VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Phần
Thứ
Hai
Chương
III
Ðời
Sống
Kinh
Tế
Xã
Hội
75*
63.
Một
vài
khía
cạnh
của
đời
sống
kinh
tế.
Ngay
trong
đời
sống
kinh
tế
xã
hội,
phẩm
giá
cũng
như
ơn
gọi
toàn
diện
của
con
người
và
lợi
ích
của
toàn
thể
xã
hội
cũng
phải
được
tôn
trọng
và
thăng
tiến.
Vì
con
người
là
tác
giả,
là
tâm
điểm
và
là
cứu
cánh
của
tất
cả
đời
sống
kinh
tế
xã
hội.
Sau
đây
là
một
vài
đặc
điểm
của
nền
kinh
tế
hiện
đại
cũng
như
của
các
lãnh
vực
khác
trong
đời
sống
xã
hội:
con
người
càng
ngày
càng
chế
ngự
thiên
nhiên
nhiều
hơn,
sự
liên
lạc
và
nương
tựa
lẫn
nhau
giữa
các
công
dân,
đoàn
thể,
quốc
gia
càng
ngày
càng
nhiều
và
rộng
lớn
hơn,
và
mỗi
ngày
sự
can
thiệp
của
các
chính
quyền
càng
trở
thành
thường
xuyên;
đồng
thời,
với
đà
tiến
bộ
của
các
phương
pháp
sản
xuất
và
trao
đổi
sản
phẩm
cũng
như
dịch
vụ,
kinh
tế
đã
trở
thành
một
công
cụ
thích
hợp
để
thỏa
mãn
cách
khả
quan
những
nhu
cầu
chồng
chất
của
gia
đình
nhân
loại.
Tuy
nhiên,
không
thiếu
những
lý
do
gây
nên
lo
ngại.
Nhiều
người,
nhất
là
trong
những
miền
có
nền
kinh
tế
tiến
bộ,
như
bị
đời
sống
kinh
tế
chi
phối
hoàn
toàn,
đến
nỗi
trong
các
quốc
gia
theo
kinh
tế
tập
sản
cũng
như
trong
các
quốc
gia
khác,
hầu
như
cả
đời
sống
cá
nhân
cũng
như
xã
hội
của
họ
đều
bị
thấm
nhiễm
một
thứ
chủ
nghĩa
duy
kinh
tế.
Trong
thời
đại
mà
sự
phát
triển
đời
sống
kinh
tế
nếu
được
điều
khiển
và
phối
hiệp
cách
hợp
lý
và
nhân
đạo,
có
thể
giảm
thiểu
những
chênh
lệch
trong
xã
hội,
thì
nhiều
khi
lại
làm
cho
những
chênh
lệch
ấy
trở
thành
trầm
trọng
hơn,
hoặc
ở
một
vài
nơi
còn
trở
thành
sự
thoái
hóa
địa
vị
xã
hội
của
những
người
yếu
thế
và
miệt
thị
những
kẻ
nghèo
túng.
Ngay
trong
những
vùng
kém
mở
mang,
giữa
lúc
đại
đa
số
vẫn
còn
thiếu
những
nhu
cầu
thiết
yếu,
thì
một
thiểu
số
lại
sống
dư
dật,
phung
phí.
Xa
hoa
và
cùng
cực
kề
cận
nhau.
Trong
khi
một
thiểu
số
được
quyền
định
đoạt
rất
lớn,
thì
đa
số
lại
hầu
như
không
thể
hành
động
theo
sáng
kiến
riêng
và
không
được
thể
hiện
tinh
thần
trách
nhiệm
của
mình,
nhiều
khi
còn
phải
chịu
đựng
trong
những
hoàn
cảnh
sinh
sống
và
làm
việc
bất
xứng
với
phẩm
giá
con
người
76*.
Giữa
lãnh
vực
nông
nghiệp,
kỹ
nghệ,
mậu
dịch
và
ngay
giữa
những
miền
khác
nhau
của
cùng
một
quốc
gia
cũng
có
những
chênh
lệch
tương
tự
về
kinh
tế
và
xã
hội.
Sự
tương
phản
giữa
các
cường
quốc
kinh
tế
và
các
quốc
gia
khác
càng
ngày
càng
trở
nên
trầm
trọng
và
có
thể
đe
dọa
cả
nền
hòa
bình
thế
giới.
Con
người
thời
đại
chúng
ta
càng
ngày
càng
ý
thức
mãnh
liệt
về
những
chênh
lệch
ấy,
vì
họ
thâm
tín
rằng
những
kỹ
thuật
tân
tiến
và
những
năng
lực
kinh
tế
của
thế
giới
ngày
nay
có
thể
và
phải
sửa
đổi
được
những
tệ
trạng
kia.
Muốn
vậy,
cần
phải
cải
tổ
đời
sống
kinh
tế,
xã
hội
và
mọi
người
phải
đổi
mới
tâm
thức
và
thái
độ
của
mình.
Nhằm
mục
đích
ấy,
nên
qua
bao
thế
hệ,
với
ánh
sáng
Phúc
Âm,
Giáo
Hội
đã
nỗ
lực
minh
dẫn
những
nguyên
tắc
về
công
bình
và
quân
bình
trong
đời
sống
cá
nhân,
xã
hội
và
quốc
tế
cho
hợp
với
những
đòi
hỏi
của
lương
tri
nhân
loại,
nhất
là
trong
những
ngày
gần
đây
Giáo
Hội
càng
đưa
ra
những
nguyên
tắc
ấy
hơn.
Trong
khi
đặc
biệt
nhìn
vào
những
đòi
hỏi
của
sự
phát
triển
kinh
tế,
Thánh
Công
Ðồng
muốn
củng
cố
lại
những
nguyên
tắc
đã
nêu
trên,
đồng
thời
vạch
ra
một
vài
hướng
đi
phù
hợp
với
hoàn
cảnh
của
thời
đại
này
1.
Ðoạn
1:
Phát
Triển
Kinh
Tế
64.
Phát
triển
kinh
tế
để
phục
vụ
con
người.
Ngày
nay
hơn
bao
giờ
hết,
để
đối
phó
với
sự
gia
tăng
dân
số
và
thỏa
mãn
những
nguyện
vọng
mỗi
lúc
một
nhiều
của
nhân
loại,
người
ta
được
quyền
nghĩ
đến
việc
tăng
gia
sản
xuất
nông
nghiệp,
kỹ
nghệ,
cũng
như
các
dịch
vụ
cung
ứng.
Do
đó,
cần
phải
cổ
võ
việc
phát
triển
kỹ
thuật,
tinh
thần
canh
tân,
cố
gắng
thiết
lập
và
khuếch
trương
các
xí
nghiệp;
thích
nghi
các
phương
pháp
sản
xuất
và
những
cố
gắng
không
ngừng
của
các
nhà
sản
xuất,
tóm
lại,
là
cổ
võ
tất
cả
những
yếu
tố
dự
phần
vào
việc
phát
triển
này.
Tuy
nhiên,
mục
đích
căn
bản
của
sự
sản
xuất
không
chỉ
là
gia
tăng
sản
lượng,
lợi
tức
hoặc
quyền
lực,
nhưng
chính
là
phục
vụ
con
người,
dĩ
nhiên
là
con
người
toàn
diện.
Tuy
nhiên,
phải
duy
trì
đúng
cấp
bực
giá
trị
của
các
nhu
cầu
vật
chất
cũng
như
những
đòi
hỏi
của
đời
sống
tinh
thần,
luân
lý,
tu
đức
và
tôn
giáo.
Phải
phục
vụ
tất
cả
mọi
người,
mọi
đoàn
thể,
mọi
chủng
tộc
và
mọi
miền
trên
thế
giới.
Bởi
thế,
hoạt
động
kinh
tế,
mặc
dù
theo
phương
pháp
và
luật
lệ
riêng,
nhưng
vẫn
phải
nằm
trong
giới
hạn
của
trật
tự
luân
lý
2;
Có
như
thế
mới
hoàn
thành
được
kế
hoạch
Thiên
Chúa
đã
sắp
đặt
cho
con
người
3.
65.
Phát
triển
kinh
tế
dưới
sự
kiểm
soát
của
con
người.
Con
người
phải
kiểm
soát
lại
sự
phát
triển
kinh
tế;
không
được
khoán
trắng
nó
cho
sự
định
đoạt
của
một
thiểu
số
hoặc
của
những
tập
thể
nắm
trong
tay
quyền
lực
kinh
tế
quá
lớn,
hoặc
của
một
cộng
đoàn
chính
trị
hay
một
số
quốc
gia
giàu
mạnh.
Ngược
lại,
trong
những
dịch
vụ
quốc
tế,
mọi
quốc
gia
đều
phải
tích
cực
dự
phần
vào
việc
phát
triển
kinh
tế,
và
càng
nhiều
người
thuộc
mọi
cấp
bậc
tham
gia
càng
hay.
Cũng
vậy,
phải
phối
hợp
và
điều
hòa
một
cách
thích
đáng
và
hợp
lý
những
sáng
kiến
của
cá
nhân
và
của
các
đoàn
thể
tự
do
với
nỗ
lực
của
chính
quyền.
Không
thể
chỉ
bỏ
mặc
việc
phát
triển
cho
sự
diễn
tiến
gần
như
máy
móc
của
hoạt
động
kinh
tế
cá
nhân
hay
cho
một
mình
chính
quyền
mà
thôi.
Do
đó,
phải
tố
giác
những
sai
lầm
của
các
học
thuyết
đang
nhân
danh
một
thứ
tự
do
ngụy
tạo
để
ngăn
cản
những
cải
tổ
cần
thiết;
cũng
phải
tố
giác
những
học
thuyết
đòi
hy
sinh
quyền
lợi
cá
nhân
và
đoàn
thể
cho
tổ
chức
sản
xuất
tập
thể
4.
Người
công
dân
nên
nhớ
rằng,
bổn
phận
và
quyền
lợi
của
mình
là
tùy
khả
năng
đóng
góp
vào
việc
phát
triển
thực
sự
cộng
đoàn
mình.
Chính
quyền
cũng
phải
công
nhận
bổn
phận
và
quyền
lợi
này.
Nhất
là
những
miền
còn
kém
mở
mang,
càng
phải
cấp
bách
tận
dụng
mọi
tài
nguyên;
do
đó,
những
người
để
tài
sản
của
mình
không
sinh
lợi,
hoặc
không
trợ
giúp
cộng
đoàn
mình
những
phương
tiện
vật
chất
và
tinh
thần
cần
thiết
là
gây
nguy
hại
trầm
trọng
cho
công
ích
77*,
dĩ
nhiên
bao
giờ
cũng
phải
tôn
trọng
quyền
di
cư
của
mỗi
cá
nhân.
66.
Phải
chấm
dứt
những
chênh
lệch
lớn
lao
trên
bình
diện
kinh
tế
xã
hội.
Ðể
thỏa
mãn
những
đòi
hỏi
của
công
bằng
và
lẽ
phải
mà
vẫn
tôn
trọng
quyền
lợi
cá
nhân
và
đặc
tính
của
mỗi
dân
tộc,
cần
phải
hăng
hái
nỗ
lực
để
sớm
chấm
dứt
những
chênh
lệch
kinh
tế
lớn
lao
hiện
nay
và
còn
gia
tăng
mai
ngày:
những
chênh
lệch
này
gắn
liền
với
sự
phân
hóa
cá
nhân
và
xã
hội.
Cũng
vậy,
trong
nhiều
vùng,
việc
sản
xuất
và
bán
nông
phẩm
đang
gặp
nhiều
trở
ngại
trầm
trọng.
Do
đó,
cần
phải
nâng
đỡ
nông
dân
tăng
gia
và
tiêu
thụ
được
sản
phẩm,
lại
phải
thực
hiện
những
cuộc
cải
tổ
và
canh
tân
cần
thiết
hầu
thâu
được
lợi
tức
tương
ứng.
Như
thế,
họ
sẽ
không
mãi
ù
lì
trong
thân
phận
công
dân
hạ
đẳng,
như
vẫn
thường
thấy.
Còn
các
nông
dân,
nhất
là
những
người
thuộc
lớp
trẻ,
phải
cố
gắng
kiện
toàn
khả
năng
chuyên
nghiệp,
nếu
không
nông
nghiệp
không
thể
phát
triển
5.
Sự
di
chuyển
là
điều
cần
thiết
đối
với
nền
kinh
tế
đang
phát
triển,
tuy
nhiên,
sự
công
bằng
và
quân
bình
đòi
hỏi
phải
tổ
chức
sự
di
chuyển
ấy
thế
nào
để
đời
sống
cá
nhân
cũng
như
gia
đình
không
bị
xáo
trộn
và
bấp
bênh.
Những
công
nhân
từ
một
quốc
gia
hay
một
miền
khác
đến,
cũng
là
những
người
góp
công
vào
việc
phát
triển
kinh
tế
của
một
nước
hay
một
miền,
nên
cần
phải
cố
gắng
tránh
mọi
dị
biệt
về
điều
kiện
lương
bổng
và
việc
làm.
Hơn
nữa,
mọi
người,
nhất
là
chính
quyền,
phải
coi
họ
như
những
nhân
vị,
chứ
không
phải
chỉ
như
những
công
cụ
sản
xuất;
phải
giúp
đỡ
để
họ
có
thể
đưa
gia
đình
đến
và
có
thể
kiếm
được
một
nơi
nương
thân
đàng
hoàng;
cũng
phải
cho
phép
họ
dễ
dàng
gia
nhập
đời
sống
xã
hội
của
quốc
gia
hay
miền
đất
nào
đón
tiếp
họ.
Tuy
nhiên,
nếu
có
thể,
nên
tạo
cho
họ
có
công
ăn
việc
làm
ngay
tại
nguyên
quán
của
họ.
Trong
những
trạng
huống
kinh
tế
đang
biến
chuyển
cũng
như
trong
những
hình
thái
mới
mẻ
của
xã
hội
kỹ
nghệ
chẳng
hạn
hệ
thống
tự
động
đang
được
phát
triển,
phải
liệu
sao
cho
mỗi
người
có
công
việc
đầy
đủ
và
thích
hợp,
đồng
thời
hấp
thụ
được
một
sự
huấn
luyện
thích
ứng
về
kỹ
thuật
và
nghề
nghiệp.
Cũng
cần
phải
bảo
đảm
sự
sống
và
nhân
phẩm,
nhất
là
của
những
người
vì
bệnh
tật,
tuổi
tác,
phải
sống
trong
những
hoàn
cảnh
thật
khó
khăn.
Ðoạn
2:
Những
Nguyên
Tắc
Hướng
Dẫn
Toàn
Bộ
Ðời
Sống
Kinh
Tế
Xã
Hội
67.
Việc
làm,
những
điều
kiện
làm
việc
và
giải
trí.
Việc
làm
của
con
người
trong
công
cuộc
sản
xuất
và
trao
đổi
sản
phẩm
hay
cung
ứng
dịch
vụ
kinh
tế
có
giá
trị
hơn
các
yếu
tố
khác
của
đời
sống
kinh
tế,
vì
các
yếu
tố
đó
chỉ
có
giá
trị
như
dụng
cụ.
Thực
thế,
việc
làm
này
hoặc
làm
cho
chính
mình
hoặc
làm
mướn
đều
trực
tiếp
phát
xuất
từ
con
người.
Con
người
gần
như
in
vào
thiên
nhiên
dấu
vết
của
mình
và
bắt
thiên
nhiên
phải
tùng
phục
ý
muốn
của
mình.
Nhờ
việc
làm,
con
người
theo
lệ
thường
nuôi
sống
mình
và
gia
đình,
liên
kết
với
anh
em
và
phục
vụ
họ,
có
thể
thực
thi
bác
ái
đích
thực
và
góp
công
vào
việc
kiện
toàn
công
cuộc
sáng
tạo
của
Thiên
Chúa.
Hơn
nữa
chúng
tôi
cho
rằng
nhờ
việc
làm
của
mình,
con
người
cộng
tác
vào
chính
công
cuộc
cứu
rỗi
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
Ðấng
đã
nâng
cao
giá
trị
của
việc
làm
khi
Người
làm
việc
với
chính
hai
bàn
tay
của
mình
tại
Nazareth
78*.
Do
đó,
mỗi
người
có
bổn
phận
phải
trung
thành
làm
việc
và
cũng
có
quyền
làm
việc
nữa
79*.
Trong
những
hoàn
cảnh
cụ
thể,
chính
xã
hội
cũng
có
bổn
phận
góp
phần
giúp
người
công
dân
có
thể
tìm
được
công
ăn
việc
làm.
Sau
cùng,
tùy
theo
phận
vụ
và
năng
suất
của
mỗi
người
cũng
như
tình
trạng
của
xí
nghiệp
và
công
ích
6,
việc
làm
cần
phải
được
trả
lương
sao
cho
con
người
có
đủ
khả
năng
xây
dựng
cho
mình
và
gia
đình
một
đời
sống
xứng
hợp
cả
về
phương
diện
vật
chất,
xã
hội,
văn
hóa
cũng
như
tinh
thần
80*.
Hoạt
động
kinh
tế
thường
là
kết
quả
của
việc
hợp
tác
giữa
nhiều
người.
Do
đó,
nếu
tổ
chức
và
điều
hành
hoạt
động
này
làm
thiệt
hại
cho
bất
cứ
lớp
công
nhân
nào
thì
đều
là
bất
công
và
vô
nhân
đạo.
Ngay
cả
ngày
nay,
điều
thường
xảy
ra
là
công
nhân
trở
thành
nô
lệ
cho
chính
việc
làm
của
mình.
Ðiều
ấy
không
thể
được
biện
minh
bằng
bất
cứ
luật
kinh
tế
nào.
Bởi
vậy,
mọi
phương
thức
sản
xuất
cần
phải
thích
nghi
với
nhu
cầu
và
lối
sống
của
con
người:
trước
hết
thích
nghi
với
đời
sống
gia
đình,
nhất
là
đối
với
người
mẹ
gia
đình,
và
luôn
luôn
còn
phải
lưu
tâm
đến
phái
tính
và
tuổi
tác.
Hơn
nữa,
giới
lao
động
cũng
phải
có
cơ
hội
để
phát
huy
tài
năng
và
nhân
cách
ngay
chính
lúc
làm
việc.
Họ
phải
dành
thời
giờ
và
sức
lực
cho
công
việc
với
tinh
thần
trách
nhiệm
phải
có.
Tuy
nhiên,
mỗi
người
cần
được
hưởng
đầy
đủ
sự
nghỉ
ngơi
và
thời
giờ
nhàn
rỗi
để
sống
đời
sống
gia
đình,
văn
hóa,
xã
hội
và
tôn
giáo.
Ngoài
ra
họ
cũng
cần
phải
có
cơ
hội
để
tự
do
thi
thố
tài
nghệ
và
khả
năng
mà
có
lẽ
trong
công
việc
của
nghề
nghiệp
họ
ít
có
dịp
để
trau
dồi.
68.
Tham
gia
vào
xí
nghiệp,
tổ
chức
kinh
tế
tổng
quát,
tranh
chấp
lao
động.
Hoạt
động
trong
các
xí
nghiệp
kinh
tế
là
việc
hợp
tác
giữa
các
nhân
vị,
đó
là
những
con
người
tự
do
và
tự
lập,
được
tạo
dựng
giống
hình
ảnh
Thiên
Chúa.
Bởi
thế,
khi
đã
tìm
ra
những
phương
thức
thích
hợp,
cần
phải
cổ
võ
sự
tham
gia
tích
cực
của
mọi
người
vào
việc
quản
trị
xí
nghiệp,
tùy
theo
nhiệm
vụ
của
mỗi
người,
hoặc
họ
là
chủ
nhân,
chủ
sự,
hoặc
là
đốc
công
hay
công
nhân
mà
vẫn
giữ
được
sự
thống
nhất
cần
thiết
trong
việc
điều
hành
công
việc
7.
Nhiều
khi
không
phải
trong
chính
phạm
vi
xí
nghiệp,
nhưng
trong
những
chương
trình
đại
qui
mô
hơn,
người
ta
đưa
ra
những
quyết
định
về
các
tình
trạng
kinh
tế
và
xã
hội
liên
quan
đến
số
phận
tương
lai
của
công
nhân
cũng
như
của
con
cái
họ,
nên
họ
cũng
phải
được
tham
dự
vào
những
quyết
định
này
hoặc
chính
họ
hoặc
qua
những
đại
diện
tự
họ
chọn
lấy.
Giữa
những
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người,
đối
với
công
nhân,
cần
phải
kể
đến
quyền
được
tự
do
lập
những
hiệp
hội
để
có
thể
thực
sự
đại
diện
cho
họ
và
góp
phần
vào
việc
tổ
chức
đời
sống
kinh
tế
một
cách
tốt
đẹp.
Ngoài
ra,
cũng
cần
phải
kể
đến
quyền
tự
do
tham
gia
81*
vào
hoạt
động
của
những
hiệp
hội
này
mà
không
sợ
bị
trả
thù.
Nhờ
lối
tham
gia
có
tổ
chức
như
trên
liên
kết
với
việc
huấn
luyện
dần
dần
về
kinh
tế
và
xã
hội,
mọi
người
càng
ngày
càng
ý
thức
hơn
về
bổn
phận
và
trách
nhiệm
của
mình.
Nhờ
đó,
tùy
theo
phương
tiện
và
khả
năng
riêng,
chính
công
nhân
tiến
tới
mức
cảm
thấy
mình
được
góp
phần
vào
việc
phát
triển
toàn
bộ
kinh
tế
và
xã
hội
cũng
như
vào
việc
mưu
cầu
ích
chung.
Trường
hợp
xảy
ra
những
tranh
chấp
về
kinh
tế
xã
hội,
cần
phải
cố
gắng
đi
đến
một
giải
quyết
ôn
hòa.
Nhưng
điều
phải
làm
trước
tiên
là
luôn
luôn
tìm
cách
tạo
một
cuộc
đối
thoại
chân
thành
giữa
các
phe
nhóm
liên
hệ.
Tuy
nhiên,
trong
hoàn
cảnh
hiện
tại,
đình
công,
dầu
là
một
phương
tiện
cuối
cùng,
song
vẫn
là
phương
tiện
cần
thiết
để
bênh
vực
những
quyền
lợi
riêng
và
thỏa
mãn
những
đòi
hỏi
chính
đáng
của
công
nhân
82*.
Dù
sao
cũng
cần
phải
tìm
cách
đưa
tới
thương
thuyết
và
đối
thoại
hòa
giải
càng
sớm
càng
hay.
69.
Của
cải
trần
gian
là
để
cho
mọi
người
hưởng
dụng
83*.
Thiên
Chúa
đã
đặt
định
trái
đất
và
mọi
vật
trên
trái
đất
thuộc
quyền
xử
dụng
của
mọi
người
và
mọi
dân
tộc.
Chính
vì
thế,
của
cải
được
tạo
dựng
phải
được
phân
phối
cho
tất
cả
mọi
người
một
cách
hợp
lý
theo
luật
công
bằng
là
luật
đi
liền
với
bác
ái
8.
Dù
chấp
nhận
bất
cứ
hình
thức
tư
hữu
nào
đã
được
nhìn
nhận
bằng
các
định
chế
hợp
pháp
của
các
dân
tộc,
tuy
nhiên
tùy
theo
hoàn
cảnh
khác
biệt
và
thay
đổi,
phải
luôn
luôn
lưu
ý
đến
mục
đích
chung
hưởng
của
cải.
Vì
thế,
khi
xử
dụng
của
cải,
con
người
phải
coi
của
cải
vất
chất
mà
mình
làm
chủ
một
cách
chính
đáng
không
chỉ
như
của
riêng
mình,
nhưng
còn
là
của
chung
nữa:
nghĩa
là,
của
cải
đó
có
thể
sinh
ích
không
những
cho
riêng
mình
mà
còn
cho
cả
người
khác
9.
Vả
lại,
mọi
người
đều
có
quyền
có
một
phần
của
cải
đầy
đủ
cho
mình
và
cho
gia
đình
mình.
Các
Giáo
Phụ
và
các
Tiến
Sĩ
Giáo
Hội
đã
nghĩ
như
thế.
Các
ngài
dạy
rằng
mọi
người
có
bổn
phận
phải
nâng
đỡ
người
nghèo
và
không
phải
chỉ
giúp
đỡ
bằng
của
dư
thừa
10.
Còn
những
người
sống
trong
cảnh
cùng
quẫn
cực
độ,
họ
có
quyền
lấy
ở
của
cải
người
khác
những
gì
cần
thiết
cho
mình
11.
Trước
con
số
quá
lớn
những
người
đói
khổ
trong
thế
giới,
Thánh
Công
Ðồng
thiết
tha
kêu
gọi
mọi
người
hoặc
mọi
chính
quyền
hãy
nhớ
laị
lời
sau
đây
của
các
Giáo
Phụ:
"hãy
cho
kẻ
sắp
chết
đói
của
ăn,
vì
nếu
không
cho
họ
ăn
tức
là
đã
giết
họ"
12.
Tùy
theo
khả
năng,
họ
nên
thực
sự
san
sẻ
và
dùng
của
cải
của
mình
đặc
biệt
để
giúp
phương
tiện
cho
mỗi
người
hoặc
cả
một
dân
tộc
để
chính
họ
có
thể
tự
túc
và
phát
triển.
Trong
những
xã
hội
kinh
tế
kém
mở
mang,
đôi
khi
sự
chung
hưởng
của
cải
được
thể
hiện
đầy
đủ
phần
nào
là
do
những
tập
tục
và
truyền
thống
riêng
của
cộng
đoàn
xã
hội,
nhờ
đó,
mỗi
phần
tử
được
hưởng
những
của
cải
tối
cần.
Tuy
nhiên
điều
nên
tránh
là
đừng
coi
một
số
tập
tục
như
thể
hoàn
toàn
bất
biến,
nếu
thực
sự
nó
không
còn
đáp
ứng
những
đòi
hỏi
mới
của
thời
đại
này.
Ðàng
khác,
cũng
đừng
vì
thiếu
khôn
ngoan
mà
hành
động
ngược
lại
những
tập
tục
tốt
đẹp,
vì
một
khi
được
thích
nghi
với
hoàn
cảnh
hiện
đại,
những
tập
tục
này
vẫn
còn
đem
lại
nhiều
lợi
ích.
Cũng
thế,
ở
những
quốc
gia
kinh
tế
rất
phát
triển,
một
hệ
thống
gồm
những
tổ
chức
xã
hội
nhằm
vào
việc
bảo
hiểm
và
an
ninh
có
thể
góp
phần
giúp
vào
việc
thực
hiện
sự
chung
hưởng
của
cải.
Vả
lại,
cần
phải
cổ
võ
những
dịch
vụ
gia
đình
và
xã
hội,
nhất
là
những
dịch
vụ
đóng
góp
vào
văn
hóa
và
giáo
dục.
Tuy
nhiên
khi
thành
lập
mọi
tổ
chức
trên
cần
phải
lưu
tâm
đừng
để
người
công
dân
có
thái
độ
phần
nào
thụ
động,
hoặc
trốn
tránh
trách
nhiệm
hoặc
từ
chối
phục
vụ
xã
hội.
70.
Vấn
đề
đầu
tư
và
tiền
tệ.
Công
việc
đầu
tư
cũng
phải
làm
sao
tạo
được
công
ăn
việc
làm
và
đem
lợi
tức
đầy
đủ
cho
dân
chúng
trong
hiện
tại
cũng
như
trong
tương
lai.
Bất
cứ
ai
nắm
giữ
vai
trò
chủ
chốt
trong
những
việc
đầu
tư
này
và
trong
việc
tổ
chức
đời
sống
kinh
tế
-
hoặc
cá
nhân,
hoặc
tập
thể,
hoặc
công
quyền
-
cũng
phải
chú
tâm
đến
những
mục
tiêu
trên,
và
phải
ý
thức
bổn
phận
nặng
nề
của
mình:
một
mặt
phải
sẵn
sàng
tiên
liệu
những
nhu
cầu
cần
thiết
cho
mỗi
cá
nhân
hoặc
cho
cả
cộng
đoàn
có
một
đời
sống
đàng
hoàng;
mặt
khác
họ
cũng
phải
dự
liệu
cho
tương
lai
và
thiết
lập
quân
bình
đúng
mức
giữa
những
nhu
cầu
tiêu
thụ
hiện
tại
của
cá
nhân
hoặc
của
đoàn
thể
và
những
đòi
hỏi
phải
đầu
tư
cho
thế
hệ
mai
sau.
Họ
cũng
phải
luôn
quan
tâm
đến
những
nhu
cầu
cấp
bách
của
các
quốc
gia
hay
những
miền
kinh
tế
kém
mở
mang.
Trong
vấn
đề
tiền
tệ
cũng
phải
tránh
sao
cho
khỏi
nguy
hại
tới
lợi
ích
của
xứ
sở
mình
cũng
như
của
các
quốc
gia
khác.
Vả
lại,
cũng
phải
liệu
sao
cho
những
ai
eo
hẹp
về
kinh
tế
khỏi
bị
thiệt
thòi
một
cách
bất
công
vì
những
vụ
thay
đổi
giá
trị
tiền
tệ.
71.
Tiến
tới
sở
hữu
và
quyền
tư
hữu.
Vấn
đề
ruộng
đất.
Quyền
sở
hữu
84*
và
những
hình
thức
khác
của
quyền
tư
hữu
trên
của
cải
vật
chất
giúp
cho
con
người
biểu
lộ
nhân
vị,
tạo
cho
họ
cơ
hội
làm
tròn
phận
sự
của
mình
trong
xã
hội
cũng
như
trong
lãnh
vực
kinh
tế.
Do
đó,
cần
cổ
võ
mọi
cá
nhân
cũng
như
mỗi
đoàn
thể
tiến
tới
một
chủ
quyền
nào
đó
trên
của
cải
vật
chất.
Quyền
tư
hữu
cũng
như
quyền
làm
chủ
của
cải
bảo
đảm
cho
mỗi
người
một
lãnh
vực
cần
thiết
để
cá
nhân
và
gia
đình
được
tự
trị.
Các
quyền
này
cũng
phải
được
coi
như
nằm
trong
phạm
vi
quyền
tự
do
của
con
người.
Sau
cùng,
những
quyền
này
còn
là
một
điều
kiện
tạo
nên
tự
do
của
người
công
dân,
vì
khuyến
khích
họ
đảm
trách
và
thi
hành
phận
vụ
của
mình
13.
Ngày
nay
chủ
quyền
hoặc
quyền
tư
hữu
mặc
nhiều
hình
thức
khác
nhau
và
sự
khác
biệt
này
ngày
một
gia
tăng.
Tuy
nhiên
không
kể
đến
những
tài
sản
của
xã
hội,
những
quyền
lợi
và
phục
dịch
mà
xã
hội
dành
cho,
tất
cả
những
hình
thức
sở
hữu
đó
làm
cho
con
người
được
vững
tâm
hơn.
Ðiều
vừa
nói
về
quyền
tư
hữu
về
của
cải
vật
chất,
cũng
có
giá
trị
về
những
của
cải
tinh
thần,
chẳng
hạn
như
những
khả
năng
chuyên
nghiệp.
Tuy
nhiên
quyền
tư
hữu
không
cản
trở
những
hình
thức
khác
nhau
của
quyền
sở
hữu
công
cộng.
Dĩ
nhiên
chỉ
có
thẩm
quyền
hợp
pháp
mới
có
thể
buộc
chuyển
nhượng
của
cải
tư
nhân
vào
sở
hữu
công
cộng
tùy
theo
những
đòi
hỏi
và
trong
giới
hạn
công
ích,
nhưng
phải
bồi
thường
tương
xứng.
Ngoài
ra,
công
quyền
cũng
có
bổn
phận
ngăn
ngừa
đừng
để
ai
lạm
dụng
quyền
tư
hữu
mà
phạm
đến
công
ích
14.
Chính
quyền
tư
hữu
tự
nó
có
một
tính
cách
xã
hội.
Tính
cách
xã
hội
này
đặt
nền
tảng
trên
luật
chung
hưởng
của
cải
15.
Nếu
tính
cách
xã
hội
này
không
được
tôn
trọng
thì
quyền
sở
hữu
thường
đem
đến
cơ
hội
sinh
ra
những
tham
lam
và
gây
xáo
trộn
trầm
trọng.
Ðó
là
một
cớ
cho
những
người
chống
báng
đòi
hủy
bỏ
quyền
tư
hữu.
Trong
nhiều
miền
kinh
tế
kém
mở
mang,
vẫn
còn
những
đồng
ruộng
rộng
lớn
hoặc
rất
bao
la
nhưng
chỉ
được
canh
tác
sơ
sài
hay
bị
bỏ
hoang
vì
tự
lợi;
trong
khi
đó
phần
lớn
dân
chúng
hoặc
thiếu
đất
đai
hoặc
chỉ
được
hưởng
một
phần
đất
quá
ít
ỏi
và
đàng
khác
việc
tăng
gia
sản
xuất
nông
nghiệp
lại
hiển
nhiên
là
vấn
đề
cấp
bách.
Ðôi
khi
nông
dân
làm
thuê
hoặc
những
tá
canh
chỉ
lãnh
được
một
số
lương
hoặc
một
lợi
tức
không
xứng
với
con
người.
Họ
không
có
được
một
chỗ
ở
xứng
đáng
mà
còn
bị
bọn
trung
gian
bóc
lột.
Thiếu
mọi
bảo
đảm
an
ninh,
họ
sống
trong
một
tình
trạng
lệ
thuộc
hoàn
toàn
đến
nỗi
họ
hầu
như
không
còn
có
thể
hành
động
theo
sáng
kiến
và
với
tinh
thần
trách
nhiệm.
Và
đối
với
họ,
mọi
cuộc
phát
triển
văn
hóa
và
tham
gia
vào
đời
sống
xã
hội,
chính
trị
đều
bị
cấm
chế.
Do
đó
tùy
trường
hợp,
cần
phải
có
những
cuộc
cải
cách
nhằm
gia
tăng
lợi
tức,
cải
thiện
trạng
huống
làm
việc,
đảm
bảo
cho
việc
thuê
mướn
và
sau
hết
khuyến
khích
sáng
kiến
khi
làm
việc.
Lại
nữa,
cần
phải
phân
chia
ruộng
đất
chưa
được
canh
tác
đầy
đủ
cho
những
ai
có
khả
năng
làm
cho
đất
đai
đó
sinh
lợi.
Trong
trường
hợp
này,
cần
phải
cung
cấp
vật
dụng
và
những
phương
tiện
cần
thiết
cho
họ,
nhất
là
hỗ
trợ
về
phương
diện
giáo
dục
và
giúp
tổ
chức
các
hợp
tác
xã
một
cách
chính
đáng.
Một
khi
công
ích
đòi
hỏi
phải
truất
hữu,
thì
cũng
phải
bồi
thường
cân
xứng
tùy
theo
hoàn
cảnh.
72.
Hành
động
kinh
tế
xã
hội
và
Nước
Chúa
Kitô.
Là
những
người
hoạt
động
tích
cực
cho
công
cuộc
phát
triển
kinh
tế
xã
hội
ngày
nay
và
tranh
đấu
cho
công
bình
bác
ái,
người
Kitô
hữu
cần
phải
xác
tín
rằng
họ
có
thể
đóng
góp
nhiều
cho
nền
thịnh
vượng
của
nhân
loại
và
cho
hòa
bình
thế
giới.
Trong
những
hoạt
động
này,
họ
phải
nêu
gương
sáng
với
tư
cách
cá
nhân
hay
đoàn
thể.
Một
khi
đã
đạt
được
khả
năng
chuyên
môn
và
kinh
nghiệm
cần
thiết,
trung
thành
với
Chúa
Kitô
và
Phúc
Âm
của
Người,
họ
phải
giữ
đúng
bậc
thang
giá
trị
trong
các
hoạt
động
trần
thế.
Nhờ
vậy
cả
cuộc
sống
của
họ,
riêng
tư
cũng
như
giữa
xã
hội
đều
được
thấm
nhuần
tinh
thần
của
các
Mối
Phúc
Thật,
đặc
biệt
là
tinh
thần
nghèo
khó.
Bất
cứ
ai
vâng
theo
Chúa
Kitô,
tiên
vàn
phải
tìm
Nước
Thiên
Chúa
và
từ
đó
tìm
được
một
tình
yêu
mãnh
liệt
và
tinh
khiết
hơn
để
giúp
đỡ
các
anh
em
mình
và
thể
hiện
công
bằng
dưới
sự
thúc
đẩy
của
đức
ái
16.
Chú
Thích:
75*
Con
người
là
trung
tâm
điểm
và
mục
đích
của
sinh
hoạt
kinh
tế
xã
hội
(số
63a).
Hiện
nay
các
sinh
hoạt
này
cũng
đang
phát
triển
(b),
nhưng
không
thiếu
lý
do
để
lo
lắng
(c),
đặc
biệt
vì
nhiều
sự
bất
bình
đẳng
giữa
các
nghề
nghiệp,
các
địa
phương
và
các
quốc
gia
(d),
đòi
hỏi
phải
được
canh
tân
(e).
1)
Sự
phát
triển
kinh
tế.
A)
Phải
phục
dịch
con
người
(số
64).
B)
Và
được
con
người
điều
khiển
(số
65):
càng
nhiều
người
và
càng
nhiều
quốc
gia
góp
phần
để
tìm
kế
hoạch
kinh
tế
thì
càng
tốt
(a).
Không
thể
chấp
nhận
thái
độ
chống
việc
cải
cách
cũng
như
chế
độ
tập
trung,
vì
là
xâm
phạm
đến
nhân
quyền
(b).
Tất
cả
có
nhiệm
vụ
góp
phần
vào
sự
phát
triển
(c).
C)
Cần
phải
loại
trừ
sự
bất
bình
đẳng,
bất
công:
đặc
biệt
đối
với
giới
nông
dân
(a),
giới
lao
động
di
trú
(b),
phải
giúp
mọi
người
tìm
việc
làm
và
huấn
luyện
họ
(c).
2)
Một
vài
nguyên
tắc
chỉ
đạo:
A)
Giá
trị
của
việc
làm
(số
67a,
b).
Do
đó
mỗi
người
có
nhiệm
vụ
và
có
quyền
làm
việc
với
lương
bổng
xứng
đáng
(b).
Qui
tắc
kinh
tế
phải
tùng
phục
con
người
để
phát
triển
nhân
phẩm
trong
việc
làm
cũng
như
trong
giờ
nghỉ
ngơi
bắt
buộc
phải
có
(c).
B)
Sự
tham
gia
vào
tổ
chức
kinh
tế
trong
xí
nghiệp
cũng
như
trong
quốc
gia
(số
68a).
Quyền
lập
nghiệp
đoàn
(b).
Làm
thế
nào
để
giải
quyết
sự
xung
đột
về
công
việc:
Công
Ðồng
không
loại
trừ
việc
đình
công
như
phương
tiện
tối
hậu
(c).
C)
Trong
bất
cứ
chế
độ
nào
về
quyền
sở
hữu,
nguyên
khởi
của
tài
sản
cũng
đòi
hỏi
tài
sản
phải
được
phân
chia
một
cách
công
bằng
(69a).
Trong
các
quốc
gia
kém
mở
mang
hay
tân
tiến
nguyên
tắc
ấy
có
thể
được
thực
hiện
ra
sao
(b),
D)
Chính
sách
tiền
tệ
(số
70).
E)
Cổ
võ
quyền
tư
hữu:
giá
trị
của
quyền
tư
hữu
(số
71abc).
Quyền
lợi
của
chính
quyền
(d).
Vai
trò
xã
hội
của
quyền
tư
hữu
(e).
Ðất
tư
quá
rộng
và
sự
cải
cách
điền
địa.
(f).
3)
Kết
luận:
Sinh
hoạt
kinh
tế
xã
hội
có
thể
làm
thực
hiện
đức
công
bằng
và
đức
thương
yêu.
Các
tín
hữu
phải
làm
gương:
có
thẩm
quyền
và
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
vào
sinh
hoạt
đó
(số
72).
(Trở
lại
đầu
trang)
76*
Trong
tình
trạng
nhà
ổ
chuột,
làm
việc
thiếu
vệ
sinh,
thiếu
nghỉ
ngơi...
không
hiếm
ở
Việt
Nam,
đã
nói
lên
mức
ảnh
hưởng
của
chiến
tranh,
nhưng
chỉ
đúng
một
phần
thôi.
Ðã
lâu
rồi,
Ðức
Piô
XI
viết
rằng
đó
là
trách
nhiệm
của
"nhiều
người
chỉ
có
một
tư
tưởng
là
làm
sao
để
gia
tăng
của
cải
cho
mình"
(Quadragesimo
Anno,
AAS
23
(1931),
trg
177-228).
Kẻ
ấy
lơ
là
trước
cảnh
huống
khốn
khổ
của
tha
nhân
như
thái
độ
kẻ
giàu
có
trong
dụ
ngôn
của
Chúa
Giêsu
đối
với
Lazarô
là
kẻ
nghèo
nàn
(Lc
16,
19-22).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Piô
XII,
sứ
điệp
ngày
23-3-1952:
AAS
44
(1952),
trg
273.
-
Gioan
XXIII,
Huấn
từ
cho
Lao
Công
Công
Giáo
Tiến
Hành
Ý,
A.C.L.I.,
1-5-1959:
AAS
51
(1959)
trg
358.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
190tt.
-
Piô
XII,
Sứ
điệp
ngày
23-3-1952:
AAS
44
(1952),
trg
276tt.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
450.
-
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
các
phương
tiện
Truyền
Thông
Xã
Hội
Inter
mirifica,
ch.
I,
số
6:
AAS
56
(1964),
trg
147.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Mt
16,
26;
Lc
16,
1-31;
Col
3,
17.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Libertas
praestantissimum,
20-6-1888:
AAS
20
(1887-1888),
trg
597tt.
-
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931)
trg
191tt.;
-
n.t.,
Divini
Redemptoris:
AAS
39
(1937),
trg
65tt.
-
Piô
XII,
Sứ
điệp
Giáng
Sinh
1941:
AAS
34
(1942),
trg
10tt.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1964),
trg
401-464.
(Trở
lại
đầu
trang)
77*
Công
dân
phải
được
giáo
dục
để
ý
thức
về
nhiệm
vụ
này.
Giới
bình
dân
có
thể
góp
phần
gì?
Dĩ
nhiên
sẽ
có
thể
làm
ít
hay
nhiều
tùy
khả
năng,
địa
vị
và
tài
sản.
Một
người
có
thể
làm
ít,
nhưng
cả
nghiệp
đoàn
(số
68b)
sẽ
làm
được
nhiều.
Công
Ðồng
nhắc
lại
hai
điều
thiếu
sót
làm
hại
cho
cộng
đoàn
quốc
gia:
một
là
để
tài
nguyên
vô
dụng
(ví
du
tích
trử
tiền
bạc
ở
nhà;
chỉ
mua
vàng;
không
đầu
tư
vào
những
kế
hoạch
của
cộng
đoàn),
hai
là
không
cho
cộng
đoàn
hưởng
dụng
những
phương
tiện
vật
chất
(ví
dụ
khi
đem
tiền
gởi
ra
ngoại
quốc)
và
tinh
thần
(khi
người
đi
du
học
không
chịu
về
nước).
Công
Ðồng
nhắc
lại
quyền
di
cư
của
mọi
người
(quyền
lợi
này
và
bổn
phận
phục
vụ
quốc
gia,
bên
nào
khẩn
cấp
hơn,
mạnh
mẽ
hơn,
thì
phải
xét
theo
hoàn
cảnh
thực
tế
của
từng
cá
nhân).
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Về
những
vấn
đề
nông
nghiệp,
đặc
biệt
xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961)
trg
341tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
78*
Việc
làm
có
giá
trị
cao
hơn
tất
cả
các
yếu
tố
khác
của
sinh
hoạt
kinh
tế,
vì:
1)
có
tính
cách
nhân
bản
(không
chỉ
là
khí
cụ
của
con
người),
2)
là
cần
thiết
cho
cuộc
sống,
3)
cổ
võ
tinh
thần
anh
em
và
tinh
thần
phục
vụ
lẫn
nhau,
4)
do
đó
giúp
ta
thực
hiện
đức
thương
yêu
nhau,
5)
để
kiện
toàn
công
cuộc
tạo
dựng,
6)
ngoài
ra
nhờ
đó
ta
có
thể
cộng
tác
với
Chúa
Cứu
Thế,
7)
không
kể
việc
chúng
ta
bắt
chước
chính
Người
thuở
xưa
đã
làm
việc
tại
Nazareth.
Trước
đây
(số
35a),
Công
Ðồng
đã
nói
rằng
nhờ
việc
làm
mà
con
người
được
hoàn
hảo
hơn
và
xây
dựng
xã
hội.
Bởi
đó
việc
làm
cũng
là
phương
tiện
để
xây
dựng
hòa
bình!
Cho
nên
việc
làm
không
những
chỉ
có
giá
trị
tự
nhiên
về
phương
diện
cá
nhân
cũng
như
cho
xã
hội
và
cả
vũ
trụ,
mà
còn
có
giá
trị
siêu
nhiên
giúp
ta
đền
tội,
cầu
xin
nhiều
ơn
Chúa
cho
mình
và
cho
tha
nhân,
thánh
hóa
bản
thân
khi
phải
thực
hành
nhiều
nhân
đức
như
kiên
nhẫn,
cần
mẫn,
mạnh
bạo,
khiêm
tốn...
và
đặc
biệt
là
đức
ái
đối
với
Chúa
cũng
như
đối
với
anh
em.
(Trở
lại
đầu
trang)
79*
A)
Có
bổn
phận
làm
việc:
Nếu
việc
làm
thực
sự
có
ích
lợi
cá
nhân
và
xã
hội
như
vừa
nói
trên,
ai
không
chịu
làm
việc
kẻ
ấy
phạm
đến
Chúa
bởi
vi
phạm
đến
xã
hội
và
anh
em,
chưa
kể
đến
việc
gây
thiệt
hại
cho
mình!
Trước
đây
Công
Ðồng
nhắc
lại
rằng
đức
tin
khiến
tín
hữu
nhập
thế
và
hoạt
động
cho
thực
tại
trần
thế
(số
43a).
Ngoài
ra
còn
có
những
hoàn
cảnh
cụ
thể
buộc
ta
làm
việc:
ví
dụ
nghĩa
vụ
cha
mẹ
phải
nuôi
nấng
con
cái,
đức
công
bằng
nếu
lập
khế
ước,
đức
vâng
lời
cũng
như
hiếu
thảo
của
con
cái
trong
gia
đình
v.v...
B)
Có
quyền
làm
việc:
vì
có
bổn
phận
như
vừa
nói
trên
đây.
Nhân
phẩm
cũng
đòi
hỏi
con
người
có
thể
hưởng
thụ
tất
cả
những
giá
trị
của
việc
làm.
Dĩ
nhiên
nhân
quyền
này
không
có
nghĩa
là
mỗi
cá
nhân
có
quyền
đòi
hỏi
nơi
cá
nhân
khác
hay
xã
hội
một
công
việc
nào
đó,
vì
hiểu
như
vậy
sẽ
không
tôn
trọng
quyền
tự
do
của
người
khác.
Ở
đây
nhân
quyền
chỉ
có
nghĩa
là
không
ai
có
thể
bị
ngăn
trở
hay
bị
từ
chối
khi
xin
làm
việc
với
đầy
đủ
những
điều
kiện
cần
thiết.
Hơn
nữa
chính
quyền
phải
làm
sao
tổ
chức
đời
sống
kinh
tế
xã
hội
để
có
thể
giúp
đỡ
công
dân
tìm
cơ
hội
làm
việc
như
Công
Ðồng
nhắc
lại
trong
số
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Rerum
Novarum:
AAS
23
(1890-91),
trg
649-662.
-
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
200-201;
-
n.t.,
Tđ.
Divini
Redemptoris:
AAS
29
(1937),
trg
92.
-
Piô
XII,
Sứ
điệp
truyền
thanh
vọng
lễ
Giáng
Sinh
1942:
AAS
35
(1943),
trg
20;
-
n.t.,
Huấn
từ
13-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
172;
-
n.t.,
Sứ
điệp
truyền
thanh
gửi
thợ
thuyền
Tây
Ban
Nha,
11-3-1951:
AAS
43
(1951),
trg
215.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
419.
(Trở
lại
đầu
trang)
80*
Phải
được
trả
lương
tương
xứng,
không
phải
chỉ
trả
theo
sức
mạnh
của
người
làm
việc
(là
việc
làm
của
con
người
chứ
không
phải
của
cái
máy)
mà
còn
theo
nhu
cầu
của
con
người
trước
đời
sống
vật
chất,
xã
hội,
văn
hóa
và
đạo
đức.
Hơn
nữa,
tương
xứng
với
nhu
cầu
không
chỉ
của
một
mình
người
làm
mà
cả
của
gia
đình
họ
nữa.
Giáo
lý
của
Giáo
Hội
từ
Ðức
Leô
XIII
đến
giờ
vẫn
nhấn
mạnh
rằng
lương
bổng
đầy
đủ
cho
gia
đình
là
thuộc
nhân
quyền
của
người
làm
việc.
Dĩ
nhiên
phải
làm
trọn
nhiệm
vụ
này
là
trả
công
đầy
đủ
cho
gia
đình
tùy
từng
việc
và
khả
năng
sản
xuất,
tùy
hoàn
cảnh
xí
nghiệp,
tùy
đòi
hỏi
của
công
ích,
đặc
biệt
phải
làm
sao
để
có
thể
cho
càng
nhiều
người
làm
việc
càng
tốt.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
408,
424,
427;
còn
tiếng
điều
hành
(curatione)
trích
trong
bản
văn
Latinh
của
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
199.
Về
diễn
tiến
vấn
đề,
xem
thêm:
Piô
XII,
Huấn
từ
3-6-1950:
AAS
42
(1950),
trg
485-488.
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
8-6-1964:
AAS
56
(1964),
trg
574-579.
(Trở
lại
đầu
trang)
81*
Công
Ðồng
nhắc
lại
rằng
công
nhân
có
nhân
quyền
tập
đoàn
và
mục
đích
của
nghiệp
đoàn
hay
những
hình
thức
khác
là
để
đại
diện
cho
công
nhân
(ví
dụ
để
lập
khế
ước
lao
động)
cũng
như
để
góp
phần
vào
tổ
chức
kinh
tế.
Nếu
chỉ
chấp
nhận
nhân
quyền
này
trên
nguyên
tắc
rồi
tạo
nên
hằng
ngàn
sự
đe
dọa
và
áp
lực
để
ngăn
cản
công
nhân
hoạt
động
tự
do
trong
nghiệp
đoàn,
như
thế
là
xâm
phạm
quyền
lợi
công
nhân
và
trái
lẽ
công
bằng.
(Trở
lại
đầu
trang)
82*
Nhiều
khi
người
ta
nói
về
quyền
đình
công
để
giải
quyết
những
tranh
chấp
lao
động
như
là
một
trong
các
nhân
quyền
căn
bản
mà
chủ
nghĩa
dân
chủ
đã
đem
lại
cho
công
dân.
Công
Ðồng
có
lập
trường
khiêm
tốn
hơn.
Theo
Công
Ðồng
sự
đình
công
1)
có
thể
là
phương
thế
để
bảo
vệ
quyền
lợi
cũng
như
để
đòi
hỏi
những
nguyện
vọng
hợp
lý,
2)
phương
thế
cần
thiết
và
tối
hậu,
nghĩa
là
phương
thế
duy
nhất
sau
khi
cuộc
đối
thoại
và
những
biện
pháp
hòa
giải
đã
thất
bại.
Sở
dĩ
như
vậy
là
vì
sự
đình
công
gây
nên
thiệt
thòi
cho
chính
người
lao
động,
cho
xí
nghiệp
và
cho
công
ích
nữa.
Thực
ra
cuộc
đình
công
có
hiệu
lực
chính
là
vì
gây
nên
thiệt
thòi
đó.
Cho
nên
đức
ái
cũng
như
đức
công
bằng
cấm
việc
làm
hại
cho
tha
nhân,
ngoại
trừ
trường
hợp
đó
là
vũ
khí
cần
thiết
để
bảo
vệ
quyền
lợi
và
đồng
thời
sự
thiệt
thòi
không
quá
đáng.
Bởi
vậy
chính
quyền
có
thể
phế
trừ
sự
đình
công.
Nhưng
luật
ấy
sẽ
bất
công
(cho
nên
vô
giá
trị)
nếu
chính
quyền
không
cung
cấp
phương
pháp
hữu
hiệu
và
tôn
trọng
quyền
tự
do
của
giới
lao
động
để
giải
quyết
các
cuộc
tranh
chấp
về
việc
làm.
Cuối
cùng
Công
Ðồng
không
nói
gì
về
cuộc
đình
công
chính
trị.
Trường
hợp
này
phức
tạp
hơn
vì
lúc
ấy
cuộc
đình
công
giống
như
phương
tiện
bạo
động
bất
hợp
pháp.
Do
đó
phải
xét
theo
nguyên
tắc
khác
(x.số
75).
(Trở
lại
đầu
trang)
83*
Công
Ðồng
nhắc
lại
giáo
lý
truyền
thống
(các
tài
liệu
trong
ghi
chú
làm
chứng).
Ta
có
thể
tóm
tắt
giáo
lý
của
Giáo
Hội
như
sau:
1)
Theo
ý
Ðấng
Tạo
Hóa
của
cải
phải
phục
dịch
cho
mọi
người
(x.
Populorum
Progressio,
số
23),
và
phải
bất
chấp
các
kỳ
thị
(ở
trên,
số
64).
2)
Cho
nên
cùng
đích
của
chính
của
cải
là
phục
dịch
con
người
(Populorum
Progressio,
số
22).
3)
Tùy
theo
nhu
cầu
vật
chất,
trí
tuệ,
luân
lý,
tinh
thần
và
tôn
giáo
của
họ
(ở
trên,
số
64).
4)
Của
cải
phải
được
đưa
tới
đầy
đủ
cho
tất
cả
mọi
người
nhờ
sự
phân
chia
của
cải
một
cách
thích
hợp
hơn
(x.
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
36).
5)
Tức
là
theo
sự
đòi
hỏi
của
đức
công
bằng
và
với
tinh
thần
yêu
thương
(Populorum
Progressio,
22).
6)
Kết
luận:
mọi
người
đều
có
thực
quyền
về
những
cái
cần
thiết
(PP.22).
7)
Các
quyền
lợi
khác,
kể
cả
quyền
tư
hữu,
đều
phụ
thuộc
quyền
căn
bản
này
(PP.26).
8)
Do
đó
quyền
tư
hữu
theo
bản
tính
có
mục
đích
xã
hội
(sau
này,
số
71).
9)
Cho
nên
chúng
ta
phải
lên
án
hình
thức
tư
bản
chủ
nghĩa
chủ
trương
quyền
tư
hữu
vô
hạn
và
tuyệt
đối
(PP.26).
10)
Tất
cả
mọi
người
đều
phải
góp
phần
trong
việc
phân
chia
của
cải
cho
công
bằng
hơn
(do
việc
làm,
lòng
quảng
đại)
(Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
36;
ở
trên,
64;
PP
23).
11)
Ðặc
biệt
chính
quyền
phải
can
thiệp
khi
nào
cần
thiết
(PP.
23).
12)
Các
dân
tộc
kém
mở
mang
phải
được
dân
tộc
khác
trợ
giúp
(sau
này,
85-87)
(PP.
đặc
biệt
từ
số
43
trở
đi).
13)
Phải
giúp
phương
tiện
cho
mọi
người
cũng
như
các
dân
tộc
để
tự
mình
phát
triển
(PP.15,65).
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Sertum
Laetitia:
AAS
31
(1939),
trg
642.
-
Gioan
XXIII,
Allocutio
consistorialis:
AAS
52
(1960),
trg
5-11;
-
n.t.,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961).
trg
411.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
T.
Tôma,
Summa
theol.
II-II,
q.32,
a.5
ad
2;
-
n.v.t.,
q.66,
a.2:
xem
dẫn
giải
trong
Leô
XIII,
Tđ.
Rerum
Novarum:
AAS
23
(1890-91),
trg
651.
-
xem
thêm
Piô
XII,
Huấn
từ
1-6-1941:
AAS
33
(1941),
trg
199;
-
n.t.,
Sứ
điệp
truyền
thanh
lễ
Giáng
Sinh
1954:
AAS
47
(1955),
trg
27.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
T.
Basiliô,
Hom.
in
illud
Lucae
"Destruam
horrea
mea",
số
2:
PG
31,
263.
-
Lactantiô,
Divinarum
Institutionum,
c.
V,
về
sự
công
bình:
PL
6,565
B.
-
T.
Augustinô,
In
Joann.
Ev.
tr.
50,
số
6:
PL
35,
1760;
-
n.t.,
Enarratio
in
Ps.
CXLVII,
12:
PL
37,
1922.
-
T.
Gregoriô
Cả,
Hom.
in
Ev.,
bài
20,
12:
PL
76,
1165;
-
n.t.,
Regulae
Pastoralis
liber,
phần
III,
ch.
21:
PL
77,
87.
-
T.
Bonaventura,
In
III
Sent.,
d.
33
dub.
1:
x.b.
Quaracchi
III,
728;
-
n.t.,
In
IV
Sent.,
d.
15,
p.
II,
a.
2,
q.
1:
n.v.t.,
IV,
371
b;
-
Quaest.
de
superfluo:
ms.
Assisi,
Bibl.
comun.
186,
ff.
112
a -
113a.
-
T.
Albertô
Cả,
In
III
Sent.,
d.
33,
a.3,
sol.
1:
x.
b.
Borgnet
XXVIII,
611;
-
n.t.,
In
IV
Sent.,
d.
15,a.
16:
n.v.t.,
XXIX,
494-497.
Về
việc
xác
định
của
dư
thừa
của
thời
đại
chúng
ta:
xem
Gioan
XXIII,
Sứ
điệp
truyền
thanh
truyền
hình
11-9-1962:
AAS
54
(1962),
trg
682:
"Bổn
phận
của
mọi
người
và
là
bổn
phận
cấp
bách
của
Kitô
hữu,
chính
là
thẩm
định
của
dư
thừa
theo
mức
độ
nhu
yếu
của
người
khác
và
ân
cần
chăm
sóc
sao
cho
việc
quản
trị
và
phân
phối
của
cải
được
tạo
dựng
có
lợi
cho
mọi
người."
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Trong
trường
hợp
này
có
thể
áp
dụng
được
nguyên
tắc:
"Trong
lúc
cùng
quẫn
cực
độ,
mọi
sự
là
của
chung,
nghĩa
là
phải
được
chia
sớt".
Ðàng
khác,
đối
với
lý
do,
phạm
vi
và
phương
cách
áp
dụng
nguyên
tắc
phải
theo
bản
văn
đề
ra;
ngoài
các
tác
giả
tân
thời
được
công
nhận,
xem
thêm
T.
Tôma,
Summa
Theol.,
II-II,
q.66,
a.
7.
Hiển
nhiên,
để
áp
dụng
đúng
nguyên
tắc,
phải
tôn
trọng
mọi
điều
kiện
theo
"luân
lý"
đòi
hỏi.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Gratiani
Decretum
C.
21,
dist.
LXXXVI:
x.b.
Friedberg
I,
302.
Lời
này
đã
tìm
thấy
trong
PL
56,
491
A
và
PL
56,
1132
B.
-
Xem
Antonianum
27
(1952)
trg
349-366.
(Trở
lại
đầu
trang)
84*
Công
Ðồng
nhắc
lại
những
lý
do
làm
cho
quyền
tư
hữu
trở
thành
chính
nghĩa:
1)
nó
phát
biểu
nhân
cách,
2)
giúp
con
người
làm
tròn
nhiệm
vụ
trong
xã
hội,
3)
là
phương
tiện
cần
thiết
để
bảo
đảm
quyền
tự
trị
cá
nhân
và
gia
đình,
4)
và
giống
như
sự
nối
dài
của
quyền
tự
do,
5)
nó
khuyến
khích
con
người
làm
việc,
6)
và
do
đó
trở
thành
điều
kiện
cho
quyền
tự
do
dân
sự.
Nói
cách
khác
và
theo
các
tài
liệu
được
trích
lại
trong
ghi
chú
13,
1)
bản
tính
con
người
đoán
được
nhu
cầu
về
tương
lai
nên
đã
đòi
hỏi
quyền
tư
hữu.
Khác
với
thú
vật,
con
người
phải
lo
cho
tương
lai
!
2)
Quyền
tự
do
để
tìm
kiếm
cùng
đích
cũng
đòi
hỏi
quyền
tư
hữu
một
phần
nào
đó.
3)
Ðặc
biệt
quyền
tư
hữu
rất
cần
thiết
để
bảo
đảm
quyền
tự
trị
trước
mặt
chính
quyền,
4)
Quyền
cũng
như
bổn
phận
làm
việc
là
những
lý
do
bênh
vực
cho
quyền
tư
hữu.
5)
Cuối
cùng
chính
công
ích
đòi
hỏi
quyền
tư
hữu:
vì
nó
giúp
con
người
làm
việc
hăng
hái.
Như
vậy
ta
phải
quả
quyết
rằng
quyền
tư
hữu
ít
ra
là
quyền
của
đại
gia
đình
theo
khía
cạnh
tinh
thần,
và
phát
sinh
bởi
luật
tự
nhiên.
(x.
Haring,
La
Loi
du
Christ,
1963,
III,
605-606).
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Leô
XIII,
Tđ.
Rerum
Novarum:
AAS
23
(1890-91),
trg
643-646.
-
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
191.
-
Piô
XII,
Sứ
điệp
truyền
thanh
1-6-1941:
AAS
33
(1941),
trg
199;
-
n.t.,
Sứ
điệp
truyền
thanh
Lễ
Giáng
Sinh
1942:
AAS
35
(1943),
trg
17;
-
n.t.,
Sứ
điệp
truyền
thanh
1-9-1944:
AAS
36
(1944),
trg
253.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
428-429.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
214.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
429.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Piô
XII,
Sứ
điệp
truyền
thanh
Lễ
Hiện
Xuống
1941:
AAS
44
(1941),
trg
199.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961)
trg
430.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Về
việc
xử
dụng
đứng
đắn
những
của
cải
theo
giáo
lý
của
Tân
Ước,
xem
Lc
3,11;
10,30tt;
11,
41;
1P
5,3;
Mc
8,36;
12,29-31;
Giac
5,1-6;
1Tm
6,8;
Eph
4,28;
2Cor
8,13tt;
1Gio
3,17-20.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II