gia
đang
theo
đuổi,
không
phải
là
một
con
đường
an
toàn
để
duy
trì
hòa
bình
một
cách
vững
chắc,
cũng
như
cái
gọi
là
quân
bình
xuất
phát
từ
việc
thi
đua
đó
cũng
không
phải
là
hòa
bình
chắc
chắn
và
đích
thực.
Do
đó,
những
nguyên
nhân
của
chiến
tranh
chẳng
những
không
bị
loại
bỏ
mà
còn
đe
dọa
mỗi
lúc
một
thêm
trầm
trọng.
Ðang
khi
tiêu
thụ
quá
nhiều
tài
nguyên
vào
việc
chuẩn
bị
những
khí
giới
luôn
luôn
mới
mẻ
thì
không
thể
nào
đem
lại
một
phương
dược
đủ
để
chữa
trị
biết
bao
khốn
khổ
hiện
tại
của
thế
giới.
Thay
vì
thật
sự
và
triệt
để
hàn
gắn
những
chia
rẽ
giữa
các
quốc
gia,
người
ta
lại
làm
cho
những
chia
rẽ
ấy
lan
rộng
đến
các
vùng
khác
trên
thế
giới.
Phải
chọn
lựa
những
con
đường
mới
bắt
nguồn
từ
việc
cải
tạo
tâm
hồn
để
chấm
dứt
tệ
trạng
đó
và
để
hòa
bình
đích
thực
có
thể
được
vãn
hồi,
một
khi
thế
giới
được
giải
thoát
khỏi
mối
âu
lo
đang
đè
nặng.
Bởi
thế,
cần
phải
tuyên
bố
một
lần
nữa:
cuộc
thi
đua
võ
trang
là
một
tai
họa
hết
sức
trầm
trọng
cho
nhân
loại
và
xúc
phạm
đến
người
nghèo
một
cách
không
thể
tha
thứ
được.
Và
phải
hết
sức
sợ
rằng
cuộc
thi
đua
võ
trang,
nếu
vẫn
còn
tiếp
diễn,
một
ngày
nào
đó,
sẽ
gây
ra
mọi
tai
họa
chết
chóc
do
những
phương
thế
đã
được
nó
chuẩn
bị
sẵn.
Thấy
được
những
tai
họa
mà
nhân
loại
có
thể
gây
nên,
chúng
ta
hãy
lợi
dụng
thời
hạn
mà
ơn
trên
ban
cho
chúng
ta,
để
khi
ý
thức
hơn
về
trách
nhiệm
của
riêng
mình,
chúng
ta
sẽ
tìm
được
những
con
đường
giúp
chúng
ta
giải
quyết
được
những
tranh
chấp
của
mình
một
cách
xứng
đáng
với
con
người
hơn.
Thiên
Chúa
quan
phòng
không
ngừng
đòi
hỏi
chúng
ta
phải
tự
giải
phóng
khỏi
ách
nô
lệ
của
chiến
tranh
đã
có
từ
xưa.
Do
đó,
nếu
khước
từ
mọi
cố
gắng
như
trên,
chúng
ta
không
biết
chúng
ta
sẽ
đi
về
đâu
trên
con
đường
tội
ác
mà
mình
đã
bước
vào.
82.
Triệt
để
ngăn
cấm
chiến
tranh
và
hoạt
động
quốc
tế
nhằm
tránh
chiến
tranh.
Bởi
thế,
dĩ
nhiên
chúng
ta
cần
phải
đem
hết
nỗ
lực
để
chuẩn
bị
cho
giai
đoạn
mà
bất
cứ
chiến
tranh
nào
cũng
đều
bị
triệt
để
ngăn
cấm
do
sự
ưng
thuận
của
các
quốc
gia.
Ðiều
đó
chắc
chắn
đòi
hỏi
phải
thiết
lập
một
công
quyền
quốc
tế
được
mọi
người
thừa
nhận.
Quyền
bính
này
phải
có
một
thực
lực
hữu
hiệu
để
bảo
đảm
an
ninh
cho
mọi
người
cũng
như
buộc
phải
thực
thi
công
bằng
và
tôn
trọng
quyền
lợi.
Nhưng
trước
khi
thiết
lập
được
quyền
bính
đáng
mong
mỏi
ấy,
các
cơ
quan
tối
cao
quốc
tế
hiện
hành
cần
phải
đem
hết
nỗ
lực
để
nghiên
cứu
các
phương
thế
khả
hiệu
nhất
hầu
đem
lại
an
ninh
chung.
Vì
hòa
bình
phải
phát
sinh
từ
niềm
tin
tưởng
lẫn
nhau
giữa
các
dân
tộc,
chứ
không
là
thứ
hòa
bình
cưỡng
ép
giữa
các
dân
tộc
do
sự
sợ
hãi
khí
giới
của
nhau.
Nên
tất
cả
cần
phải
cố
gắng
chặn
đứng
cuộc
chạy
đua
võ
trang.
Muốn
cho
sự
tài
giảm
binh
bị
thực
sự
bắt
đầu,
thì
việc
tài
giảm
này
không
phải
là
việc
làm
của
một
bên,
nhưng
phải
được
cả
đôi
bên
thỏa
thuận
với
những
bảo
đảm
thực
sự
và
hữu
hiệu
4.
Trong
lúc
chờ
đợi,
không
nên
coi
thường
những
nỗ
lực
đã
có
và
đang
có
cho
tới
nay
đã
ngăn
chặn
nguy
cơ
chiến
tranh.
Tốt
hơn
là
nên
nâng
đỡ
thiện
chí
của
một
số
đông
những
người,
tuy
phải
bận
tâm
quá
nhiều
về
những
nhiệm
vụ
tối
cao
của
họ,
những
vẫn
ý
thức
được
trách
nhiệm
rất
nặng
nề
bó
buộc
họ,
cho
nên
họ
cố
gắng
loại
bỏ
chiến
tranh
mà
họ
đang
ghê
tởm
mặc
dù
họ
không
thể
bỏ
qua
được
hoàn
cảnh
phức
tạp
hiện
tại.
Hơn
nữa,
phải
luôn
luôn
cầu
xin
Thiên
Chúa
ban
cho
họ
nghị
lực
để
kiên
quyết
tiến
tới
và
can
đảm
hoàn
thành
công
cuộc
của
tình
thương
cao
cả
đối
với
con
người
là
xây
dựng
hòa
bình
một
cách
mạnh
mẽ.
Ngày
nay,
chắc
chắn
công
cuộc
đó
đòi
hỏi
họ
phải
mở
rộng
tâm
hồn
và
tinh
thần
vượt
khỏi
ranh
giới
của
quốc
gia
mình,
phải
từ
bỏ
lòng
ích
kỷ
quốc
gia
và
tham
vọng
thống
trị
các
quốc
gia
khác,
phải
nuôi
dưỡng
lòng
tôn
trọng
sâu
xa
đối
với
toàn
thể
nhân
loại
đang
vất
vả
tiến
tới
một
sự
thống
nhất
lớn
lao
hơn.
Về
vấn
đề
hòa
bình
và
giải
giới,
cần
phải
xem
những
nghiên
cứu
tìm
tòi
đã
được
theo
đuổi
một
cách
can
đảm
và
không
ngừng,
cũng
như
những
hội
nghị
quốc
tế
bàn
về
vấn
đề
này
như
là
những
bước
đầu
để
giải
quyết
những
vấn
đề
khá
trọng
đại.
Và
trong
tương
lai,
để
đạt
được
những
kết
quả
thực
tiễn,
cần
phải
cổ
võ
những
nỗ
lực
trên
một
cách
cấp
bách
hơn.
Tuy
nhiên,
không
nên
chỉ
ỷ
lại
vào
cố
gắng
của
một
vài
người
mà
quên
tinh
thần
riêng
của
mỗi
người
94*.
Vì
là
những
người
chịu
trách
nhiệm
trước
công
ích
của
dân
tộc
mình
và
đồng
thời
đem
lại
ích
chung
cho
toàn
thể
thế
giới,
cho
nên
các
nhà
lãnh
đạo
quốc
gia
tùy
thuộc
rất
nhiều
vào
quan
điểm
và
tâm
tình
của
quần
chúng.
Bao
lâu
những
tâm
tình
thù
hận,
khinh
thị
và
nghi
kỵ,
những
hiềm
thù
vì
"kỳ
thị
chủng
tộc"
cũng
như
những
ý
thức
hệ
ngoan
cố,
tất
cả
những
thứ
đó
vẫn
còn
chia
rẽ
và
đối
nghịch
con
người
với
nhau,
thì
các
nhà
lãnh
đạo
quốc
gia
có
cố
công
xây
dựng
hòa
bình
cũng
vẫn
vô
ích.
Do
đó,
cần
phải
cấp
tốc
canh
tân
giáo
dục
tâm
trạng
và
gây
lại
một
chiều
hướng
mới
cho
dư
luận
quần
chúng.
Những
ai
tận
tâm
với
công
cuộc
giáo
dục,
nhất
là
giáo
dục
giới
trẻ,
hoặc
hướng
dẫn
dư
luận
quần
chúng,
phải
nhớ
rằng
việc
gieo
rắc
trong
đầu
óc
mọi
người
những
tư
tưởng
mới
về
hòa
bình
là
một
bổn
phận
nặng
nề
nhất.
Dĩ
nhiên
tất
cả
chúng
ta
đều
có
bổn
phận
thay
đổi
tâm
hồn
mình,
phải
mở
rộng
nhãn
quan
trên
toàn
thế
giới
và
trên
những
nhiệm
vụ
mà
chúng
ta
có
thể
cùng
nhau
đảm
nhận
để
làm
cho
nhân
loại
chúng
ta
tiến
triển
tốt
đẹp
hơn.
Nhưng
đừng
để
hy
vọng
hão
huyền
lừa
dối
chúng
ta.
Thật
thế,
cho
dù
đã
loại
bỏ
được
hiềm
khích
và
hận
thù,
nhưng
nếu
trong
tương
lai
chúng
ta
không
ký
kết
được
những
hiệp
ước
vững
chắc
và
thành
thật
bảo
đảm
cho
một
nền
hòa
bình
đại
đồng,
thì
nhân
loại,
hiện
đang
gặp
nguy
cơ
trầm
trọng
dù
có
một
nền
khoa
học
kỳ
diệu
đi
nữa,
có
lẽ
cũng
sẽ
tiến
dần
đến
cách
thảm
khốc
tới
một
giây
phút
mà
nhân
loại
sẽ
không
biết
hòa
bình
nào
khác
hơn
là
thứ
hòa
bình
khủng
khiếp
của
chết
chóc.
Tuy
nhiên,
Giáo
Hội
Chúa
Kitô
được
thiết
lập
giữa
những
lo
âu
của
thời
đại
này,
khi
tuyên
bố
những
điều
trên,
vẫn
luôn
hết
sức
vững
tâm
hy
vọng.
Thuận
tiện
hay
không
thuận
tiện,
Giáo
Hội
vẫn
muốn
trình
bày
và
vẫn
muốn
trình
bày
mãi
mãi
cho
thời
đại
chúng
ta
sứ
điệp
của
các
Tông
Ðồ:
"đây
là
thời
thuận
tiện"
để
cải
tạo
tâm
hồn,
"đây
là
ngày
cứu
độ"
5.
Ðoạn
2:
Xây
Dựng
Cộng
Ðoàn
Quốc
Tế
83.
Nguyên
nhân
bất
hòa
và
phương
dược
chữa
trị.
Ðể
xây
dựng
hòa
bình,
trước
hết
cần
phải
tận
diệt
những
nguyên
nhân
bất
hòa
giữa
con
người
với
nhau,
vì
chính
những
nguyên
nhân
đó
nuôi
dưỡng
chiến
tranh,
nhất
là
những
bất
công.
Một
số
không
ít
những
nguyên
nhân
này
bắt
nguồn
từ
những
chênh
lệch
thái
quá
trong
địa
hạt
kinh
tế,
cũng
như
từ
sự
trì
hoãn
những
sửa
đổi
cần
thiết.
Một
số
nguyên
nhân
khác
phát
sinh
từ
đầu
óc
thống
trị
và
miệt
thị
con
người,
và
nếu
tìm
hiểu
những
lý
do
sâu
xa
hơn,
thì
đó
là
lòng
tham
lam,
nghi
kỵ,
kiêu
căng
và
những
đam
mê
ích
kỷ
khác.
Vì
con
người
không
thể
chịu
đựng
được
bao
nhiêu
hỗn
loạn
ấy,
cho
nên
dù
không
có
chiến
tranh
tàn
khốc,
thế
giới
vẫn
không
ngừng
bị
những
tranh
chấp
giữa
con
người
với
nhau
và
những
bạo
động
làm
xáo
trộn.
Hơn
nữa,
những
tệ
hại
này
còn
có
mặt
trong
những
tương
quan
giữa
chính
các
quốc
gia,
cho
nên
để
chiến
thắng
hay
ngăn
ngừa
những
tệ
hại
đó
và
chặn
đứng
những
bạo
động
cuồng
loạn,
triệt
để
cần
phải
phối
hiệp
và
tổ
chức
các
cơ
quan
quốc
tế
một
cách
tốt
đẹp
và
vững
chắc
hơn.
Cũng
cần
phải
luôn
luôn
khuyến
khích
việc
thành
lập
những
cơ
quan
cổ
võ
cho
hòa
bình.
84.
Cộng
đoàn
các
dân
tộc
và
các
cơ
quan
quốc
tế.
Ngày
nay
mối
dây
tương
quan
giữa
các
công
dân
và
các
dân
tộc
trên
thế
giới
mỗi
ngày
một
thêm
chặt
chẽ.
Do
đó,
muốn
tìm
công
ích
đại
đồng
một
cách
thích
ứng
và
thể
hiện
một
cách
hữu
hiệu
hơn,
cộng
đồng
các
dân
tộc
cần
phải
được
tổ
chức
theo
một
thể
thức
hợp
với
công
cuộc
hiện
thời,
nhất
là
liên
quan
đến
rất
nhiều
miền
cho
tới
nay
vẫn
còn
đang
chịu
cảnh
túng
thiếu
cơ
cực.
Ðể
đạt
được
những
mục
tiêu
nói
trên,
các
cơ
quan
của
cộng
đoàn
quốc
tế
tùy
theo
phận
vụ
mình,
phải
đáp
ứng
những
nhu
cầu
muôn
mặt
của
con
người
trong
lãnh
vực
xã
hội
như
lương
thực,
sức
khỏe,
giáo
dục,
việc
làm,
cũng
như
trong
một
vài
hoàn
cảnh
đặc
biệt
có
thể
gặp
tại
vài
nơi,
chẳng
hạn
cần
phải
cổ
võ
sự
thăng
tiến
tổng
quát
của
các
quốc
gia
trên
đường
phát
triển,
phải
trợ
giúp
nỗi
đau
khổ
của
những
người
tị
nạn
rải
rác
trên
khắp
thế
giới,
hoặc
còn
phải
cứu
trợ
những
người
di
cư
và
gia
đình
họ.
Các
cơ
quan
quốc
tế
đang
có
trên
toàn
thế
giới
hay
tại
địa
phương
chắc
chắn
đáng
được
nhân
loại
ghi
ơn
nhiều.
Những
tổ
chức
này
tựa
như
những
cố
gắng
đầu
tiên
nhằm
đặt
nền
móng
quốc
tế
cho
cả
cộng
đoàn
nhân
loại,
để
giải
quyết
những
vấn
đề
trầm
trọng
nhất
của
thời
đại
chúng
ta,
như
là
cổ
võ
sự
phát
triển
khắp
nơi
và
ngăn
ngừa
chiến
tranh
dưới
mọi
hình
thức.
Trong
tất
cả
những
lãnh
vực
này,
Giáo
Hội
hoan
hỷ
trước
tinh
thần
huynh
đệ
đích
thực
đang
nảy
nở
giữa
các
Kitô
hữu
và
những
người
ngoài
Kitô
giáo;
tinh
thần
đó
nhằm
giúp
họ
gia
tăng
thêm
mãi
mãi
nỗ
lực
để
xoa
dịu
nỗi
thống
khổ
bao
la.
85.
Cộng
tác
quốc
tế
trong
lãnh
vực
kinh
tế
95*.
Sự
liên
đới
ngày
nay
của
nhân
loại
cũng
đòi
hỏi
phải
thiết
lập
một
sự
cộng
tác
quốc
tế
rộng
rãi
hơn
trong
lãnh
vực
kinh
tế.
Thật
vậy,
mặc
dù
hầu
hết
mọi
dân
tộc
đều
được
tự
trị,
tuy
nhiên
còn
lâu
họ
mới
thoát
khỏi
những
chênh
lệch
thái
quá
và
mọi
hình
thức
lệ
thuộc
quá
đáng,
cũng
như
tránh
được
mọi
nguy
cơ
trầm
trọng
từ
những
khó
khăn
bên
trong.
Sự
phát
triển
của
mỗi
quốc
gia
tùy
thuộc
ở
những
trợ
giúp
về
nhân
sự
và
tài
chánh.
Người
công
dân
trong
mỗi
nước
cần
phải
được
chuẩn
bị
bằng
việc
giáo
dục
và
huấn
nghệ
để
chấp
nhận
những
nhiệm
vụ
khác
nhau
trong
đời
sống
kinh
tế
và
xã
hội.
Nhằm
mục
đích
trên,
cần
phải
có
sự
giúp
đỡ
của
những
chuyên
viên
ngoại
quốc;
khi
giúp
đỡ,
những
chuyên
viên
này
đừng
xử
sự
như
chủ,
nhưng
như
là
những
người
trợ
tá
và
cộng
tác
viên.
Sự
viện
trợ
vật
chất
cho
các
quốc
gia
đang
phát
triển
chỉ
thực
hiện
được
nếu
người
ta
thay
đổi
sâu
rộng
những
đường
lối
thương
mại
hiện
có
trên
thế
giới.
Hơn
nữa,
các
quốc
gia
tiến
bộ
phải
giúp
cho
các
quốc
gia
đó
những
viện
trợ
khác
nhau
dưới
hình
thức
tặng
phẩm,
cho
vay
hoặc
đầu
tư
tài
chánh.
Một
bên
phải
viện
trợ
cách
quảng
đại,
chứ
không
vì
tham
lam,
cũng
như
bên
kia
phải
nhận
với
tất
cả
công
minh.
Muốn
xây
dựng
một
nền
kinh
tế
đích
thực
cho
thế
giới
cần
phải
dập
tắt
lòng
ham
lợi
quá
đáng,
những
tham
vọng
quốc
gia,
những
khao
khát
bá
chủ
về
chính
trị,
mọi
mưu
tính
về
mặt
quân
sự
cũng
như
mọi
mưu
mô
nhằm
tuyên
truyền
và
bắt
phải
theo
một
ý
thức
hệ.
Người
ta
đề
ra
nhiều
hệ
thống
kinh
tế
và
xã
hội.
Ước
gì
các
nhà
chuyên
môn
có
thể
dựa
trên
đó
mà
tìm
ra
những
căn
bản
chung
cho
một
nền
mậu
dịch
quốc
tế
lành
mạnh.
Ðiều
đó
dễ
đạt
được
nếu
mỗi
người
từ
bỏ
thành
kiến
riêng
và
mau
mắn
đi
tới
đối
thoại
một
cách
chân
thành.
86.
Vài
tiêu
chuẩn
thích
hợp.
Những
tiêu
chuẩn
sau
đây
xem
ra
thích
hợp
cho
việc
cộng
tác
trên:
a)
Các
dân
tộc
đang
phát
triển
cần
phải
chú
tâm
nhiều
đến
việc
theo
đuổi
sự
phát
triển
toàn
vẹn
cho
người
công
dân;
một
cách
rõ
ràng
và
cương
quyết,
họ
phải
theo
đuổi
việc
phát
triển
này
như
mục
tiêu
của
sự
tiến
bộ.
Họ
phải
nhớ
rằng
sự
tiến
bộ
phát
sinh
và
gia
tăng
trước
hết
là
tùy
thuộc
ở
sự
làm
việc
và
tài
nghệ
của
chính
dân
tộc
mình,
nghĩa
là
sự
tiến
bộ
không
chỉ
căn
cứ
vào
viện
trợ
của
ngoại
bang,
nhưng
tiên
vàn
căn
cứ
vào
việc
khai
thác
đầy
đủ
những
tài
nguyên
của
xứ
sở
cũng
như
vào
việc
phát
triển
văn
hóa
và
truyền
thống
riêng
của
mình.
Trong
vấn
đề
này,
những
ai
có
ảnh
hưởng
trên
người
khác
hơn
cả
cần
phải
nêu
gương
hơn
hết.
b)
Bổn
phận
nặng
nề
nhất
của
các
quốc
gia
tiến
bộ
là
giúp
đỡ
các
dân
tộc
đang
phát
triển
chu
toàn
những
phận
vụ
nói
trên.
Do
đó,
ngay
trong
quốc
gia
mình,
họ
phải
thích
nghi
về
mặt
tinh
thần
cũng
như
vật
chất
cần
thiết
để
thiết
lập
sự
cộng
tác
đại
đồng
này.
Như
thế,
khi
giao
dịch
với
các
quốc
gia
nghèo
yếu
hơn,
họ
phải
quan
tâm
đặc
biệt
đến
lợi
ích
của
các
quốc
gia
này:
vì
các
quốc
gia
này
sống
còn
là
tùy
ở
nguồn
lợi
từ
những
sản
phẩm
bán
ra.
c)
Bổn
phận
của
cộng
đoàn
quốc
tế
là
phối
hợp
và
cổ
võ
sự
phát
triển,
tuy
nhiên
tài
nguyên
dành
cho
việc
phát
triển
phải
được
phân
phối
hết
sức
hữu
hiệu
và
hoàn
toàn
công
bằng.
Dù
vẫn
giữ
nguyên
tắc
trách
nhiệm
bổ
trợ,
cộng
đoàn
quốc
tế
cũng
phải
điều
hòa
các
mối
bang
giao
kinh
tế
trên
toàn
thế
giới,
làm
sao
để
các
mối
bang
giao
đó
được
thể
hiện
trong
các
quy
tắc
của
công
bình.
Phải
thiết
lập
những
tổ
chức
có
thể
cổ
võ
và
điều
hành
những
mậu
dịch
quốc
tế
nhất
là
với
các
quốc
gia
kém
mở
mang,
để
bù
đắp
những
khuyết
điểm
do
sự
chênh
lệch
thái
quá
về
thế
lực
giữa
các
quốc
gia.
Ðường
lối
tổ
chức
trên
cùng
với
sự
trợ
giúp
kỹ
thuật,
văn
hóa
và
tài
chánh,
sẽ
giúp
các
quốc
gia
đang
phát
triển
có
những
phương
tiện
cần
thiết
để
có
thể
mở
mang
kinh
tế
một
cách
thích
hợp.
d)
Trong
nhiều
trường
hợp,
nhu
cầu
cấp
bách
đòi
hỏi
phải
xét
lại
các
cơ
cấu
kinh
tế
và
xã
hội.
Tuy
nhiên
phải
coi
chừng
những
giải
pháp
kỹ
thuật
chưa
được
chín
mùi,
nhất
là
những
giải
pháp
đi
ngược
lại
đặc
tính
thiêng
liêng
và
sự
phát
triển
con
người,
mặc
dù
đem
lại
cho
con
người
những
tiện
ích
vật
chất:
vì
"con
người
không
phải
chỉ
sống
bằng
cơm
bánh
nhưng
còn
bằng
mọi
lời
từ
miệng
Thiên
Chúa
phán
ra"
(Mt
4,4).
Bất
cứ
thành
phần
nào
của
gia
đình
nhân
loại
cũng
đều
mang
trong
mình
và
trong
những
truyền
thống
tốt
đẹp
nhất
của
mình
một
phần
kho
tàng
thiêng
liêng
mà
Thiên
Chúa
đã
ủy
thác
cho
nhân
loại,
dù
cho
nhiều
người
không
biết
nó
phát
xuất
từ
nguồn
gốc
nào.
87.
Hợp
tác
quốc
tế
trong
vấn
đề
gia
tăng
dân
số.
Sự
hợp
tác
quốc
tế
là
một
vấn
đề
hết
sức
cần
thiết,
khi
một
số
dân
tộc
ngày
nay,
không
kể
bao
nhiêu
khó
khăn
khác,
còn
rất
thường
gặp
phải
một
số
khó
khăn
đặc
biệt
nữa
phát
sinh
từ
sự
gia
tăng
dân
số
quá
nhanh.
Nhờ
sự
hợp
tác
hoàn
toàn
và
đắc
lực
của
mọi
quốc
gia,
nhất
là
những
nước
giàu,
điều
khẩn
trương
là
phải
nghiên
cứu
làm
sao
để
có
thể
chuẩn
bị
và
chia
sẻ
cho
toàn
thể
nhân
loại
những
gì
cần
thiết
cho
sự
sống
và
cho
việc
giáo
dục
thích
hợp
của
con
người.
Thực
thế,
một
số
quốc
gia
sẽ
có
thể
cải
thiện
hoàn
cảnh
sinh
sống
của
họ
rất
nhiều,
nếu
một
khi
được
huấn
luyện
đầy
đủ,
họ
chuyển
từ
những
phương
pháp
canh
tác
nông
nghiệp
cổ
hủ
đến
những
kỹ
thuật
tối
tân
và
biết
áp
dụng
chúng
vào
những
hoàn
cảnh
của
họ
với
sự
khôn
khéo
cần
thiết;
vả
lại,
nếu
họ
biết
thiết
lập
một
trật
tự
xã
hội
tốt
đẹp
hơn
và
phân
chia
đất
đai
một
cách
công
bình
hơn.
Trong
phạm
vi
thẩm
quyền
của
mình,
dĩ
nhiên
chính
phủ
có
quyền
và
có
bổn
phận
đối
với
vấn
đề
dân
số
trong
quốc
gia
mình:
chẳng
hạn
vấn
đề
liên
quan
đến
luật
xã
hội
và
gia
đình,
vấn
đề
di
dân
từ
thôn
quê
về
thành
thị,
vấn
đề
thông
tin
về
tình
hình
và
nhu
cầu
quốc
gia.
Ngày
nay,
người
ta
chú
trọng
rất
nhiều
đến
vấn
đề
này,
do
đó,
ước
gì
những
người
công
giáo
chuyên
môn
trong
lãnh
vực
này,
nhất
là
trong
các
Ðại
Học,
hãy
kiên
nhẫn
theo
đuổi
và
phát
huy
sâu
rộng
những
nghiên
cứu
cũng
như
những
công
cuộc
của
họ.
Nhiều
người
quả
quyết
rằng
sự
gia
tăng
dân
số
trên
thế
giới
hay
ít
ra
tại
một
vài
quốc
gia
cần
phải
được
giảm
thiểu
hoàn
toàn
bằng
mọi
phương
tiện
và
bằng
bất
cứ
sự
can
thiệp
nào
của
chính
quyền.
Do
đó,
Công
Ðồng
khuyến
cáo
mọi
người
nên
đề
phòng
những
giải
pháp
đi
ngược
lại
luật
luân
lý
96*
đang
được
đề
cao
một
cách
công
khai
hay
riêng
tư
và
đôi
khi
có
tính
cách
bắt
buộc.
Vì
quyền
kết
hôn
và
sinh
sản
là
quyền
bất
khả
di
nhượng
của
con
người,
cho
nên
việc
định
đoạt
số
con
cái
sẽ
sinh
ra
tùy
thuộc
ở
phán
đoán
thẳng
thắn
của
cha
mẹ
chứ
không
thể
nào
ủy
thác
cho
sự
quyết
định
của
chính
quyền.
Nhưng
sự
phán
đoán
của
cha
mẹ
giả
thiết
là
họ
phải
có
một
lương
tâm
được
huấn
luyện
ngay
thẳng,
do
đó
điều
quan
trọng
là
làm
sao
cho
mọi
người
đạt
được
một
trình
độ
trách
nhiệm
đứng
đắn
và
thật
sự
của
một
con
người,
một
trách
nhiệm
biết
tôn
trọng
luật
Thiên
Chúa
mà
vẫn
không
bỏ
quên
hoàn
cảnh
và
thời
đại.
Ðiều
này
còn
đòi
hỏi
phải
cải
thiện
khắp
nơi
tình
trạng
giáo
dục
và
xã
hội,
nhất
là
cần
phải
có
một
nền
giáo
dục
tôn
giáo
hay
ít
ra
phải
có
một
nền
giáo
dục
đầy
đủ
về
luân
lý.
Hơn
nữa,
dân
chúng
cần
phải
được
hiểu
biết
cẩn
thận
về
những
tiến
bộ
khoa
học
trong
việc
tìm
kiếm
các
phương
pháp
có
thể
giúp
đôi
vợ
chồng
điều
hòa
sinh
sản,
miễn
là
các
phương
pháp
này
được
chứng
minh
rõ
ràng
là
chắc
chắn
và
được
nhìn
nhận
là
phù
hợp
với
trật
tự
luân
lý.
88.
Bổn
phận
của
Kitô
hữu
trong
việc
cứu
trợ.
Người
Kitô
hữu
phải
sẵn
sàng
và
hết
lòng
cộng
tác
xây
dựng
trật
tự
quốc
tế,
một
thứ
trật
tự
tôn
trọng
những
quyền
tự
do
hợp
pháp
và
tình
bằng
hữu
huynh
đệ
với
hết
mọi
người.
Họ
càng
phải
sẵn
sàng
thực
hiện
công
cuộc
ấy
hơn
nữa,
vì
hiện
thời
đại
đa
số
nhân
loại
còn
đang
đau
khổ
bần
cùng
đến
nỗi
chính
Chúa
Kitô
hiện
thân
trong
kẻ
nghèo
khổ
như
đang
lớn
tiếng
đòi
hỏi
các
môn
đệ
của
Người
phải
bác
ái.
Vậy
phải
tránh
gương
mù
của
một
số
quốc
gia
mà
đa
số
dân
chúng
thường
mang
danh
Kitô
hữu,
đang
thản
nhiên
hưởng
thụ
quá
nhiều
của
cải
trong
lúc
nhiều
quốc
gia
khác
sống
thiếu
thốn
cùng
cực,
bị
đói
khát,
bệnh
tật
và
đủ
mọi
thứ
bất
hạnh
dày
vò.
Tinh
thần
khó
nghèo
và
bác
ái
mới
là
vinh
dự
và
dấu
chứng
của
Giáo
Hội
Chúa
Kitô.
Thế
nên,
phải
khen
ngợi
và
cổ
võ
những
người
Kitô
hữu,
nhất
là
các
bạn
trẻ,
tự
nguyện
hiến
thân
phục
vụ
tha
nhân
và
các
quốc
gia
khác.
Lại
nữa,
bổn
phận
của
toàn
thể
Dân
Chúa
là
theo
gương
lành
và
lời
giảng
dạy
của
các
Giám
Mục
để
tùy
sức
xoa
dịu
những
khốn
cùng
của
thời
đại
này,
chẳng
những
với
phần
thặng
dư
mà
còn
cả
phần
thiết
dụng
của
mình
nữa
như
Giáo
Hội
thời
xưa
quen
làm.
Cách
lạc
quyên
và
phân
phối
viện
trợ,
dù
không
được
tổ
chức
chặt
chẽ
và
đồng
nhất
thì
ít
nữa
cũng
phải
được
thực
hiện
cách
đứng
đắn
trong
các
giáo
phận,
các
quốc
gia
và
trên
toàn
thế
giới;
ở
bất
cứ
nơi
nào
xem
ra
thuận
tiện,
hoạt
động
của
Công
Giáo
phải
hợp
tác
chặt
chẽ
với
các
anh
em
Kitô
hữu
khác.
Tinh
thần
bác
ái
chẳng
những
không
ngăn
trở
mà
còn
đòi
hỏi
việc
tiên
liệu
và
tổ
chức
hoạt
động
xã
hội
cũng
như
từ
thiện
cho
quy
củ.
Vì
thế,
những
người
tình
nguyện
dấn
thân
phục
vụ
các
quốc
gia
đang
phát
triển
cần
phải
được
huấn
luyện
trong
các
trường
chuyên
môn
để
họ
trở
thành
những
cán
bộ
thành
thạo.
89.
Sự
hiện
diện
hữu
hiệu
của
Giáo
Hội
trong
cộng
đoàn
quốc
tế.
Dựa
vào
sứ
mệnh
Chúa
ủy
thác,
Giáo
Hội
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
người
và
phân
phát
các
kho
tàng
ân
sủng;
và
ở
bất
cứ
nơi
nào
trên
hoàn
cầu,
Giáo
Hội
cũng
góp
phần
củng
cố
hòa
bình
và
thiết
lập
nền
tảng
vững
chắc
cho
sự
liên
đới
huynh
đệ
của
con
người
và
của
các
dân
tộc:
nền
tảng
này
làm
cho
mọi
người
hiểu
biết
về
luật
Thiên
Chúa
và
luật
tự
nhiên.
Vì
thế,
Giáo
Hội
nhất
thiết
phải
có
mặt
ngay
giữa
lòng
các
dân
tộc
để
khơi
động
và
thôi
thúc
sự
hợp
tác
giữa
mọi
người
và
Giáo
Hội
hoạt
động
được
vậy
là
nhờ
các
cơ
quan
chính
thức
của
mình,
cũng
như
nhờ
sự
cộng
tác
tận
lực
và
chân
thành
của
mọi
Kitô
hữu,
chỉ
theo
đuổi
một
ước
nguyện
là
phục
vụ
tất
cả
mọi
người.
Kết
quả
sẽ
bảo
đảm
hơn,
nếu
chính
các
tín
hữu
ý
thức
trách
nhiệm
làm
người
và
làm
Kitô
hữu,
cố
gắng
thúc
đẩy
ước
muốn
sẵn
sàng
cộng
tác
với
cộng
đoàn
quốc
tế
ngay
trong
môi
trường
sinh
hoạt
của
mình.
Về
vấn
đề
này
nên
đặc
biệt
chú
tâm
đào
tạo
các
thế
hệ
trẻ
trong
khi
giáo
dục
tôn
giáo
cũng
như
huấn
luyện
công
dân.
90.
Vai
trò
của
các
Kitô
hữu
trong
những
tổ
chức
quốc
tế.
Công
cuộc
hợp
tác
cá
nhân
hay
tập
thể
với
chính
những
tổ
chức
hiện
có
hay
sắp
thành
hình
nhằm
cổ
võ
việc
hợp
tác
giữa
các
quốc
gia
là
một
hình
thức
hoạt
động
quốc
tế
tuyệt
hảo
của
các
Kitô
hữu.
Lại
nữa,
những
hiệp
hội
công
giáo
quốc
tế
khác
nhau
còn
có
thể
góp
sức
bằng
nhiều
cách
để
xây
dựng
một
cộng
đoàn
các
dân
tộc
trong
hòa
bình
và
huynh
đệ.
Phải
củng
cố
các
hiệp
hội
này
bằng
cách
gia
tăng
số
hội
viên
đã
được
huấn
luyện
kỹ
lưỡng,
bằng
cách
giúp
đỡ
các
phương
tiện
cần
thiết
cũng
như
phối
hợp
chặt
chẽ
các
năng
lực.
Thật
vậy,
thời
đại
chúng
ta
đòi
hỏi
sáng
kiến
tập
thể
để
hoạt
động
hữu
hiệu
và
thỏa
mãn
nhu
cầu
đối
thoại.
Lại
nữa,
những
hình
thức
tổ
chức
ấy
góp
phần
không
ít
vào
việc
gia
tăng
ý
thức
đại
đồng
là
điều
rất
hợp
với
người
công
giáo,
cũng
như
vào
việc
khai
sinh
ý
thức
liên
đới
và
trách
nhiệm
quốc
tế
thực
sự.
Sau
cùng,
ước
mong
rằng
người
công
giáo
tìm
cách
hợp
tác
tích
cực
và
thiết
thực
hoặc
với
các
anh
em
ly
khai
cùng
tuyên
xưng
một
tình
bác
ái
Phúc
Âm,
hoặc
với
tất
cả
mọi
người
đang
khao
khát
hòa
bình
chân
chính,
để
chu
toàn
đứng
đắn
nghĩa
vụ
của
mình
trong
cộng
đoàn
quốc
tế.
Ngày
nay,
nhìn
nỗi
thống
khổ
bao
la
đang
đè
nặng
trên
đa
số
nhân
loại
và
để
cổ
võ
sự
công
chính,
đồng
thời
cổ
võ
tình
yêu
Chúa
Kitô
đối
với
người
nghèo
khổ
ở
khắp
nơi,
Công
Ðồng
cho
là
rất
đáng
mong
ước
việc
thiết
lập
một
cơ
quan
chung
cho
toàn
thể
Giáo
Hội,
có
nhiệm
vụ
thôi
thúc
cộng
đoàn
công
giáo
hầu
cổ
võ
sự
phát
triển
trong
các
vùng
nghèo
khổ
cũng
như
cổ
võ
công
bình
xã
hội
giữa
các
quốc
gia.
97*
Kết
Luận
98*
91.
Bổn
phận
của
mỗi
tín
hữu
và
của
các
Giáo
Hội
địa
phương.
Những
điều
mà
Thánh
Công
Ðồng
này
đề
nghị
được
rút
ra
từ
kho
tàng
giáo
lý
của
Giáo
Hội.
Mục
đích
là
giúp
đỡ
mọi
người
thời
nay,
hoặc
tin
Thiên
Chúa
hoặc
không
minh
nhiên
nhìn
nhận
Ngài,
nhận
thức
rõ
ràng
hơn
thiên
chức
toàn
diện
của
mình,
kiến
tạo
thế
giới
cho
hợp
với
phẩm
giá
siêu
việt
của
con
người
hơn,
tìm
kiếm
một
tình
huynh
đệ
đại
đồng
được
thiết
lập
vững
chắc
hơn
và
đáp
lại
những
đòi
hỏi
khẩn
thiết
trong
thời
đại
chúng
ta
theo
như
tình
yêu
thúc
đẩy
trong
một
nỗ
lực
hợp
tác
quảng
đại.
Thực
vậy,
trước
sự
dị
biệt
lớn
lao
giữa
những
hoàn
cảnh
và
những
hình
thức
văn
hóa
nhân
loại
trên
thế
giới,
những
lời
đề
nghị
trên
đây
trong
nhiều
điểm
chỉ
cố
ý
trình
bày
một
cách
tổng
quát.
Hơn
nữa,
vì
phần
nhiều
liên
hệ
đến
những
vấn
đề
còn
đang
biến
chuyển
không
ngừng,
nên
giáo
huấn
ở
đây,
tuy
đã
được
công
nhận
trong
Giáo
Hội,
nhưng
cũng
cần
được
khai
triển
và
tiếp
nối
thêm
nữa.
Tuy
nhiên,
chúng
tôi
tin
chắc
rằng
nhiều
điều
mà
chúng
tôi
loan
báo
dựa
trên
lời
Chúa
và
tinh
thần
Phúc
Âm,
sẽ
có
thể
giúp
đỡ
mọi
người
một
cách
hữu
hiệu,
nhất
là
khi
các
tín
hữu
theo
sự
hướng
dẫn
của
Chủ
Chăn
cố
gắng
thực
hiện
công
việc
thích
nghi
cần
thiết
cho
từng
quốc
gia
và
từng
tâm
thức
khác
nhau.
92.
Ðối
thoại
giữa
mọi
người.
Với
sứ
mệnh
đem
sứ
điệp
Phúc
Âm
soi
chiếu
cả
thế
giới
và
quy
tụ
trong
một
Chúa
Thánh
Thần
tất
cả
mọi
người
của
mọi
quốc
gia,
chủng
tộc
hay
văn
hóa,
Giáo
Hội
trở
thành
dấu
chứng
của
tình
huynh
đệ,
một
mối
tình
tạo
điều
kiện
và
cổ
võ
một
cuộc
đối
thoại
chân
thành.
Vậy
trước
hết,
chúng
ta
cần
cổ
võ
ngay
trong
lòng
Giáo
Hội
sự
quí
mến,
tôn
trọng
và
hòa
thuận
với
nhau
bằng
sự
chấp
nhận
mọi
dị
biệt
chính
đáng
để
luôn
luôn
có
thể
đối
thoại
hữu
hiệu
giữa
những
phần
tử
của
một
Dân
Chúa
duy
nhất,
dù
là
chủ
chăn
hay
các
Kitô
hữu
khác.
Thật
vậy,
những
gì
liên
kết
giữa
các
tín
hữu
còn
mạnh
hơn
những
gì
chia
rẽ:
hiệp
nhất
trong
những
gì
chính
yếu,
tự
do
trong
những
gì
nghi
ngờ,
bác
ái
trong
hết
mọi
sự
6.
Ðồng
thời,
tâm
hồn
chúng
tôi
cũng
ôm
ấp
những
người
anh
em
và
các
cộng
đoàn
của
họ,
tuy
chưa
sống
hiệp
thông
trọn
vẹn
với
chúng
tôi
nhưng
vốn
liên
kết
với
chúng
tôi
trong
sự
tuyên
xưng
Chúa
Cha,
Chúa
Con
và
Chúa
Thánh
Thần
cũng
như
trong
mối
dây
bác
ái;
chúng
tôi
nhớ
rằng
ngay
cả
nhiều
người
không
tin
vào
Chúa
Kitô
vẫn
ước
mong
và
khao
khát
sự
hiệp
nhất
giữa
các
tín
hữu:
quả
thực,
sự
hiệp
nhất
này
càng
tiến
triển
trong
chân
lý
và
tình
yêu
nhờ
quyền
lực
Chúa
Thánh
Thần,
thì
càng
sẽ
là
một
điềm
tiên
báo
sự
hiệp
nhất
và
hòa
bình
trên
toàn
thế
giới.
Vì
thế,
cùng
hiệp
lực
và
hiện
đang
theo
đuổi
mục
đích
cao
cả
này
cách
hữu
hiệu
dưới
những
hình
thức
ngày
càng
thích
hợp
hơn,
chúng
tôi
cố
gắng
mỗi
ngày
sống
phù
hợp
với
Phúc
Âm
hơn
nữa,
để
hợp
tác
trong
tình
huynh
đệ
hầu
phục
vụ
gia
đình
nhân
loại
đang
được
mời
gọi
vào
gia
đình
các
con
cái
Thiên
Chúa,
trong
Chúa
Giêsu
Kitô.
Do
đó,
chúng
tôi
cùng
hướng
tâm
hồn
đến
tất
cả
những
ai
nhìn
nhận
Thiên
Chúa
và
bảo
tồn
các
yếu
tố
tôn
giáo
và
nhân
bản
quý
giá
trong
truyền
thống
riêng.
Chúng
tôi
ước
mong
đối
thoại
cởi
mở
để
dẫn
đưa
tất
cả
chúng
ta
đến
chỗ
trung
thành
đón
nhận
và
hăng
hái
thực
hiện
những
gì
Chúa
Thánh
Thần
thôi
thúc.
Niềm
ước
mong
đối
thoại
đó
chỉ
do
lòng
yêu
chân
lý
hướng
dẫn
và
dĩ
nhiên
vẫn
giữ
được
sự
khôn
ngoan
thích
hợp;
về
phần
chúng
tôi,
niềm
ước
vọng
này
không
loại
trừ
một
ai
hết:
từ
những
người
đang
tôn
thờ
những
giá
trị
tinh
thần
nhân
bản
cao
quí
mà
chưa
nhận
biết
Ðấng
Tạo
Thành
đến
những
ai
chống
đối
và
bách
hại
Giáo
Hội
bằng
nhiều
cách.
Vì
Thiên
Chúa
Cha
là
nguyên
lý
và
cùng
đích
mọi
sự,
nên
tất
cả
chúng
ta
đều
được
kêu
gọi
làm
anh
em
với
nhau.
Và
vì
thế,
được
gọi
lãnh
nhận
thiên
chức
làm
người
và
làm
con
Thiên
Chúa,
chúng
ta
có
thể
và
phải
cộng
tác,
không
bạo
động,
không
xảo
trá
để
xây
dựng
một
thế
giới
trong
hòa
bình
đích
thực.
93.
Xây
dựng
và
dẫn
đưa
thế
giới
tới
cùng
đích.
Nhớ
lại
lời
Chúa:
"Nếu
các
con
thương
yêu
nhau,
thiên
hạ
sẽ
cứ
dấu
ấy
mà
nhận
biết
chúng
con
là
môn
đệ
Thầy"
(Gio
13,35),
người
Kitô
hữu
không
thể
tha
thiết
mong
ước
gì
hơn
là
luôn
được
phục
vụ
con
người
trong
thế
giới
ngày
nay
cách
quảng
đại
và
hữu
hiệu
hơn.
Thật
vậy,
trong
khi
trung
thành
gắn
bó
với
Phúc
Âm
và
thừa
hưởng
những
năng
lực
của
Phúc
Âm,
cũng
như
liên
kết
với
mọi
người
yêu
chuộng
và
thực
hiện
công
bình,
người
Kitô
hữu
nhận
lãnh
một
sứ
mệnh
lớn
lao
phải
chu
toàn
ở
trần
gian
này
và
phải
trả
lẽ
với
Ðấng
sẽ
phán
xét
mọi
người
trong
ngày
sau
hết.
Không
phải
những
ai
nói
"lạy
Chúa,
lạy
Chúa"
sẽ
được
vào
nước
trời,
nhưng
chỉ
có
những
ai
thực
hiện
ý
Chúa
Cha
7
và
can
đảm
làm
việc.
Thực
thế,
Chúa
Cha
muốn
chúng
ta
nhìn
nhận
Chúa
Kitô
là
anh
cả
trong
tất
cả
mọi
người
và
yêu
mến
Người
cách
cụ
thể
bằng
lời
nói
cũng
như
bằng
việc
làm.
Như
vậy,
chúng
ta
làm
nhân
chứng
cho
Chân
Lý
và
truyền
thông
cho
kẻ
khác
mầu
nhiệm
tình
yêu
của
Chúa
Cha
trên
trời.
Nhờ
đó,
mọi
người
trên
khắp
địa
cầu
sẽ
thấy
nẩy
sinh
một
niềm
hy
vọng
mãnh
liệt,
đó
là
ân
huệ
của
Chúa
Thánh
Thần,
để
sau
cùng
được
hưởng
hòa
bình
và
hạnh
phúc
tuyệt
vời
trong
quê
hương
rạng
ngời
vinh
quang
Chúa
99*.
"Kính
chúc
Ðấng
quyền
năng
làm
được
mọi
sự
cách
hết
sức
phong
phú
hơn
điều
ta
cầu
xin
hay
nghĩ
tưởng
tùy
theo
quyền
phép
của
Ngài
hằng
hoạt
động
giữa
chúng
ta,
kính
chúc
Ngài
vinh
quang
trong
Giáo
Hội
và
trong
Chúa
Giêsu
Kitô
trong
mọi
thế
hệ
muôn
đời.
Amen"
(Eph
3,20-21).
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Hiến
Chế
Mục
Vụ
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và,
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
7
tháng
12
năm
1965
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
90*
Phần
nhập
đề:
1)
Hoà
bình
cần
thiết
để
xây
dựng
một
thế
giới
nhân
đạo
hơn
cũng
như
xứng
hợp
với
tinh
thần
Phúc
Âm
hơn
số
(số
77a).
Vì
thế,
Công
Ðồng
có
ý
trình
bày
hòa
bình
đích
thực
cũng
như
lên
án
tính
cách
ác
độc
của
chiến
tranh
(b).
2)
Hòa
bình
đích
thực
(số
78a)
phát
sinh
bởi
tình
thương
(b)
và
do
ơn
Chúa
Kitô
(c).
Các
tín
hữu
phải
xây
dựng
hòa
bình
(d).
Công
Ðồng
khen
ngợi
những
người
không
dùng
phương
tiện
bạo
động
(e).
Nhưng
muốn
hòa
bình
thì
phải
thắng
tội
lỗi
(f).
Ðoạn
1.
Loại
trừ
chiến
tranh:
Chiến
tranh
vẫn
còn
là
sự
kiện,
và
khí
giới
lại
càng
ngày
càng
dữ
dội
(số
79a).
A)
Nguyên
tắc
cần
phải
tôn
trọng
luôn
luôn:
Không
được
tiêu
diệt
cả
một
dân
tộc
(b).
Phải
gìn
giữ
các
khế
ước
quốc
tế.
(Có
lẽ
nên
chấp
nhận
những
kẻ
lấy
lý
do
lương
tâm
mà
từ
chối
không
muốn
cầm
súng)
(c).
Chiến
đấu
tự
vệ
như
phương
tiện
tối
hậu
là
hợp
lý,
nhưng
có
giới
hạn
(d).
Quân
nhân
cũng
góp
phần
cho
hòa
bình
(e).
B)
Vài
trường
hợp
thực
tế:
1)
Hành
quân
không
phân
biệt
mục
tiêu
và
bất
chấp
giới
hạn
(số
80a),
chiến
tranh
toàn
diện
(c),
hay
tấn
công
các
đô
thị
và
khu
vực
rộng
rãi,
đều
bị
lên
án
(d).
Tích
trữ
khí
giới
khoa
học
có
thể
đưa
tới
các
tội
trạng
đó
(e).
Hiện
nay
ta
cần
phải
duyệt
xét
lại
các
nguyên
tắc
cổ
truyền
về
chiến
tranh
(b).
2)
Cuộc
thi
đua
võ
trang
như
phương
tiện
khuyến
cáo
đối
phương
(số
81a)
không
bảo
đảm
và
cũng
không
đưa
lại
hòa
bình
đích
thực
(b),
trái
lại
nó
làm
tổn
thương
kẻ
nghèo
(c).
Ðàng
khác
ta
phải
lợi
dụng
khoảng
thời
gian
chưa
có
chiến
tranh
(d).
C)
Tìm
cách
loại
trừ
chiến
tranh:
bằng
khế
ước
và
quyền
bính
quốc
tế
(số
82a).
Ai
cũng
phải
giúp
đỡ
người
có
trách
nhiệm.
Ta
phải
đổi
mới
tinh
thần
(b).
Phải
kiện
toàn
những
khế
ước
đã
có.
Phải
đào
tạo
cá
nhân
vì
dư
luận
rất
có
ảnh
hưởng
(c).
Công
Ðồng
cảnh
cáo
mọi
người
về
mối
nguy
cơ
trầm
trọng,
đàng
khác
Công
Ðồng
hy
vọng
còn
kịp
thời
hóa
giải
(d).
Ðoạn
2.
Xây
dựng
cộng
đoàn
quốc
tế:
Trước
hết
bằng
cách
trừ
khử
tận
gốc
các
mầm
mống
thù
nghịch,
ngay
cả
trong
môi
trường
quốc
tế
(số
83).
Rồi
phải
hiệp
nhất
để
mưu
ích
chung
cho
quốc
tế
(số
84a).
Vai
trò
của
những
tổ
chức
quốc
tế
(b):
các
tổ
chức
ấy
được
coi
như
là
bước
đầu
trên
con
đường
hòa
bình
(c).
A)
Cần
phải
cộng
tác
kinh
tế:
để
loại
trừ
sự
bất
bình
đẳng
và
trạng
thái
lệ
thuộc
bất
xứng
(số
85a).
Cộng
tác
tuỳ
theo
nhu
cầu
khác
nhau
của
các
quốc
gia
đang
mở
mang
và
đã
tiến
triển
(b).
Những
thái
độ
cần
phải
vượt
qua
(c).
Qui
tắc
về
sự
cộng
tác
ấy:
Chính
quốc
gia
đang
mở
mang
phải
cố
gắng
(số
86a).
Quốc
gia
tiền
tiến
có
bổn
phận
trợ
lực
các
quốc
gia
kém
mở
mang
(b).
Cộng
đoàn
quốc
tế
phải
chi
phối
chính
sách
viện
trợ
theo
nguyên
tắc
bổ
trợ
(c).
Nhiều
lúc
sẽ
phải
canh
tân
cơ
cấu
xã
hội,
nhưng
cẩn
thận
kẻo
làm
thiệt
hại
cho
tinh
thần
(d).
Cần
phải
viện
trợ
nhiều
hơn
cho
những
quốc
gia
mà
trong
đó
dân
số
đang
gia
tăng
mau
chóng
(số
87a).
Vai
trò
của
chính
quyền
và
các
viện
đại
học
về
vấn
đề
này
(b)
và
những
giới
hạn
luân
lý
(c).
B)
Vai
trò:
của
tín
hữu
(số
88a).
Việc
cộng
tác
cá
nhân
hay
nhờ
phương
tiện
kinh
tế
(b).
Cộng
tác
với
các
tín
hữu
khác
(c).
Vai
trò
của
Giáo
Hội
(số
89a).
Giáo
dân
càng
góp
phần
trong
cộng
đoàn
thì
việc
làm
của
Giáo
Hội
càng
hữu
ích
(b).
Giáo
dân
nên
cộng
tác
với
tổ
chức
quốc
tế,
nhất
là
tổ
chức
công
giáo
(số
90a),
và
với
anh
em
ly
khai
cũng
như
với
những
người
hiếu
hòa
khác
(b).
Công
Ðồng
tỏ
ý
ước
mong
rằng
Tòa
Thánh
sẽ
sáng
lập
một
tổ
chức
quốc
tế
để
cổ
võ
công
bằng
và
tình
thương
yêu
đối
với
các
miền
nghèo
nhất
(c).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Eph
2,16;
Col
1,20-22.
(Trở
lại
đầu
trang)
91*
"Phúc
cho
người
hiếu
hòa
vì
sẽ
được
gọi
là
con
Thiên
Chúa"
(Mt
5,9).
Chủ
nghĩa
hòa
bình
đích
thực
không
hệ
tại
sự
lên
án
chiến
tranh
và
đòi
hỏi
ngưng
chiến
bất
chấp
hoàn
cảnh,
nhưng
phải
xây
dựng
hòa
bình
chính
nghĩa
(78a-c).
Thiếu
công
bằng
và
tình
thương,
"hòa
bình"
chỉ
trở
nên
một
thứ
bạo
động
càng
đáng
gớm
ghét
hơn
vì
nó
gây
nên
thiệt
hại
tinh
thần
hơn
cả
vật
chất.
Do
đó,
ta
không
thể
dựa
vào
tinh
thần
Phúc
Âm
mà
đòi
hỏi
các
quốc
gia
phải
bỏ
rơi
số
phận
của
nhân
loại
trong
tay
những
kẻ
xâm
lăng
đầy
tội
lỗi,
vì
đó
chắc
không
phải
là
tinh
thần
Phúc
Âm
đích
thực.
Nếu
một
thứ
thần
học
tin
lành
nào
đó
nhấn
mạnh
rằng
luân
lý
Phúc
Âm
chống
lại
và
vượt
quá
luân
lý
tự
nhiên,
bởi
vì
họ
tưởng
rằng
thế
giới
và
bản
tính
con
người
đã
bị
tội
lỗi
làm
hư
hỏng
hoàn
toàn,
cho
nên
tín
hữu
phải
can
đảm
từ
chối
chiến
đấu
bất
chấp
hậu
quả
thì
đối
với
người
công
giáo
sẽ
khác
hẳn:
bởi
vì
chúng
ta
biết
rằng
Thiên
Chúa
không
những
đã
dựng
nên
thế
giới
và
ủy
thác
cho
con
người
phát
triển
và
xây
dựng
thế
giới,
nhưng
còn
cho
Chúa
Kitô
đến
chuộc
lại
thế
giới
đó.
Các
nhiệm
vụ
do
công
ích
phát
sinh
không
chỉ
có
tính
cách
luân
lý
tự
nhiên
mà
thôi.
Nhưng
chúng
ta
phải
hết
sức
vất
vả
để
xây
dựng
hòa
bình
bằng
cách
loại
trừ
tội
lỗi
(f),
luyện
tập
đức
công
bằng
và
thương
yêu
(ab),
tìm
kiếm
ơn
thánh
Chúa
Kitô
và
Chúa
Thánh
Thần
(c),
v.v...
Trong
phần
hai,
Công
Ðồng
nhắc
lại
một
số
phương
tiện
tự
nhiên
ta
có
thể
áp
dụng.
(Trở
lại
đầu
trang)
92*
"Lấy
lý
do
lương
tâm
mà
từ
chối
cầm
súng"
có
phải
là
một
nhân
quyền
dân
sự
không?
Hiện
nay
có
nhiều
người
quả
quyết
như
vậy.
Tuy
nhiên
Công
Ðồng
vừa
bênh
vực
quyền
bính
và
nhiệm
vụ
của
chính
quyền
để
bảo
vệ
công
ích
(số
78ae);
(79d),
vừa
ban
khen
quân
nhân
phục
vụ
quốc
gia
(79e).
Ðàng
khác,
trong
toàn
bài
nói
về
những
nỗ
lực
để
giảm
bớt
mức
độ
độc
ác
của
chiến
tranh,
Công
Ðồng
lại
phát
biểu
ý
kiến
rằng
nếu
chính
quyền
và
luật
pháp
chấp
nhận
lý
do
lương
tâm
mà
không
buộc
người
vịn
lẽ
ấy
phải
cầm
súng,
điều
đó
có
vẻ
hợp
lẽ
phải.
Thực
ra,
trước
Công
Ðồng
đã
có
một
số
quốc
gia
lập
luật
chấp
nhận
lý
do
lương
tâm,
miễn
là
người
vịn
lẽ
đó
phục
vụ
quốc
gia
một
cách
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
291:
"Do
đó,
trong
thời
đại
này,
thời
đại
của
chúng
ta,
thời
đại
tự
phụ
về
sức
mạnh
nguyên
tử,
thực
là
vô
lý
khi
nghĩ
rằng
chiến
tranh
vẫn
còn
là
một
phương
tiện
thích
hợp
để
đối
phó
với
việc
xâm
phạm
quyền
lợi"
(Trở
lại
đầu
trang)
93*
Ngoài
hai
nguyên
tắc
cổ
điển
là
"chiến
đấu
tự
vệ"
và
"sự
cân
xứng
giữa
thiệt
hại
đã
phải
chịu
và
thiệt
hại
có
thể
gây
nên",
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
nguyên
tắc
mới
là
nguyên
tắc
"không
phân
biệt
mục
tiêu".
Nghĩa
là
đánh
nhau
bất
chấp
mục
tiêu
quân
sự
hay
dân
sự,
xử
dụng
những
võ
khí
quá
mạnh
mà
không
làm
sao
có
thể
điều
khiển
được,
áp
dụng
phương
pháp
khủng
bố,
lúc
ấy
chiến
tranh
không
còn
có
tính
cách
tự
vệ
nữa.
Nguyên
tắc
này
khiến
ta
phải
xét
lại
lập
trường
cũ.
Không
một
chỗ
nào
chứng
tỏ
Công
Ðồng
theo
chủ
nghĩa
hòa
bình
quá
đáng,
nhưng
đàng
khác
Công
Ðồng
cũng
không
chấp
nhận
lập
trường
cứ
yên
tâm
mà
chiến
đấu.
Công
Ðồng
lưu
ý
chúng
ta
tới
sự
vô
lý
của
cuộc
thi
đua
võ
trang
đòi
hỏi
món
tiền
bao
la
đang
khi
biết
bao
người
nghèo
khó
thiếu
thốn
(81c).
Thật
là
vô
lý
khi
các
quốc
gia
tiến
triển
cũng
như
kém
mở
mang,
dành
cho
ngân
sách
quốc
phòng
nhiều
tiền
hơn
ngân
sách
giáo
dục,
phát
triển,
v.v...
Công
Ðồng
khích
lệ
người
có
trách
nhiệm
áp
dụng
mọi
phương
pháp
để
loại
trừ
chiến
tranh
(82),
rồi
trong
toàn
phần
hai
lại
đề
nghị
nhiều
phương
cách
cụ
thể
để
xây
dựng
hòa
bình
(83-90).
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
30-9-1954:
AAS
46
(1954),
trg
589;
-
Sứ
điệp
truyền
thanh
24-12-1954:
AAS
47
(1955),
trg
15tt.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
286-291.
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
ở
Liên
Hiệp
Quốc,
4-10-1965:
AAS
57
(1965),
trg
877-885).
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris,
chỗ
nói
về
tài
giảm
binh
bị:
AAS
55
(1963),
trg
287.
(Trở
lại
đầu
trang)
94*
Xây
dựng
hòa
bình
là
công
việc
của
mọi
người
chúng
ta,
nhất
là
của
tín
hữu,
bởi
vì
dư
luận
càng
ngày
càng
có
ảnh
hưởng
trên
các
nhà
cầm
quyền.
Theo
lời
chỉ
dẫn
của
Công
Ðồng,
Ðức
Phaolô
VI
nhiều
lần
đã
nhấn
mạnh
rằng
ta
phải
đổi
mới
tâm
trạng
bằng
cách
tiêu
hủy
tính
ích
kỷ,
sự
bạo
động,
sự
xâm
phạm
quyền
lợi
của
người
khác
(8-12-1967),
và
bằng
cách
từ
bỏ
sự
xung
đột
tư
tưởng
cũng
như
xu
hướng
bản
năng
kiêu
căng
và
vô
nhân
đạo
(1-1-1968).
Trái
lại,
phải
tìm
kiếm
tinh
thần
mới:
đề
cao
nhiệm
vụ
và
lòng
tôn
trọng
tha
nhân,
tình
huynh
đệ,
công
bằng,
thương
yêu,
tự
do
về
khía
cạnh
dân
sự,
văn
hóa,
luân
lý
và
tôn
giáo
(8-12-1967).
Ðức
Phaolô
trông
mong
ở
giới
trẻ
không
biết
bi
quan
(1-1-1968).
Tất
cả
những
ai
đã
phải
khổ
sở
cũng
như
đã
bị
tử
thương
vì
chiến
tranh,
đều
kêu
gào
và
đòi
hỏi
chúng
ta
phải
có
tinh
thần
mới
đó.
Và
nhất
là
Chúa
Kitô
đã
nhập
thể
và
đã
tuyên
bố
rằng
mọi
người
đều
là
anh
em
với
nhau,
đã
giảng
dạy
giá
trị
thánh
thiện
của
mạng
sống
và
của
việc
tha
thứ
cho
nhau;
Người
đòi
hỏi
phải
có
tâm
trạng
đổi
mới
ấy
(1-1-1968)...
Trong
Thông
Ðiệp
Pacem
in
terris,
Ðức
Gioan
XXIII
đã
nhấn
mạnh
nền
tảng
hòa
bình
cốt
tại
trật
tự
tự
nhiên
do
chân
thật,
công
bằng,
thương
yêu
và
tự
do
tạo
nên.
Bốn
nhân
đức
ấy
sẽ
giúp
đỡ
không
những
cá
nhân
với
cá
nhân
mà
còn
cá
nhân
với
cộng
đoàn
chính
trị,
cũng
như
các
quốc
gia
với
nhau
và
với
cộng
đoàn
quốc
tế.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
2Cor
6,2.
(Trở
lại
đầu
trang)
95*
Trong
phần
hai
này,
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
nhiều
nhất
đến
sự
cộng
tác
với
nhau
trong
lãnh
vực
kinh
tế.
"Sự
phát
triển
là
danh
hiệu
mới
của
hòa
bình"
(Phaolô
VI,
Populorum
Progressio,
số
87).
Không
phải
vì
khi
có
đầy
đủ
mọi
sự
vật
chất
đã
là
hết
tất
cả
các
nguyên
nhân
(sự
bất
công,
ích
kỷ,
tham
lam,
kiêu
căng...)
có
thể
gây
nên
chiến
tranh,
nhưng
vì
trường
hợp
thiếu
bình
đẳng
giữa
các
dân
tộc
là
một
trong
các
nguyên
nhân
quan
trọng
nhất
gây
nên
sự
bất
công
cũng
như
tinh
thần
đố
kỵ
(PP.,
số
55).
(Trở
lại
đầu
trang)
96*
Nếu
dân
số
gia
tăng
quá
mau,
những
nỗ
lực
để
phát
triển
mức
độ
kinh
tế
có
thể
bị
ngăn
chặn
rất
nhiều
(PP.,
số
37).
Công
Ðồng
nhắc
lại
một
số
phương
pháp
có
thể
giúp
giải
quyết
vấn
đề
đó:
a)
Nhờ
sự
cộng
tác
của
các
dân
tộc,
nhất
là
dân
tộc
tiền
tiến,
để
tìm
cách
sinh
nhai
và
nâng
cao
mức
độ
học
thức,
b)
canh
tân
phương
pháp
trong
lãnh
vực
nông
nghiệp,
c)
đổi
mới
trật
tự
xã
hội,
d)
phân
chia
lại
ruộng
đất
cách
công
bình
hơn,
e)
nhờ
pháp
luật
gia
đình
và
xã
hội,
f)
nhờ
chính
sách
di
dân,
g)
nhờ
sự
truyền
tin
về
tình
hình
quốc
gia,
h)
nhờ
công
việc
nghiên
cứu
kinh
tế
xã
hội
tại
các
viện
đại
học...
Dĩ
nhiên
các
phương
pháp
đó
lúc
đầu
đòi
hỏi
món
tiền
rất
lớn.
Bởi
vậy
các
chính
phủ
có
thể
có
khuynh
hướng
bắt
buộc
công
dân
áp
dụng
phương
pháp
tận
gốc:
làm
chậm
sự
gia
tăng
dân
số
bằng
những
phương
pháp
vi
phạm
đến
nhân
phẩm:
"Mỗi
mỹ
kim
chúng
ta
cung
cấp
để
hạn
chế
sinh
sản
giúp
chúng
ta
tiết
kiệm
được
hơn,
một
trăm
mỹ
kim
mà
chúng
ta
sẽ
phải
chi
phí
để
phát
triển
nền
kinh
tế
lạc
hậu".
Câu
nói
này
của
Tổng
Thống
Hoa
Kỳ
Johnson,
cũng
như
chương
trình
hạn
chế
sinh
sản
tại
một
số
quốc
gia
như
Ấn
Ðộ,
Ðài
Loan,
v.v...
khiến
ta
ý
thức
về
sự
hợp
thời
của
lời
cảnh
cáo
do
Công
Ðồng
tuyên
bố.
Riêng
về
nạn
đói,
là
vấn
đề
đã
làm
cho
giới
trách
nhiệm
phải
lo
lắng
rất
nhiều
mấy
năm
trước
đây,
báo
Time
(3-10-1969,
22)
viết:
"...kỹ
thuật
nông
thôn
đã
chứng
tỏ
rằng
sự
sản
xuất
thực
phẩm
có
thể
lớn
hơn
sự
gia
tăng
dân
số".
Thực
sự,
nhiều
lúc
vấn
đề
không
phải
là
vấn
đề
sản
xuất
nhưng
là
vấn
đề
chuyên
chở,
phân
phối,
giá
thị
trường,
và
vấn
đề
tổ
chức
cũng
như
cộng
tác
giữa
các
quốc
gia.
(Trở
lại
đầu
trang)
97*
Ngày
7-7-1966,
Ðức
Phaolô
VI
đã
chỉ
định
một
ủy
ban
lâm
thời
với
nhiệm
vụ
dự
thảo
đường
lối
thực
hiện
ý
muốn
của
Công
Ðồng.
Rồi
ngày
6-1-1967,
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
thiết
lập
ủy
ban
nghiên
cứu
"Công
Lý
và
Hòa
Bình"
tại
Vaticanô.
Ủy
ban
chuyên
tâm
khảo
cứu
những
vấn
đề
thiết
thực
mới
thành
hình
liên
can
đến
thế
giới.
Ðược
ủy
ban
khuyến
khích,
Hội
Ðồng
các
Giám
Mục
Việt
Nam
họp
tại
Sàigòn
vào
đầu
năm
1969
đã
chỉ
thị
thành
lập
phong
trào
Công
Lý
Hòa
Bình
tại
Việt
Nam
nhằm
đem
Giáo
Hội
vào
thế
giới
ngày
nay
và
góp
phần
vào
cuộc
đại
cách
mạng
thế
giới.
Ðây
không
phải
là
cuộc
cách
mạng
chính
trị,
nhưng
là
một
cuộc
cách
mạng
nhân
bản
và
tôn
giáo:
làm
sao
để
không
còn
phân
biệt
lối
sống
đạo
trong
nhà
thờ
và
sinh
hoạt
trần
thế
ngoài
nhà
thờ
nữa.
Trong
cuộc
cách
mạng
này
phải
có
ý
thức
tôn
giáo,
ý
thức
công
dân,
ý
thức
cải
tiến.
(Trở
lại
đầu
trang)
98*
Tất
cả
những
điều
Công
Ðồng
đề
nghị
ở
trên
nhằm
giúp
mọi
người
góp
phần
để
kiện
toàn
thế
giới
trong
tinh
thần
huynh
đệ
(số
91a).
Dĩ
nhiên
cần
phải
áp
dụng
những
nguyên
tắc
đó
cho
thích
hợp
với
trường
hợp
của
từng
địa
phương
(b).
Giáo
Hội
là
dấu
chứng
cho
sự
hiệp
nhất
(số
92a),
trước
hết
mình
phải
tự
hiệp
nhất
(b),
rồi
tìm
cách
cộng
tác
với
các
anh
em
ly
khai,
cá
nhân
cũng
như
cộng
đoàn
(c),
và
đối
thoại
cởi
mở
với
tất
cả
những
ai
có
lòng
tin
nơi
Ðấng
Tối
Cao
(d).
Hơn
nữa,
về
phần
Giáo
Hội,
Giáo
Hội
không
loại
trừ
người
vô
thần
và
ngay
cả
những
ai
chống
đối
Giáo
Hội
(e).
Tình
yêu
Chúa
thúc
đẩy
chúng
ta
hoạt
động
để
xây
dựng
thế
giới
(số
93a)
và
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa
(b).
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Ad
Petri
Cathedram,
29-6-1959:
AAS
55
(1959),
trg
513.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Mt
7,21.
(Trở
lại
đầu
trang)
99*
Sau
khi
chúng
ta
đọc
Hiến
Chế
Mục
Vụ
rồi,
Công
Ðồng
khuyên
mỗi
người
chúng
ta
như
Chúa
Giêsu
xưa
bảo
luật
sĩ:
"Hãy
về
bắt
chước
làm
như
vậy"
(Lc
10,37).
Hiến
Chế
đã
nhắc
lại
rất
nhiều
bổn
phận,
đã
cho
biết
rất
nhiều
nhiệm
vụ
khẩn
cấp,
đã
khuyên
bảo
về
rất
nhiều
điều
thiếu
sót
của
cá
nhân
hay
cộng
đoàn
trong
Giáo
Hội.
Nhưng
điều
căn
bản
để
sống
đạo
cũng
như
để
mưu
ích
cho
thế
giới
là
điều
răn
mới
của
Chúa
Giêsu,
bao
gồm
tất
cả
những
điều
răn
khác
(Rm
13,8;
Gal
5,14).
Sau
khi
luật
sĩ
trả
lời
rằng:
"Luật
Chúa
dạy
ta
phải
kính
mến
Thiên
Chúa
hết
lòng,
hết
linh
hồn
và
hết
trí
khôn,
lại
thương
yêu
người
thân
cận
như
chính
mình
vậy".
Chính
Chúa
Giêsu
đã
phán:
"cứ
làm
như
thế
sẽ
được
sống"
(Lc
10,26-28).
Nhờ
Chúa
Thánh
Thần
ban
cho
ta
sự
yêu
thương
đó
(Rm
5,5),
nghĩa
là
tham
dự
vào
tình
yêu
của
Chúa
Kitô
(Rm
8,35.39),
mỗi
Kitô
hữu
sẽ
hoạt
động
để
xây
dựng
thế
giới
mới
và
phục
vụ
mọi
người
khác.
Dưới
sự
hướng
dẫn
của
Hàng
Giáo
Phẩm,
chúng
ta
sẽ
tìm
cách
áp
dụng
nguyên
tắc
chung
trong
Hiến
Chế
vào
hoàn
cảnh
thực
tế
của
từng
địa
phương
mình
sống.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II