VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Phần
Thứ
Hai
Một
Số
Vấn
Ðề
Khẩn
Thiết
46.
Lời
mở
đầu.
Sau
khi
trình
bày
về
phẩm
giá
nhân
vị
cũng
như
về
một
số
bổn
phận
cá
nhân
hay
xã
hội
mà
con
người
được
gọi
để
chu
toàn
trong
vũ
trụ,
nay
Công
Ðồng,
với
ánh
sáng
Phúc
Âm
và
kinh
nghiệm
nhân
loại,
lưu
ý
mọi
người
về
một
số
nhu
cầu
khẩn
thiết
của
thời
đại
này,
và
là
những
nhu
cầu
đang
ảnh
hưởng
rất
nhiều
đến
nhân
loại.
Giữa
nhiều
vấn
đề
làm
cho
mọi
người
ngày
nay
quan
tâm,
nên
ghi
nhận
trước
hết
những
điểm
sau
đây:
hôn
nhân
và
gia
đình,
văn
hóa
nhân
loại,
đời
sống
kinh
tế
xã
hội
và
chính
trị,
hòa
bình
và
sự
liên
đới
gia
đình
các
dân
tộc.
Cần
phải
dùng
những
nguyên
tắc
và
ánh
sáng
bắt
nguồn
từ
Chúa
Kitô
chiếu
giãi
từng
vấn
đề
này,
để
những
nguyên
tắc
và
ánh
sáng
đó
hướng
dẫn
các
Kitô
hữu
và
soi
sáng
mọi
người
trong
công
cuộc
kiếm
tìm
giải
pháp
cho
biết
bao
vấn
đề
phức
tạp
nêu
trên.
Chương
I
Phải
Ðề
Cao
Phẩm
Giá
Của
Hôn
Nhân
Và
Gia
Ðình
51*
47.
Hôn
nhân
và
gia
đình
trong
thế
giới
ngày
nay.
Sự
lành
mạnh
của
con
người
cũng
như
xã
hội
nhân
loại
và
Kitô
giáo
liên
kết
chặt
chẽ
với
tình
trạng
tốt
đẹp
của
cộng
đoàn
hôn
nhân
và
gia
đình.
Do
đó,
cùng
với
tất
cả
những
ai
tán
dương
các
cộng
đoàn
hôn
nhân
và
gia
đình,
người
Kitô
hữu
thành
thực
vui
mừng
trước
những
trợ
lực
khác
nhau
giúp
con
người
ngày
nay
tiến
tới
trong
việc
cổ
võ
cộng
đoàn
yêu
thương
ấy
cũng
như
trong
sự
tôn
trọng
đời
sống;
những
trợ
lực
ấy
còn
giúp
đỡ
các
đôi
vợ
chồng
và
các
bậc
làm
cha
mẹ
trong
sứ
mệnh
cao
cả
của
họ.
Người
Kitô
hữu
còn
mong
đợi
và
nỗ
lực
thực
hiện
những
thành
quả
tốt
đẹp
hơn.
Nhưng
phẩm
giá
của
định
chế
ấy
không
phải
ở
đâu
cũng
sáng
tỏ
như
nhau,
vì
đã
bị
lu
mờ
bởi
chế
độ
đa
thê,
nạn
ly
dị,
bởi
cái
mà
người
ta
gọi
là
tự
do
luyến
ái,
cùng
những
hình
thức
lệch
lạc
khác.
Hơn
nữa,
tình
yêu
hôn
nhân
rất
thường
bị
hoen
ố
vì
lòng
ích
kỷ,
khoái
lạc
chủ
nghĩa
và
những
lạm
dụng
bất
hợp
pháp
cản
trở
sự
sinh
sản.
Ngoài
ra,
các
hoàn
cảnh
hiện
tại
về
kinh
tế,
xã
hội,
tâm
lý
và
chính
trị
đang
gây
cho
gia
đình
những
xáo
trộn
trầm
trọng.
Sau
hết,
tại
một
vài
nơi
trên
thế
giới,
người
ta
không
khỏi
lo
lắng
nhận
thấy
những
vấn
đề
được
phát
hiện
do
sự
gia
tăng
dân
số.
Tất
cả
những
điều
ấy
đang
làm
khắc
khoải
lương
tâm
con
người
52*.
Tuy
nhiên,
có
một
điều
chứng
tỏ
sức
mạnh
và
sự
bền
vững
của
định
chế
hôn
nhân
và
gia
đình,
đó
là
các
biến
đổi
sâu
xa
của
xã
hội
hiện
tại,
mặc
dù
gây
ra
nhiều
khó
khăn,
nhưng
vẫn
rất
thường
bộc
lộ
bản
chất
đích
thực
của
định
chế
trên
bằng
nhiều
cách.
Bởi
vậy,
bằng
cách
làm
sáng
tỏ
hơn
một
vài
chủ
điểm
trong
giáo
lý
của
Giáo
Hội,
Công
Ðồng
muốn
soi
sáng
và
khích
lệ
người
Kitô
hữu
cũng
như
mọi
người
đang
cố
gắng
bảo
toàn
và
cổ
võ
phẩm
giá
tự
nhiên
cũng
như
giá
trị
thiêng
liêng
cao
cả
của
đời
sống
hôn
nhân.
48.
Sự
thánh
thiện
của
hôn
nhân
và
gia
đình.
Ðấng
Tạo
Hóa
đã
thiết
lập
và
ban
những
định
luật
riêng
cho
đời
sống
chung
thân
mật
và
cho
cộng
đoàn
tình
yêu
vợ
chồng.
Ðời
sống
chung
này
được
gầy
dựng
do
giao
ước
hôn
nhân,
nghĩa
là
sự
ưng
thuận
cá
nhân
không
thể
rút
lại
53*.
Như
thế,
bởi
một
hành
vi
nhân
linh,
trong
đó,
hai
vợ
chồng
tự
hiến
cho
nhau
và
đón
nhận
nhau,
nhờ
sự
an
bài
của
Thiên
Chúa,
phát
sinh
một
định
chế
vững
chắc
có
giá
trị
trước
mặt
xã
hội
nữa.
Vì
lợi
ích
của
lứa
đôi,
của
con
cái
và
của
xã
hội,
nên
sợi
dây
liên
kết
thánh
thiện
này
không
lệ
thuộc
sở
thích
của
con
người.
Chính
Thiên
Chúa
là
Ðấng
tác
tạo
hôn
nhân,
phú
bẩm
những
lợi
ích
và
mục
tiêu
khác
nhau
1;
những
điều
ấy
hết
sức
quan
trọng
đối
với
sự
tiếp
nối
nhân
loại,
sự
phát
triển
cá
nhân
và
phần
rỗi
đời
đời
của
mỗi
thành
phần
trong
gia
đình,
quan
trọng
đối
với
phẩm
giá,
sự
vững
chãi,
an
bình
và
thịnh
vượng
của
chính
gia
đình
và
của
toàn
thể
xã
hội
loài
người.
Tự
bản
chất,
chính
định
chế
hôn
nhân
và
tình
yêu
lứa
đôi
qui
hướng
về
việc
sinh
sản
và
giáo
dục
con
cái
như
chóp
đỉnh
diễm
phúc
của
hôn
nhân.
Như
thế,
bởi
giao
ước
hôn
nhân,
người
nam
và
người
nữ
"không
còn
là
hai,
nhưng
là
một
xương
thịt"
(Mt
19,6),
phục
vụ
và
giúp
đỡ
lẫn
nhau
bằng
sự
kết
hợp
mật
thiết
trong
con
người
và
hành
động
của
họ,
cảm
nghiệm
và
hiểu
được
sự
hiệp
nhất
với
nhau
mỗi
ngày
mỗi
đầy
đủ
hơn.
Sự
liên
kết
mật
thiết
vẫn
là
sự
tự
hiến
của
hai
người
cho
nhau
cũng
như
lợi
ích
của
con
cái
buộc
hai
vợ
chồng
phải
hoàn
toàn
trung
tín
và
đòi
hỏi
kết
hợp
với
nhau
bất
khả
phân
ly
2.
Chúa
Kitô
ban
dồi
dào
ơn
phúc
cho
tình
yêu
muôn
hình
ấy,
một
tình
yêu
phát
xuất
từ
nguồn
mạch
tình
yêu
Thiên
Chúa
và
được
tác
thành
theo
gương
kết
hiệp
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội.
Thực
vậy,
như
xưa
kia
Thiên
Chúa
đến
gặp
gỡ
dân
Ngài
bằng
một
giao
ước
yêu
thương
và
trung
thành
3,
ngày
nay
Ðấng
Cứu
Thế,
Bạn
Trăm
Năm
của
Giáo
Hội
4,
cũng
đến
với
đôi
vợ
chồng
qua
Bí
Tích
Hôn
Phối.
Người
còn
ở
lại
với
họ
để
hai
vợ
chồng
cũng
mãi
mãi
trung
thành
yêu
thương
nhau
bằng
sự
tự
hiến
cho
nhau
như
Người
đã
yêu
thương
Giáo
Hội
và
đã
nộp
mình
vì
Giáo
Hội
5.
Tình
yêu
vợ
chồng
đích
thực
được
kết
nhập
trong
tình
yêu
Thiên
Chúa,
được
hướng
dẫn
và
thêm
phong
phú
nhờ
quyền
năng
cứu
chuộc
của
Chúa
Kitô
và
hoạt
động
cứu
rỗi
của
Giáo
Hội,
để
hai
vợ
chồng
được
dẫn
dắt
cách
hữu
hiệu
đến
cùng
Thiên
Chúa,
cũng
như
được
nâng
đỡ
và
kiện
cường
trong
nhiệm
vụ
cao
cả
làm
cha
mẹ
6.
Bởi
đó,
vợ
chồng
Kitô
hữu
được
củng
cố
và
như
được
thánh
hiến
7
bằng
một
bí
tích
riêng
để
được
lãnh
nhận
các
bổn
phận
và
phẩm
giá
của
bậc
sống
họ;
nhờ
sức
mạnh
của
bí
tích
này,
họ
được
thấm
nhuần
tinh
thần
Chúa
Kitô
mà
chu
toàn
bổn
phận
hôn
nhân
và
gia
đình
của
họ,
nhờ
đó
tất
cả
đời
sống
của
họ
được
thấm
nhuần
đức
tin,
cậy,
mến,
và
càng
ngày
họ
càng
tiến
gần
hơn
tới
sự
trọn
lành
riêng
biệt
của
họ
và
sự
thánh
hóa
lẫn
nhau;
và
bởi
đấy,
cùng
nhau
tôn
vinh
Thiên
Chúa
54*.
Do
đó,
được
cha
mẹ
hướng
dẫn
bằng
gương
sáng
và
kinh
nguyện
gia
đình,
con
cái
và
tất
cả
những
ai
sống
trong
khuôn
khổ
gia
đình
sẽ
gặp
được
con
đường
nhân
ái,
cứu
độ
và
thánh
thiện
dễ
dàng
hơn.
Còn
vợ
chồng
đã
lãnh
nhận
phẩm
giá
và
chức
vụ
làm
cha
mẹ
sẽ
chăm
lo
chu
toàn
bổn
phận
giáo
dục,
nhất
là
về
phương
diện
tôn
giáo
vì
bổn
phận
này
liên
hệ
đến
họ
trước
hết.
Con
cái
là
những
phần
tử
sống
động
trong
gia
đình
nên
cũng
góp
phần
riêng
vào
việc
thánh
hóa
cha
mẹ.
Thực
vậy,
con
cái
sẽ
đáp
lại
công
ơn
cha
mẹ
với
lòng
biết
ơn,
tâm
tình
hiếu
thảo
và
tin
cậy,
và
sẽ
theo
đạo
làm
con
mà
phụng
dưỡng
cha
mẹ
trong
nghịch
cảnh
cũng
như
trong
tuổi
già
cô
quạnh.
Mọi
người
hãy
tôn
trọng
đời
sống
góa
bụa
được
can
đảm
tiếp
nhận
như
một
tiếp
nối
ơn
gọi
hôn
nhân
8.
Các
gia
đình
hãy
quảng
đại
san
sẻ
cho
nhau
những
của
cải
thiêng
liêng.
Như
thế,
mỗi
gia
đình
Kitô
hữu
xuất
phát
từ
hôn
nhân,
một
hôn
nhân
như
là
hình
ảnh
và
nói
lên
sự
tham
dự
giao
ước
yêu
thương
giữa
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
9,
nên
sẽ
biểu
hiện
trước
mặt
mọi
người
sự
hiện
diện
sống
động
của
Ðấng
Cứu
Thế
trong
thế
giới
và
bản
chất
đích
thực
của
Giáo
Hội
qua
tình
yêu,
qua
niềm
quảng
đại
chấp
nhận
sinh
sản
con
cái,
qua
sự
hiệp
nhất
và
trung
tín
của
hai
vợ
chồng
cũng
như
qua
sự
hợp
tác
thân
ái
của
mọi
thành
phần
trong
gia
đình.
49.
Tình
yêu
vợ
chồng.
Lời
Chúa
đã
nhiều
lần
mời
gọi
những
người
sắp
kết
hôn
hãy
nuôi
dưỡng
thời
kỳ
đính
hôn
bằng
một
tình
yêu
trong
sạch
và
những
người
đã
thành
vợ
chồng
hãy
nâng
đỡ
cuộc
sống
lứa
đôi
bằng
một
tình
yêu
không
chia
xẻ
10.
55*
Nhiều
người
hiện
thời
vốn
coi
trọng
tình
yêu
đích
thực
giữa
vợ
chồng,
biểu
hiện
bằng
nhiều
cách
theo
những
tập
tục
lành
mạnh
của
mỗi
thời
đại,
mỗi
dân
tộc.
Tình
yêu
ấy
có
đặc
tính
nhân
linh
cao
cả
vì
từ
một
nhân
vị
hướng
đến
một
nhân
vị
khác
bằng
một
tình
cảm
tự
ý,
do
đó
bao
gồm
hạnh
phúc
toàn
diện
của
con
người.
Nên
tình
vợ
chồng
có
thể
lồng
vào
những
biểu
lộ
của
thể
xác
và
tâm
hồn
một
phẩm
giá
đặc
biệt,
và
khiến
chúng
trở
nên
cao
quí
như
những
yếu
tố
và
dấu
hiệu
đặc
thù
của
tình
yêu
đôi
bạn.
Bởi
một
ơn
huệ
đặc
biệt
của
ơn
sủng
và
của
tình
thương,
Chúa
đã
đoái
thương
chữa
trị,
cải
thiện
và
nâng
cao
tình
yêu
ấy.
Một
tình
yêu
kết
hợp
yếu
tố
nhân
loại
với
yếu
tố
thần
linh
như
thế
phải
thấm
nhuần
cả
đời
sống
và
hướng
dẫn
đôi
vợ
chồng
biết
tự
do
trao
hiến
cho
nhau,
qua
những
tâm
tình
và
cử
chỉ
trìu
mến
11.
Hơn
nữa,
chính
nhờ
những
hành
vi
quảng
đại
của
mình
mà
tình
yêu
giữa
hai
người
được
trọn
vẹn
và
lớn
thêm.
Tình
yêu
vợ
chồng,
do
đó
vượt
xa
xu
hướng
nhục
dục
thuần
túy,
và
xu
hướng
này,
nếu
được
tôn
thờ
một
cách
ích
kỷ,
sẽ
mau
chóng
tan
biến
và
kéo
theo
những
hậu
quả
thảm
hại
56*.
Sự
âu
yếm
trên
được
biểu
lộ
và
hoàn
hảo
cách
đặc
biệt
qua
những
động
tác
riêng
của
hôn
nhân.
Bởi
vậy,
những
hành
vi
thực
hiện
sự
kết
hợp
thân
mật
và
thanh
khiết
của
đôi
vợ
chồng
đều
cao
quí
và
chính
đáng.
Ðược
thi
hành
cách
thực
sự
nhân
linh,
những
hành
vi
ấy
biểu
hiện
và
khích
lệ
sự
trao
hiến
hỗ
tương,
nhờ
đó
hai
người
làm
cho
nhau
thêm
phong
phú
trong
hoan
lạc
và
biết
ơn
57*.
Ðược
bảo
đảm
vì
tín
cẩn
nhau
và
nhất
là
được
chuẩn
y
bởi
bí
tích
của
Chúa
Kitô,
tình
yêu
ấy
trung
thành
bất
khả
phân
ly
giữa
cảnh
đời
thăng
trầm,
và
do
đó
loại
hẳn
mọi
hình
thức
ngoại
tình
và
ly
dị.
Phải
nhìn
nhận
phẩm
giá
cá
nhân
bình
đẳng
giữa
vợ
chồng
trong
tình
tương
ái
trọn
vẹn
để
nhờ
đó,
biểu
hiện
rõ
ràng
tính
cách
duy
nhất
của
hôn
nhân
đã
được
Chúa
xác
nhận.
Ðể
kiên
trì
gánh
vác
những
bổn
phận
của
ơn
gọi
Kitô
giáo
này,
cần
phải
có
một
nhân
đức
phi
thường:
vì
thế,
vợ
chồng
đã
được
ơn
sủng
củng
cố
để
sống
thánh
thiện
sẽ
ân
cần
nuôi
dưỡng
và
cầu
xin
cho
được
một
tình
yêu
vững
bền,
một
tâm
hồn
đại
lượng
và
một
tinh
thần
hy
sinh.
Tình
yêu
vợ
chồng
chân
chính
sẽ
được
quí
trọng
hơn
và
người
ta
sẽ
nghĩ
tưởng
về
hôn
nhân
cách
lành
mạnh
hơn,
nếu
các
vợ
chồng
Kitô
hữu
làm
chứng
rõ
ràng
về
sự
trung
thành
và
hòa
hợp
trong
tình
yêu
cũng
như
trong
niềm
âu
lo
giáo
dục
con
cái,
nếu
họ
góp
công
hoạt
động
trong
việc
chấn
hưng
văn
hóa,
tâm
lý
và
xã
hội,
một
sự
chấn
hưng
cần
thiết
để
đề
cao
hôn
nhân
và
gia
đình.
Phải
biết
hợp
thời
và
hợp
cách
giáo
dục
thanh
thiếu
niên
về
phẩm
giá,
phận
sự
và
hành
vi
thể
hiện
tình
vợ
chồng,
tốt
nhất
là
trong
chính
khung
cảnh
gia
đình.
Nhờ
vậy,
một
khi
đã
được
rèn
luyện
để
giữ
đức
khiết
tịnh,
đến
tuổi
thích
hợp,
chúng
có
thể
từ
thời
đính
hôn
đứng
đắn
tiến
tới
hôn
nhân.
50.
Sự
sinh
sản
trong
hôn
nhân.
Hôn
nhân
và
tình
yêu
vợ
chồng,
tự
bản
tính
qui
hướng
về
sự
sinh
sản
và
giáo
dục
con
cái
58*.
Con
cái
là
ơn
huệ
cao
quí
nhất
của
hôn
nhân
và
là
sự
đóng
góp
lớn
lao
kiến
tạo
hạnh
phúc
của
cha
mẹ.
Thiên
Chúa
đã
phán:
"Ðàn
ông
ở
một
mình
không
tốt"
(Stk
2,18).
Ngài
là
Ðấng
"...từ
buổi
đầu,
đã
dựng
nên
một
người
nam
và
một
người
nữ"
(Mt
19,4);
chính
Ngài
muốn
thông
ban
cho
con
người
cộng
tác
một
phần
đặc
biệt
vào
công
việc
tạo
dựng
của
Ngài,
Ngài
đã
chúc
lành
cho
người
nam
và
người
nữ
rồi
nói:
"Các
ngươi
hãy
tăng
gia,
sinh
sản"
(Stk
1,28).
Do
đó,
việc
thể
hiện
đích
thực
tình
yêu
vợ
chồng
cũng
như
toàn
thể
tổ
chức
đời
sống
gia
đình
phát
sinh
từ
việc
thể
hiện
ấy,
đều
nhằm
giúp
đôi
vợ
chồng
can
đảm
sẵn
sàng
cộng
tác
với
tình
yêu
của
Ðấng
Tạo
Hóa
và
Cứu
Thế,
mặc
dù
không
loại
bỏ
các
mục
đích
khác
của
hôn
nhân.
Nhờ
đời
sống
lứa
đôi,
Ngài
làm
cho
gia
đình
Ngài
ngày
càng
bành
trướng
và
phong
phú
hơn
59*.
Bổn
phận
truyền
sinh
và
giáo
dục
phải
được
coi
là
sứ
mệnh
riêng
biệt
của
vợ
chồng.
Trong
khi
thi
hành
bổn
phận
ấy,
họ
biết
rằng
mình
cộng
tác
với
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
Tạo
Hóa
và
như
trở
thành
những
kẻ
diễn
đạt
tình
yêu
của
Ngài.
Bởi
vậy,
họ
sẽ
chu
toàn
bổn
phận
mình
với
trách
nhiệm
của
con
người
và
của
con
người
Kitô
hữu
60*.
Tôn
trọng,
tuân
phục
Thiên
Chúa,
đồng
tâm
hiệp
lực
với
nhau,
họ
sẽ
tạo
được
cho
mình
một
phán
đoán
ngay
thẳng:
biết
xét
đến
lợi
ích
riêng
của
họ
cũng
như
của
con
cái
đã
sinh
hay
tiên
liệu
sẽ
có,
nhận
định
về
các
hoàn
cảnh
vật
chất
hay
tinh
thần
của
thời
đại
và
bậc
sống,
sau
hết
biết
nghĩ
đến
lợi
ích
của
gia
đình,
của
xã
hội
trần
gian
và
của
chính
Giáo
Hội.
Sự
phán
đoán
ấy,
sau
cùng
chính
đôi
vợ
chồng
phải
chọn
lựa
lấy
trước
mặt
Thiên
Chúa.
Trong
cách
thế
hành
động,
vợ
chồng
Kitô
hữu
hãy
ý
thức
là
mình
không
thể
làm
theo
sở
thích,
nhưng
phải
luôn
luôn
tuân
theo
tiếng
nói
của
một
lương
tâm
phải
được
khuôn
đúc
theo
luật
Chúa,
hãy
vâng
phục
Giáo
huấn
của
Giáo
Hội,
vì
Giáo
Hội
có
thẩm
quyền
giải
thích
luật
Chúa
dưới
ánh
sáng
Phúc
Âm.
Luật
Chúa
tỏ
rõ
ý
nghĩa
đầy
đủ
của
tình
vợ
chồng,
bảo
vệ
và
khích
lệ
mối
tình
ấy
đến
mức
hoàn
thiện
trên
bình
diện
đích
thực
nhân
loại.
Bởi
thế
mà
các
vợ
chồng
Kitô
hữu
tôn
vinh
Ðấng
Tạo
Hóa
và
tiến
tới
sự
hoàn
thiện
trong
Chúa
Kitô,
trong
khi
tin
tưởng
vào
Chúa
Quan
Phòng
và
trau
dồi
tinh
thần
hy
sinh
12,
để
chu
toàn
bổn
phận
sinh
sản
cách
quảng
đại
trong
tinh
thần
trách
nhiệm
của
con
người
và
của
con
người
Kitô
hữu.
Trong
số
những
đôi
vợ
chồng
theo
phương
thức
ấy
để
chu
toàn
bổn
phận
Thiên
Chúa
trao
phó,
phải
đặc
biệt
kể
đến
những
người,
sau
khi
suy
xét
khôn
ngoan
và
đồng
chấp
thuận,
đã
can
đảm
nhận
lãnh
trách
nhiệm
dưỡng
dục
con
cái
cách
xứng
đáng,
dẫu
số
con
cái
ấy
khá
đông
13.
Tuy
nhiên,
hôn
nhân
không
phải
chỉ
được
thiết
lập
để
mưu
sự
truyền
sinh
mà
thôi,
nhưng
chính
đặc
tính
giao
ước
bất
khả
phân
ly
giữa
hai
người
và
lợi
ích
con
cái
đòi
hỏi
tình
yêu
hỗ
tương
của
hai
vợ
chồng
phải
được
phát
biểu,
thăng
tiến
và
nẩy
nở
cách
chính
đáng.
Cho
nên,
ngay
trong
trường
hợp
không
có
con
như
hằng
tha
thiết
mong
mỏi,
hôn
nhân
vẫn
tồn
tại
như
một
cuộc
sống
chung
và
vẫn
giữ
được
giá
trị
cùng
đặc
tính
bất
khả
phân
ly
của
mình.
51.
Hòa
hợp
tình
yêu
vợ
chồng
với
việc
tôn
trọng
sự
sống
con
người.
Công
Ðồng
biết
rằng:
muốn
tổ
chức
đời
sống
vợ
chồng
cho
thuận
hòa,
đôi
bạn
thường
vấp
phải
một
số
tình
trạng
sinh
sống
khó
khăn
hiện
đại
và
có
thể
lâm
vào
những
hoàn
cảnh
khiến
họ
không
thể
gia
tăng
số
con
cái,
ít
là
trong
một
thời
gian;
đó
là
lúc
phải
khó
khăn
lắm
mới
duy
trì
được
tình
yêu
trung
thành
và
sự
chung
sống
trọn
vẹn.
Một
khi
đời
sống
thân
mật
vợ
chồng
bị
gián
đoạn,
sự
chung
thủy
thường
bị
đe
dọa
và
lợi
ích
con
cái
có
thể
bị
sút
giảm;
vì
trong
trường
hợp
này,
việc
giáo
dục
cũng
như
lòng
can
đảm
sinh
thêm
con
cái
đều
bị
thương
tổn
61*.
Có
những
người
dám
đưa
ra
những
giải
pháp
bất
lương
để
giải
quyết
vấn
đề
trên
đây,
họ
không
ngần
ngại
xử
dụng
cả
những
hành
động
sát
nhân.
Nhưng
Giáo
Hội
nhắc
lại
rằng
không
thể
có
mâu
thuẫn
thực
sự
giữa
những
lề
luật
của
Thiên
Chúa
liên
quan
đến
việc
truyền
sinh
và
những
luật
liên
quan
đến
việc
phát
triển
tình
yêu
vợ
chồng
đích
thực.
Thực
vậy,
Thiên
Chúa
là
Chúa
sự
sống,
đã
trao
cho
con
người
nhiệm
vụ
cao
cả
là
bảo
tồn
sự
sống,
và
họ
phải
chu
toàn
bổn
phận
ấy
cách
xứng
hợp
với
con
người.
Do
đó,
sự
sống
ngay
từ
lúc
thụ
thai
phải
được
giữ
gìn
hết
sức
cẩn
thận;
phá
thai
và
sát
nhi
là
những
tội
ác
ghê
tởm.
Dục
tính
cũng
như
khả
năng
sinh
sản
của
con
người
trổi
vượt
một
cách
kỳ
diệu
hơn
những
gì
thấy
được
ở
những
cấp
sinh
vật
thấp
hơn.
Bởi
vậy,
chính
những
hành
vi
đặc
thù
của
đời
sống
vợ
chồng,
được
thực
hiện
đúng
theo
phẩm
giá
đích
thực
của
con
người,
đều
phải
được
kính
cẩn
tôn
trọng.
Vì
thế,
khi
cần
hòa
hợp
tình
vợ
chồng
với
việc
truyền
sinh
trong
một
tinh
thần
trách
nhiệm,
phải
ý
thức
rằng
giá
trị
luân
lý
của
hành
động
không
chỉ
lệ
thuộc
vào
ý
muốn
thành
thực
và
việc
cân
nhắc
các
lý
do,
nhưng
phải
được
thẩm
định
theo
những
tiêu
chuẩn
khách
quan
suy
diễn
từ
bản
tính
của
nhân
vị
và
của
hành
động
nơi
nhân
vị;
những
tiêu
chuẩn
ấy
sẽ
tôn
trọng
ý
nghĩa
trọn
vẹn
của
sự
trao
hiến
và
sinh
sản
con
cái
trong
khung
cảnh
tình
yêu
đích
thực.
Ðó
là
điều
không
thể
thực
hiện
được
nếu
không
thực
tâm
vun
trồng
đức
khiết
tịnh
trong
bậc
vợ
chồng.
Trong
việc
điều
hòa
sinh
sản,
con
cái
của
Giáo
Hội
trung
thành
với
những
nguyên
tắc
vừa
viện
dẫn,
không
được
dùng
những
phương
pháp
mà
Giáo
Huấn
đã
bác
bỏ
khi
giải
thích
luật
Thiên
Chúa
14.
62*
Ngoài
ra,
mọi
người
đều
phải
ý
thức
rằng:
đời
sống
nhân
loại
và
bổn
phận
lưu
truyền
sự
sống
ấy
không
chỉ
giới
hạn
ở
đời
này
cũng
như
không
thể
hiểu
và
đo
lường
được
ở
đời
này,
nhưng
luôn
qui
chiếu
về
định
mệnh
vĩnh
cửu
của
con
người.
52.
Bổn
phận
của
mọi
người
trong
việc
thăng
tiến
hôn
nhân
và
gia
đình.
Gia
đình
là
một
trường
học
phát
triển
nhân
tính.
Nhưng
để
gia
đình
có
thể
sống
trọn
vẹn
và
chu
toàn
sứ
mệnh
mình,
cần
phải
biết
hòa
hợp
tâm
hồn:
vợ
chồng
phải
cùng
nhau
bàn
định
cũng
như
cha
mẹ
phải
ân
cần
cộng
tác
trong
việc
giáo
dục
con
cái.
Sự
hiện
diện
tích
cực
của
người
cha
giúp
ích
rất
nhiều
cho
việc
đào
tạo
con
cái,
nhưng
cũng
phải
làm
sao
giữ
được
cho
người
mẹ
vai
trò
chăm
sóc
gia
đình,
vì
con
cái,
nhất
là
khi
thơ
bé,
rất
cần
đến
sự
chăm
sóc
ấy;
tuy
nhiên,
vẫn
không
được
coi
thường
sự
thăng
tiến
hợp
lý
của
người
phụ
nữ
trên
bình
diện
xã
hội.
Phải
giáo
dục
con
cái
thế
nào
để
khi
đến
tuổi
trưởng
thành
chúng
có
thể
chọn
bậc
sống
và
theo
ơn
gọi,
ngay
cả
ơn
gọi
tu
trì,
với
ý
thức
trách
nhiệm
đầy
đủ;
và
nếu
kết
hôn,
chúng
có
thể
lập
gia
đình
riêng
trong
những
điều
kiện
luân
lý,
xã
hội
và
kinh
tế
thuận
lợi.
Bổn
phận
của
cha
mẹ
hay
người
giám
hộ
là
hướng
dẫn
những
người
trẻ
khi
lập
gia
đình,
dùng
lời
khuyên
nhủ
khôn
ngoan
sao
cho
họ
sẵn
sàng
nghe
theo;
tuy
nhiên,
phải
cẩn
thận,
không
dùng
áp
lực
trực
tiếp
hay
gián
tiếp
ép
buộc
họ
kết
hôn
hay
chọn
bạn
đường
63*.
Như
thế,
gia
đình
trở
thành
nền
tảng
của
xã
hội
vì
là
nơi
mà
nhiều
thế
hệ
gặp
gỡ
và
giúp
nhau
nên
khôn
ngoan
đầy
đủ
hơn
cũng
như
giúp
nhau
hòa
hợp
những
quyền
lợi
cá
nhân
với
những
đòi
hỏi
khác
của
cuộc
sống
xã
hội.
Bởi
đó,
tất
cả
những
ai
có
ảnh
hưởng
trên
các
cộng
đoàn
và
tập
thể
xã
hội
phải
góp
công
hữu
hiệu
thăng
tiến
hôn
nhân
và
gia
đình.
Chính
quyền
phải
nhìn
nhận,
bênh
vực
và
phát
huy
tính
chất
đích
thực
của
hôn
nhân
và
gia
đình,
phải
bảo
vệ
nền
luân
lý
chung
và
giúp
cho
gia
đình
được
sung
túc,
vì
đó
là
những
bổn
phận
mà
chính
quyền
phải
coi
như
một
sứ
mệnh
thiêng
liêng
phải
chu
toàn.
Lại
phải
bảo
đảm
cho
cha
mẹ
quyền
sinh
sản
và
giáo
dục
con
cái
trong
khung
cảnh
gia
đình.
Phải
soạn
thảo
được
những
bộ
luật
biết
tiên
liệu
và
đề
ra
được
nhiều
sáng
kiến
để
bảo
vệ
và
nâng
đỡ
cả
những
người
vì
rủi
ro
mà
không
có
gia
đình.
Người
Kitô
hữu
biết
lợi
dụng
thời
đại
15
và
phân
biệt
những
gì
trường
tồn
với
những
hình
thức
hay
thay
đổi,
phải
nhiệt
thành
đề
cao
những
giá
trị
hôn
nhân
và
gia
đình
bằng
chứng
tá
của
chính
đời
sống
mình
cũng
như
bằng
hành
động
hợp
tác
với
những
người
thiện
chí.
Như
vậy,
sau
khi
vượt
qua
các
trở
ngại,
họ
sẽ
thỏa
mãn
được
những
nhu
cầu
của
gia
đình
và
cung
cấp
cho
gia
đình
những
tiện
nghi
hợp
với
thời
đại
mới.
Muốn
đạt
được
mục
đích
ấy,
rất
cần
đến
ý
thức
Kitô
giáo
của
các
tín
hữu,
lương
tâm
luân
lý
ngay
thẳng
của
mọi
người
cũng
như
sự
khôn
ngoan
và
khả
năng
chuyên
môn
của
những
ai
am
tường
các
môn
học
đạo.
Các
vị
thông
thạo
khoa
học,
nhất
là
các
khoa
sinh
vật
học,
y
học,
xã
hội
và
tâm
lý
học,
có
thể
giúp
ích
rất
nhiều
cho
hôn
nhân,
gia
đình
cũng
như
sự
an
bình
lương
tâm,
nếu
họ
hiệp
lực
nghiên
cứu
và
cố
gắng
làm
sáng
tỏ
hơn
nữa
về
những
điều
kiện
khác
nhau
giúp
con
người
điều
hòa
sinh
sản
cách
lương
thiên.
Sau
khi
được
học
hỏi
đầy
đủ
về
các
vấn
đề
thuộc
phạm
vi
gia
đình,
các
linh
mục
có
bổn
phận
nâng
đỡ
ơn
gọi
của
vợ
chồng
trong
đời
sống
hôn
nhân
và
gia
đình
bằng
những
phương
tiện
mục
vụ
khác
nhau,
như
rao
giảng
lời
Chúa,
lễ
nghi
phụng
vụ
hay
những
trợ
lực
thiêng
liêng
khác.
Các
ngài
cũng
phải
nhân
hậu
và
nhẫn
nại
nâng
đỡ
họ
trong
lúc
gặp
khó
khăn,
và
khích
lệ
họ
trong
tình
bác
ái
để
họ
tạo
nên
những
gia
đình
thực
gương
mẫu
rạng
ngời
64*.
Các
tổ
chức
hoạt
động
tông
đồ,
nhất
là
những
hiệp
hội
gia
đình,
phải
cố
gắng
bằng
lý
thuyết
và
hành
động
nâng
đỡ
các
thanh
thiếu
niên
và
chính
các
đôi
vợ
chồng,
nhất
là
những
đôi
mới
kết
hôn,
đồng
thời
huấn
luyện
cho
họ
về
đời
sống
gia
đình,
xã
hội
và
việc
tông
đồ.
Sau
hết
chính
các
đôi
vợ
chồng,
được
tạo
thành
giống
hình
ảnh
Thiên
Chúa
và
được
an
định
trong
cấp
bực
của
các
nhân
vị,
hãy
kết
hợp
trong
tình
tương
thân
tương
ai,
đồng
tâm
hiệp
ý
và
thánh
hóa
lẫn
nhau
16,
để
trong
khi
theo
Chúa
Kitô
là
nguyên
lý
sự
sống
17,
giữa
những
nỗi
vui
mừng
và
hy
sinh
của
ơn
gọi
và
qua
tình
yêu
chung
thủy,
họ
trở
nên
chứng
nhân
của
mầu
nhiệm
tình
thương
mà
Chúa
đã
tỏ
ra
cho
thế
giới
qua
sự
chết
và
sự
sống
lại
của
Người
18.
Chú
Thích:
51*
1)
Giới
thiệu:
Gia
đình
là
nền
tảng
của
xã
hội
(số
47a),
nhưng
hiện
nay
bị
nhiều
vết
nhơ
(b),
nên
Công
Ðồng
muốn
góp
phần
giáo
lý
để
nâng
cao
gia
đình
và
hôn
nhân
(c).
2)
Diễn
tả
gia
đình
cách
đại
cương:
Bản
tính,
khởi
sự,
giá
trị
và
chiều
hướng
của
hôn
nhân
(số
48a).
Tính
cách
cao
siêu
của
tình
yêu
hôn
nhân
(b).
Ðời
sống
gia
đình
hướng
về
Chúa
(c).
Vai
trò
của
mỗi
người
trong
gia
đình
và
việc
tông
đồ
của
họ
(d).
3)
Tình
yêu
hôn
nhân:
tính
cách
(số
49a),
phương
cách
biểu
lộ
nó
(b),
phải
phổ
biến
quan
niệm
đích
thực
về
nó
(c).
4)
Con
cái:
Hôn
nhân
hướng
về
việc
sinh
sản
con
cái
(số
50a).
Kẻ
làm
cha
mẹ
phải
có
trách
nhiệm
(b).
Sinh
sản
con
cái
không
phải
là
mục
đích
duy
nhất
(c).
5)
Những
khó
khăn:
gặp
phải
khi
duy
trì
tình
yêu
đồng
thời
phải
tôn
trọng
sự
sống
(số
51a).
Những
giải
pháp
không
được
áp
dụng
(b).
Những
tiêu
chuẩn
để
chọn
giải
pháp
(c,d).
6)
Mục
vụ
gia
đình:
Ở
trong
gia
đình
(số
52a),
trong
đại
gia
đình
và
xã
hội
(b).
Việc
tông
đồ
của
gia
đình
(c).
Phần
đóng
góp
của
khoa
học
gia
chuyên
môn
(d),
của
Linh
Mục
(e),
của
đôi
hôn
nhân
(f).
(Trở
lại
đầu
trang)
52*
Hôn
nhân
và
gia
đình
là
tế
bào
đầu
tiên
đồng
thời
là
nền
tảng
của
xã
hội
cũng
như
của
Giáo
Hội.
Công
Ðồng
muốn
góp
phần
để
bảo
vệ
hôn
nhân
vì
ở
nhiều
nơi
hôn
nhân
bị
tội
lỗi
làm
hoen
ố.
Công
Ðồng
nhắc
đến
chế
độ
đa
thê,
ngược
lại
với
tính
cách
hợp
nhất
của
hôn
nhân
(số
48a
phần
cuối
và
49b);
ly
dị,
trái
ngược
với
tính
bất
khả
phân
ly;
tự
do
luyến
ái
tức
sống
chung
mà
không
chấp
nhận
liên
hệ
hôn
nhân.
Công
Ðồng
còn
nói
chung
về
những
hình
thức
"lệch
lạc
khác":
chẳng
hạn
hôn
nhân
thí
nghiệm,
nghĩa
là
khi
chưa
có
con
thì
chưa
thành
bất
khả
phân
ly;
hôn
nhân
ép
buộc
của
thanh
niên
thiếu
nữ
không
ưa
nhau,
v.v...
Hôn
nhân
hợp
nhất
và
duy
nhất
còn
có
thể
mất
ý
nghĩa
cao
đẹp
do
lòng
ích
kỷ
của
đôi
bên,
do
khoái
lạc
chủ
nghĩa,
do
những
tội
lỗi
liên
quan
tới
việc
sinh
sản.
Nhưng
còn
có
nhiều
hoàn
cảnh
khác
cũng
có
thể
gây
nên
những
khó
khăn
và
dịp
tội
cho
hôn
nhân.
Công
Ðồng
nhắc
đến
hoàn
cảnh
kinh
tế:
chẳng
hạn
tiền
lương
không
đủ
để
nuôi
dưỡng
và
giáo
dục
con
cái;
hoàn
cảnh
tâm
lý
và
xã
hội:
như
quan
niệm
mới
về
địa
vị
người
phụ
nữ,
hay
là
môi
trường
sinh
sống
quá
chú
ý
đến
tình
dục;
hoàn
cảnh
dân
sự:
như
lề
luật
trái
ngược
nguyên
tắc
luân
lý,
ví
dụ
việc
phá
thai,
giải
phẫu
để
ngăn
cản
khả
năng
sinh
sản,
v.v...;
hoàn
cảnh
nhân
khẩu
gia
tăng
tại
nhiều
nơi
cũng
có
thể
đe
dọa
nền
kinh
tế
của
các
quốc
gia
đang
mở
mang.
Trong
thông
điệp
Humanae
Vitae,
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
công
nhận
đó
là
những
lý
do
đã
khiến
Giáo
Hội
xét
lại
lập
trường
(số
2-5).
(Trở
lại
đầu
trang)
53*
Ðây
là
một
định
nghĩa
của
hôn
nhân
đáng
cho
ta
lưu
ý
tới:
a)
cốt
yếu
là
cùng
một
đời
sống
và
cùng
một
tình
yêu
đặc
biệt,
b)
tùy
theo
luật
Chúa
là
Ðấng
đã
sáng
tạo
hôn
nhân,
c)
bắt
đầu
do
sự
ưng
thuận
nhau
của
hai
người
nam
và
nữ.
Ðối
tượng
của
sự
ưng
thuận
ấy
là
chính
con
người,
hai
con
người
tự
hiến
cho
nhau
và
đón
nhận
nhau.
Hai
người:
chứ
không
phải
chỉ
quyền
lợi
trên
thân
xác
của
mình
mà
thôi
(như,
theo
Giáo
Luật
khoản
1081
đoạn
2,
Thông
điệp
Casti
Connubii
của
Ðức
Piô
XI
đã
xác
nhận:
x.
AAS
22
(1930),
541;
Dz
3701/2225).
Hai
bên
sẽ
nên
một
về
mọi
phương
diện:
sinh
lý,
tâm
lý,
xã
hội
và
đạo
đức.
Kết
quả
là
một
tổ
chức
vững
chắc
không
phải
tự
ý
riêng
của
đôi
bên,
nhưng
theo
ý
định
của
Thiên
Chúa.
Tổ
chức
này
có
nhiều
mục
đích
(số
50b)
và
mưu
ích
không
những
cho
đôi
bên
mà
còn
cho
gia
đình
và
xã
hội
nữa.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
T.
Augustinô,
De
bono
conjugali:
PL
40,
375-376
và
394.
-
T.
Tôma,
Summa
Theol.,
Suppl.
Quaest.
49,
art.
3
ad
1.
-
Decretum
pro
Armenis:
Dz
702
(1327).
-
Piô
XI,
Tđ.
Casti
connubii:
AAS
22
(1933),
trg
543-555;
Dz
2227-2238
(3703-3714).
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Casti
Connubii:
AAS
22
(1930),
trg
546-547;
Dz
2231
(3706).
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Os
2;
Gier
3,6-13;
Ez
16
và
23;
Is
54.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Mt
9,15;
Mc
2,
19-20;
Lc
5,34-35;
Gio
3,29;
2Cor
11,2;
Eph
5,27;
Kh
19,7-8;
21,2
và
9.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Eph
5,25.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium:
AAS
57
(1965),
trg
15-16;
40-41;
47.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Casti
Connubii
:AAS
22
(1930),
trg
583.
(Trở
lại
đầu
trang)
54*
Hai
đoạn
48ab
nhấn
mạnh
rằng
hôn
nhân
là
một
trong
những
ơn
kêu
gọi
của
Chúa
để
con
người
thánh
hóa
bản
thân.
Thiên
Chúa
đã
sáng
lập
hôn
nhân
và
quyết
định
bản
tính
của
nó,
mục
đích,
tính
cách
chính
yếu
cũng
như
đã
thánh
hóa
nó
và
nâng
cao
nó
làm
thành
một
bí
tích
giúp
đôi
bên
làm
tròn
nghĩa
vụ
và
sống
đức
ái
(x.Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
35c;
41e;
và
sau
này:
số
52g).
Hai
vợ
chồng
được
mời
gọi
để
thánh
hóa
bản
thân
:1)
bằng
cách
sống
tình
yêu
riêng
biệt
(số
49-50a),
2)
cũng
như
nhờ
phận
vụ
làm
cha
làm
mẹ
(số
50).
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
1Tm
5,3.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Eph
5,32.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Stk
2,
22-24;
Cn
5,18-20;
31,10-31;
Tob
8,4-8;
Dtc
1,1-3;
2,16;
4,16-5,1;
7,8-11;
1Cor
7,3-6;
Eph
5,25-33.
(Trở
lại
đầu
trang)
55*
Sách
Sáng
Thế
Ký
thuật
lại
hai
câu
chuyện
khác
nhau
về
Chúa
dựng
nên
loài
người.
Từ
1,1
đến
2,4
nhấn
mạnh
sự
khác
nhau
của
hai
giống
nam
và
nữ,
cốt
để
hai
bên
phối
hợp
và
sinh
con.
Từ
2,5
đến
2,25
Thánh
Kinh
nói
rằng
người
nữ
được
dựng
nên
sau
và
bởi
người
nam,
giống
như
người
nam,
để
nhấn
mạnh
người
nam
và
nữ
là
để
bổ
túc
cho
nhau
nhờ
sự
phối
hợp
nên
"một
thân
thể"
(trong
Thánh
Kinh
danh
từ
này
không
chỉ
nói
về
thân
xác,
nhưng
ám
chỉ
tới
toàn
thể
con
người).
Nên
việc
hai
giống
hướng
về
nhau,
cũng
như
tình
yêu
giữa
người
nam
và
người
nữ
và
cả
tính
dục
nữa
đều
do
Thiên
Chúa
dựng
nên
và
là
tốt
đẹp.
Tính
dục
không
phải
là
kết
quả
của
tội
tổ
tông.
Tội
ấy
chỉ
gây
nên
sự
rối
loạn
của
một
thứ
tính
dục
không
còn
tùng
phục
lý
trí
(Stk
3,7-16).
Qua
các
chuyện
về
tổ
phụ,
Thánh
Kinh
nhấn
mạnh
phương
diện
sinh
sản:
các
ngài
đã
chấp
nhận
chế
độ
đa
thê
(v.d.
Stk
16,1;
29,15-30)
và
việc
lấy
vợ
lẽ
(30,3-12).
Không
sinh
đẻ
được,
là
vì
Chúa
phạt
(15,3).
Các
sách
Khôn
Ngoan
(đặc
biệt
là
Diễm
Tình
Ca)
ca
tụng
tình
yêu
vợ
chồng,
mà
không
đề
cập
đến
việc
sinh
sản
một
cách
rõ
ràng.
Tình
yêu
ấy
là
tình
yêu
xác
thịt
(xem
vd.
Cn
5,15-20).
Phần
các
tiên
tri
khi
các
ngài
so
sánh
giao
ước
giữa
Thiên
Chúa
và
dân
Israel
với
tình
yêu
vợ
chồng,
các
ngài
đã
mặc
nhiên
nêu
ra
lý
tưởng
tình
yêu
đối
với
hôn
nhân.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Casti
Connubii
:
AAS
22
(1930),
trg
547-548;
Dz
2232
(3707).
(Trở
lại
đầu
trang)
56*
Ðức
Phaolô
VI
(Humanae
Vitae
số
8-9)
diễn
tả
tình
yêu
vợ
chồng
như
sau:
1)
nguồn
gốc
của
nó
là
Thiên
Chúa,
2)
nó
tốt
đẹp
vì
trong
đó
hai
người
tự
hiến
cho
nhau
để
trở
nên
một
và
trau
giồi
cho
nhau,
3)
nó
tượng
trưng
sự
phối
hợp
giữa
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội,
4)
nó
là
tình
yêu
nhân
bản:
vừa
cảm
giác
vừa
thiêng
liêng,
phát
sinh
từ
ý
chí
tự
do,
chứ
không
chỉ
do
tình
cảm
và
bản
năng
mà
thồi,
5)
nó
trọn
vẹn,
nghĩa
là
khiến
hai
bên
chia
sẻ
mọi
sự
và
tìm
mưu
ích
cho
bạn
hơn
là
cho
mình,
6)
nó
chung
thủy
và
duy
nhất
đến
giờ
chết,
7)
và
đưa
tới
kết
quả
ngoài
ích
lợi
cho
đôi
bên,
nghĩa
là
nó
hướng
về
việc
sinh
sản
con
cái.
(Trở
lại
đầu
trang)
57*
Tất
cả
những
cử
chỉ
âu
yếm
thân
xác,
đến
chính
việc
phối
hợp
mật
thiết,
đều
là
phương
pháp
riêng
biệt
để
biểu
lộ,
thể
hiện
và
cổ
võ
tình
yêu
hôn
nhân.
Là
những
hành
động
của
con
người,
của
con
Thiên
Chúa,
để
sống
ơn
gọi
của
mình,
hành
động
đó
không
có
gì
là
bất
xứng.
Không
phải
hôn
nhân
cho
phép
để
thực
hành
những
điều
đê
tiện.
Hôn
nhân
thường
thường
đòi
hỏi
những
hành
động
ấy,
cốt
như
phương
pháp
để
thể
hiện
ơn
gọi
của
Chúa.
Việc
thú
vật
cũng
có
những
tác
động
tương
tự
bên
ngoài,
không
nên
gây
ra
sự
ngộ
nhận.
Dĩ
nhiên
đôi
vợ
chồng
phải
thực
hiện
những
hành
động
đó
một
cách
xứng
hợp
với
con
người,
nghĩa
là
một
cách
hợp
lý
và
hợp
đức
tin,
chứ
không
phải
chỉ
vì
bản
năng
tính
dục,
vì
ích
kỷ
và
bất
chấp
hoàn
cảnh
của
bạn
mình,
của
con
cái,
của
gia
đình
và
của
xã
hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
58*
Hôn
nhân
là
để
hai
vợ
chồng
yêu
nhau,
hiệp
nhất
với
nhau,
bổ
túc
cho
nhau,
hay
là
để
sinh
sản
con
cái?
Trước
khi
có
Công
Ðồng,
giáo
lý
công
giáo
trả
lời:
mục
đích
thứ
nhất
là
để
sinh
sản
con
cái.
Còn
việc
vợ
chồng
giúp
đỡ
nhau
và
việc
kết
hiệp
tính
dục
với
nhau
là
mục
đích
thứ
nhì
và
phụ
thuộc.
Trong
ghi
chú
1
(số
48a)
Công
Ðồng
nhắc
lại
vài
tài
liệu
phân
biệt
các
mục
đích
như
thế.
Dĩ
nhiên
giáo
lý
đã
không
coi
thường
tình
yêu
vợ
chồng,
bởi
vì
ba
mục
đích
ấy
đều
phải
được
thực
hành
trong
bầu
không
khí
yêu
nhau.
Nhưng
Công
Ðồng
đã
nhấn
mạnh
đến
tình
yêu
trong
khi
không
chỉ
lưu
ý
đến
khía
cạnh
pháp
lý
của
hôn
nhân,
nhưng
đã
đề
cao
phương
diện
nhân
vị.
Nên,
bây
giờ
ta
phải
nói
rằng
hôn
nhân
là
để
hai
bên
yêu
nhau
và
tự
hiến
cho
nhau,
nhờ
đó
mà
sinh
sản
con
cái,
vì
chính
tình
yêu
vợ
chồng
cũng
như
hôn
nhân
đều
hướng
về
việc
sinh
sản.
Giữa
tình
yêu
vợ
chồng
và
việc
sinh
sản
con
cái
không
có
sự
mâu
thuẫn
gì
cả,
trái
lại
nếu
bỏ
một
trong
hai,
thì
sẽ
không
thể
hiểu
điều
kia
được.
Yêu
nhau
với
tình
yêu
này
(hôn
nhân)
mà
lại
cố
gắng
ngăn
cản
việc
sinh
sản
con
cái
đấy
là
điều
mâu
thuẫn.
Trái
lại,
muốn
có
con
mà
không
chịu
yêu
nhau
thì
không
xứng
hợp
với
phẩm
giá
con
người.
Tự
hiến
cho
nhau,
nhưng
cùng
một
lúc
cố
ý
loại
trừ
khả
năng
cao
quí
nhất
của
mình
là
khả
năng
làm
cha
làm
mẹ,
có
phải
tự
hiến
mình
trọn
vẹn
không?
có
phải
yêu
thật
không?
(Trở
lại
đầu
trang)
59*
Công
Ðồng
không
bằng
lòng
phân
biệt
các
mục
đích
như
cũ.
Chỉ
nhắc
lại
hai
mục
đích
quan
trọng
nhất
là
tự
hiến
cho
nhau
và
sinh
sản
con
cái.
Thực
ra,
hai
mục
đích
này
(và
nhiều
mục
đích
khác
để
phát
triển
nhân
phẩm
về
mọi
phương
diện...)
đều
là
chính
yếu,
nghĩa
là
hôn
nhân
đòi
hỏi
quyền
lợi
để
hai
bên
có
thể
nhờ
nhau
mà
đạt
tới
những
mục
đích
ấy.
Lập
khế
ước
hôn
nhân,
nhưng
loại
trừ
quyền
lợi
để
sinh
sản
con
cái
thật
là
vô
lý
và
khế
ước
không
thành.
Vậy
thì,
cố
ý
loại
trừ
quyền
lợi
để
yêu
nhau
và
để
tự
hiến
cho
nhau,
cũng
là
vô
lý,
vì
khế
ước
này
cốt
để
trao
đổi
cho
nhau.
(Trở
lại
đầu
trang)
60*
Ở
đây
Công
Ðồng
dạy
một
giáo
lý
mới
mẻ:
lập
gia
đình
để
(nhờ
tình
yêu
nhau)
làm
cha
và
làm
mẹ;
nói
như
thế
thì
chưa
đủ.
Phải
nói
thêm:
để
làm
bậc
cha
mẹ
có
trách
nhiệm!
Như
thế
có
nghĩ
a
gì?
Công
Ðồng
dạy:
1)
sinh
sản
con
cái
là
sứ
mệnh
của
vợ
chồng,
2)
phải
thực
hành
như
là
cộng
tác
viên
của
Chúa
và
là
"thông
ngôn
viên"
cho
tình
yêu
của
Chúa
(nghĩa
là:
tình
yêu
Chúa
luôn
luôn
muốn
dựng
nên
con
người
mới,
nhưng
hai
vợ
chồng
phải
tìm
hiểu
ý
Chúa
trong
hoàn
cảnh
thực
tế
của
họ),
3)
thực
hành
với
lòng
kính
trọng
Thiên
Chúa,
4)
và
tin
cậy
Ngài,
5)
cũng
như
với
tinh
thần
hy
sinh,
6)
để
vinh
danh
Chúa,
7)
và
thánh
hóa
bản
thân.
Theo
các
nguyên
tắc
ấy,
vợ
chồng
nên
sinh
hạ
bao
nhiêu
con
cái?
Trước
đây
những
tín
hữu
đạo
đức
có
lẽ
đã
trả
lời:
"Chúa
muốn
bao
nhiêu
thì
chúng
con
sẽ
sinh
ra
bấy
nhiêu".
Nhưng
câu
đó
không
hợp
với
giáo
lý
như
Công
Ðồng
dạy.
Không
khác
gì
với
lập
trường
của
người
chỉ
ham
mê
khoái
lạc
và
do
đó
sẽ
áp
dụng
các
phương
pháp
để
ngăn
cản
sự
sinh
sản,
câu
ấy
có
thể
tỏ
ra
ý
muốn
đề
cao
nguyên
tắc
"phải
thỏa
mãn
tính
dục"
trước
đã!
Như
vậy
chưa
phải
là
có
trách
nhiệm.
Bởi
đó
Công
Ðồng
ngợi
khen
những
vợ
chồng
sẵn
sàng
có
đông
con,
nhưng
rồi
dạy
rằng
họ
phải
quyết
định
số
con
cái
có
thể
có
theo
những
nguyên
tắc
sau
đây:
1)
ích
lợi
về
mọi
phương
diện
của
hai
vợ
chồng
(ví
dụ:
người
mẹ
có
đủ
sức
không?)
2)
ích
lợi
của
con
cái
(ví
dụ
gia
đình
có
đủ
phương
tiện
để
giáo
dục
chúng
nó
không?)
3)
tùy
theo
thời
gian,
hoàn
cảnh
vật
chất
và
tinh
thần,
4)
tùy
theo
ích
lợi
của
đại
gia
đình,
của
xã
hội
và
của
Giáo
Hội.
Chính
vợ
chồng
phải
quyết
định
số
con,
chứ
không
phải
chỉ
người
chồng
hay
ông
bà.
Họ
sẽ
quyết
định
theo
lương
tâm
của
họ:
một
lương
tâm
cố
gắng
hiểu
biết
luật
Chúa
như
Giáo
Hội
trình
bày.
Ðức
Phaolô
VI
(Humanae
Vitae
số
10)
nhấn
mạnh
rằng
chính
tình
yêu
hôn
nhân
đòi
hỏi
trách
nhiệm
này.
Ngài
cũng
cắt
nghĩa
trách
nhiệm:
1)
theo
phương
diện
sinh
lý
là
tôn
trọng
lề
luật
của
các
tiến
triển
sinh
lý
(nó
cũng
thuộc
về
nhân
vị),
2)
theo
phương
pháp
chế
ngự
các
xu
hướng
bản
năng
và
dục
vọng,
đó
là
biết
tự
chủ
theo
lý
trí,
3)
theo
phương
diện
hoàn
cảnh
vật
lý,
kinh
tế,
tâm
lý,
xã
hội,
đó
là
quyết
định
tùy
theo
hoàn
cảnh
cho
phép
thêm
con,
hay
không,
4)
theo
phương
diện
luân
lý,
có
trách
nhiệm
là
quyết
định
và
thực
hiện
quyết
định
đó
một
cách
thích
hợp
với
nhiệm
vụ
đối
với
Chúa,
đối
với
chính
mình,
đối
với
gia
đình
và
xã
hội.
Lương
tâm
của
hai
vợ
chồng
không
tự
ý
tạo
ra
con
đường
tốt
đẹp
cho
mình,
nhưng
nó
phải
khám
phá
ra
con
đường
ấy
nơi
bản
tính
hôn
nhân
và
nơi
bản
tính
các
hoạt
động
hôn
nhân,
theo
như
Giáo
Hội
cắt
nghĩa.
Về
phương
pháp
cụ
thể
khi
vợ
chồng
cần
hạn
chế
sinh
sản,
xin
coi
số
51.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
1Cor
7,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
Tra
le
Visite,
20-1-1958:
AAS
50
(1958),
trg
91.
(Trở
lại
đầu
trang)
61*
Vấn
đề
hạn
chế
sinh
sản
là
vấn
đề
về
các
phương
pháp.
Vợ
chồng
muốn
sống
hợp
với
lý
tưởng
hôn
nhân
đã
được
trình
bày
ở
trên,
lắm
lúc
sẽ
phải
hạn
chế
số
con.
Nhưng
không
gần
gũi
nhau,
hay
chỉ
theo
chu
kỳ
của
người
vợ,
có
thể
làm
hại
cho
tình
yêu
nhau,
do
đó
cũng
làm
hại
cho
đời
sống
hôn
nhân
và
cho
con
cái
nữa.
Công
Ðồng
không
giấu
kín
sự
kiện
này.
Vậy
khi
cần
hạn
chế
số
con,
có
thể
áp
dụng
phương
pháp
nào?
Công
Ðồng
chỉ
trả
lời
một
cách
đại
cương
mà
thôi:
phải
loại
trừ
phương
pháp
xấu
xa,
như
giết
người
(số
51b),
phá
thai
và
giết
trẻ
em
(số
51c).
Rồi
Công
Ðồng
dạy
nguyên
tắc
phải
áp
dụng
trong
việc
chọn
lựa
phương
pháp.
Phương
pháp
bao
giờ
cũng
phải
1)
tôn
trọng
giá
trị
của
sứ
mệnh
lưu
truyền
sự
sống
và
tôn
trọng
phẩm
giá
con
người,
2)
nó
không
thể
trái
ngược
lề
luật
của
Chúa
về
việc
lưu
truyền
mạng
sống,
3)
vợ
chồng
phải
có
ý
ngay
lành,
nhưng
chưa
đủ,
4)
chính
phương
pháp
phải
xứng
hợp
với
các
qui
tắc
khách
quan
về
luân
lý,
5)
đó
là
những
qui
tắc
dựa
trên
bản
tính
con
người
và
tác
động
của
con
người,
6)
nên
phương
pháp
phải
không
được
xâm
phạm
ý
nghĩa
tình
yêu
hôn
nhân
là
tự
hiến
cho
nhau,
và
tính
cách
nhân
bản
của
việc
sinh
sản
con
cái,
7)
bởi
đó,
đức
trinh
khiết
hôn
nhân
là
cần
thiết,
8)
cũng
như
lòng
trung
thành
với
Giáo
Huấn
của
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Casti
Connubii:
AAS
22
(1930),
trg
559-561
:
Dz
2239-2241
(3716-3718).
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
Ðại
hội
Hiệp
hội
các
Nữ
Hộ
Sinh
Ý,
29-10-1951:
AAS
43
(1951),
trg
835-854.
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
cho
các
Nghị
Phụ
Hồng
Y,
23-6-1964:
AAS
56
(1964),
trg
581-589.
Theo
lệnh
của
ÐGH,
một
số
vấn
đề
cần
tìm
hiểu
sâu
xa
hơn
đã
được
trao
cho
một
ủy
ban
đặc
trách
nghiên
cứu
về
dân
số,
gia
đình,
tỉ
số
sinh
sản,
để
sau
khi
cộng
tác
hoàn
thành,
ÐGH
có
thể
thẩm
định.
Và
với
giáo
huấn
hiện
thời
của
Giáo
Hội,
Thánh
Công
Ðồng
không
có
ý
cấp
thời
đề
ra
những
giải
pháp
cụ
thể.
(Trở
lại
đầu
trang)
62*
Ghi
chú
14
trình
bày
lý
do
tại
sao
Công
Ðồng
không
phát
biểu
ý
kiến
về
phương
pháp
cụ
thể
do
khoa
học
đã
khám
phá
ra,
như
thuốc
viên,
vòng
xoắn,
v.v...
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
đã
nhờ
ủy
ban
do
Ðức
Gioan
XXIII
thiết
lập
nhằm
học
hỏi
về
các
vấn
đề
gia
đình,
để
nghiên
cứu
vấn
đề
hạn
chế
sinh
sản.
Ủy
ban
gồm
có
các
nhà
thần
học,
xã
hội
học,
bác
sĩ,
các
đôi
vợ
chồng
(trên
70
hội
viên)
đã
làm
việc
từ
năm
1963
đến
cuối
năm
1967.
Theo
như
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
xác
nhận
(Humanae
Vitae
số
6)
đa
số
các
hội
viên
bênh
vực
lập
trường
chấp
nhận
bất
cứ
phương
pháp
nào
để
hạn
chế
sinh
sản.
Không
nhắc
đến
lòng
ích
kỷ,
ham
khoái
lạc,
sợ
trách
nhiệm
nặng
nề
trong
việc
sinh
sản
và
giáo
dục
con
cái,
kể
cả
lập
trường
chống
đối
Giáo
Hội
cũng
như
lập
trường
kinh
tế
và
chính
trị
của
một
số
quốc
gia,
Ấn
Ðộ
chẳng
hạn...,
chính
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
chỉ
nhắc
lại
lý
do
của
đa
số
trong
ủy
ban:
1)
Có
lý
do
ngoại
tại,
nghĩa
là
những
lý
do
không
trực
tiếp
quan
hệ
tới
vấn
đề,
như
việc
dân
số
gia
tăng
quá
mau;
những
hoàn
cảnh
làm
việc,
nhà
ở,
kinh
tế;
quan
niệm
mới
mẻ
về
nhân
phẩm
phụ
nữ
và
vai
trò
của
phụ
nữ
trong
xã
hội;
việc
sinh
sản
con
cái
đòi
hỏi
hy
sinh
đôi
khi
tới
mức
độ
anh
hùng
(Humanae
Vitae
số
2-3).
2)
Cũng
có
lý
do
nội
tại
như
quan
niệm
về
giá
trị
tình
yêu
hôn
nhân
và
cử
chỉ
xác
thịt;
quyền
năng
của
con
người
trên
thiên
nhiên
và
bản
thân;
nguyên
tắc
toàn
diện,
nghĩa
là
hôn
nhân
hướng
về
con
cái
nhưng
không
phải
từng
hoạt
động
vợ
chồng
phải
trực
tiếp
hướng
về
nó;
nguyên
tắc
phải
chọn
sự
xấu
nhẹ
hơn,
nghĩa
là
thà
áp
dụng
phương
pháp
nhân
tạo
để
hạn
chế
sinh
sản
còn
hơn
là
mất
tình
yêu
vợ
chồng
và
hạnh
phúc
gia
đình
(Humanae
Vitae
số
2-3;
14,
16-17).
Ngày
25-7-1968
Ðức
Phaolô
VI
"nhận
sứ
mệnh
Chúa
Kitô
đã
trao
phó"
(Humanae
Vitae
số
6)
công
bố
câu
trả
lời
về
vấn
đề
các
phương
pháp
cụ
thể:
"Cấm
bất
cứ
hành
động
nào
nhằm
ngăn
chặn
sự
sinh
sản,
dù
như
một
mục
đích
hay
chỉ
như
phương
tiện,
dù
có
hành
động
như
vậy
trước
việc
vợ
chồng,
hay
là
khi
việc
vợ
chồng
đang
tiến
tới
hậu
quả
tự
nhiên
của
nó"
(Humanae
Vitae
số
14).
Nghĩa
là
không
được
phép
dùng
thuốc
viên
ngăn
cản
thụ
thai
(nó
có
thể
giết
tinh
trùng,
giết
trứng,
ngăn
cản
trứng
chín
rụng,
ngăn
cản
tinh
trùng
vào
trong
trứng),
cấm
dùng
thuốc
viên
phá
thai,
đặt
vòng
xoắn
vào
tử
cung,
dùng
bao
cao
su
của
đàn
ông
hay
đồ
giữ
bộ
phận
của
đàn
bà,
giải
phẫu
để
cắt
hay
buộc
các
ống
dẫn
tinh
dịch
hay
trứng,
hoạt
động
như
Onan
(Stk
38,9:
cố
ý
xuất
tinh
ở
ngoài),
cấm
phá
thai...
Vì
mỗi
khi
vợ
chồng
giao
hợp
với
nhau,
việc
hôn
nhân
phải
được
mở
ngỏ
để
"có
thể
lưu
truyền
mạng
sống"
(Humanae
Vitae
số
11).
Ðức
Giáo
Hoàng
"nhận
sứ
mệnh
Chúa
Kitô
đã
trao
phó"
mà
dạy
con
cái
Giáo
Hội
phải
bỏ
ý
kiến
riêng
(Humanae
Vitae
số
28)
và
hơn
nữa
phải
vâng
lời
mặc
dù
có
thể
là
rất
khó
(Humanae
Vitae
số
19-20)
bởi
vì
phải
vâng
theo
luật
của
Giáo
Hội
và
luật
của
Chúa
(Humanae
Vitae
số
18).
Ðức
Giáo
Hoàng
đã
áp
dụng
nguyên
tắc
Công
Ðồng
Vaticanô
II
lập
ra
và
đã
công
nhận
rằng
nếu
cố
ý
ngăn
cản
việc
thụ
thai
khi
vợ
chồng
ăn
ở
với
nhau,
hành
động
đó
không
còn
giữ
ý
nghĩa
sâu
xa
của
tình
yêu
và
của
hôn
nhân,
cũng
như
của
tác
động
hôn
nhân
như
Thiên
Chúa
đã
muốn
(Humanae
Vitae
số
9-13).
(Trở
lại
đầu
trang)
63*
Các
gia
đình
và
đại
gia
đình
(kể
cả
các
linh
mục
lo
cho
đôi
tân
hôn)
nên
lưu
ý
tới
câu
này
của
Công
Ðồng.
Vì
ép
duyên
không
những
là
tội
bất
công
đối
với
thanh
niên
thiếu
nữ
có
quyền
lợi
bất
khả
xâm
phạm
để
lập
gia
đình
và
chọn
người
bạn,
mà
còn
gây
nên
nhiều
khó
khăn
và
nhiều
dịp
tội
lỗi,
không
kể
trường
hợp
hôn
nhân
bất
thành
vì
mặc
dầu
hai
bên
đã
ưng
thuận,
nhưng
chỉ
vì
sợ
hãi
quá
đáng
(Giáo
luật,
khoản
1087).
Lạm
dụng
lòng
hiếu
thảo
của
con
mình
để
ép
duyên
là
điều
không
thích
hợp
với
giáo
lý
công
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Eph
5,16;
Col
4,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
64*
Công
Ðồng
lập
lại
hai
nhiệm
vụ
chính
của
các
linh
mục
lo
cho
đôi
tân
hôn
là:
1)
giáo
dục
đôi
bên
về
ơn
kêu
gọi,
về
lý
tưởng,
về
đời
sống
gia
đình,
về
những
khó
khăn,
v.v...,
2)
nâng
đỡ
các
cặp
vợ
chồng
gặp
khó
khăn
với
lòng
nhân
từ
và
kiên
nhẫn.
Do
đó
việc
khảo
kinh
hai
bên
sắp
lập
gia
đình
và
sau
đó
chỉ
lo
việc
rửa
tội
cho
con
cái
và
dạy
giáo
lý,
ban
bí
tích
cho
kẻ
liệt...
thì
chưa
đủ.
Các
ngài
nên
đặc
biệt
lưu
ý
tới
tinh
thần
mới
trong
việc
mục
vụ
(khi
ngồi
tòa
chẳng
hạn).
"Trong
việc
này
(tức
việc
dạy
toàn
bộ
giáo
lý,
bất
chấp
những
khó
khăn
sẽ
gặp
phải
như
khi
đề
cập
tới
vấn
đề
nghiêm
cấm
sự
áp
dụng
các
phương
pháp
hạn
chế
sinh
sản
chẳng
hạn),
cần
phải
giữ
đức
nhẫn
nại
và
nhân
từ
như
chính
Chúa
đã
làm
gương
trong
cách
đối
xử
với
mọi
người.
Chúa...
đã
giữ
thái
độ
quyết
liệt
đối
với
tội
lỗi,
nhưng
đồng
thời
đã
tỏ
lòng
thương
xót
đối
với
con
người.
Khi
gặp
khó
khăn,
chớ
gì
các
đôi
vợ
chồng
luôn
luôn
tìm
thấy
nơi
lời
nói
và
nơi
tâm
hồn
của
các
linh
mục,
tiếng
vang
lời
nói
và
tình
yêu
của
Chúa
Cứu
Thế"
(Humanae
Vitae
số
29).
Chúa
không
đuổi
kẻ
sa
ngã
vì
yếu
đuối...
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Sacramentarium
Gregorianum
:
PL
78,
262.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
Rm
5,15
và
18;
6,
5-11;
Gal
2,20.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
Eph
5,25-27.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II