VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Phần
Thứ
Hai
Chương
II
Cổ
Võ
Việc
Phát
triển
Văn
Hóa
65*
53.
Nhập
đề.
Ðặc
điểm
của
một
nhân
vị
là
chỉ
đạt
tới
nhân
tính
đích
thực
và
trọn
vẹn
nhờ
văn
hóa,
nghĩa
là
nhờ
việc
trau
giồi
những
ưu
phẩm
và
giá
trị
của
bản
tính.
Vì
vậy,
mỗi
khi
đề
cập
đến
cuộc
sống
nhân
loại,
bản
tính
và
văn
hóa
liên
kết
với
nhau
hết
sức
chặt
chẽ.
Theo
nghĩa
tổng
quát,
chữ
"văn
hóa"
chỉ
tất
cả
những
gì
con
người
dùng
để
trao
dồi
và
phát
triển
các
năng
khiếu
đa
diện
của
tâm
hồn
và
thể
xác;
cố
gắng
chế
ngự
cả
trái
đất
bằng
trí
thức
và
lao
động;
làm
cho
đời
sống
xã
hội,
đời
sống
gia
đình
cũng
như
đời
sống
chính
trị
trở
thành
nhân
đạo
hơn,
nhờ
sự
tiến
bộ
trong
các
tập
tục
và
định
chế;
sau
hết,
diễn
tả,
thông
truyền
và
bảo
tồn
trong
các
công
trình
của
mình,
những
kinh
nghiệm
tinh
thần
và
hoài
bão
lớn
lao
của
các
thời
đại,
để
giúp
cho
nhiều
người
và
toàn
thể
nhân
loại
tiến
bộ
hơn.
Vì
vậy,
văn
hóa
nhân
loại
thiết
yếu
mang
tính
cách
lịch
sử
và
xã
hội,
và
chữ
"văn
hóa"
thường
mặc
thêm
một
ý
nghĩa
xã
hội
học
cũng
như
dân
chủng
học.
Chính
vì
ý
nghĩa
này
mà
người
ta
nói
đến
sự
đa
tạp
của
các
nền
văn
hóa.
Thực
vậy,
có
nhiều
cách
xử
dụng
sự
vật,
nhiều
cách
làm
việc
và
diễn
tả
tư
tưởng,
nhiều
cách
phụng
tự
và
tạo
nên
thuần
phong
mỹ
tục,
nhiều
cách
thiết
lập
luật
lệ
và
định
chế
pháp
lý,
nhiều
cách
phát
triển
khoa
học,
nghệ
thuật
và
trau
giồi
thẩm
mỹ,
nên
mới
phát
sinh
nhiều
cách
chung
sống
và
nhiều
hình
thức
hòa
hợp
các
giá
trị
của
cuộc
sống.
Như
thế,
từ
các
định
chế
lưu
truyền,
hình
thành
một
di
sản
riêng
cho
mỗi
cộng
đoàn
nhân
loại.
Cũng
do
cách
thức
ấy
mà
hình
thành
một
môi
trường
lịch
sử
nhất
định
của
con
người,
bất
cứ
dân
tộc
nào
hay
thời
đại
nào,
để
từ
môi
trường
đó
con
người
rút
ra
những
giá
trị
hầu
thăng
tiến
nền
văn
minh
nhân
loại.
Ðoạn
1:
Tình
Trạng
Văn
Hóa
Trong
Thế
Giới
Ngày
Nay
66*
54.
Những
lối
sống
mới.
Tình
trạng
sinh
sống
của
con
người
hiện
đại
về
phương
diện
xã
hội
và
văn
hóa
đã
biến
đổi
sâu
đậm,
khiến
con
người
có
thể
nói
đến
một
kỷ
nguyên
mới
của
lịch
sử
nhân
loại
1.
Từ
đó,
mở
ra
những
con
đường
mới
để
hoàn
bị
và
bành
trướng
văn
hóa
rộng
rãi
hơn.
Những
con
đường
này
đã
được
khai
phá
nhờ
sự
lớn
mạnh
của
các
ngành
khoa
học
thiên
nhiên,
nhân
văn
và
xã
hội,
nhờ
sự
phát
triển
kỹ
thuật
cũng
như
sự
tiến
bộ
trong
công
cuộc
khám
phá
và
khéo
léo
tổ
chức
những
phương
tiện
giúp
con
người
liên
lạc
với
nhau.
Bởi
đó,
nền
văn
hóa
hiện
đại
mang
những
đặc
điểm
này:
các
khoa
học
mệnh
danh
là
khoa
học
chính
xác
phát
triển
tối
đa
óc
phê
bình;
những
nghiên
cứu
mới
nhất
về
tâm
lý
học
cắt
nghĩa
hoạt
động
của
con
người
sâu
xa
hơn;
các
bộ
môn
sử
học
góp
phần
lớn
lao
giúp
con
người
nhận
định
sự
vật
dưới
khía
cạnh
biến
đổi
và
tiến
hóa;
tập
tục
và
cách
sống
ngày
càng
đồng
nhất;
hiện
tượng
kỹ
nghệ
và
đô
thị
hóa
cộng
với
những
nguyên
nhân
khác
đang
phát
huy
đời
sống
tập
thể
tạo
nên
những
hình
thức
văn
hóa
mới
(văn
hóa
đại
chúng),
từ
đó,
phát
sinh
những
cách
cảm
nghĩ,
hành
động
và
giải
trí
mới.
Ðồng
thời,
sự
phát
triển
trao
đổi
giữa
các
dân
tộc
và
các
tập
thể
khác
nhau
cũng
mở
rộng
hơn
cho
mọi
người
và
mỗi
người
các
kho
tàng
của
những
hình
thức
văn
hóa
khác
nhau.
Và
cứ
thế,
sẽ
dần
dần
xuất
hiện
một
hình
thức
văn
hóa
nhân
loại
đại
đồng
hơn,
nhờ
đó,
nếu
càng
tôn
trọng
những
điểm
của
các
nền
văn
hóa
khác
nhau,
càng
diễn
đạt
và
tiến
gần
đến
sự
hiệp
nhất
nhân
loại
hơn.
55.
Con
người,
tác
giả
của
văn
hóa.
Càng
ngày
càng
có
nhiều
người,
nam
cũng
như
nữ,
thuộc
bất
cứ
tập
thể
hay
quốc
gia
nào,
ý
thức
được
chính
họ
và
những
người
xây
dựng
và
sáng
tạo
văn
hóa
của
cộng
đoàn
mình.
Trên
toàn
thế
giới,
ngày
càng
gia
tăng
ý
thức
tự
trị
cũng
như
trách
nhiệm.
Ðó
là
điều
rất
cần
để
nhân
loại
trưởng
thành
trên
bình
diện
tinh
thần
và
luân
lý.
Ðó
là
điều
sẽ
xuất
hiện
rõ
ràng
hơn,
nếu
chúng
ta
quan
tâm
đến
sự
thống
nhất
thế
giới
và
đến
bổn
phận
chúng
ta
là
phải
kiến
tạo
một
thế
giới
tốt
đẹp
hơn
trong
chân
lý
và
công
bằng.
Do
đó,
chúng
ta
là
chứng
nhân
của
sự
hình
thành
một
nền
nhân
bản
mới
trong
đó
con
người
được
định
nghĩa
trước
hết
tùy
theo
trách
nhiệm
của
mình
đối
với
anh
em
và
đối
với
lịch
sử.
56.
Trở
ngại
và
bổn
phận.
Trong
những
hoàn
cảnh
ấy,
không
còn
gì
đáng
ngạc
nhiên
nếu
con
người
vì
cảm
thức
được
trách
nhiệm
của
mình
trong
việc
phát
triển
văn
hóa,
nên
nuôi
những
hoài
bão
cao
xa,
đồng
thời
cũng
lo
âu
nhìn
đến
muôn
ngàn
mâu
thuẫn
trước
mắt
mình
phải
giải
quyết:
Phải
làm
gì
để
sự
trao
đổi
văn
hóa
phồn
thịnh
kia
tạo
được
sự
đối
thoại
đích
thực
và
kiến
hiệu
giữa
các
tập
thể
và
các
quốc
gia
khác
nhau
mà
không
xáo
trộn
cuộc
sống
của
các
cộng
đoàn,
không
phá
hoại
sự
khôn
ngoan
của
tiền
nhân
cũng
như
không
làm
tổn
thương
những
đặc
tính
riêng
của
các
dân
tộc?
67*
Phải
làm
thế
nào
để
phát
huy
sự
truyền
bá
và
sức
linh
động
của
nền
văn
hóa
mới,
mà
không
hủy
diệt
lòng
trung
thành
gắn
bó
với
di
sản
truyền
thống?
68*
Ðó
là
vấn
đề
đặc
biệt
khẩn
cấp
khi
phải
dung
hòa
văn
hóa
phát
sinh
từ
sự
tiến
bộ
lớn
lao
của
khoa
học
và
kỹ
thuật
với
văn
hóa
được
nuôi
dưỡng
bằng
nền
học
vấn
cổ
điển
theo
những
truyền
thống
khác
nhau.
Làm
sao
có
thể
dung
hòa
sự
phân
tán
rất
nhanh
chóng
và
ngày
càng
gia
tăng
của
các
bộ
môn
chuyên
biệt
với
nhu
cầu
tổng
hợp
các
bộ
môn
ấy
và
nhu
cầu
duy
trì
nơi
con
người
khả
năng
chiêm
ngưỡng
và
thán
phục
là
những
khả
năng
giúp
con
người
đạt
tới
sự
khôn
ngoan?
Phải
làm
gì
để
mọi
người
trên
thế
giới
cùng
được
hưởng
ích
lợi
của
văn
hóa
trong
khi
kiến
thức
của
các
nhà
thông
thái
luôn
cao
siêu
và
phức
tạp
hơn?
Sau
hết,
phải
làm
sao
để
vừa
công
nhận
sự
tự
trị
mà
văn
hóa
đòi
hỏi
là
chính
đáng,
vừa
không
rơi
vào
một
nền
nhân
bản
trần
tục
thuần
túy
hoặc
đối
nghịch
với
tôn
giáo
nữa?
Ngày
nay,
phải
phát
triển
văn
hóa
nhân
loại
giữa
bấy
nhiêu
mâu
thuẫn,
sao
cho
nhân
vị
được
nẩy
nở
trọn
vẹn,
điều
hòa
đồng
thời
giúp
con
người
trong
những
bổn
phận
mà
mọi
người
đều
được
kêu
gọi
để
chu
toàn,
nhất
là
những
Kitô
hữu
liên
kết
huynh
đệ
trong
gia
đình
nhân
loại
duy
nhất.
69*
Ðoạn
2:
Một
Vài
Nguyên
Tắc
Hướng
Dẫn
Việc
Phát
Triển
Văn
Hóa
57.
Ðức
tin
và
văn
hóa.
Người
Kitô
hữu
đang
hành
trình
về
quê
trời
phải
tìm
kiếm
và
yêu
thích
những
sự
trên
trời
2.
Ðó
là
điều
chẳng
những
không
bớt
mà
còn
làm
tăng
bổn
phận
của
họ
là
góp
sức
với
mọi
người
kiến
tạo
một
thế
giới
nhân
đạo
hơn.
Thực
ra,
mầu
nhiệm
của
đức
tin
Kitô
giáo
đã
đem
đến
cho
họ
nhiều
khích
lệ
và
trợ
lực
quí
giá
để
họ
chu
toàn
bổn
phận
ấy
cách
hăng
say
hơn
và
nhất
là
để
họ
khám
phá
được
ý
nghĩa
trọn
vẹn
của
công
việc
họ
làm.
Nhờ
đó,
văn
hóa
nhân
loại
có
được
một
địa
vị
cao
cả
trong
ơn
gọi
toàn
diện
của
con
người.
Thực
vậy,
khi
cày
cấy
với
hai
bàn
tay
hoặc
với
phương
tiện
kỹ
thuật
để
trái
đất
nẩy
sinh
hoa
quả
và
trở
thành
nơi
cư
ngụ
xứng
đáng
của
toàn
thể
gia
đình
nhân
loại,
và
khi
tham
dự
cách
ý
thức
vào
tập
thể
xã
hội,
con
người
đã
tuân
theo
ý
định
của
Thiên
Chúa
được
tỏ
bày
ngay
từ
thuở
đầu
là
loài
người
phải
chế
ngự
trái
đất
3
và
hoàn
tất
công
cuộc
tạo
dựng,
đồng
thời
con
người
phát
triển
được
chính
bản
thân;
và
cùng
khi
ấy
con
người
tuân
giữ
giới
răn
quan
trọng
của
Chúa
Kitô
là
hiến
thân
phục
vụ
anh
em.
Hơn
nữa,
khi
chuyên
tâm
học
hỏi
các
bộ
môn
triết
học,
sử
học,
toán
học,
vạn
vật
học
và
trau
giồi
nghệ
thuật,
con
người
có
thể
góp
phần
lớn
lao
vào
công
cuộc
thăng
tiến
gia
đình
nhân
loại
để
đạt
tới
những
giá
trị
cao
cả
của
chân,
thiện,
mỹ,
và
một
phán
đoán
có
giá
trị
phổ
quát.
Nhờ
đó,
con
người
được
soi
chiếu
rạng
rỡ
hơn,
do
Ðấng
Khôn
Ngoan
kỳ
diệu
đã
có
bên
Chúa
từ
thuở
đời
đời,
cùng
Chúa
an
bài
mọi
sự,
nô
đùa
trên
trái
đất
và
vui
sướng
ở
với
con
cái
loài
người
4.
Cũng
nhờ
đó
mà
tâm
trí
nhân
loại
bớt
nô
lệ
sự
vật
và
có
thể
dễ
dàng
bay
bổng
để
thờ
phượng
và
chiêm
ngưỡng
Ðấng
Tạo
Hóa.
Hơn
nữa,
con
người
còn
được
ân
sủng
thúc
đẩy
để
nhận
ra
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa,
Ðấng
trước
khi
nên
xác
thể
để
cứu
chuộc
và
kết
thâu
muôn
loài
nơi
Người,
đã
ở
trong
thế
gian
như
"anh
sáng
thật...
vốn
hằng
soi
sáng
mọi
loài
dương
gian"
(Gio
1,9)
5.
Vì
do
phương
pháp
của
chúng,
khoa
học
và
kỹ
thuật
không
thể
xâm
nhập
cơ
cấu
sâu
xa
của
sự
vật,
nên
sự
tiến
bộ
ngày
nay
của
chúng
dĩ
nhiên
có
thể
đưa
đến
một
thứ
chủ
thuyết
duy
hiện
tượng
và
bất
khả
tri,
khi
phương
pháp
khảo
sát
của
những
bộ
môn
này
được
đánh
giá
quá
cao
và
được
coi
như
luật
tối
hậu
để
khám
phá
toàn
thể
chân
lý.
Cũng
nguy
hiểm
hơn
nữa
khi
con
người
tin
tưởng
thái
quá
vào
những
phát
minh
hiện
đại
đến
độ
tự
mãn
và
không
còn
kiếm
tìm
những
giá
trị
cao
hơn
70*.
Tuy
nhiên,
những
hậu
quả
tai
hại
ấy
không
nhất
thiết
phát
sinh
từ
nên
văn
hóa
hiện
đại,
và
chúng
ta
không
được
ỷ
vào
đó
mà
phủ
nhận
những
giá
trị
tích
cực
của
nền
văn
hóa
này.
Trong
số
những
giá
trị
ấy
phải
kể
đến:
lòng
yêu
chuộng
khoa
học,
thái
độ
nghiêm
chỉnh
trung
thành
với
chân
lý
trong
các
công
trình
nghiên
cứu
khoa
học,
nhu
cầu
làm
việc
tập
thể
trong
các
toán
chuyên
viên,
tình
liên
đới
quốc
tế,
ý
thức
ngày
càng
mãnh
liệt
nơi
các
nhà
thông
thái
về
trách
nhiệm
phải
giúp
đỡ
và
hơn
nữa
phải
bảo
vệ
con
người,
ý
muốn
đem
lại
cho
mọi
người
tình
trạng
sinh
sống
thuận
lợi
hơn,
nhất
là
cho
những
người
chịu
thiệt
thòi
vì
không
được
trao
trách
nhiệm
và
vì
thiếu
văn
hóa.
Tất
cả
những
giá
trị
này
có
thể
góp
phần
chuẩn
bị
cho
con
người
lãnh
nhận
sứ
điệp
Phúc
Âm.
Và
công
cuộc
chuẩn
bị
này
có
thể
được
thấm
nhuần
nhờ
tình
yêu
thần
linh
của
Ðấng
đã
đến
để
cứu
chuộc
thế
gian.
58.
Liên
hệ
đa
diện
giữa
Phúc
Âm
của
Chúa
Kitô
và
văn
hóa
nhân
loại.
Giữa
sứ
điệp
cứu
độ
và
văn
hóa
nhân
loại
có
nhiều
mối
liên
hệ.
Thực
vậy,
khi
tự
mạc
khải
cùng
dân
Ngài
cho
tới
khi
tỏ
mình
đầy
đủ
trong
Chúa
Con
nhập
thể,
Thiên
Chúa
đã
nói
theo
văn
hóa
riêng
của
từng
thời
đại.
Cũng
vậy,
trải
qua
các
thế
kỷ
sống
trong
nhiều
hoàn
cảnh
khác
nhau,
Giáo
Hội
đã
xử
dụng
những
tài
nguyên
của
các
nền
văn
hóa
khác
biệt
để
phổ
biến
và
giải
thích
cho
muôn
dân
sứ
điệp
của
Chúa
Kitô
trong
khi
rao
giảng,
để
tìm
tòi
và
thấu
hiểu
sâu
xa
hơn,
để
diễn
tả
sứ
điệp
ấy
cách
tốt
đẹp
hơn
trong
các
lễ
nghi
phụng
vụ
và
trong
cuộc
sống
muôn
mặt
của
cộng
đoàn
các
tín
hữu.
Nhưng
đồng
thời,
Giáo
Hội
không
bị
ràng
buộc
cách
độc
quyền
và
bất
khả
phân
ly
với
một
chủng
tộc
hay
quốc
gia,
với
một
lối
sống
đặc
thù
hoặc
một
tập
tục
cũ
hay
mới
nào,
vì
Giáo
Hội
được
sai
đến
với
mọi
dân
tộc
thuộc
mọi
nơi
và
mọi
thời.
Trung
thành
với
truyền
thống
riêng
và
đồng
thời
ý
thức
sứ
mệnh
phổ
quát
của
mình,
Giáo
Hội
có
thể
hòa
mình
với
nhiều
hình
thức
văn
hóa
khác
nhau.
Nhờ
đó,
chính
Giáo
Hội
cũng
như
các
nền
văn
hóa
ấy
đều
được
phong
phú
hơn
71*.
Phúc
Âm
của
Chúa
Kitô
không
ngừng
đổi
mới
cuộc
sống
và
văn
hóa
của
con
người
đã
sa
ngã,
chống
đối
và
khử
trừ
các
sai
lầm
và
tai
họa
phát
sinh
từ
sức
quyến
rũ
thường
xuyên
của
tội
lỗi
luôn
đe
dọa.
Phúc
Âm
không
ngừng
tinh
luyện
và
nâng
cao
phong
hóa
các
dân
tộc.
Những
đức
tính
của
mọi
thời
như
được
Phúc
Âm
làm
cho
phong
phú
từ
bên
trong,
được
củng
cố,
bổ
túc
và
tái
tạo
trong
Chúa
Kitô
6
nhờ
những
ân
huệ
bởi
trời.
Như
thế,
trong
khi
chu
toàn
bổn
phận
riêng
7,
Giáo
Hội
cũng
đồng
thời
thúc
đẩy
và
góp
phần
vào
công
cuộc
phát
triển
văn
hóa
nhân
loại,
và
nhờ
hoạt
động
của
mình,
ngay
cả
trong
các
nghi
lễ
phụng
vụ,
Giáo
Hội
giáo
dục
cho
con
người
đạt
tới
tự
do
nội
tâm.
59.
Hợp
tác
các
giá
trị
trong
những
hình
thức
văn
hóa
nhân
loại.
Vì
những
lý
do
đã
trình
bày,
Giáo
Hội
nhắc
nhủ
mọi
người:
văn
hóa
phải
nhằm
đạt
sự
hoàn
hảo
toàn
diện
của
nhân
vị,
lợi
ích
của
cộng
đoàn
và
của
toàn
thể
xã
hội
nhân
loại.
Do
đó,
phải
tôi
luyện
tâm
hồn
làm
sao
để
phát
triển
khả
năng
tuân
phục,
thấu
triệt,
chiêm
ngưỡng,
phán
đoán
riêng
tư,
lại
phải
có
thể
phát
huy
ý
thức
tôn
giáo,
luân
lý
cũng
như
xã
hội.
Thực
vậy,
vì
trực
tiếp
phát
sinh
từ
xã
hội
tính
và
lý
trí
của
con
người
nên
văn
hóa
luôn
cần
được
tự
do
đúng
mức
để
phát
triển,
cũng
như
cần
có
quyền
hợp
pháp
để
hành
động
độc
lập
theo
các
nguyên
tắc
riêng.
Do
đó,
văn
hóa
có
quyền
được
tôn
trọng
và
được
hưởng
một
quyền
bất
khả
xâm
phạm
nào
đó,
dĩ
nhiên
vẫn
phải
duy
trì
quyền
lợi
cá
nhân
và
cộng
đoàn
hoặc
riêng
biệt
hoặc
phổ
quát,
trong
giới
hạn
của
công
ích.
Thánh
Công
Ðồng
lập
lại
những
điều
Công
Ðồng
Vaticanô
thứ
nhất
đã
dạy,
và
tuyên
bố
rằng:
"Có
hai
lãnh
vực
trí
thức"
khác
nhau,
lãnh
vực
đức
tin
và
lãnh
vực
lý
trí;
Giáo
Hội
không
cấm
"các
kỹ
thuật
và
các
bộ
môn
văn
hóa
nhân
loại
dùng
những
nguyên
lý
và
phương
pháp
riêng
trong
phạm
vi
của
mình";
do
đó,
Giáo
Hội
"nhìn
nhận
sự
tự
do
chính
đáng
này",
và
xác
nhận
sự
tự
trị
hợp
pháp
của
văn
hóa,
nhất
là
các
khoa
học
8.
Tất
cả
những
điều
vừa
trình
bày
cũng
đòi
hỏi
cho
con
người
có
thể
tự
do
đi
tìm
chân
lý,
phát
biểu,
phổ
biến
ý
kiến
mình
và
được
tự
do
hành
nghề
tùy
sở
thích,
miễn
là
tôn
trọng
công
ích
và
trật
tự
luân
lý;
sau
hết,
những
điều
ấy
cũng
đòi
cho
con
người
phải
được
thông
tin
chính
xác
về
những
biến
cố
xảy
ra
thuộc
đời
sống
công
cộng
9.
Bổn
phận
của
công
quyền
không
phải
là
quy
định
một
hình
thức
văn
hóa
nhân
loại
đặc
thù
nào,
nhưng
là
tạo
những
điều
kiện
và
phương
tiện
thuận
lợi
để
phát
triển
đời
sống
văn
hóa
trong
toàn
thể
dân
chúng,
cả
trong
những
thành
phần
thiểu
số
của
quốc
gia
10.
Do
đó,
phải
hết
sức
tránh
sao
để
văn
hóa
khỏi
bị
sai
lạc
mục
đích
cá
biệt
của
mình
và
khỏi
bị
cưỡng
ép
làm
công
cụ
cho
các
thế
lực
chính
trị
hay
kinh
tế.
Ðoạn
3:
Một
Vài
Bổn
Phận
Cấp
Bách
Của
Kitô
Hữu
Ðối
Với
Văn
Hóa
60.
Phải
nhìn
nhận
và
thực
thi
quyền
thụ
hưởng
văn
hóa
của
mọi
người.
Vì
ngày
nay,
con
người
có
đủ
khả
năng
giải
thoát
một
phần
lớn
nhân
loại
khỏi
nạn
ngu
dốt,
nên
bổn
phận
thích
đáng
nhất
của
thời
đại
này,
nhất
là
đối
với
các
Kitô
hữu,
trong
lãnh
vực
kinh
tế
cũng
như
chính
trị,
trong
phạm
vi
quốc
gia
cũng
như
quốc
tế,
là
đem
hết
nỗ
lực
để
khẳng
định
những
nguyên
tắc
căn
bản
bắt
buộc
mọi
người
phải
thừa
nhận
và
thực
thi
quyền
hưởng
thụ
văn
hóa
của
mọi
người
trên
thế
giới,
vì
đó
là
quyền
phù
hợp
với
phẩm
giá
con
người,
không
phân
biệt
chủng
tộc,
nam
nữ,
quốc
gia,
tôn
giáo
và
giai
cấp
xã
hội.
Do
đó,
phải
làm
sao
cho
mỗi
người
có
được
một
số
vốn
liếng
văn
hóa
đầy
đủ,
nhâᴠlà
văn
hóa
căn
bản,
để
một
số
lớn
nhân
loại
không
còn
mù
chữ
hay
thiếu
sáng
kiến
trách
nhiệm
mà
không
thể
cộng
tác
vào
lợi
ích
chung
đúng
với
danh
nghĩa
con
người.
Bởi
thế,
phải
gắng
sức
làm
cho
những
người
có
khả
năng
được
theo
học
các
bậc
cao
đẳng;
và
nếu
có
thể
được,
liệu
cho
họ
đạt
được
những
chức
vụ
và
giữ
những
vai
trò
mà
họ
có
thể
phục
vụ
trong
xã
hội
tùy
theo
sở
trường
và
năng
khiếu
họ
đã
thâu
thập
được
11.
Như
thế,
mọi
người
và
mọi
tầng
lớp
xã
hội
thuộc
mọi
dân
tộc
đều
có
thể
phát
triển
trọn
vẹn
đời
sống
văn
hóa
phù
hợp
với
tài
năng
và
truyền
thống
của
mình.
Hơn
nữa,
cũng
cần
cổ
động
cho
mọi
người
ý
thức
về
quyền
thụ
hưởng
văn
hóa
cùng
bổn
phận
trau
luyện
bản
thân
và
hỗ
trợ
người
khác.
Dĩ
nhiên,
đôi
khi
vốn
còn
có
những
hoàn
cảnh
sinh
sống
và
làm
việc
cản
trở
các
cố
gắng
phát
huy
văn
hóa
và
làm
cùn
nhụt
nghị
lực
của
con
người;
nhưng
đặc
biệt,
đối
với
nông
dân
và
thợ
thuyền,
cần
phải
đem
lại
cho
họ
những
điều
kiện
thực
hành
công
việc
của
họ,
để
khuyến
khích
họ
hơn
là
ngăn
cản
họ
trao
đổi
văn
hóa.
Nữ
giới
đã
tham
gia
vào
hầu
hết
mọi
ngành
sinh
hoạt,
nên
cũng
phải
liệu
cho
họ
đảm
trách
toàn
vẹn
những
chức
vụ
phù
hợp
với
khả
năng
riêng
của
họ.
Bổn
phận
của
tất
cả
mọi
người
là
thừa
nhận
và
cổ
võ
sự
tham
gia
đặc
biệt
và
cần
thiết
của
nữ
giới
trong
sinh
hoạt
văn
hóa
72*.
61.
Giáo
dục
văn
hóa
toàn
diện
cho
con
người.
Ngày
nay,
tổng
hợp
được
các
kiến
thức
thuộc
mọi
môn,
mọi
ngành
là
một
việc
khó
hơn
bao
giờ
hết.
Thực
thế,
càng
ngày
các
yếu
tố
cấu
tạo
văn
hóa
càng
gia
tăng
và
khác
biệt,
trong
khi
đó,
nơi
mỗi
người,
khả
năng
thâu
nhận
và
tổng
hợp
các
yếu
tố
ấy
lại
suy
giảm,
đến
nỗi
hình
ảnh
"con
người
bách
khoa"
mờ
dần.
Tuy
nhiên,
mỗi
người
đều
còn
có
bổn
phận
bảo
tồn
nhân
vị
toàn
diện
của
mình,
với
những
giá
trị
trổi
vượt
của
trí
tuệ,
ý
chí,
lương
tri
và
tình
huynh
đệ.
Tất
cả
những
giá
trị
này
đều
do
Thiên
Chúa
tạo
dựng,
được
sửa
trị
và
nâng
cao
một
cách
kỳ
diệu
trong
Chúa
Kitô
73*.
Trước
tiên,
gia
đình
như
một
người
mẹ
và
người
vú
của
nền
giáo
dục
này,
bởi
vì
trong
gia
đình,
con
cái
được
tình
yêu
ấp
ủ
sẽ
khám
phá
ra
các
bậc
thang
giá
trị
một
cách
dễ
dàng
hơn,
đồng
thời
càng
lớn,
những
người
trẻ
càng
như
tự
nhiên
thấm
nhuần
những
khuôn
mẫu
văn
hóa
khác
biệt
sẵn
có.
Xã
hội
ngày
nay
cũng
có
những
phương
tiện
thích
hợp
cho
công
cuộc
giáo
dục
này.
Nhất
là
nhờ
việc
phổ
biến
sách
báo
càng
ngày
càng
lan
rộng
và
những
phương
tiện
truyền
thông
văn
hóa
xã
hội
mà
văn
hóa
được
phổ
biến
dễ
dàng.
Thực
thế,
nhờ
giảm
bớt
phần
nào
thời
giờ
làm
việc,
nhiều
người
sẽ
có
dịp
để
trau
giồi
văn
hóa.
Do
đó,
phải
biết
dùng
thời
giờ
nhàn
rỗi
để
bổ
dưỡng
tâm
trí
và
thể
xác,
như
giải
trí
lành
mạnh,
học
hỏi;
du
lịch
những
miền
xa
lạ
sẽ
giúp
cho
trí
óc
mở
mang,
và
nhờ
hiểu
biết
lẫn
nhau
con
người
được
thêm
phong
phú;
thể
dục
và
các
hoạt
động
thể
thao
giúp
chúng
ta
giữ
được
quân
bình
trong
tâm
hồn
của
mỗi
cá
nhân
cũng
như
của
xã
hội,
và
giúp
chúng
ta
thiết
lập
được
các
mối
bang
giao
huynh
đệ
giữa
mọi
người
không
phân
biệt
giai
cấp,
quốc
gia
hay
chủng
tộc.
Vì
thế,
các
Kitô
hữu
phải
cộng
tác
vào
việc
đem
tinh
thần
nhân
bản
và
Kitô
giáo
thấm
nhuần
các
sinh
hoạt
văn
hóa
tập
thể,
là
những
sinh
hoạt
đặc
biệt
của
thời
đại
chúng
ta.
Tuy
nhiên,
những
phương
tiện
trên
sẽ
không
đem
lại
một
nền
giáo
dục
văn
hóa
toàn
diện
cho
con
người
nếu
đồng
thời
con
người
không
tìm
hiểu
ý
nghĩa
sâu
xa
của
văn
hóa
và
khoa
học
đối
với
con
người.
62.
Phối
hợp
văn
hóa
nhân
loại
với
Kitô
giáo.
Mặc
dù
Giáo
Hội
đã
đóng
góp
nhiều
vào
sự
phát
triển
văn
hóa,
tuy
nhiên
kinh
nghiệm
cho
thấy,
vì
những
lý
do
nhất
thời
mà
sự
phối
hợp
giữa
văn
hóa
và
Kitô
giáo
không
phải
lúc
nào
cũng
diễn
tiến
mà
không
gặp
trở
ngại.
Những
trở
ngại
này
không
nhất
thiết
làm
tổn
thương
đời
sống
đức
tin,
trái
lại,
còn
có
thể
thúc
đẩy
lý
trí
tìm
hiểu
đức
tin
một
cách
chính
xác
và
sâu
rộng
hơn.
Thực
thế,
những
cuộc
nghiên
cứu
và
những
phát
sinh
gần
đây
của
khoa
học
cũng
như
của
sử
học
và
triết
học
khơi
lên
những
vấn
đề
mới
liên
hệ
đến
chính
cuộc
sống.
Chúng
đòi
hỏi
các
nhà
thần
học
vẫn
phải
tìm
tòi
những
nghiên
cứu
mới
nữa.
Do
đó,
khi
trung
thành
với
những
phương
pháp
và
đòi
hỏi
riêng
biệt
của
khoa
thần
học,
các
nhà
thần
học
được
mời
gọi
luôn
tìm
kiếm
một
phương
thức
thích
ứng
hơn
để
truyền
thông
giáo
lý
cho
người
đương
thời:
vì
một
đàng
là
kho
tàng
đức
tin
các
chân
lý,
một
đàng
là
phương
thức
diễn
đạt
kho
tàng
đó
miễn
sao
giữ
vững
đúng
ý
nghĩa
và
nội
dung
12.
Trong
phạm
vi
mục
vụ,
phải
thấu
triệt
và
áp
dụng
không
những
các
nguyên
tắc
thần
học,
nhưng
cả
những
phát
minh
của
các
khoa
học
"đời",
nhất
là
khoa
tâm
lý
và
xã
hội
học.
Như
thế,
các
tín
hữu
cũng
sẽ
nuôi
dưỡng
được
một
đời
sống
đức
tin
tinh
ròng
và
trưởng
thành
hơn.
Văn
chương
và
nghệ
thuật
cũng
theo
thể
cách
riêng
mà
giữ
một
vai
trò
quan
trọng
trong
đời
sống
Giáo
Hội.
Thực
thế,
văn
chương
và
nghệ
thuật
tìm
cách
diễn
tả
đặc
tính
riêng
của
con
người
cũng
như
các
vấn
đề
và
kinh
nghiệm
của
con
người
trong
nỗ
lực
nhận
biết
và
hoàn
thiện
chính
mình
cũng
như
cả
thế
giới;
văn
chương
và
nghệ
thuật
cũng
cố
gắng
khám
phá
vị
trí
của
con
người
trong
lịch
sử
và
vũ
trụ,
phơi
bày
những
đau
khổ
và
vui
mừng,
những
nhu
cầu
và
nghị
lực
của
con
người,
lại
cố
gắng
phác
họa
một
vận
hội
khả
quan
hơn
cho
con
người.
Như
thế,
văn
chương
và
nghệ
thuật
có
thể
nâng
cao
đời
sống
nhân
loại,
được
diễn
tả
dưới
nhiều
hình
thức,
tùy
từng
thời
và
từng
miền
khác
nhau.
Vậy
nên,
cần
phải
làm
sao
để
các
văn
nghệ
sĩ
cảm
thấy
rằng
Giáo
Hội
đang
lưu
tâm
đến
hoạt
động
của
họ
và
một
khi
được
hưởng
tự
do
đúng
mức,
họ
có
thể
trao
đổi
với
cộng
đoàn
Kitô
hữu
dễ
dàng
hơn.
Giáo
Hội
cũng
phải
công
nhận
những
hình
thức
nghệ
thuật
mới,
thích
hợp
với
thời
đại
chúng
ta,
tùy
theo
bản
chất
của
từng
dân
tộc,
từng
địa
phương.
Cũng
nên
đem
vào
nơi
phượng
tự
những
hình
thức
mới
này,
một
khi
với
lối
diễn
tả
thích
nghi
và
phù
hợp
với
phụng
vụ,
chúng
giúp
con
người
nâng
tâm
hồn
lên
cùng
Thiên
Chúa
13.
Như
thế,
danh
Chúa
được
biểu
dương,
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
trở
thành
dễ
hiểu
hơn,
và
như
hàm
chứa
sẵn
trong
cảnh
sống
của
con
người.
Bởi
vậy,
các
tín
hữu
phải
sống
liên
kết
hết
sức
chặt
chẽ
với
những
người
đương
thời
và
để
tâm
tìm
hiểu
tường
tận
lối
suy
tư
và
cảm
nghĩ
đã
được
diễn
tả
qua
những
tinh
hoa
văn
hóa
riêng
của
họ.
Các
tín
hữu
phải
phối
hợp
những
kiến
thức
khoa
học
và
học
thuyết
mới
cũng
như
những
phát
minh
mới
mẻ
với
nền
luân
lý
và
giáo
lý
Kitô
giáo.
Nhờ
đó,
đời
sống
đạo
và
tâm
hồn
chính
trực
của
họ
lớn
lên
song
hành
với
kiến
thức
khoa
học
và
kỹ
thuật
mỗi
ngày
một
tiến
bộ.
Như
vậy,
họ
có
thể
nhận
định
và
giải
thích
mọi
sự
với
lối
cảm
nghĩ
hoàn
toàn
Kitô
giáo.
Những
vị
chuyên
khoa
thần
học
trong
các
Chủng
Viện
và
Ðại
Học
nên
cố
gắng
đem
năng
lực
và
quan
điểm
cộng
tác
với
những
người
am
tường
các
khoa
học
khác.
Ðồng
thời,
công
cuộc
nghiên
cứu
thần
học
nhằm
đào
sâu
chân
lý
mạc
khải
không
được
khinh
thường
mối
liên
hệ
của
thần
học
đối
với
thời
đại
của
mình.
Có
vậy,
các
nhà
thần
học
mới
có
thể
giúp
những
nhà
chuyên
môn
trong
các
bộ
môn
khác
hiểu
biết
đức
tin
đầy
đủ
hơn.
Những
công
cuộc
hợp
tác
này
sẽ
giúp
ích
nhiều
cho
việc
đào
tạo
các
thừa
tác
viên
có
chức
vụ
thánh.
Họ
có
thể
dẫn
giải
giáo
lý
về
Thiên
Chúa,
về
con
người
và
thế
giới
một
cách
thích
hợp
với
thời
đại
chúng
ta
hơn;
nhờ
đó,
lời
họ
giảng
cũng
được
đón
nhận
dễ
dàng
hơn
14.
Mong
cho
có
nhiều
giáo
dân
được
huấn
luyện
thích
đáng
về
các
khoa
học
thánh,
và
ước
sao
một
số
chuyên
tâm
học
hỏi
và
đào
sâu
những
môn
học
này.
Tuy
nhiên,
để
họ
có
thể
làm
tròn
bổn
phận
của
mình,
cần
phải
thừa
nhận
cho
tín
hữu
hoặc
giáo
sĩ
hoặc
giáo
dân
một
sự
tự
do
đầy
đủ
để
nghiên
cứu,
suy
tư,
cũng
như
để
khiêm
tốn
và
can
đảm
trình
bày
quan
điểm
trong
lãnh
vực
chuyên
môn
của
họ
15.
74*
Chú
Thích:
65*
Văn
hóa
giúp
con
người
phát
triển
(số
53a),
vậy
văn
hóa
là
thế
nào?
(b).
Có
thể
có
nhiều
hình
thức
theo
lịch
sử
và
xã
hội
cũng
như
theo
xã
hội
học
và
nhân
chủng
học
(c).
1)
Thực
trạng
của
văn
hóa
hiện
tại:
Văn
hóa
được
đổi
mới
và
quốc
tế
hóa
do
ảnh
hưởng
khoa
học
gây
nên
(số
54).
Ðồng
thời
con
người
ý
thức
về
quyền
tự
trị
và
về
trách
nhiệm
trong
lãnh
vực
văn
hóa
(số
55).
Ðàng
khác
con
người
cũng
nhận
thấy
nhiều
xung
đột
(số
56a);
giữa
văn
hóa
do
ảnh
hưởng
khoa
học
gây
nên
(số
54).
Ðồng
thời
con
người
ý
thức
về
quyền
tự
trị
và
về
trách
nhiệm
trong
lãnh
vực
văn
hóa
(số
55).
Ðàng
khác
con
người
cũng
nhận
thấy
nhiều
xung
đột
(số
56a);
giữa
văn
hóa
mới
và
nếp
sống
cũ
của
các
cộng
đoàn
(b),
giữa
sự
phát
triển
và
thông
truyền
(c),
giữa
sự
học
biết
càng
ngày
càng
nhiều
và
quan
niệm
tổng
quát
cần
thiết
(d),
giữa
văn
hóa
ngày
một
phức
tạp
và
việc
quần
chúng
phải
tham
dự
vào
văn
hóa
(e),
giữa
quyền
tự
trị
và
đòi
hỏi
tôn
giáo
(f),
dù
vậy
văn
hóa
phải
giúp
con
người
lớn
lên
về
mọi
phương
diện
(g).
2)
Nguyên
tắc
để
phát
triển
văn
hóa:
A)
Ðức
tin
và
văn
hóa:
Ðức
tin
giúp
ta
phát
triển
văn
hóa
(số
57a);
vì
khiến
ta
tự
hoàn
thiện
hóa
và
phục
vụ
đồng
loại
(b),
vì
cổ
võ
sự
chân,
thiện,
mỹ
và
giúp
ta
hiểu
vũ
trụ
hơn
(c).
Văn
hóa
giúp
ta
thờ
phượng
Chúa
và
đón
nhận
đức
tin
(d).
Ðàng
khác
tinh
thần
khoa
học
quá
đáng
có
thể
nguy
hiểm
(e).
Nhưng
ta
không
vì
thế
mà
phủ
nhận
các
giá
trị
của
khoa
học
(f).
B)
Phúc
Âm
và
văn
hóa:
Chúa
đã
dùng
văn
hóa
của
dân
Do
thái
để
tự
tỏ
mình
ra
(số
58a).
Giáo
Hội
đã
dùng
các
nền
văn
hóa
khác
nhau
để
loan
truyền
Phúc
Âm
(b),
và
khi
tiếp
xúc
với
tất
cả
các
nền
văn
hóa
ấy
thì
đã
mưu
ích
cho
nó
cũng
như
cho
mình
(c).
Những
lợi
ích
Phúc
Âm
mang
lại
(d).
C)
Ðiều
kiện
giúp
văn
hóa
phát
triển
để
mưu
ích
cho
con
người
biết
chiêm
ngưỡng
và
phán
đoán
(số
59a)
là
văn
hóa
phải
hưởng
thụ
tự
do
(b).
Giáo
hội
xác
nhận
quyền
tự
do
văn
hóa
(c).
Tự
do
nghiên
cứu,
tự
do
tư
tưởng
và
phát
biểu
ý
kiến,
tự
do
thông
tri
(d).
Vai
trò
của
chính
quyền
(e).
3)
Nhiệm
vụ
của
Kitô
hữu:
Mọi
người
phải
được
hưởng
thụ
văn
hóa
(số
60a),
phải
có
thể
vào
các
Trường
Cao
Ðẳng
(b).
Và
mỗi
người
cũng
có
nhiệm
vụ
về
văn
hóa;
để
lập
nên
điều
kiện
thuận
tiện
cho
mọi
người,
để
giúp
phụ
nữ
đóng
một
vai
trò
trong
xã
hội
(c).
4)
Giáo
dục
là
cần
thiết:
Phải
đề
cao
nhân
vị
(số
61a)
và
sứ
mệnh
gia
đình
(b).
Việc
sử
dụng
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
cũng
như
việc
sử
dụng
các
giờ
rảnh
đều
quan
trọng
(c).
Cần
phải
tìm
hiểu
ý
nghĩa
chính
xác
của
văn
hóa
(d).
5)
Vai
trò
của
Giáo
Hội:
Có
thể
rất
khó
khăn
khi
phát
triển
văn
hóa
và
đồng
thời
gìn
giữ
tinh
thần
Kitô
giáo
(số
62a).
Phần
đóng
góp
của
các
nhà
thần
học
(b),
văn
chương
và
mỹ
thuật
(c).
Lập
trường
của
Giáo
Hội
đối
với
nhà
văn
và
nghệ
sĩ
(d).
Phải
tìm
hiểu
thời
đại
và
điều
hòa
văn
hóa
với
giáo
lý
(e),
đó
là
việc
riêng
của
các
nhà
thần
học
(f).
(Trở
lại
đầu
trang)
66*
Trong
phần
này
Công
Ðồng
nói
về
một
thứ
văn
hóa
"Âu
Mỹ",
của
các
quốc
gia
tiền
tiến.
Nhưng
các
quốc
gia
đang
mở
mang
cũng
hướng
về
thứ
văn
hóa
giống
như
thế
nhờ
sự
kỹ
nghệ
hóa;
đồng
thời
cũng
nhờ
người
trí
thức
trong
các
quốc
gia
đang
mở
mang
hoặc
đã
theo
học
trong
các
học
đường
Âu
Mỹ,
hoặc
đã
theo
học
những
chương
trình
Tây
Phương
tại
các
Viện
Ðại
Học
của
nước
mình.
Bởi
thế,
ước
gì
kinh
nghiệm
của
những
quốc
gia
Âu
Mỹ
có
thể
giúp
đỡ
các
quốc
gia
đang
mở
mang
để
tránh
được
những
khuyết
điểm
mà
văn
hóa
Tây
Phương
đã
không
tránh
khỏi.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Phần
Nhập
Ðề
của
Hiến
Chế
này,
số
4-10.
(Trở
lại
đầu
trang)
67*
Giới
trí
thức
và
lãnh
đạo
ở
các
quốc
gia
đang
mở
mang
có
nhiệm
vụ
rất
lớn
lao
và
khó
nhọc
về
vấn
đề
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
68*
Vấn
đề
này
không
chỉ
có
trong
các
quốc
gia
đang
mở
mang
mà
thôi.
Các
phong
trào
chống
đối
bên
Âu
Mỹ
cũng
đe
dọa
những
giá
trị
truyền
thống.
(Trở
lại
đầu
trang)
69*
Một
cách
tóm
tắt
và
thực
tế,
trong
việc
phát
triển
văn
hóa
chúng
ta
phải
làm
sao
để
điều
hòa
mọi
giá
trị:
để
duy
trì
sự
quân
bình
giữa
các
điều
cũ
và
điều
mới,
giữa
lý
trí
và
tình
cảm,
giữa
trí
óc
khoa
học
và
trí
óc
chiêm
ngưỡng
thiên
nhiên,
thưởng
thức
văn
chương
và
mỹ
thuật.
Phải
làm
sao
để
giúp
đỡ
mỗi
cá
nhân
và
các
dân
tộc
phát
triển
song
song:
nếu
không,
nhiều
hình
thức
nô
lệ
mới
có
thể
xuất
hiện:
chẳng
hạn
sự
nô
lệ
kinh
tế
và
văn
hóa
của
cả
một
quốc
gia.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Col
3,1-2.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Stk
1,
28.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Cn
8,
30-31.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
T.
Ireneô,
Adv
Haer.
III,
11,
8:
x.b.
Sagnard,
trg
200;
Xem
n.v.t.,
16,
6:
trg
290-292;
21,
10-22:
trg
370-372;
22,
3:
trg
378;
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
70*
Hiện
tượng
luận
chủ
trương
rằng
ta
phải
đánh
giá
các
hiện
tượng
mà
không
cần
tìm
đến
những
thực
thể
siêu
việt.
Ví
dụ:
trong
cơn
khủng
hoảng
đối
với
quyền
bính
trong
Giáo
Hội
hay
trong
xã
hội,
chúng
ta
không
cần
dựa
trên
bất
cứ
nguyên
tắc
lý
thuyết
nào,
mà
phải
chấp
nhận
những
thực
tại
mới,
thích
hợp
với
các
hiện
tượng
xảy
ra.
"Bất
khả
tri
luận"
chủ
trương
rằng
trí
con
người
thiếu
khả
năng
để
hiểu
biết
các
thực
tại
siêu
hình.
Nhiều
khi
đó
chỉ
là
một
lập
trường
trong
thực
tế.
Khoa
học
có
thể
đưa
tới
chủ
trương
ấy,
không
phải
vì
bản
tính
đòi
hỏi
như
vậy,
nhưng
chỉ
vì
người
ta
muốn
xét
tới
tất
cả
mọi
vấn
đề
dựa
trên
những
phương
pháp
thí
nghiệm
và
thực
tế
của
khoa
học.
(Trở
lại
đầu
trang)
71*
Ðoạn
trên
đã
được
hàng
trăm
các
Ðức
Giám
Mục
Á
Phi
và
Nam
Mỹ
xác
nhận.
Có
lẽ
nhiều
giáo
dân
thuộc
giới
trí
thức
(ở
Việt
Nam
cũng
như
ở
nhiều
nơi
khác)
có
cảm
tưởng
rằng
mấy
đoạn
đó
hợp
với
lý
tưởng
của
Giáo
Hội
hơn
là
hợp
với
lịch
sử.
Quả
quyết
rằng
Giáo
Hội
đã
dùng
những
kho
tàng
của
các
nền
văn
hóa
khác
nhau
để
giảng
dạy
và
diễn
tả
Phúc
Âm
trong
Phụng
Vụ
mà
không
hề
cấu
kết
với
một
dân
tộc
hay
phong
tục
dân
tộc
nào...
phải
chăng
hơi
có
tính
cách
tự
đắc
huênh
hoang
quá
đáng?
(Ví
dụ,
hơn
ba
thế
kỷ,
ở
Việt
Nam
vẫn
cử
hành
Phụng
Vụ
bằng
tiếng
Latinh
và
theo
đúng
như
các
nghi
thức
Roma).
Dù
ta
cảm
thấy
Giáo
Hội
đã
thực
hiện
một
thứ
thực
dân
tôn
giáo
và
do
đó
trái
với
nguyên
tắc
tốt
đẹp
này
(ở
đây
không
cần
nói
đến
vấn
đề
Giáo
Hội
có
giúp
đỡ
cho
thực
dân
chính
trị
hay
không,
vì
có
thể
phức
tạp
hơn),
nhưng
nguyên
tắc
của
Công
Ðồng
đã
rõ
ràng.
Ta
phải
làm
sao
để
con
cháu
ta
không
thể
tố
cáo
được
rằng
chúng
ta
đã
không
làm
gì
để
thực
hiện
nguyên
tắc
đó
trong
thực
tế.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Eph
1,
10.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
lời
Ðức
Piô
XI
nói
với
ÐGM
Roland-Gosselin:
"Ðừng
bao
giờ
quên
rằng
mục
tiêu
Giáo
Hội
nhằm
là
truyền
bá
Phúc
Âm
chứ
không
phải
truyền
bá
văn
minh.
Nếu
Giáo
Hội
truyền
bá
văn
minh,
thì
qua
việc
truyền
bá
Phúc
Âm"
(Semaines
sociales
de
France,
Versailles,
1963,
trg
461-462).
(Trở
lại
đầu
trang)
8
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
công
giáo
Dei
Filius,
ch.
IV:
Dz
1695,
1799
(3015-3019).
-
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
190.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
260.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
283.
-
Piô
XII,
sứ
điệp
truyền
thanh
24-12-1941:
AAS
34
(1942),
trg
16-17.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
260.
(Trở
lại
đầu
trang)
72*
Với
chế
độ
dân
chủ,
nữ
giới
bắt
đầu
đòi
bình
quyền
với
nam
giới.
Phong
trào
thoát
ly
hoàn
toàn
của
nữ
giới:
về
phương
diện
sinh
vật
học
(không
làm
nô
lệ
cho
hôn
nhân
và
việc
sinh
nở),
về
kinh
tế
(có
toàn
quyền
bất
chấp
ý
kiến
của
người
chồng),
về
xã
hội
(hình
thức
đàn
bà
nội
trợ
phải
biến
đi).
Phong
trào
này
một
khi
có
tính
cách
tuyệt
đối
đến
nỗi
bỏ
quên
sự
khác
biệt
giữa
hai
giới
nam
và
nữ
không
những
về
sinh
vật
lý
mà
còn
về
tâm
lý,
lúc
ấy
nó
trái
ngược
với
chính
phẩm
giá
của
phụ
nữ
và
làm
hại
cho
gia
đình,
xã
hội.
Công
đồng
đã
nhấn
mạnh
sự
bình
đẳng
về
nhân
quyền
căn
bản
(số
29b)
và
ở
đây
không
những
chấp
nhận
sự
thoát
ly
xã
hội
(về
việc
làm
thích
hợp
với
tài
năng
của
họ)
mà
còn
dạy
mọi
người
phải
cộng
tác
để
phụ
nữ
góp
phần
riêng
và
cần
thiết
trong
lãnh
vực
văn
hóa.
Lãnh
vực
văn
hóa
cũng
bao
gồm
hoạt
động
chính
trị!
Ðức
Giáo
Hoàng
Piô
XII
đã
nhắc
lại
rằng
ơn
thiên
triệu
chính
của
đàn
bà
cốt
tại
việc
làm
mẹ
(cũng
có
thể
mang
ý
nghĩa
thiêng
liêng).
Công
việc
ở
ngoài
gia
đình
có
thể
ngăn
cản
họ
trong
việc
nuôi
nấng,
giáo
dục
con
cái
và
sống
đầm
ấm
với
chồng.
Ðàng
khác
hoạt
động
xã
hội
của
phụ
nữ
nhiều
khi
cần
thiết
vì
ích
chung
(ví
dụ
để
bảo
vệ
hay
cổ
võ
ích
lợi
của
gia
đình)
và
phẩm
giá
của
giới
phụ
nữ
cũng
đòi
hỏi
họ
góp
phần
vào
ích
lợi
chung.
Ðặc
biệt
những
phụ
nữ
không
chồng
không
con,
có
thể
dấn
thân
để
thực
hành
nhiều
công
việc
xã
hội
và
chính
trị
nữa
(15-8-1945:
AAS
37,
288
và
21-10-1945:
AAS
37).
(Trở
lại
đầu
trang)
73*
Ngày
nay
sự
sai
biệt
giữa
người
học
thức
và
kẻ
dốt
nát
ở
trong
một
dân
tộc
nào
đó
thật
đáng
sợ,
nhưng
sự
sai
biệt
nơi
một
cá
nhân
giữa
sự
học
biết
thật
cao
trong
một
lãnh
vực
và
sự
dốt
nát
hoàn
toàn
về
phương
diện
khác
của
văn
hóa,
điều
đó
lại
càng
đáng
sợ
hơn
nữa!
Nếu
trong
lãnh
vực
lý
học,
toán
học,
y
học,
v.v...
thực
có
uy
thế,
nhưng
đồng
thời
lại
chẳng
hiểu
gì
về
văn
chương...
hay
về
tôn
giáo,
thì
như
vậy
con
người
đã
không
phát
triển
các
điều
hòa.
Phải
phát
triển
các
khả
năng:
trí
tuệ,
ý
chí,
ký
ức,
sức
tưởng
tượng
tình
cảm,
lương
tri...
một
cách
quân
bình.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Gioan
XXIII,
Diễn
văn
khai
mạc
Công
Ðồng,
11-10-1962:
AAS
54
(1962),
trg
792.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
Sacrosanctum
Concilium,
số
123:
AAS
56
(1964),
trg
134.
-
Phaolô
VI,
Discorso
agli
artisti
romani,
7-5-1964:
56
(1964),
trg
439-442.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Ðào
Tạo
Linh
Mục
Optatam
totius
và
Tuyên
Ngông
về
Giáo
Dục
Kitô
Giáo
Gravissimum
educationis.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
CÐ
Vat.
I
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
IV,
số
37:
A
AS
57
(1965),
trg
42-43.
(Trở
lại
đầu
trang)
74*
Trong
số
này
Công
Ðồng
diễn
tả
lại
thái
độ
của
Giáo
Hội
(thái
độ
Giáo
Hội
muốn
có,
hơn
là
thái
độ
đã
có
qua
lịch
sử)
đối
với
tất
cả
các
biểu
hiện
của
văn
hóa
(Công
Ðồng
nhắc
lại
thần
học,
văn
chương
và
mỹ
thuật
như
là
ví
dụ).
Ðó
là
thái
độ
thiện
cảm
biết
khám
phá
những
giá
trị
tích
cực
hơn
là
chỉ
để
ý
đến
những
khó
khăn
và
mối
nguy
hại;
thái
độ
muốn
dự
phần
và
thấu
hiểu
để
nhận
thấy
những
khía
cạnh
văn
hóa
thích
hợp
với
giáo
lý
thế
nào;
thái
độ
đối
thoại
trong
bầu
không
khí
tự
do,
loại
bỏ
lòng
nghi
ngờ
đối
với
những
ai
chuyên
môn
về
nghiên
cứu
(đặc
biệt
trong
lãnh
vực
thần
học).
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II