VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Chương
IV
Sứ
Mệnh
Của
Giáo
Hội
Trong
Thế
Giới
Ngày
Nay
44*
40.
Tương
quan
giữa
Giáo
Hội
và
thế
giới.
Tất
cả
những
gì
chúng
ta
đã
trình
bày
về
phẩm
giá
con
người,
về
cộng
đoàn
nhân
loại,
về
ý
nghĩa
sâu
xa
của
hoạt
động
nhân
loại
tạo
thành
căn
bản
cho
sự
tương
quan
giữa
Giáo
Hội
và
thế
giới
cũng
như
nền
tảng
cho
cuộc
đối
thoại
giữa
đôi
bên
1.
Bởi
vậy,
dựa
trên
tất
cả
những
gì
về
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
mà
Công
Ðồng
này
đã
tuyên
bố,
trong
chương
này
sẽ
phải
đề
cập
đến
cũng
chính
Giáo
Hội,
xét
như
thực
tại
hiện
diện
ở
thế
giới
này,
cùng
sống
và
cùng
hoạt
động
với
thế
giới
ấy.
Phát
sinh
từ
tình
yêu
Chúa
Cha
muôn
đời
2,
do
Chúa
Kitô
là
Ðấng
Cứu
Ðộ
thiết
lập
trong
thời
gian,
được
qui
tụ
trong
Chúa
Thánh
Thần
3,
Giáo
Hội
có
mục
đích
cứu
rỗi
và
cánh
chung.
Mục
đích
này
chỉ
có
thể
thành
tựu
trọn
vẹn
trong
thời
kỳ
sẽ
đến.
Nhưng
giờ
đây
Giáo
Hội
đã
hiện
diện
trên
trái
đất
này
rồi,
được
qui
tụ
gồm
những
con
người
là
phần
tử
của
xã
hội
trần
gian;
họ
được
kêu
gọi
để
hợp
thành
gia
đình
các
con
cái
Thiên
Chúa
ngay
trong
lịch
sử
nhân
loại,
ngõ
hầu
tăng
trưởng
luôn
mãi
cho
tới
khi
Chúa
đến.
Hiệp
nhất
để
nhằm
đạt
những
của
cải
thiêng
liêng,
trở
nên
giàu
có
vì
những
của
cải
ấy,
gia
đình
này
"như
một
xã
hội
được
thiết
lập
qui
củ
trên
trần
gian"
4,
được
trang
bị
"các
phương
thế
thích
hợp
để
kết
hiệp
thành
một
xã
hội
hữu
hình"
5.
Như
thế,
là
"một
đoàn
thể
hữu
hình
và
là
cộng
đoàn
thiêng
liêng"
6,
Giáo
Hội
đồng
tiến
với
toàn
thể
nhân
loại
và
cùng
chia
sẻ
một
số
phận
trần
thế
với
thế
giới;
Giáo
Hội
như
men
và
hồn
của
xã
hội
loài
người
7,
sẽ
được
đổi
mới
trong
Chúa
Kitô
và
biến
thành
gia
đình
của
Thiên
Chúa.
Thực
ra,
sự
tương
nhập
giữa
hai
xã
hội
trần
thế
và
thiên
đàng
chỉ
có
thể
nhận
thức
được
qua
đức
tin.
Hơn
nữa,
đó
còn
là
một
mầu
nhiệm
của
lịch
sử
nhân
loại,
một
lịch
sử
bị
tội
lỗi
xáo
trộn
cho
đến
khi
vinh
quang
con
cái
Thiên
Chúa
được
mạc
khải
đầy
đủ.
Tuy
nhiên
trong
khi
đeo
đuổi
mục
đích
cứu
rỗi
cá
biệt
của
mình,
Giáo
Hội
không
phải
chỉ
truyền
thông
sự
sống
Thiên
Chúa
cho
con
người,
nhưng
còn
chiếu
giãi
ánh
sáng
của
đời
sống
ấy
cách
nào
đó
trên
toàn
thế
giới.
Giáo
Hội
làm
công
việc
này,
trước
hết
bằng
cách
chữa
trị
và
nâng
cao
phẩm
giá
nhân
vị,
củng
cố
cơ
cấu
của
xã
hội
nhân
loại
và
thấm
nhuần
cho
hoạt
động
thường
nhật
của
con
người
một
chiều
hướng
và
một
ý
nghĩ
sâu
xa
hơn.
Như
thế,
nhờ
từng
phần
tử
và
tất
cả
cộng
đoàn,
Giáo
Hội
tin
tưởng
có
thể
đóng
góp
nhiều
vào
việc
biến
đổi
gia
đình
và
lịch
sử
loài
người
trở
nên
nhân
đạo
hơn.
Ngoài
ra,
Giáo
Hội
Công
Giáo
sẵn
sàng
tán
thưởng
những
việc
mà
các
Giáo
Hội
Kitô
giáo
hay
các
cộng
đoàn
giáo
hội
khác
đã
và
còn
đang
thực
hiện
để
đóng
góp
vào
việc
chu
toàn
cùng
một
bổn
phận
này.
Ðồng
thời,
Giáo
Hội
xác
tín
mạnh
mẽ
rằng
thế
giới
có
thể
có
nhiều
cách
góp
phần
lớn
lao
vào
việc
dọn
đường
cho
Phúc
Âm
bằng
tài
năng
và
hoạt
động
cá
nhân
cũng
như
của
xã
hội.
Sau
đây
là
một
vài
nguyên
tắc
tổng
quát
để
phát
triển
đúng
mức
mối
tương
quan
và
tương
trợ
trong
những
phạm
vi
mà
Giáo
Hội
và
thế
giới
có
phần
chung
nhau.
41.
Sự
trợ
giúp
mà
Giáo
Hội
cố
gắng
cống
hiến
mỗi
người.
Con
người
hiện
đại
đang
trên
đường
phát
triển
trọn
vẹn
nhân
cách
của
mình
và
càng
ngày
càng
xác
định
quyền
lợi
của
mình
rõ
rệt
hơn.
Ðược
trao
phó
nhiệm
vụ
tỏ
bày
mầu
nhiệm
của
Thiên
Chúa,
Ðấng
làm
cùng
đích
của
con
người,
Giáo
Hội
cũng
đồng
thời
tỏ
cho
con
người
biết
ý
nghĩa
của
cuộc
đời
con
người,
tức
là
sự
thật
thâm
sâu
về
con
người.
Giáo
Hội
biết
chắc
rằng
chỉ
có
Thiên
Chúa
mà
Giáo
Hội
phụng
sự
mới
đáp
ứng
được
các
ước
vọng
sâu
xa
nhất
của
lòng
người.
Lòng
người
không
bao
giờ
hoàn
toàn
thỏa
mãn
với
những
của
ăn
trần
thế.
Giáo
Hội
cũng
biết
rằng
con
người
được
Thánh
Thần
Chúa
không
ngừng
thúc
đẩy,
sẽ
không
bao
giờ
hoàn
toàn
lãnh
đạm
trước
vấn
đề
tôn
giáo,
như
kinh
nghiệm
quá
khứ
và
nhiều
chứng
tích
của
thời
đại
chúng
ta
minh
chứng.
Thực
vậy,
con
người
luôn
khao
khát
muốn
biết,
ít
là
một
cách
mơ
hồ,
cuộc
sống,
hoạt
động
và
cái
chết
của
mình
có
ý
nghĩa
gì.
Chính
sự
hiện
diện
của
Giáo
Hội
nhắc
nhở
cho
con
người
nhớ
đến
những
vấn
đề
ấy.
Chỉ
có
Thiên
Chúa
là
Ðấng
tạo
dựng
con
người
giống
hình
ảnh
Ngài
và
cứu
thoát
con
người
khỏi
tội
lỗi,
mới
giải
đáp
đầy
đủ
các
vấn
đề
ấy.
Ngài
giải
đáp
bằng
cách
mạc
khải
trong
Con
của
Ngài
là
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
hóa
thân
làm
người.
Ai
theo
Chúa
Kitô,
Con
Người
hoàn
hảo,
kẻ
ấy
sẽ
được
trở
nên
người
hơn.
Dựa
trên
đức
tin
ấy
Giáo
Hội
có
thể
cứu
gỡ
phẩm
giá
của
bản
tính
con
người
khỏi
mọi
trào
lưu
tư
tưởng
di
động
không
ngừng
giữa
sự
khinh
dễ
và
tôn
sùng
thái
quá
đối
với
thân
xác
con
người.
Không
một
luật
lệ
nào
có
thể
đảm
bảo
phẩm
vị
và
tự
do
con
người
cách
thích
đáng
bằng
Phúc
Âm
Chúa
Kitô,
đã
được
trao
phó
cho
Giáo
Hội.
Thực
vậy,
Phúc
Âm
loan
báo
và
công
bố
sự
tự
do
của
con
cái
Thiên
Chúa,
phủ
nhận
mọi
hình
thức
nô
lệ
vì
mọi
ách
nô
lệ
rốt
cuộc
đều
bởi
tội
lỗi
mà
ra
8.
Phúc
Âm
tôn
trọng
triệt
để
phẩm
giá
và
quyết
định
tự
do
của
lương
tâm,
lại
không
ngừng
nhắc
nhở
phát
huy
mọi
tài
năng
để
phụng
sự
Thiên
Chúa
và
mưu
ích
cho
mọi
người.
Sau
hết,
Phúc
Âm
còn
dạy
mọi
người
phải
thương
yêu
nhau
9.
Những
điều
đó
phù
hợp
với
luật
căn
bản
trong
nhiệm
cuộc
cứu
rỗi
của
Kitô
giáo.
Vì,
tuy
Thiên
Chúa
vừa
là
Ðấng
Cứu
Ðộ,
vừa
là
Ðấng
Tạo
Dựng,
vừa
làm
Chủ
lịch
sử
nhân
loại,
vừa
làm
Chủ
lịch
sử
cứu
rỗi,
nhưng
trong
chính
chương
trình
của
Thiên
Chúa,
sự
tự
trị
đúng
mức
của
tạo
vật
và
nhất
là
của
con
người
không
hề
bị
hủy
diệt,
trái
lại
còn
được
phục
hồi
và
củng
cố
trong
phẩm
giá
riêng.
Vậy,
Giáo
Hội
dựa
vào
Phúc
Âm
đã
được
ủy
thác
cho
mình
mà
công
bố
những
quyền
lợi
của
con
người,
nhìn
nhận
và
tôn
trọng
năng
động
của
thời
hiện
đại
hiện
đang
cổ
võ
những
quyền
lợi
ấy
khắp
nơi.
Tuy
nhiên,
những
trào
lưu
đó
phải
được
thấm
nhuần
tinh
thần
Phúc
Âm
và
phải
được
bảo
vệ
cho
khỏi
nhiễm
mọi
hình
thức
tự
trị
sai
lầm.
Thực
vậy,
chúng
ta
dễ
bị
cám
dỗ
nghĩ
rằng
các
quyền
lợi
của
chúng
ta
chỉ
được
duy
trì
trọn
vẹn
khi
trút
bỏ
mọi
Luật
Lệ
của
Thiên
Chúa.
Nhưng
thực
ra,
đó
là
đường
lối
làm
cho
phẩm
giá
con
người
chẳng
những
không
được
duy
trì
mà
còn
bị
tiêu
tan
đi.
45*
42.
Sự
trợ
giúp
mà
Giáo
Hội
cố
gắng
mang
đến
cho
xã
hội
nhân
loại.
Sự
thống
nhất
gia
đình
nhân
loại
được
củng
cố
và
bổ
túc
46*
nhiều
nhờ
sự
hiệp
nhất
của
gia
đình
con
cái
Chúa
đã
được
thiết
lập
trong
Chúa
Kitô
10.
Sứ
mệnh
riêng
biệt
mà
Chúa
Kitô
đã
ủy
thác
cho
Giáo
Hội
Người
không
thuộc
phạm
vi
chính
trị,
kinh
tế
hay
xã
hội:
mục
đích
Người
đã
ấn
định
cho
Giáo
Hội
thuộc
phạm
vi
tôn
giáo
11.
Nhưng,
bởi
chính
sứ
mệnh
tôn
giáo
ấy,
phát
sinh
bổn
phận,
ánh
sáng
và
những
sức
mạnh
có
thể
giúp
thiết
lập
và
củng
cố
cộng
đoàn
nhân
loại
theo
Luật
Lệ
của
Thiên
Chúa;
cũng
thế,
khi
có
nơi
nào
cần,
chính
Giáo
Hội
có
thể
và
hơn
nữa,
phải
phát
động,
tùy
theo
hoàn
cảnh
thời
gian
và
nơi
chốn,
những
công
cuộc
nhằm
phục
vụ
mọi
người,
nhất
là
những
người
cùng
khốn,
thí
dụ
như
các
công
cuộc
từ
thiện
hoặc
những
tổ
chức
khác
tương
tự.
Giáo
Hội
còn
nhìn
nhận
tất
cả
những
gì
tốt
đẹp
trong
năng
động
xã
hội
hiện
tại:
nhất
là
sự
tiến
tới
hiệp
nhất,
tiến
trình
xã
hội
hóa
lành
mạnh
và
sự
liên
đới
trong
phạm
vi
công
quyền
và
kinh
tế.
Thực
vậy,
việc
cổ
võ
hiệp
nhất
phù
hợp
với
sứ
mệnh
sâu
xa
của
Giáo
Hội,
vì
chính
Giáo
Hội
ở
"trong
Chúa
Kitô
như
bí
tích
hoặc
dấu
chỉ
và
khí
cụ
của
sự
kết
hợp
mật
thiết
với
Thiên
Chúa
và
của
sự
hiệp
nhất
toàn
thể
nhân
loại"
12.
Như
thế,
chính
Giáo
Hội
bày
tỏ
cho
thế
giới
biết
rằng
sự
hiệp
nhất
bên
ngoài
trong
phạm
vi
xã
hội
bắt
nguồn
từ
sự
hiệp
nhất
tâm
trí,
nghĩa
là
từ
đức
tin
và
đức
mến,
căn
bản
hiệp
nhất
bất
khả
phân
ly
của
Giáo
Hội
trong
Chúa
Thánh
Thần.
Sinh
lực
mà
Giáo
Hội
có
thể
chuyển
thông
cho
xã
hội
nhân
loại
ngày
nay
là
đức
tin
và
đức
mến
ấy,
được
thể
hiện
trong
cuộc
sống,
chứ
không
phải
do
thế
lực
bên
ngoài
nào
dựa
vào
những
phương
thế
hoàn
toàn
nhân
loại.
Hơn
nữa,
bởi
sứ
mệnh
và
bản
chất,
Giáo
Hội
không
cấu
kết
với
một
hình
thức
văn
hóa
nhân
loại
đặc
thù
nào,
hoặc
một
chế
độ
chính
trị,
kinh
tế
hay
xã
hội
nào.
Nhờ
tính
cách
phổ
quát
ấy,
Giáo
Hội
có
thể
là
một
mối
dây
liên
kết
hết
sức
chặt
chẽ
giữa
các
cộng
đoàn
nhân
loại
và
các
quốc
gia
khác
nhau,
miễn
là
các
quốc
gia
và
cộng
đoàn
nhân
loại
ấy
tin
tưởng
vào
Giáo
Hội
và
thực
sự
nhìn
nhận
Giáo
Hội
có
quyền
tự
do
đích
thực
để
chu
toàn
sứ
mệnh
mình.
Vì
vậy,
Giáo
Hội
khuyến
cáo
các
con
cái
mình
và
hết
mọi
người:
hãy
vượt
qua
mọi
tranh
chấp
giữa
các
quốc
gia,
chủng
tộc
trong
tinh
thần
gia
đình
con
cái
Thiên
Chúa
và
củng
cố
các
hiệp
hội
nhân
loại
chính
đáng.
Công
Ðồng
quí
trọng
ngưỡng
mộ
tất
cả
những
gì
chân
thật,
tốt
lành
và
chính
đáng
trong
các
tổ
chức
rất
khác
biệt
mà
nhân
loại
đã
và
còn
đang
không
ngừng
thành
lập
cho
mình.
Công
Ðồng
cũng
tuyên
bố
rằng:
Giáo
Hội
muốn
trợ
giúp
và
cổ
võ
mọi
tổ
chức
ấy
trong
những
gì
liên
hệ
và
khả
dĩ
phù
hợp
với
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
Giáo
Hội
không
ao
ước
gì
hơn
là
được
tự
do
phát
triển
dưới
mọi
chế
độ
để
phục
vụ
lợi
ích
mọi
người,
miễn
là
các
chế
độ
này
nhìn
nhận
những
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người,
của
gia
đình
và
những
đòi
hỏi
của
công
ích.
43.
Sự
trợ
giúp
mà
Giáo
Hội
cố
gắng
nhờ
các
Kitô
hữu
mang
đến
cho
hoạt
động
nhân
loại
47*.
Công
Ðồng
khuyến
khích
các
Kitô
hữu,
công
dân
của
cả
hai
đô
thị,
hãy
nỗ
lực
chu
toàn
cách
trung
thành
những
bổn
phận
trần
thế
của
họ
và
chu
toàn
dưới
sự
hướng
dẫn
của
tinh
thần
Phúc
Âm.
Thực
sai
lầm
cho
những
ai
đang
khi
biết
rằng
chúng
ta
không
có
một
quê
hương
trường
tồn
ở
trần
thế
và
đang
phải
kiếm
tìm
một
quê
hương
hậu
lai
để
rồi
vì
đó
tưởng
rằng
mình
có
thể
xao
lãng
các
bổn
phận
trần
gian
13,
như
thế
là
không
nhận
thấy
chính
đức
tin
buộc
phải
chu
toàn
các
bổn
phận
đó
hoàn
hảo
hơn,
mỗi
người
tùy
theo
ơn
gọi
của
mình
14.
Ngược
lại,
cũng
sai
lầm
không
kém
đối
với
những
ai
nghĩ
rằng
có
thể
dấn
thân
hoàn
toàn
vào
công
việc
trần
thế
như
thể
các
công
việc
ấy
hoàn
toàn
xa
lạ
với
đời
sống
tôn
giáo,
vì
cho
rằng
đời
sống
tôn
giáo
chỉ
còn
hệ
tại
những
hành
vi
phượng
tự
và
một
vài
bổn
phận
luân
lý
phải
chu
toàn.
Sự
phân
ly
giữa
đức
tin
mà
họ
tuyên
xưng
và
cuộc
sống
thường
nhật
của
nhiều
người
phải
kể
vào
số
những
sai
lầm
trầm
trọng
nhất
của
thời
đại
chúng
ta.
Và
gương
mù
này
ngay
trong
Cựu
Ước
các
Tiên
Tri
đã
mạnh
mẽ
tố
cáo
15
và
trong
Tân
Ước
chính
Chúa
Giêsu
Kitô
còn
ngăm
đe
nhiều
hơn
nữa
bằng
những
hình
phạt
nặng
nề
16.
Vậy,
không
được
đem
sinh
hoạt
nghề
nghiệp
và
xã
hội
mà
đối
nghịch
cách
giả
tạo
với
đời
sống
tôn
giáo.
Ðối
với
người
Kitô
hữu,
xao
lãng
bổn
phận
trần
thế
tức
là
xao
lãng
bổn
phận
đối
với
người
lân
cận
và
hơn
nữa
đối
với
chính
Thiên
Chúa,
khiến
phần
rỗi
đời
đời
của
mình
bị
đe
dọa.
Theo
gương
Chúa
Giêsu
đã
sống
như
một
người
thợ,
các
Kitô
hữu
hãy
vui
mừng
vì
có
thể
thi
hành
mọi
hoạt
động
trần
thế
mà
đồng
thời
có
thể
liên
kết
trong
một
tổng
hợp
sống
động
duy
nhất,
các
cố
gắng
nhân
loại,
gia
đình,
nghề
nghiệp,
khoa
học
hay
kỹ
thuật
với
các
giá
trị
tôn
giáo.
Dưới
sự
điều
hướng
tối
cao
của
các
giá
trị
tôn
giáo
này,
mọi
sự
được
qui
hướng
về
vinh
danh
Thiên
Chúa.
Những
phận
vụ
và
sinh
hoạt
trần
thế
thuộc
lãnh
vực
riêng
của
giáo
dân,
tuy
không
độc
quyền
thuộc
về
họ.
Vì
vậy,
khi
hoạt
động,
cá
nhân
hay
đoàn
thể,
với
tư
cách
công
dân
trần
thế,
không
những
họ
phải
tôn
trọng
các
luật
lệ
riêng
của
mỗi
ngành
nhưng
còn
phải
ra
sức
tự
luyện
khả
năng
chuyên
môn
thực
sự
trong
các
lãnh
vực
ấy.
Họ
sẽ
sẵn
lòng
hợp
tác
với
những
người
cùng
theo
đuổi
những
mục
đích
chung.
Nhìn
nhận
các
đòi
hỏi
và
hưởng
nhờ
sức
mạnh
của
đức
tin,
khi
cần,
họ
sẽ
không
do
dự
đề
nghị
và
thực
hiện
những
sáng
kiến
mới.
Một
khi
được
đào
luyện
cách
thích
hợp,
lương
tâm
họ
phải
đem
luật
Chúa
thấm
nhập
cuộc
sống
của
xã
hội
trần
gian.
Giáo
dân
hãy
mong
đợi
ánh
sáng
và
sức
mạnh
tinh
thần
nơi
các
linh
mục.
Tuy
nhiên,
họ
đừng
vì
thế
mà
nghĩ
rằng:
các
chủ
chăn
có
đủ
thẩm
quyền
chuyên
môn
để
có
thể
có
ngay
một
giải
pháp
cụ
thể
cho
mọi
vấn
đề
xảy
ra,
kể
cả
những
vấn
đề
quan
trọng.
Cũng
đừng
lầm
tưởng
các
chủ
chăn
vốn
có
sứ
mạng
ấy.
Nhưng
tốt
hơn
là
chính
họ,
được
đức
khôn
ngoan
Kitô
giáo
soi
dẫn
và
cẩn
thận
chú
ý
các
giáo
huấn
của
Giáo
Hội
17,
hãy
nhận
lấy
trách
nhiệm
của
mình.
Thường
thì
chính
vũ
trụ
quan
Kitô
giáo
sẽ
hướng
dẫn
họ
chọn
một
giải
pháp
nhất
định
nào
đó
tùy
hoàn
cảnh.
Tuy
nhiên,
cũng
có
những
tín
hữu
khác,
dầu
khá
thực
tâm,
sẽ
thẩm
định
cách
khác
về
cùng
một
vấn
đề,
như
thường
thấy
xảy
ra;
và
sự
thẩm
định
đó
vẫn
được
coi
là
hợp
lý
như
thường.
Nhiều
người
dễ
dàng
gán
ghép
với
sứ
điệp
Phúc
Âm
những
giải
pháp
mà
họ
đề
ra,
mặc
dầu
nhiều
khi
ngoài
ý
muốn
của
họ.
Nhưng
nên
nhớ
trong
các
trường
hợp
trên,
không
ai
được
độc
quyền
giành
lấy
thẩm
quyền
của
Giáo
Hội
để
biện
minh
cho
lập
trường
riêng
48*.
Phải
luôn
luôn
nỗ
lực
soi
dẫn
nhau
bằng
đối
thoại
thành
thực,
bảo
toàn
tình
tương
ái
và
trước
hết
mưu
cầu
công
ích.
Người
giáo
dân
có
những
phận
vụ
tích
cực
phải
chu
toàn
trong
toàn
thể
đời
sống
Giáo
Hội.
Không
những
họ
phải
đem
tinh
thần
Kitô
giáo
thấm
nhuần
thế
giới
nhưng
còn
được
kêu
gọi
làm
chứng
cho
Chúa
Kitô
trong
mọi
hoàn
cảnh,
ngay
giữa
lòng
cộng
đoàn
nhân
loại.
Còn
các
Giám
Mục
đã
được
ủy
thác
việc
điều
hành
Giáo
Hội
Chúa
hãy
cùng
các
linh
mục
của
mình
rao
giảng
sứ
điệp
của
Chúa
Kitô,
sao
cho
mọi
hoạt
động
trần
thế
của
các
tín
hữu
thấm
nhuần
ánh
sáng
Phúc
Âm.
Hơn
nữa,
tất
cả
các
chủ
chăn
hãy
nhớ
rằng
các
Ngài
sẽ
biểu
lộ
cho
thế
giới
một
khuôn
mặt
của
Giáo
Hội
qua
thái
độ
và
ưu
tư
hằng
ngày
của
mình
18.
Qua
khuôn
mặt
ấy,
người
ta
phán
đoán
về
sức
mạnh
và
chân
lý
của
sứ
điệp
Kitô
giáo.
Bằng
đời
sống
và
lời
giảng,
hợp
cùng
các
tu
sĩ
và
giáo
hữu
của
mình,
các
ngài
hãy
minh
chứng
rằng
Giáo
Hội,
nguyên
bằng
sự
hiện
diện
và
kho
tàng
ân
huệ
của
mình,
đã
là
nguồn
vô
tận
của
những
mãnh
lực
mà
thế
giới
ngày
nay
rất
cần.
Các
Ngài
hãy
trau
dồi
khả
năng
bằng
cách
chuyên
cần
học
hỏi
sao
cho
có
thể
đóng
trọn
vai
trò
trách
nhiệm
của
mình
trong
khi
đối
thoại
với
thế
giới
và
những
người
thuộc
bất
cứ
lập
trường
nào.
Nhưng,
trước
hết
xin
các
ngài
hãy
ghi
lòng
những
lời
sau
đây
của
Công
Ðồng:
"Ngày
nay,
vì
nhân
loại
ngày
càng
hiệp
nhất
về
dân
sự,
kinh
tế
và
xã
hội,
nên
các
Linh
Mục
càng
phải
loại
trừ
mọi
mầm
mống
chia
rẽ,
phải
nối
kết
cố
gắng
và
khả
năng
mình
dưới
sự
hướng
dẫn
của
các
Giám
Mục
và
Giáo
Hoàng,
để
toàn
thể
nhân
loại
hiệp
nhất
trong
gia
đình
Thiên
Chúa"
19.
Mặc
dù
Giáo
Hội,
với
sức
mạnh
của
Chúa
Thánh
Thần,
vẫn
là
hiền
thê
trung
tín
của
Chúa
mình
và
không
ngừng
là
dấu
chỉ
ơn
cứu
rỗi
trong
thế
giới,
tuy
nhiên
Giáo
Hội
biết
rõ
rằng
trải
qua
bao
nhiêu
thế
kỷ
vẫn
không
thiếu
những
phần
tử
trong
Giáo
Hội
20,
giáo
dân
hoặc
giáo
sĩ,
sống
bất
trung
cùng
Thánh
Thần
Chúa.
Ngay
trong
thời
đại
chúng
ta,
Giáo
Hội
không
quên
sự
cách
biệt
lớn
lao
giữa
sứ
điệp
do
Giáo
Hội
công
bố
và
sự
yếu
đuối
nhân
loại
của
những
người
được
giao
phó
rao
giảng
Phúc
Âm.
Dầu
lịch
sử
có
phê
phán
thế
nào
về
những
khiếm
khuyết
ấy,
chúng
ta
cũng
phải
ý
thức
và
mạnh
mẽ
khử
trừ
những
thiếu
sót
để
khỏi
phương
hại
đến
việc
rao
giảng
Phúc
Âm.
Cũng
vậy,
trong
việc
mở
rộng
tương
quan
với
thế
giới,
Giáo
Hội
biết
mình
phải
luôn
trưởng
thành
nhờ
kinh
nghiệm
qua
các
thế
kỷ,
Ðược
Chúa
Thánh
Thần
hướng
dẫn,
Mẹ
Giáo
Hội
không
ngừng
"khuyên
giục
con
cái
thanh
tẩy
và
canh
tân,
để
ấn
dấu
của
Chúa
Kitô
chiếu
sáng
rạng
ngời
hơn
trên
khuôn
mặt
Giáo
Hội"
21.
44.
Sự
trợ
giúp
mà
Giáo
Hội
nhận
được
nơi
thế
giới
ngày
nay
49*.
Cũng
như
thế
giới
cần
phải
nhìn
nhận
Giáo
Hội
như
một
thực
thể
xã
hội
lịch
sử
và
như
men
của
lịch
sử,
Giáo
Hội
cũng
biết
mình
đã
nhận
được
rất
nhiều
nơi
lịch
sử
và
sự
tiến
hóa
của
nhân
loại.
Kinh
nghiệm
của
những
thế
kỷ
đã
qua,
tiến
bộ
của
khoa
học,
các
kho
tàng
hàm
chứa
trong
những
hình
thức
văn
hóa
nhân
loại
khác
nhau,
biểu
lộ
đầy
đủ
hơn
bản
tính
của
chính
con
người
và
mở
ra
những
con
đường
mới
dẫn
đến
chân
lý:
tất
cả
những
điều
ấy
đều
hữu
ích
cho
Giáo
Hội.
Thực
vậy,
chính
Giáo
Hội
ngay
từ
buổi
đầu
của
lịch
sử
mình
đã
ra
sức
diễn
tả
sứ
điệp
của
Chúa
Kitô
bằng
những
ý
niệm
và
ngôn
ngữ
của
nhiều
dân
tộc.
Hơn
nữa,
Giáo
Hội
còn
cố
gắng
dùng
sự
khôn
ngoan
của
các
triết
gia
để
làm
sáng
tỏ
sứ
điệp
ấy.
Làm
như
thế,
nhằm
thích
nghi
Phúc
Âm,
trong
mức
độ
có
thể,
với
tầm
hiểu
biết
của
mọi
người
cũng
như
với
những
đòi
hỏi
của
các
nhà
hiền
triết.
Rao
giảng
lời
mạc
khải
cách
thích
nghi
như
vậy
còn
phải
là
luật
lệ
cho
mọi
công
cuộc
truyền
giáo,
bởi
vì
có
như
vậy
mới
khơi
dậy
trong
mọi
quốc
gia
khả
năng
diễn
tả
sứ
điệp
Chúa
Kitô
theo
lối
riêng
của
mình
và
đồng
thời
mới
cổ
võ
được
sự
trao
đổi
linh
động
giữa
Giáo
Hội
và
những
nền
văn
hóa
khác
nhau
của
các
dân
tộc
22.
Ðể
xúc
tiến
những
cuộc
trao
đổi
như
thế,
nhất
là
trong
thời
đại
chúng
ta,
thời
mà
sự
vật
biến
đổi
rất
nhanh
và
lối
suy
tư
rất
nhiều
khác
biệt,
Giáo
Hội
đặc
biệt
cần
đến
sự
đóng
góp
của
những
người
sống
trong
thế
giới
và
biết
rõ
các
tổ
chức
và
bộ
môn
khác
nhau,
cũng
như
thấu
triệt
tinh
thần
các
tổ
chức
và
bộ
môn
đó,
dầu
họ
có
đức
tin
hay
không.
Bổn
phận
của
toàn
thể
Dân
Chúa,
đặc
biệt
của
các
chủ
chăn
và
các
nhà
thần
học
là
nhờ
sự
trợ
giúp
của
Chúa
Thánh
Thần,
đón
nghe,
phân
biệt
và
giải
thích
các
tiếng
nói
của
thời
đại,
rồi
phán
đoán
dưới
ánh
sáng
lời
Chúa
để
Chân
Lý
mạc
khải
luôn
được
thấu
triệt,
được
hiểu
rõ
và
trình
bày
cách
thích
hợp
hơn.
Giáo
Hội
có
một
cơ
cấu
xã
hội
hữu
hình,
dấu
hiệu
của
sự
hiệp
nhất
trong
Chúa
Kitô,
nên
Giáo
Hội
cũng
có
thể
được
giàu
có
thêm
và
thực
sự
đang
được
giàu
có
thêm
nhờ
sự
tiến
hóa
của
cuộc
sống
xã
hội
nhân
loại,
không
phải
vì
định
chế
do
Chúa
Kitô
ban
cho
Giáo
Hội
như
thiếu
một
điều
gì,
nhưng
là
để
định
chế
đó
được
hiểu
biết
sâu
xa
hơn,
được
diễn
tả
trung
thực
hơn
và
được
thích
nghi
hoàn
hảo
hơn
với
thời
đại
chúng
ta.
Với
lòng
biết
ơn,
Giáo
Hội
nhận
thấy
rằng
Giáo
Hội
đã
được
nhiều
người
thuộc
mọi
giai
cấp
và
hoàn
cảnh
giúp
đỡ
nhiều
cách
cho
chính
cộng
đoàn
cũng
như
cho
từng
con
cái
mình.
Quả
thực,
tất
cả
những
ai
phát
triển
cộng
đoàn
nhân
loại
trong
phạm
vi
gia
đình,
văn
hóa,
kinh
tế,
xã
hội,
chính
trị
và
trên
bình
diện
quốc
gia,
cũng
như
quốc
tế,
đều
trợ
giúp
không
ít
cho
cộng
đoàn
Giáo
Hội,
theo
như
ý
định
của
Thiên
Chúa,
trong
mức
độ
Giáo
Hội
lệ
thuộc
những
yếu
tố
bên
ngoài.
Hơn
nữa,
Giáo
Hội
còn
nhìn
nhận
rằng
chính
sự
chống
đối
của
những
kẻ
công
kích
hay
bách
hại
Giáo
Hội
đã
và
còn
đang
có
thể
giúp
ích
cho
Giáo
Hội
23.
45.
Chúa
Kitô,
Alpha
và
Omega.
Khi
trao
đổi
với
thế
giới
những
sự
giúp
đỡ
hỗ
tương,
Giáo
Hội
nhằm
một
mục
đích
duy
nhất
là:
làm
cho
Nước
Chúa
trị
đến
và
toàn
thể
nhân
loại
được
cứu
rỗi.
Mọi
lợi
ích
mà
Dân
Chúa
trong
thời
gian
hành
trình
tại
thế
có
thể
đem
lại
cho
gia
đình
nhân
loại
đều
phát
xuất
từ
sự
kiện
này:
Giáo
Hội
là
"bí
tích
phổ
quát
cứu
rỗi"
24,
tỏ
bày
và
đồng
thời
thực
hiện
mầu
nhiệm
tình
yêu
Thiên
Chúa
đối
với
con
người.
Quả
thực,
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa,
nhờ
Người
mà
muôn
vật
được
tạo
thành,
đã
làm
người,
là
Con
Người
hoàn
hảo,
Người
cứu
rỗi
mọi
người
và
kết
thâu
vạn
vật
nơi
Người.
Chúa
là
cùng
đích
của
lịch
sử
nhân
loại,
là
điểm
qui
tụ
mọi
ước
vọng
của
lịch
sử
và
văn
minh,
là
trung
tâm
của
nhân
loại,
là
niềm
vui
của
tâm
hồn
và
đáp
ứng
mọi
niềm
khao
khát
25.
Chính
Người
là
Ðấng
Chúa
Cha
đã
phục
sinh
từ
kẻ
chết,
đã
tôn
vinh
và
cho
ngự
bên
hữu,
đặt
làm
thẩm
phán
kẻ
sống
và
kẻ
chết.
Ðược
sống
động
và
tụ
họp
trong
Thánh
Thần
Ngài,
chúng
ta
đang
hành
trình
hướng
về
chung
cục
lịch
sử
nhân
loại,
phù
hợp
với
ý
định
yêu
thương
của
Ngài:
"kết
thâu
tất
cả
trong
Chúa
Kitô:
mọi
sự
trên
trời
dưới
đất"
(Eph
1,10).
Chính
Chúa
đã
nói:
"Vậy
tiền
công
của
ta
sẵn
đây
rồi,
này
ta
đến
gấp
mà
trả
cho
mỗi
người
tùy
theo
công
việc
họ
làm.
Ta
là
Alpha
và
Omega,
thứ
nhất
và
sau
chót,
nguyên
thủy
và
cứu
cánh"
(Kh
22,12-13)
50*.
Chú
Thích:
44*
Trong
chương
này
Công
Ðồng
muốn
trình
bày
vai
trò
của
Giáo
Hội
ở
giữa
thế
giới
(40a):
Trước
hết,
nhắc
lại
khởi
nguyên
của
Giáo
Hội,
mục
đích,
phần
tử
(40b),
sứ
mệnh
siêu
nhiên
cũng
như
tự
nhiên
(40c),
và
sự
cộng
tác
cần
thiết
của
mọi
người
(40d).
1)
Vai
trò
đối
với
từng
cá
nhân
(tương
ứng
với
chương
I
trên
đây):
Giáo
Hội
soi
sáng
ý
nghĩa
ước
ao
của
con
người
(41a),
Giáo
Hội
cũng
bảo
vệ
nhân
phẩm
đích
thực
(tìm
thấy
ở
giữa
một
số
cực
đoan)
(41b)
và
công
nhận
nhân
quyền
rồi
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
vào
việc
cổ
võ
quyền
lợi
ấy
(41c).
2)
Ðối
với
xã
hội
(tương
ứng
với
chương
II):
Giáo
Hội
giúp
đỡ
nhân
loại
hiệp
nhất
chặt
chẽ
hơn
(42a)
và
đem
tinh
thần
mới
nhập
vào
cơ
cấu
xã
hội.
Hoạt
động
xã
hội
của
Giáo
Hội
như
vậy
là
hợp
lý
(42b,c,d).
3)
Ðối
với
sinh
hoạt
xã
hội
(tương
ứng
với
chương
III):
Ðức
tin
đòi
phải
chu
toàn
nhiệm
vụ
sinh
hoạt
xã
hội
(43a).
Ðó
là
phận
vụ
riêng
biệt
của
giáo
dân
đã
được
đào
tạo
và
có
trách
nhiệm
(43b).
Họ
phải
cộng
tác
với
người
khác
và
lo
cho
ích
chung
(43c),
trong
khi
đem
tinh
thần
Kitô
giáo
và
sinh
hoạt
đó
(43d).
Phần
giáo
sĩ,
các
ngài
phải
soi
sáng
giáo
dân
và
phải
làm
gương
về
các
đức
tính
xã
hội
(43e).
Là
dấu
chứng
về
sự
cứu
độ,
Giáo
Hội
phải
luôn
luôn
nỗ
lực
để
tự
tinh
luyện
(43f).
4)
Thế
giới
cũng
giúp
đỡ
Giáo
Hội:
Khi
Giáo
Hội
tiếp
xúc
với
nhiều
nền
văn
minh
khác
nhau
và
tìm
cách
rao
giảng
Phúc
Âm
một
cách
thích
nghi,
thì
chính
Giáo
Hội
trở
nên
phong
phú
hơn
(44a,b).
Ðàng
khác
mọi
tiến
bộ
nhân
loại
cũng
giúp
ích
cho
Giáo
Hội
(44c).
5)
Giáo
Hội
phục
vụ
thế
giới
khi
làm
tròn
sứ
mệnh
riêng
là
mở
rộng
nước
Thiên
Chúa
(44a)
và
rao
giảng
về
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
sáng
lập
mọi
sự
đồng
thời
là
trung
tâm
điểm,
là
cùng
đích
của
mọi
sự
(44b,c).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Phaolô
VI,
Tđ.
Ecclesiam
suam,
III:
AAS
56
(1964),
trg
637-659.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Tit
3,4:
"Philanthropia".
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Eph
1,3;
13-14;
23.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
I,
số
8:
AAS
57
(1965),
trg
12.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
N.v.t.,
ch.
II,
số
9:
AAS
57
(1965),
trg
14;
-
x.
số
8:
AAS,
n.v.t.,
trg
11.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
N.v.t.,
ch.
I,
số
8:
AAS
57
(1965),
trg
11.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
n.v.t.,
ch.
IV,
38:
AAS
57
(1965),
trg
43
và
ghi
chú
120.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Rm
8,14-17.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Mt
22,39.
(Trở
lại
đầu
trang)
45*
Ðối
với
con
người
hiện
nay,
con
người
giàu
có
với
mọi
hình
thức
nhân
bản,
với
tất
cả
những
tiến
bộ
khoa
học
và
xã
hội,
Giáo
Hội
có
thể
đem
đến
lợi
ích
gì?
Giáo
Hội
đem
lại
ánh
sáng
chính
yếu
để
con
người
tự
biết
mình
và
bảo
vệ
nhân
phẩm.
Nếu
không
biết
Thiên
Chúa,
con
người
làm
sao
hiểu
biết
sự
thật
thâm
sâu
về
mình
được.
Không
biết
mình,
con
người
không
thể
nào
trả
lời
cho
những
vấn
nạn
căn
bản
về
ý
nghĩa
cuộc
sống,
sinh
hoạt
và
sự
chết.
Không
biết
Chúa
Kitô
là
con
người
hoàn
hảo,
con
người
không
thể
nào
trở
nên
đầy
đủ
(41a).
Khi
nào
tự
biết
mình
và
phẩm
giá
đích
thực
của
mình,
con
người
mới
có
thể
lên
tiếng
đòi
cho
mình
các
quyền
lợi
nhân
bản
một
cách
đầy
đủ
và
hợp
lý
cũng
như
xứng
hợp
với
đức
tin.
(Trở
lại
đầu
trang)
46*
Công
Ðồng
đã
nhắc
lại
sự
thống
nhất
của
nhân
loại
(số
29)
có
nền
tảng
tự
nhiên
là
sự
thống
nhất
sinh
vật,
sự
thống
nhất
về
bản
tính
và
do
đó
về
các
quyền
lợi
căn
bản.
Vả
lại
bản
tính
xã
hội
sẽ
thúc
đẩy
con
người
hiệp
nhất
một
ngày
một
hơn
(số
6,25).
Mặt
khác
sự
thống
nhất
của
nhân
loại
cũng
có
nền
tảng
siêu
nhiên,
vì,
như
đức
tin
dạy,
tất
cả
mọi
người
được
Thiên
Chúa
dựng
nên
và
có
cùng
một
cứu
cánh
là
chính
Thiên
Chúa.
Tất
cả
đã
được
Chúa
Kitô
cứu
chuộc,
tất
cả
đã
được
mời
gọi
để
trở
nên
con
cái
Thiên
Chúa
và
anh
em
với
nhau.
Luật
mới
của
những
con
người
mới
ấy
là
luật
thương
yêu
lẫn
nhau.
Vì
là
một
thân
thể,
một
dân
tộc
duy
nhất,
Giáo
Hội
giúp
đỡ
nhân
loại
thực
hiện
lý
tưởng
thống
nhất.
Vì
là
bí
tích,
tức
là
dấu
chứng
và
dụng
cụ
để
giúp
đỡ
nhân
loại
kết
hiệp
mật
thiết
với
Thiên
Chúa
và
hiệp
nhất
với
nhau
(42c),
Giáo
Hội
góp
phần
lớn
lao
để
thống
nhất
loài
người.
Ðó
chính
là
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
vậy
(số
92a).
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
CÐ.
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
II,
số
9:
AAS
57
(1965),
trg
12-14.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Piô
XII,
Allocutio
ad
Cultores
historiae
et
artis,
9-3-1956:
AAS
48
(1956),
trg
212:
"Trong
phạm
vi
văn
hóa,
vị
Sáng
Lập
thần
linh
của
Giáo
Hội
là
Chúa
Kitô
không
ban
cho
Giáo
Hội
một
sứ
mệnh
nào
cũng
không
ấn
định
một
mục
đích
nào.
Mục
đích
mà
Chúa
Kitô
nhằm
là
thuần
túy
tôn
giáo
(...)
Giáo
Hội
phải
dẫn
dắt
mọi
người
đến
với
Chúa
để
họ
phó
thác
cho
Ngài
mà
không
đắn
đo
(...)
Giáo
Hội
không
khi
nào
có
thể
để
mục
đích
thuần
túy
tôn
giáo,
siêu
nhiên
này
lọt
ra
ngoài
tầm
nhãn
giới
của
mình.
Ý
nghĩ
a
mọi
hoạt
động
của
Giáo
Hội
cả
đến
tận
khoản
cuối
cùng
của
Bộ
Giáo
Luật
chỉ
qui
về
mục
đích
đó
cách
trực
tiếp
hay
gián
tiếp".
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
I,
số
1:
AAS
57
(1965),
trg
5.
(Trở
lại
đầu
trang)
47*
Sống
trong
thế
gian
tín
hữu
phải
tránh
hai
thái
độ
sai
lầm:
1)
bỏ
sót
công
việc
trần
thế
để
chỉ
lo
cho
việc
đạo
đức;
2)
chìm
đắm
trong
công
việc
trần
thế
và
coi
công
việc
này
như
không
có
liên
quan
gì
đến
việc
đạo
đức.
Qua
cả
hai
sự
sai
lầm
trên,
người
ta
tách
biệt
đời
sống
tôn
giáo
và
đời
sống
nghề
nghiệp
hay
đời
sống
trần
thế
nếu
nói
rộng
hơn
(cuộc
giải
trí,
văn
hóa...)
và
lại
hành
động
theo
luân
lý
cá
nhân
(số
30).
Ðức
tin
phải
ảnh
hưởng
trên
cả
đời
sống
và
ta
phải
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
vào
công
việc
trần
thế:
vào
nghề
nghiệp,
vào
giao
thiệp
với
người
khác,
vào
văn
hóa,
vào
cuộc
giải
trí
v.v...
"Ðối
với
người
Kitô
hữu,
xao
lãng
bổn
phận
trần
thế
tức
là
xao
lãng
bổn
phận
đối
với
những
người
lân
cận
và
hơn
nữa
đối
với
chính
Thiên
Chúa,
khiến
phần
rỗi
đời
đời
của
mình
bị
đe
dọa":
vì
bổn
phận
trần
thế
là
phương
tiện
để
thực
hành
đức
mến
đối
với
anh
em
và
đối
với
Thiên
Chúa.
Không
thực
hành
đức
mến
tức
là
phạm
đến
toàn
thể
bộ
luật
(x.
Gal
5,14).
Cho
nên
kẻ
nào
xao
lãng
bổn
phận
trần
thế
hay
là
tách
rời
nó
khỏi
ảnh
hưởng
của
tinh
thần
Phúc
Âm
tức
là
người
không
sống
đạo,
họ
không
phải
là
người
công
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Dth
13,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
2Th
3,6-13;
Eph
4,28.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Is
58,1-12.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Mt
23,3-33;
Mc
7,10-13.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra,
IV:
AAS
53
(1961),
trg
456-457
và
I
:n.v.t.,
trg
407,
410-411.
(Trở
lại
đầu
trang)
48*
"3)
Sau
khi
nhắc
lại
những
nguyên
tắc
tổng
quát
trên
đây,
Hàng
Giáo
Phẩm
Công
Giáo
Việt
Nam
chiếu
theo
những
sự
kiện
lịch
sử,
chính
trị,
xã
hội,
tôn
giáo
hiện
tại
trong
nước,
đồng
thanh
xác
định
như
sau:
a)
Không
cho
phép
một
đảng
phái
nào
lấy
tên
là
"Công
Giáo"
hay
là
"Thiên
Chúa
Giáo",
để
rồi
đảng
ấy
có
thể
xuất
hiện
như
là
đảng
phái
của
Giáo
Hội
Công
Giáo
tại
Việt
Nam.
b)
Kêu
mời
giáo
dân
Công
Giáo
phải
ý
thức
rằng:
sức
mạnh
của
họ
trước
hết
phải
ở
trong
tinh
thần
Chúa
Giêsu
-
tức
là
tinh
thần
Phúc
Âm
được
mọi
người
sống
động
và
chiếu
dọi
chung
quanh,
như
đã
trình
bày
trong
những
đoạn
nói
trên.
c)
Tuy
nhiên
để
áp
dụng
nguyên
tắc
số
2 ở
trên,
hết
mọi
người
Công
Giáo
-
với
tư
cách
là
người
công
dân
-
đều
có
thể
tự
do
ghi
tên
để
gia
nhập
đảng
này
hay
đảng
khác
tùy
ý,
bất
cứ
là
đảng
ấy
đã
thành
lập
rồi,
hay
sẽ
được
những
công
dân
đầy
đủ
khả
năng,
can
đảm
thành
lập
về
sau.
Ghi
tên
vào
một
đảng
phái
như
thế,
đồng
bào
Công
Giáo
không
cam
kết
Giáo
Hội,
nhưng
chỉ
cam
kết
cá
nhân
mình...
Ðồng
bào
Công
Giáo
hoạt
động
trong
đảng
phái
mình
đã
lựa
chọn,
tuy
nhiên
cả
trong
hoạt
động
chính
trị
(cũng
như
đời
sống
cá
nhân,
gia
đình,
nghề
nghiệp)
họ
phải
là
một
nhân
chứng
của
Chúa
Kitô.
Họ
phải
tìm
cách
để
in
sâu
vào
trong
các
tâm
hồn
những
luật
lệ,
những
qui
chế,
tinh
thần
Phúc
Âm
và
học
thuyết
xã
hội
của
Hội
Thánh.
1)
Hiện
nay
không
có
một
tờ
báo
Công
Giáo
nào,
hay
là
một
tờ
báo
có
xu
hướng
Công
Giáo
nào
đã
được
Hàng
Giáo
Phẩm
chỉ
định
để
làm
tiếng
nói
chính
thức
cho
Công
Giáo...
2)
Có
những
báo
chí
đã
được
thành
lập
do
một
số
giáo
dân
Công
Giáo
nhiệt
thành,
quảng
đại;
đó
là
quyền
lợi
riêng
của
họ
và
chúng
tôi
thêm
rằng:
đó
là
nghĩa
vụ
của
họ.
Chúng
tôi
để
lời
khen
ngợi
họ
đã
có
sáng
kiến
tốt
đẹp
như
thế,
và
chúng
tôi
hết
sức
khuyên
họ
hãy
tiếp
tục
bền
vững".
(Thư
luân
lưu
của
H.Ð.G.M.V.N.,
ngày
22
tháng
1
năm
1964,
x.
trong
báo
Sacerdos,
số
27,
tháng
3
năm
1964,
(trg
170-171;
172-173).
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
III,
số
28:
AAS
57
(1965),
trg
34-35.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
N.t.,
số
28:
AAS,
n.v.t.,
trg
35-36.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
T.
Ambrosiô,
De
Virginitate,
ch.
VIII,
số
48:
PL
16,
278.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
II,
số
15:
AAS
57
(1965),
trg
20.
(Trở
lại
đầu
trang)
49*
Từ
xưa
tới
nay,
thế
giới
cũng
đem
lại
rất
nhiều
lợi
ích
cho
Giáo
Hội.
Quả
quyết
như
vậy
là
xác
nhận
một
sự
kiện
lịch
sử,
nhưng
có
lẽ
chỉ
gần
đây
tín
hữu
mới
ý
thức
về
sự
kiện
ấy.
Giáo
Hội
lãnh
nhận
nhiều:
1)
Trong
lãnh
vực
tư
tưởng
nhờ
các
kho
tàng
của
nhiều
nền
văn
minh
khác
nhau.
Tất
cả
những
gì
giúp
ta
hiểu
biết
hơn
về
con
người
và
thế
giới
đều
giúp
đỡ
Giáo
Hội:
giáo
dục,
văn
hóa,
khoa
học...
2)
Trong
lãnh
vực
cơ
cấu
xã
hội:
từ
đầu,
Giáo
Hội
đã
chịu
ảnh
hưởng
của
nếp
sống
Do
Thái,
của
pháp
lý
La
Mã
và
Ðức
Quốc,
và
ít
hay
nhiều
của
phong
tục
các
dân
tộc
khác
nữa.
Pháp
lý
các
xứ
truyền
giáo
đã
ảnh
hưởng
rất
nhiều
đến
pháp
lý
chung
của
Giáo
Hội
chẳng
hạn.
Hiện
nay
ta
thấy
ảnh
hưởng
của
chế
độ
dân
chủ
qua
những
phong
trào
phân
quyền,
nhiều
cơ
quan
mới
như
Thượng
Hội
Ðồng
Giám
Mục,
Hội
Ðồng
Giám
Mục,
Hội
Ðồng
Linh
Mục,
v.v...
3)
Trong
lãnh
vực
sinh
hoạt:
khi
các
Quốc
Gia
và
các
Tổ
Chức
quốc
tế
kính
trọng
sự
tự
do
của
Giáo
Hội,
mời
Giáo
Hội
cộng
tác,
giúp
Giáo
Hội
hoạt
động,
hay
là
mặc
dầu
không
muốn
nhờ
Giáo
Hội,
nhưng
khi
các
Tổ
Chức
ấy
cố
gắng
nâng
cao
con
người
nhờ
việc
giáo
dục,
nhờ
việc
bảo
đảm
nhân
quyền,
v.v...
thực
ra
họ
đã
làm
những
công
việc
có
chung
mục
đích
với
Giáo
Hội.
Là
người
Việt
Nam
hay
làm
việc
ở
Việt
Nam,
ta
phải
nhấn
mạnh
câu
"Rao
giảng
lời
mạc
khải
cách
thích
nghi
như
vậy
còn
phải
là
luật
lệ
cho
mọi
công
cuộc
truyền
giáo".
Sau
hơn
ba
thế
kỷ
từ
khi
Phúc
Âm
tới
Việt
Nam,
phải
chăng
Ðạo
chúng
ta
còn
thấm
nhuần
màu
sắc
ngoại
quốc
quá
đáng?
Người
ngoại
giáo
có
cảm
tưởng
đó
không?
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
II
số
13:
AAS
(1965),
trg
17.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Justinô,
Dialogus
cum
Tryphone,
ch.
110:
PG
6,
729,
x.b.
Otto,
1897,
trg
391-393:
...
"nhưng
chúng
ta
càng
chịu
nhiều
khổ
nhục
ấy,
lại
càng
có
nhiều
người
trở
thành
tín
hữu
và
đạo
đức
nhờ
danh
Chúa
Giêsu".
-
Xem
Tertullianô,
Apologeticus,
ch.
L,
13:
PL
I,
534;
Corpus
Christ.,
ser.
Lat.
I,
trg
171:
"càng
bị
các
người
gặt
(bách
hại)
chúng
tôi
càng
trở
nên
đông
đúc
hơn:
máu
tử
đạo
là
hạt
giống
nảy
sinh
Kitô
hữu!"
-
X.
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
I I
số
9:
A
AS
57
(1965),
trg
14.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
VII,
số
48:
AAS
57
(1965),
trg
53.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
Phaolô
VI,
Huấn
từ
3-2-1965:
L'Osservatore
Romano,
4-2-1965.
(Trở
lại
đầu
trang)
50*
Alpha
và
Omega
là
chữ
đầu
và
chữ
cuối
của
mẫu
tự
Hy
Lạp.
Câu
nói
có
nghĩa
là
khi
dùng
các
chữ
trong
mẫu
tự,
ta
có
thể
viết
ra
tất
cả
những
gì
ta
muốn.
Vậy
thì,
nói
về
Chúa
(cũng
như
về
Thiên
Chúa
Cha:
Kh
1,8)
có
nghĩa
là
Chúa
có
toàn
quyền
để
phán
xét
nhân
loại.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II