VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Phần
Thứ
Hai
Chương
IV
Ðời
Sống
Cộng
Ðoàn
Chính
Trị
85*
73.
Ðời
sống
cộng
đoàn
ngày
nay.
Thời
đại
chúng
ta
đã
được
đánh
dấu
bằng
những
biến
đổi
sâu
rộng
ngay
trong
cơ
cấu
và
các
tổ
chức
của
các
dân
tộc.
Những
biến
đổi
này
chính
là
kết
quả
của
tiến
bộ
về
văn
hóa,
kinh
tế
và
xã
hội.
Những
thay
đổi
này
ảnh
hưởng
nhiều
đến
đời
sống
của
cộng
đoàn
chính
trị,
nhất
là
trong
những
vấn
đề
liên
quan
tới
quyền
lợi
và
bổn
phận
của
mọi
người
trong
việc
hành
xử
quyền
tự
do
công
dân
và
theo
đuổi
công
ích,
cũng
như
trong
vấn
đề
điều
hòa
những
mối
tương
quan
giữa
các
công
dân
với
nhau
cũng
như
với
chính
quyền.
Nhờ
ý
thức
mãnh
liệt
hơn
về
phẩm
giá
con
người,
ngày
nay
tại
nhiều
nước
trên
thế
giới,
người
ta
cố
gắng
thiết
lập
một
thể
chế
chính
trị
pháp
lý
để
bảo
vệ
hữu
hiệu
hơn
quyền
lợi
của
cá
nhân
trong
đời
sống
công
cộng,
chẳng
hạn
quyền
được
tự
do
hội
họp,
tự
do
lập
hội,
tự
do
phát
biểu
ý
kiến
và
tự
do
tuyên
xưng
tín
ngưỡng
cách
riêng
tư
hoặc
công
khai:
vì
việc
đảm
bảo
những
quyền
lợi
của
con
người
là
điều
kiện
thiết
yếu
để
người
công
dân,
với
tư
cách
cá
nhân
hay
đoàn
thể,
có
thể
tham
gia
cách
tích
cực
vào
đời
sống
và
vào
guồng
máy
quốc
gia.
Song
song
với
tiến
bộ
về
văn
hóa,
kinh
tế
và
xã
hội,
nhiều
người
còn
khao
khát
mãnh
liệt
muốn
đảm
nhận
một
phần
lớn
trách
nhiệm
trong
việc
tổ
chức
cộng
đoàn
chính
trị.
Nhiều
người
đã
ý
thức
được
mối
quan
tâm
mỗi
ngày
một
lớn
là
phải
bảo
vệ
quyền
lợi
của
các
dân
tộc
thiểu
số
trong
một
quốc
gia,
nhưng
không
vì
thế
mà
làm
cho
các
thành
phần
thiểu
số
ấy
xao
lãng
bổn
phận
của
họ
đối
với
cộng
đoàn
chính
trị.
Hơn
nữa,
càng
ngày
người
ta
càng
tôn
trọng
những
người
có
tư
tưởng
hay
tôn
giáo
khác
với
mình.
Ðồng
thời
một
sự
cộng
tác
rộng
rãi
hơn
cũng
được
thiết
lập
để
mọi
công
dân
có
thể
thực
sự
được
hưởng
những
quyền
lợi
của
con
người
chứ
không
riêng
gì
một
số
người
được
ưu
đãi.
Trái
lại,
người
ta
lên
án
bất
cứ
thể
chế
chính
trị
nào,
như
hiện
có
ở
một
vài
nước,
nếu
nó
ngăn
chặn
tự
do
công
dân
hoặc
tôn
giáo,
nếu
nó
làm
gia
tăng
con
số
nạn
nhân
của
tham
lam
và
của
tội
ác
chính
trị,
nếu
nó
làm
cho
việc
cai
trị
đi
lệch
đường,
thay
vì
mưu
cầu
công
ích
lại
phục
vụ
cho
một
tập
đoàn
hay
chính
những
người
cầm
quyền.
Ðể
xây
dựng
một
đời
sống
chính
trị
thực
sự
nhân
đạo,
86*
không
gì
tốt
hơn
là
gây
nơi
thâm
tâm
mỗi
người
ý
thức
về
công
bằng,
lòng
nhân
ái,
và
tinh
thần
phục
vụ
công
ích.
Cũng
không
gì
tốt
đẹp
hơn
là
củng
cố
nơi
mọi
người
những
xác
tín
căn
bản
về
bản
chất
thích
thực
của
cộng
đoàn
chính
trị
cũng
như
về
mục
đích,
về
việc
thi
hành
đúng
và
về
những
giới
hạn
của
công
quyền.
74.
Bản
chất
và
mục
đích
của
cộng
đoàn
chính
trị.
Cá
nhân,
gia
đình
và
tập
thể,
tức
là
mọi
thành
phần
của
cộng
đoàn
công
dân,
đều
ý
thức
rằng
tự
sức
mình
không
một
thành
phần
nào
có
thể
xây
dựng
được
một
đời
sống
thực
sự
nhân
bản,
và
đều
nhận
thấy
cần
phải
có
một
cộng
đoàn
rộng
lớn
hơn,
trong
đó
tất
cả
mọi
người
hằng
ngày
hợp
lực
để
mưu
cầu
công
ích
mỗi
lúc
một
tốt
đẹp
hơn
1.
Do
đó
họ
thành
lập
nên
cộng
đoàn
chính
trị
dưới
nhiều
hình
thức
khác
nhau.
Vì
thế
cộng
đoàn
chính
trị
chỉ
hiện
hữu
là
vì
công
ích.
Chính
công
ích
là
lý
do
tồn
tại,
ý
nghĩa
và
là
căn
bản
pháp
lý
cho
cộng
đoàn
chính
trị.
Công
ích
nói
đây
bao
gồm
tất
cả
những
điều
kiện
của
đời
sống
xã
hội;
nhờ
những
điều
kiện
này,
cá
nhân,
gia
đình
và
đoàn
thể
có
thể
triển
nở
cách
trọn
vẹn
và
dễ
dàng
hơn
2.
Tuy
nhiên,
trong
một
cộng
đoàn
chính
trị
gồm
nhiều
người
thuộc
đủ
mọi
thành
phần,
do
đó
họ
có
thể
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
một
cách
chính
đáng.
Vì
mỗi
cá
nhân
đều
bênh
vực
quan
điểm
riêng
của
mình,
nên
để
tránh
cho
cộng
đoàn
chính
trị
khỏi
tan
rã,
thì
cần
phải
có
một
quyền
bính
để
hướng
dẫn
nỗ
lực
của
mọi
công
dân
nhằm
tới
công
ích.
Không
phải
hướng
dẫn
cách
máy
móc
hay
độc
đoán,
nhưng
tiên
vàn
như
một
sức
mạnh
tinh
thần
dựa
trên
tự
do
và
ý
thức
về
nghĩa
vụ
và
trách
nhiệm.
Ðã
hẳn
cộng
đoàn
chính
trị
và
công
quyền
xây
nền
tảng
trên
bản
tính
con
người,
cho
nên
cũng
nằm
trong
trật
tự
do
Chúa
an
bài,
nhưng
việc
định
đoạt
một
thể
chế
chính
trị
hay
cắt
cử
người
cầm
quyền
vẫn
là
quyền
tự
do
của
mọi
công
dân
3.
Cũng
thế,
việc
hành
xử
quyền
bính
chính
trị
trong
chính
cộng
đoàn
hoặc
trong
các
cơ
quan
đại
diện
cho
quốc
gia
luôn
luôn
phải
nằm
trong
giới
hạn
của
trật
tự
luân
lý
để
đem
lại
kết
quả
và
mưu
cầu
công
ích
-
công
ích
ở
đây
phải
hiểu
cách
năng
động
-
tùy
theo
trật
tự
pháp
lý
đã
hoặc
sẽ
được
thiết
lập
cách
hợp
pháp.
Trong
trường
hợp
đó
mọi
công
dân
buộc
phải
theo
lương
tâm
mà
tuân
phục
4.
87*
Và
do
đó,
những
người
lãnh
đạo
đương
nhiên
có
trách
nhiệm,
có
thế
giá
và
có
uy
quyền.
Tuy
nhiên,
khi
công
quyền
vượt
quá
quyền
hạn
của
mình
mà
đàn
áp
công
dân,
thì
lúc
đó
chính
công
dân
cũng
không
nên
từ
chối
những
gì
khách
quan
xét
thấy
phù
hợp
với
đòi
hỏi
của
công
ích.
Nhưng
họ
được
phép
bênh
vực
quyền
lợi
của
riêng
mình
cũng
như
của
đồng
bào
chống
lại
những
lạm
dụng
của
công
quyền,
tuy
nhiên
phải
tôn
trọng
những
giới
hạn
của
luật
tự
nhiên
cũng
như
luật
Phúc
Âm.
Những
phương
thức
cụ
thể
mà
mỗi
cộng
đoàn
chính
trị
áp
dụng
để
tổ
chức
cơ
cấu
và
phân
phối
quyền
hành
có
thể
khác
nhau
tùy
đặc
tính
và
bước
tiến
lịch
sử
của
mỗi
dân
tộc.
Dầu
sao
những
phương
thức
này
phải
luôn
luôn
nhằm
đào
tạo
cho
con
người
có
văn
hóa,
yêu
chuộng
hòa
bình
và
có
lòng
yêu
thương
đối
với
mọi
người
để
giúp
ích
cho
toàn
thể
gia
đình
nhân
loại.
75.
Sự
cộng
tác
của
mọi
người
trong
đời
sống
cộng
đoàn.
Thiết
lập
những
cơ
cấu
chính
trị
pháp
lý
là
điều
phù
hợp
với
bản
tính
con
người,
vì
nhờ
đó
tất
cả
mọi
công
dân,
không
phân
biệt
ai,
có
thể
mỗi
ngày
một
có
cơ
hội
tham
gia
cách
tự
do
và
tích
cực
vào
việc
thiết
lập
nền
tảng
pháp
lý
của
cộng
đoàn
chính
trị,
tham
gia
vào
việc
điều
hành
quốc
gia
và
xác
định
mục
tiêu
và
phạm
vi
của
những
cơ
quan
khác
nhau
cũng
như
tham
gia
vào
việc
lựa
chọn
người
cầm
quyền
5.
Vậy
mọi
công
dân
cần
phải
nhớ
tới
quyền
lợi
và
đồng
thời
là
bổn
phận
của
họ
trong
việc
tự
do
xử
dụng
lá
phiếu
của
mình
để
mưu
cầu
công
ích.
Giáo
Hội
ca
ngợi
và
quí
trọng
việc
làm
của
những
người
vì
lợi
ích
quốc
gia
mà
dấn
thân
phục
vụ
con
người
cùng
nhận
lãnh
gánh
nặng
của
trách
nhiệm
này.
Ðể
việc
cộng
tác
của
các
công
dân
có
ý
thức
trách
nhiệm
về
nhiệm
vụ
đem
lại
kết
quả
tốt
đẹp
trong
đời
sống
chính
trị
thường
ngày,
cần
phải
có
một
nền
pháp
lý
thiết
định.
Nền
pháp
lý
này
giúp
phân
phối
hợp
lý
các
nhiệm
vụ
và
các
cơ
quan
công
quyền
và
đồng
thời
giúp
bảo
vệ
một
cách
hữu
hiệu
quyền
lợi
công
dân
mà
không
lệ
thuộc
vào
ai.
Quyền
lợi
của
cá
nhân,
gia
đình
và
đoàn
thể
cũng
như
việc
xử
dụng
những
quyền
đó
phải
được
công
nhận,
tôn
trọng
và
cổ
võ
6.
Nhưng
đồng
thời
cũng
phải
chú
trọng
tới
bổn
phận
công
dân
của
họ.
Nói
đến
bổn
phận
công
dân,
cần
phải
nhắc
tới
nghĩa
vụ
phải
đóng
góp
cho
quốc
gia
những
dịch
vụ
về
tài
lực
cũng
như
nhân
lực
mà
công
ích
đòi
hỏi.
Chính
quyền
không
nên
ngăn
cản
những
hiệp
hội
có
tính
cách
gia
đình,
xã
hội
hay
văn
hóa,
những
đoàn
thể
hay
tổ
chức
trung
gian.
Cũng
không
nên
cấm
chế
những
hoạt
động
hữu
hiệu
và
chính
đáng
của
các
tổ
chức
ấy,
nhưng
tốt
hơn
nên
sẵn
sàng
cổ
võ
và
phải
có
đường
lối
trong
việc
cổ
võ
88*.
Về
phía
người
công
dân,
cá
nhân
hay
đoàn
thể
không
nên
trao
cho
chính
quyền
một
quyền
hành
quá
lớn,
cũng
đừng
đòi
hỏi
ở
chính
quyền
những
giúp
đỡ
cũng
như
những
đặc
ân
quá
đáng
không
phải
lúc,
vì
như
thế
là
làm
giảm
trách
nhiệm
của
cá
nhân,
gia
đình
và
cả
các
đoàn
thể
xã
hội.
Ngày
nay
hoàn
cảnh
mỗi
ngày
một
phức
tạp,
buộc
chính
quyền
nhiều
lúc
phải
can
thiệp
vào
các
vấn
đề
xã
hội,
kinh
tế
và
cả
lãnh
vục
văn
hóa
để
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
các
công
dân
cũng
như
các
đoàn
thể
được
tự
do
phát
triển
toàn
diện
con
người
cách
hữu
hiệu
hơn.
Dĩ
nhiên
tùy
địa
phương
và
tùy
theo
sự
tiến
hóa
của
mỗi
dân
tộc,
mối
tương
quan
giữa
việc
xã
hội
hóa
7
và
sự
tự
trị
cùng
sự
phát
triển
của
con
người
có
thể
hiểu
theo
nhiều
cách.
Nhưng
nếu
vì
công
ích
mà
phải
tạm
thời
hạn
chế
việc
xử
dụng
các
quyền
công
dân,
thì
khi
hoàn
cảnh
đã
thay
đổi,
cần
phải
tái
lập
tự
do
càng
sớm
càng
hay.
Song
nếu
chính
quyền
đi
vào
những
hình
thức
chuyên
chế
hoặc
độc
tài
phạm
đến
quyền
lợi
cá
nhân
hay
các
đoàn
thể
thì
thật
là
vô
nhân
đạo.
Công
dân
phải
nung
nấu
tinh
thần
ái
quốc
với
lòng
đại
lượng
và
trung
kiên
chứ
không
hẹp
hòi,
nghĩa
là
làm
sao
để
đồng
thời
vẫn
quan
tâm
đến
ích
lợi
của
toàn
thể
gia
đình
nhân
loại,
một
gia
đình
được
liên
kết
lại
bằng
nhiều
ràng
buộc
giữa
các
nòi
giống,
chủng
tộc
và
quốc
gia.
Tất
cả
mọi
Kitô
hữu
phải
ý
thức
về
sứ
mệnh
đặc
biệt
của
mình
trong
cộng
đoàn
chính
trị.
Họ
phải
nêu
gương
sáng
bằng
cách
phát
biểu
ý
thức
trách
nhiệm
nơi
chính
mình
và
tận
tâm
phục
vụ
công
ích.
Nhờ
thế,
qua
hành
động,
họ
cũng
chứng
minh
cho
thấy
rằng
làm
sao
dung
hòa
được
quyền
bính
với
tự
do,
sáng
kiến
cá
nhân
với
sự
liên
đới
và
những
đòi
hỏi
của
toàn
thể
xã
hội,
dung
hòa
được
sự
hiệp
nhất
sinh
ích
với
những
dị
biệt
phong
phú.
Trong
việc
tổ
chức
trần
thế,
họ
phải
nhìn
nhận
những
quan
điểm
chính
đáng
dầu
đối
chọi
nhau.
Họ
phải
tôn
trọng
các
công
dân
khác
hay
các
đoàn
thể
khi
những
người
này
bênh
vực
quan
điểm
của
mình
cách
thẳng
thắn.
Những
đảng
phái
chính
trị
có
bổn
phận
cổ
võ
những
gì
họ
xét
thấy
cần
cho
công
ích,
chứ
không
bao
giờ
được
đặt
quyền
lợi
riêng
trên
công
ích.
Muốn
cho
mọi
công
dân
xứng
đáng
nắm
giữ
vai
trò
của
họ
trong
đời
sống
của
cộng
đoàn
chính
trị,
cần
phải
hết
sức
quan
tâm
đến
việc
giáo
dục
cả
về
công
dân
và
về
chính
trị.
Việc
giáo
dục
này
ngày
nay
rất
cần
thiết
cho
mọi
người
nhất
là
cho
giới
trẻ.
Những
ai
có
khả
năng
hoặc
có
thể
có
khả
năng
làm
chính
trị,
một
nghệ
thuật
khó
khăn
nhưng
đồng
thời
rất
cao
cả
8,
cần
phải
được
chuẩn
bị
trước
và
họ
phải
hăng
hái
hoạt
động
và
không
màng
tới
tư
lợi
hay
lợi
lộc
vật
chất.
Họ
phải
đem
đời
sống
thanh
liêm
và
sự
khôn
ngoan
chống
lại
bất
công
và
áp
bức,
chống
độc
tài
và
ngoan
cố
của
một
cá
nhân
hay
một
đảng
phái
chính
trị.
Họ
phải
đem
lòng
chân
thành
và
chính
trực,
hơn
nữa
tình
thương
và
lòng
dũng
cảm
phải
có
trong
hoạt
động
chính
trị
để
tận
tâm
phục
vụ
ích
lợi
của
mọi
người.
76.
Cộng
đoàn
chính
trị
và
Giáo
Hội.
Ðiều
rất
quan
trọng
là
cần
nhận
thức
chính
xác
về
mối
tương
quan
giữa
cộng
đoàn
chính
trị
và
Giáo
Hội,
nhất
là
trong
một
xã
hội
gồm
nhiều
thành
phần.
Cũng
cần
phải
phân
biệt
minh
bạch
giữa
những
hành
động
của
các
tín
hữu
hoặc
cá
nhân
hoặc
đoàn
thể
với
danh
nghĩa
công
dân
dưới
sự
hướng
dẫn
của
lương
tâm
Kitô
giáo
và
những
hành
động
của
các
tín
hữu
khi
họ
nhân
danh
Giáo
Hội
và
hợp
nhất
với
các
vị
chủ
chăn
của
họ.
Vì
lý
do
chức
vụ
và
thẩm
quyền
của
mình,
Giáo
Hội
không
cách
nào
bị
đồng
hóa
với
một
cộng
đoàn
chính
trị,
và
cũng
không
hề
cấu
kết
với
bất
cứ
hệ
thống
chính
trị
nào
vì
Giáo
Hội
vừa
là
dấu
chỉ
vừa
là
đảm
bảo
cho
tính
cách
siêu
việt
của
con
người.
Cộng
đoàn
chính
trị
và
Giáo
Hội,
mỗi
bên
với
lãnh
vực
riêng
của
mình,
đều
độc
lập
và
tự
trị.
Tuy
nhiên,
dầu
dưới
danh
hiệu
khác
nhau,
cả
hai
cũng
đồng
phục
vụ
cho
con
người
trong
sứ
mệnh
cá
nhân
và
xã
hội.
Tùy
theo
hoàn
cảnh
và
địa
phương,
nếu
cả
hai
càng
duy
trì
được
sự
cộng
tác
lành
mạnh,
thì
cả
hai
càng
phục
vụ
lợi
ích
của
con
người
một
cách
hữu
hiệu
hơn.
Bởi
vì
con
người
không
phải
chỉ
thu
hẹp
trong
nhãn
giới
trần
gian.
Nhưng
tuy
sống
trong
lịch
sử
nhân
loại,
con
người
vẫn
mang
một
sứ
mệnh
trường
cửu.
Ðược
thiết
lập
trong
tình
yêu
của
Chúa
Cứu
Thế,
Giáo
Hội
có
sứ
mệnh
làm
cho
công
bằng
và
bác
ái
lan
tràn
trong
mỗi
dân
tộc
và
giữa
các
dân
tộc.
Khi
rao
giảng
chân
lý
Phúc
Âm
và
lấy
giáo
lý
và
chứng
tá
của
cuộc
sống
các
Kitô
hữu
soi
sáng
mọi
lãnh
vực
của
sinh
hoạt
con
người,
Giáo
Hội
cũng
tôn
trọng
và
cổ
võ
tự
do
chính
trị
cũng
như
trách
nhiệm
của
các
công
dân.
Và
được
sai
đi
để
loan
báo
Chúa
Kitô
là
Ðấng
Cứu
Thế
cho
mọi
người,
các
Tông
Ðồ
và
các
Ðấng
kế
vị
cũng
như
những
cộng
tác
viên
của
các
ngài
đều
dựa
vào
quyền
lực
của
Thiên
Chúa
để
làm
việc
tông
đồ;
còn
Thiên
Chúa
thường
tỏ
rõ
sức
mạnh
của
Phúc
Âm
trong
chính
sự
yếu
hèn
của
các
chứng
nhân.
Vậy
bất
cứ
ai
hiến
thân
phục
vụ
lời
Chúa
đều
phải
dùng
đến
đường
lối
cũng
như
phương
thế
riêng
của
Phúc
Âm.
Những
đường
lối
và
phương
thế
này
khác
biệt
ở
nhiều
điểm
với
đường
lối
và
phương
thế
của
trần
gian.
Thực
thế,
các
thực
tại
trần
thế
và
những
thực
tại
siêu
phàm
nơi
con
người
đều
liên
kết
mật
thiết
với
nhau.
Và
chính
Giáo
Hội
cũng
xử
dụng
các
thực
tại
trần
thế
tùy
mức
độ
mà
sứ
mệnh
riêng
của
mình
đòi
hỏi.
Tuy
nhiên,
Giáo
Hội
không
cậy
nhờ
vào
những
đặc
ân
của
thế
quyền
89*.
Hơn
thế
nữa,
Giáo
Hội
cũng
sẽ
từ
chối
việc
xử
dụng
một
số
quyền
lợi
đã
được
hưởng
một
cách
chính
đáng
khi
thấy
rằng
việc
xử
dụng
những
quyền
lợi
đó
làm
cho
người
ta
nghi
ngờ
về
lòng
thành
thực
muốn
làm
chứng
nhân
của
mình,
hoặc
trước
những
hoàn
cảnh
mới
đòi
hỏi
phải
xử
sự
cách
khác.
Tuy
nhiên,
bất
cứ
ở
đâu
và
bất
cứ
thời
nào
Giáo
Hội
cũng
phải
được
tự
do
rao
giảng
đức
tin,
truyền
bá
học
thuyết
xã
hội
của
mình
cũng
như
được
dễ
dàng
chu
toàn
sứ
mệnh
của
mình
giữa
loài
người.
Giáo
Hội
cũng
phải
được
quyền
nói
lên
nhận
định
luân
lý
của
mình
về
cả
những
vấn
đề
liên
quan
đến
lãnh
vực
chính
trị
khi
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người
hay
phần
rỗi
các
linh
hồn
đòi
hỏi.
Nhằm
mục
đích
trên,
Giáo
Hội
xử
dụng
mọi
phương
tiện
và
chỉ
những
phương
tiện
nào
phù
hợp
với
Phúc
Âm
và
lợi
ích
của
mọi
người
tùy
theo
thời
đại
và
hoàn
cảnh
khác
nhau.
Trung
thành
theo
sát
Phúc
Âm
và
thi
hành
sứ
mệnh
của
mình
trong
thế
giới,
Giáo
Hội
phải
cổ
võ
và
nâng
cao
bất
cứ
điều
gì
là
chân,
thiện,
mỹ
trong
cộng
đoàn
nhân
loại
9.
Làm
như
thế
tức
là
Giáo
Hội
xây
dựng
hòa
bình
cho
con
người
để
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa
10.
Chú
Thích:
85*
1)
Ðời
sống
chính
trị
hiện
nay:
đang
thay
đổi
(số
73a).
Sự
ý
thức
về
nhân
phẩm
khiến
con
người
đi
tìm
một
chế
độ
chính
trị
biết
bảo
đảm
nhân
quyền
(b),
bảo
đảm
việc
tham
gia
của
nhiều
người
vào
chính
trị
và
sự
tôn
trọng
dân
tộc
thiểu
số
cũng
như
những
kẻ
phát
biểu
ý
kiến
khác
với
mình
(c).
Do
đó
con
người
lên
án
chế
độ
xâm
phạm
quyền
tự
do
và
chỉ
tìm
kiếm
ích
lợi
riêng
(d).
Muốn
thành
công
phải
đổi
mới
tâm
trạng
(e).
2)
Cộng
đoàn
chính
trị:
Nguyên
khởi
và
mục
đích
là
công
ích
(số
74a).
Cần
thiết
phải
có
chính
quyền
(b).
Cộng
đoàn
chính
trị
và
chính
quyền
đều
bởi
Thiên
Chúa
Tạo
Hóa
mà
có.
Còn
chế
độ
chính
trị
thì
trái
lại
phải
chọn
lựa
cách
tự
do
(c).
Khi
chính
quyền
tìm
kiếm
công
ích
hợp
với
luân
lý,
thì
lương
tâm
buộc
phải
vâng
theo
luật
pháp
(d).
Chế
độ
chính
trị,
dưới
bất
cứ
hình
thức
nào,
tùy
theo
đặc
tính
của
từng
dân
tộc,
bao
giờ
cũng
phải
phục
vụ
con
người
và
nhân
loại
(e).
3)
Sự
cộng
tác
vào
đời
sống
chính
trị:
thích
hợp
với
bản
tính
con
người:
hai
phương
tiện
cụ
thể
là
quyền
bỏ
phiếu
và
hoạt
động
chính
trị
(số
75a).
Xã
hội
phải
có
trật
tự
pháp
lý:
công
ích.
Công
dân
không
nên
nhượng
quyền
quá
đáng
cho
chính
quyền,
đàng
khác
cũng
không
nên
đợi
chờ
chính
quyền
làm
quá
nhiều
(b).
Qui
tắc
về
việc
chính
quyền
can
thiệp
và
chế
tài
quyền
lợi
(c).
Lòng
yêu
quê
hương
(d).
Vai
trò
của
tín
hữu
trong
cộng
đoàn
chính
trị
(e).
Giáo
dục
chính
trị
(f).
4)
Cộng
đoàn
chính
trị
và
Giáo
Hội:
Phân
biệt
hoạt
động
riêng
của
tín
hữu
và
của
Giáo
Hội
(số
76a).
Giáo
Hội
không
chủ
trương
một
chế
độ
chính
trị
nào
(b),
nhưng
cả
hai
có
lãnh
vực
và
thẩm
quyền
riêng
và
nên
cộng
tác
với
nhau
(c).
Giáo
Hội
không
nhờ
quyền
thế
phàm
trần
(d),
và
dù
phải
xử
dụng
của
cải
trong
khi
thi
hành
sứ
mệnh
riêng
nhưng
không
tìm
kiếm
đặc
ân;
chỉ
đòi
hỏi
tự
do
để
rao
giảng
đức
tin
và
bảo
vệ
nhân
quyền
cũng
như
sứ
mệnh
của
mình
(e),
do
đó
góp
phần
cho
hòa
bình
và
vinh
danh
Thiên
Chúa
(f).
(Trở
lại
đầu
trang)
86*
Muốn
canh
tân
xã
hội
qua
phạm
vi
chính
trị,
con
người
phải
bắt
đầu
từ
nội
tâm:
ở
đây
và
trong
số
75d-f,
Công
Ðồng
phác
họa
một
chương
trình
căn
bản
về
giáo
dục
công
dân:
1)
Những
đức
tính
chính
yếu:
công
bằng,
lòng
tử
tế
đối
với
đồng
bào,
ý
muốn
phục
vụ
công
ích,
lòng
yêu
quê
hương,
sự
ý
thức
về
ơn
gọi
của
tín
hữu
trong
cộng
đoàn.
Tín
hữu
phải
làm
gương
hoạt
động
vì
lương
tâm,
vâng
lời
với
tinh
thần
tự
do,
có
sáng
kiến
trong
khi
phải
tôn
trọng
đồng
bào,
biết
cộng
tác
với
người
khác
cả
với
những
ai
không
đồng
ý
với
mình.
2)
Phải
hiểu
rõ
đặc
tính
cộng
đoàn
chính
trị;
mục
đích
của
chính
quyền
cũng
như
cách
thức
hành
động
trong
những
giới
hạn
phải
có.
3)
Về
hoạt
động
trong
cộng
đoàn,
phải
biết
chấp
nhận
sự
kiện
có
người
không
đồng
ý
với
mình
nghĩa
là
tôn
trọng
công
dân
và
đảng
phái
có
đường
lối
khác.
Giáo
dân
có
thể
hoạt
động
trong
những
đảng
phái
chính
trị
nào
mưu
ích
chung.
Và
khi
có
đủ
khả
năng
để
dấn
thân
vào
cuộc
đấu
tranh
chính
trị,
phải
chuẩn
bị
trước
(cần
phải
học
biết
lịch
sử,
kinh
tế,
xã
hội
học,
pháp
lý,
v.v...),
phải
từ
bỏ
tư
lợi
(kẻo
dễ
bị
mua
chuộc).
Phải
trong
sạch
và
khôn
ngoan
chống
lại
moị
bất
công
và
áp
bức
cũng
như
sự
thống
trị
chuyên
chế
và
ngoan
cố,
bất
cứ
là
của
một
cá
nhân
hay
của
một
đảng
phái.
Chính
trị
gia
phải
phát
triển
nhân
đức
thành
thật,
thanh
liêm,
thương
yêu
và
can
đảm
để
phục
vụ
mọi
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
A
AS
53
(1961),
trg
417.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
n.t.,
n.v.t.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Rm
13,
1-5.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Rm
13,
5.
(Trở
lại
đầu
trang)
87*
Phải
chăng
người
công
giáo
còn
chưa
ý
thức
đầy
đủ
về
điều
này?
Vâng,
tuân
theo
lề
luật
quốc
gia
không
phải
vì
sợ
chính
quyền,
cũng
không
phải
vì
nhìn
nhận
rằng
muốn
hưởng
thụ
tự
do
thì
phải
tôn
trọng
tự
do
kẻ
khác.
Nhưng
vâng
theo
luật
vì
lương
tâm:
vì
biết
rằng
chính
quyền
là
do
Thiên
Chúa
muốn
có
và
vì
nhiệm
vụ
phải
phục
vụ
công
ích.
Dĩ
nhiên
các
luật
đó
phải
là
luật
công
bằng
và
phục
vụ
cho
công
ích;
dĩ
nhiên
có
trường
hợp
các
luật
lệ
không
bó
buộc
một
người
nào
đó
vì
những
nguyên
nhân
"thác
miễn"
hay
vì
"thể
ý
pháp";
dĩ
nhiên
có
nhà
thần
học
chủ
trương
rằng
một
số
luật
chỉ
có
tính
cách
hình
luật
thuần
túy
(một
lập
trường
mà
các
nhà
thần
học
càng
ngày
càng
từ
bỏ...),
nhưng
nếu
chúng
ta
chỉ
biết
đề
cao
trường
hợp
luật
trừ
thay
vì
nhấn
mạnh
tính
cách
bó
buộc
của
luật
pháp,
e
rằng
chúng
ta
sẽ
góp
phần
quá
nhỏ
vào
việc
canh
tân
xã
hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Piô
XII,
Sứ
điệp
truyền
thanh
24-12-1942:
AAS
35
(1943),
trg
9-24;
-
24-12-1944:
AAS
37
(1945),
trg
11-17.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
263,
271,
277-278.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Piô
XII,
Sứ
điệp
truyền
thanh,
1-6-1941:
AAS
33
(1941),
trg
200.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
n.v.t.,
trg
273-274.
(Trở
lại
đầu
trang)
88*
Ðức
Piô
XI
(Quadragesimo
anno,
x.
Dz
3738/2265-2266)
tuyên
bố
nguyên
tắc
bổ
trợ
dạy
rằng,
những
cộng
đoàn
cấp
trên
không
được
giữ
riêng
cho
mình
tất
cả
những
việc
mà
các
cộng
đoàn
cấp
dưới
có
thể
thực
hiện
được.
Nguyên
tắc
có
giá
trị
cho
quốc
gia
và
các
cộng
đoàn
trong
quốc
gia
(trong
Tuyên
Ngôn
về
Giáo
Dục
Kitô
giáo
Công
Ðồng
nhắc
lại
rằng
phải
áp
dụng
nguyên
tắc
trong
phạm
vi
giáo
dục,
số
3b),
cho
các
quốc
gia
và
xã
hội
quốc
tế
Pacem
in
terris,
AAS
55
(1963),
trg
294;
và
số
86c
sau
này),
cũng
như
cho
các
hội
đoàn
giáo
dân
và
Giáo
Hội
(Piô
XII,
diễn
văn
cho
hội
đồng
các
Ðức
Hồng
Y
ngày
20-2-1946:
AAS
38
(1946),
trg
145).
Sở
dĩ
ta
phải
công
nhận
nguyên
tắc
trên
là
vì
phẩm
giá
con
người,
cũng
như
vì
bản
thể
của
xã
hội
là
nhằm
phục
vụ
công
ích,
chứ
không
phải
chỉ
vì
lý
do
thực
tế
để
tránh
xa
những
lạm
dụng
của
các
cộng
đoàn
trên.
Phải
lưu
ý:
nguyên
tắc
không
chỉ
cấm
các
cộng
đoàn
cấp
trên,
nhất
là
quốc
gia,
làm
thay
công
việc
của
các
cộng
đoàn
cấp
dưới
một
cách
vô
lý,
mà
còn
nêu
ra
phương
diện
tích
cực:
trước
hết
là
quốc
gia
phải
cung
cấp
cho
công
ích
mọi
điều
các
cộng
đoàn
cấp
dưới
không
đủ
khả
năng
để
làm
(Populorum
progressio,
33;
37;
-
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
414),
hơn
nữa,
quốc
gia
phải
làm
sao
để
giúp
sức
và
phương
tiện
cho
các
cộng
đoàn
cấp
dưới
(Mater
et
Magistra,
n.v.t.,
trg
438-439).
Câu
tiếp
theo
của
Công
Ðồng
nhắc
lại
cho
chúng
ta
rằng
sở
dĩ
quốc
gia
nhiều
khi
không
tôn
trọng
nguyên
tắc
bổ
trợ
là
vì
thái
độ
thiếu
trách
nhiệm
của
công
dân.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
415-418.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Piô
XI,
Huấn
từ
cho
các
vị
lãnh
đạo
Hiệp
Hội
Ðại
Học
Công
Giáo:
Discorsi
di
Pio
XI:
x.b.
Bertetto,
Torino,
q.I
(1960),
trg
743.
(Trở
lại
đầu
trang)
89*
Lịch
sử
gần
đây
của
nước
nhà
có
thể
nhắc
lại
cho
chúng
ta
rằng
thái
độ
ngược
lại,
nghĩa
là
trông
nhờ
vào
đặc
ân
của
chính
quyền,
rất
nguy
hại
cho
chính
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
Hơn
thế
nữa,
tìm
kiếm
đặc
ân
cho
mình
có
thể
vi
phạm
công
bằng
phân
phối.
Vả
lại,
dù
có
thể
không
phạm
lỗi
gì
nhưng
việc
tìm
kiếm
đặc
ân
đó
không
thích
hợp
với
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
là
phải
phục
vụ
mọi
người
theo
gương
của
Chúa
Giêsu,
Ðấng
đã
không
đến
để
được
hầu
hạ
(Mc
10,45).
Thái
độ
siêu
thoát
và
quảng
đại
như
thế
càng
khó
tìm
thấy
ở
những
xã
hội
thấm
nhuần
tinh
thần
kính
trọng
các
tôn
giáo
và
các
vị
đại
diện
tôn
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
số
13:
AAS
57
(1965),
trg
17.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Lc
2,
14.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II