VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Chương
III
Hoạt
Ðộng
Của
Nhân
Loại
Trong
Vũ
Trụ
36*
33.
Ðặt
vấn
đề.
Con
người
đã
luôn
cố
gắng
phát
triển
thêm
mãi
đời
sống
của
mình
bằng
việc
làm
và
tài
năng.
Ngày
nay,
nhất
là
với
sự
trợ
giúp
của
khoa
học
và
kỹ
thuật
con
người
đã
và
còn
đang
không
ngừng
nới
rộng
sự
thống
trị
của
mình
gần
như
trên
tất
cả
thiên
nhiên,
và
đặc
biệt
nhờ
sự
gia
tăng
đủ
loại
phương
tiện
trao
đổi
giữa
các
quốc
gia,
gia
đình
nhân
loại
dần
dần
ý
thức
về
mình
và
hợp
thành
gần
như
một
cộng
đoàn
duy
nhất
trong
vũ
trụ.
Do
đó,
ngày
nay
con
người
đã
dùng
sức
cần
lao
tự
cung
ứng
nhiều
phẩm
vật
mà
xưa
kia
họ
mong
đợi
trước
nhất
nơi
các
quyền
lực
thần
linh.
Trước
nỗ
lực
lớn
lao
đang
lan
rộng
tới
tất
cả
nhân
loại
này,
nhiều
câu
hỏi
đang
được
con
người
nêu
lên.
Ðâu
là
ý
nghĩa
và
giá
trị
của
hoạt
động
cần
lao
ấy?
Phải
xử
dụng
tất
cả
các
sự
ấy
ra
sao?
Ðâu
là
mục
đích
của
những
cố
gắng
cá
nhân
cũng
như
tập
thể?
Dầu
Giáo
Hội
là
quản
thủ
kho
tàng
lời
Chúa
để
từ
đó
rút
ra
những
nguyên
tắc
luân
lý
và
tôn
giáo,
nhưng
không
phải
lúc
nào
Giáo
Hội
cũng
có
ngay
câu
trả
lời
cho
mỗi
một
vấn
đề.
Tuy
nhiên
bao
giờ
Giáo
Hội
cũng
ao
ước
nối
kết
ánh
sáng
mạc
khải
với
sự
khôn
khéo
của
mọi
người
để
soi
dẫn
con
đường
mà
nhân
loại
vừa
bước
chân
vào
37*.
34.
Giá
trị
của
hoạt
động
nhân
loại.
Ðối
với
các
tín
hữu,
chắc
chắn
hoạt
động
cá
nhân
cũng
như
tập
thể
của
nhân
loại,
hoặc
nỗ
lực
vĩ
đại
của
con
người
vất
vả
qua
các
thế
kỷ
nhằm
cải
thiện
hoàn
cảnh
sinh
sống,
tự
nó
vốn
phù
hợp
với
ý
định
của
Thiên
Chúa.
Thực
vậy,
được
tạo
dựng
giống
hình
ảnh
Thiên
Chúa,
con
người
đã
nhận
mệnh
lệnh
chinh
phục
trái
đất
cùng
tất
cả
những
gì
chứa
đựng
trong
đó,
cai
quản
vũ
trụ
trong
công
bình
và
thánh
thiện
1
và
khi
nhìn
nhận
Thiên
Chúa
là
Ðấng
tạo
dựng
mọi
loài,
họ
qui
hướng
về
Người
chính
bản
thân
mình
cũng
như
muôn
vật:
như
thế,
khi
con
người
chinh
phục
tất
cả
thì
danh
Chúa
được
tôn
vinh
khắp
địa
cầu
2.
38*
Những
điều
nhận
định
trên
đây
cũng
ứng
dụng
được
nơi
những
công
việc
hoàn
toàn
thường
nhật.
Thực
vậy
trong
khi
mưu
sinh
cho
mình
và
cho
gia
đình,
tất
cả
những
người
nam
cũng
như
nữ
hoạt
động
để
phục
vụ
xã
hội
một
cách
hữu
hiệu
đều
có
lý
để
tin
rằng
nhờ
lao
công
của
mình,
họ
tiếp
nối
công
trình
của
Ðấng
Tạo
Hóa,
phụng
sự
anh
em,
đóng
góp
công
lao
mình
vào
việc
hoàn
thành
ý
định
của
Thiên
Chúa
trong
lịch
sử
3.
Người
Kitô
hữu
không
những
không
coi
các
công
trình
do
con
người
dùng
tài
năng
và
sức
lực
riêng
để
thực
hiện
là
chống
đối
quyền
năng
của
Thiên
Chúa,
không
coi
thụ
tạo
có
lý
trí
như
một
địch
thủ
của
Tạo
Hóa,
mà
lại
xác
tín
rằng
các
thắng
lợi
của
nhân
loại
là
dấu
hiệu
biểu
dương
Thiên
Chúa
cao
cả
và
là
kết
quả
của
ý
định
khôn
lường
của
Ngài.
Tuy
nhiên,
quyền
lực
con
người
càng
gia
tăng,
trách
nhiệm
cá
nhân
hay
tập
thể
lại
càng
nới
rộng.
Do
đó,
chúng
ta
thấy
sứ
điệp
Kitô
giáo
không
làm
cho
con
người
tránh
né
khỏi
công
cuộc
xây
dựng
thế
giới
hoặc
khiến
họ
không
còn
thiết
tha
đến
lợi
ích
của
đồng
loại,
nhưng
trái
lại
bổn
phận
thực
hiện
những
điều
ấy
còn
thúc
bách
họ
hơn
nữa
4.
35.
Trật
tự
hoạt
động
con
người.
Hoạt
động
của
con
người
phát
xuất
từ
con
người
nên
qui
hướng
về
con
người.
Thật
vậy,
khi
làm
việc
con
người
không
những
biến
đổi
sự
vật
và
xã
hội
mà
còn
cải
thiện
chính
mình.
Bởi
vì
khi
làm
việc
con
người
học
biết
được
nhiều
điều,
phát
triển
tài
năng
cũng
như
thoát
ra
và
vượt
khỏi
chính
mình.
Nếu
được
hiểu
cho
đúng
thì
sự
tăng
triển
này
đáng
giá
hơn
mọi
của
cải
có
thể
thu
tích
được.
Giá
trị
con
người
hệ
tại
ở
"cái
mình
là"
hơn
hệ
tại
ở
"cái
mình
có"
5.
Cũng
vậy,
tất
cả
cái
gì
con
người
làm
để
đạt
tới
một
mức
độ
công
bình
cao
hơn,
một
tình
huynh
đệ
rộng
lớn
hơn
và
một
trật
tự
nhân
đạo
hơn
trong
các
tương
quan
xã
hội,
đều
quí
trọng
hơn
các
tiến
bộ
kỹ
thuật,
bởi
vì,
các
tiến
bộ
ấy
tuy
có
thể
cung
cấp
chất
liệu
cho
việc
thăng
tiến
con
người,
nhưng
tự
chúng
mà
thôi
không
thể
thực
hiện
được
công
cuộc
thăng
tiến
ấy.
Vậy
nên,
đây
là
tiêu
chuẩn
hoạt
động
của
con
người:
mọi
hoạt
động
của
con
người
phải
phù
hợp
với
lợi
ích
đích
thực
của
nhân
loại
theo
như
ý
định
và
ý
muốn
của
Thiên
Chúa,
lại
phải
giúp
con
người,
cá
nhân
cũng
như
tập
thể,
trau
dồi
và
thực
hiện
ơn
gọi
toàn
diện
của
mình.
36.
Sự
độc
lập
đúng
mức
của
các
thực
tại
trần
thế.
Tuy
nhiên,
nhiều
người
đương
thời
dường
như
e
ngại
rằng
sự
liên
kết
khá
chặt
chẽ
giữa
hoạt
động
của
con
người
và
tôn
giáo
sẽ
làm
ngăn
trở
sự
độc
lập
của
con
người,
của
xã
hội
hoặc
của
khoa
học
39*.
Nếu
sự
độc
lập
của
các
thực
tại
trần
thế
có
nghĩa
là
các
tạo
vật
và
các
xã
hội
đều
có
những
định
luật
và
những
giá
trị
riêng
mà
con
người
phải
khám
phá
dần
dần,
xử
dụng
và
điều
hòa,
thì
đòi
hỏi
một
sự
độc
lập
như
thế
là
một
việc
hoàn
toàn
chính
đáng:
đó
là
điều
không
những
người
đương
thời
đòi
hỏi
mà
còn
phù
hợp
với
ý
muốn
của
Tạo
Hóa.
Thực
vậy,
chính
vì
được
tạo
dựng
mà
mọi
vật
đều
có
sự
vững
chãi,
chân
thực
và
tốt
lành
cùng
những
định
luật
và
trật
tự
riêng.
Con
người
phải
tôn
trọng
tất
cả
những
điều
ấy,
phải
nhìn
nhận
các
phương
pháp
cá
biệt
của
mỗi
khoa
học
và
kỹ
thuật.
Bởi
vậy,
việc
khảo
sát
có
phương
pháp
trong
mọi
ngành,
nếu
tiến
hành
một
cách
khoa
học
thực
sự
và
theo
các
tiêu
chuẩn
luân
lý,
sẽ
không
bao
giờ
thực
sự
trái
nghịch
với
đức
tin,
vì
các
thực
tại
trần
thế
và
các
thực
tại
đức
tin
đều
bởi
một
Thiên
Chúa
mà
ra
6.
Hơn
nữa,
những
ai
kiên
nhẫn
và
khiêm
tốn
cố
gắng
nghiên
cứu
sâu
xa
những
bí
ẩn
của
sự
vật,
mặc
dù
không
ý
thức,
nhưng
vẫn
được
bàn
tay
Chúa
hướng
dẫn,
vì
Ngài
là
Ðấng
bảo
trì
muôn
loài
và
khiến
chúng
hiện
hữu
theo
bản
tính
riêng
của
mỗi
loài.
Do
đó
đôi
khi
chúng
ta
có
thể
phàn
nàn
một
số
tâm
trạng
cả
nơi
các
Kitô
hữu,
không
hiểu
rõ
sự
độc
lập
hợp
lý
của
khoa
học.
Những
tâm
trạng
này
gây
nên
nhiều
cuộc
tranh
luận
và
bất
đồng
khiến
nhiều
người
nghĩ
rằng
đức
tin
và
khoa
học
đối
nghịch
nhau
7.
40*
Nhưng,
nếu
"sự
độc
lập
của
thực
tại
trần
thế"
có
nghĩa
là:
các
tạo
vật
không
lệ
thuộc
Thiên
Chúa
và
con
người
có
thể
xử
dụng
chúng
mà
không
cần
quy
hướng
về
Ðấng
Tạo
Hóa
thì
không
một
ai
nhìn
nhận
Thiên
Chúa
lại
không
thấy
rằng
lập
trường
đó
hết
sức
sai
lầm.
Thực
vậy,
không
có
Tạo
Hóa,
tạo
vật
đều
tiêu
tan.
Ngoài
ra
mọi
tín
hữu,
dù
thuộc
tôn
giáo
nào
đi
nữa,
cũng
luôn
nghe
tiếng
Thiên
Chúa
và
thấy
Ngài
hiển
hiện
qua
tiếng
nói
của
tạo
vật.
Lại
nữa,
quên
mất
Thiên
Chúa,
mọi
tạo
vật
đều
trở
nên
mờ
tối.
37.
Tội
lỗi
làm
hư
hỏng
hoạt
động
của
nhân
loại.
Thánh
Kinh
cũng
như
kinh
nghiệm
nhiều
thời
đại
dạy
cho
gia
đình
nhân
loại
biết
rằng:
tiến
bộ
tuy
là
một
lợi
ích
lớn
lao
của
con
người,
nhưng
cũng
đem
theo
một
cám
dỗ
mãnh
liệt.
Thực
vậy,
khi
bậc
thang
giá
trị
bị
đảo
lộn,
khi
ác
và
thiện
lẫn
lộn,
thì
cá
nhân
cũng
như
tập
thể
chỉ
xét
quyền
lợi
của
mình
chứ
không
để
ý
đến
quyền
lợi
kẻ
khác.
Do
đó,
thế
giới
chưa
phải
là
nơi
có
tình
huynh
đệ
thật,
và
sự
gia
tăng
quyền
lực
của
con
người
lại
đe
dọa
hủy
diệt
chính
nhân
loại.
Một
cuộc
chiến
cam
go
chống
lại
quyền
lực
bóng
tối
tiếp
diễn
trong
suốt
lịch
sử
nhân
loại,
khởi
đầu
từ
khi
thế
giới
khai
nguyên
và
sẽ
kéo
dài
đến
ngày
cuối
cùng
như
lời
Chúa
phán
8.
Dấn
thân
vào
cuộc
chiến
này,
con
người
phải
luôn
luôn
chiến
đấu
để
gắn
bó
với
sự
thiện
và
chỉ
tìm
được
sự
thống
nhất
trong
chính
mình
41*
sau
khi
hết
sức
cố
gắng
với
sự
trợ
giúp
của
ơn
Chúa.
Bởi
vậy,
Giáo
Hội
Chúa
Kitô,
tin
tưởng
vào
ý
định
của
Tạo
Hóa,
vẫn
nhìn
nhận
rằng
tiến
bộ
của
nhân
loại
có
thể
phục
vụ
hạnh
phúc
chân
chính
của
con
người.
Nhưng
Giáo
Hội
không
thể
không
lặp
lại
lời
sau
đây
của
Thánh
Phaolô:
"Ðừng
theo
thói
thế
trần
này"
(Rm
12,2)
nghĩa
là
đừng
buông
mình
ham
chuộng
hư
danh
và
gian
xảo
khiến
hoạt
động
con
người
vốn
qui
hướng
về
phụng
sự
Thiên
Chúa
và
phục
vụ
con
người,
lại
biến
thành
phương
tiện
phạm
tội.
Vậy,
nếu
có
ai
hỏi
phải
làm
gì
để
vượt
qua
tình
trạng
khốn
khổ
ấy
42*,
người
Kitô
hữu
sẽ
tuyên
xưng
rằng:
mọi
hoạt
động
của
con
người
hàng
ngày
đang
lâm
nguy
vì
kiêu
ngạo
và
lòng
vị
kỷ
thái
quá,
cần
được
thanh
tẩy
và
hoàn
thiện
nhờ
thập
giá
và
sự
sống
lại
của
Chúa
Kitô.
Bởi
vì
đã
được
Chúa
Kitô
cứu
chuộc
và
được
biến
đổi
thành
tạo
vật
mới
trong
Chúa
Thánh
Thần,
nên
con
người
có
thể
và
phải
yêu
mến
chính
các
tạo
vật
do
Thiên
Chúa
dựng
nên.
Vì
nhận
được
tạo
vật
do
Chúa
ban,
nên
con
người
coi
chúng
như
xuất
phát
từ
tay
Chúa
và
kính
trọng
chúng.
Ðang
khi
cảm
tạ
Thiên
Chúa
là
Ðấng
Ban
Ơn
vì
các
tạo
vật
ấy
cũng
như
đang
khi
xử
dụng
và
thụ
hưởng
chúng
trong
tinh
thần
khó
nghèo
và
tự
do,
con
người
thực
sự
thi
hành
quyền
làm
chủ
thế
giới,
như
một
kẻ
không
có
gì
hết
nhưng
lại
sở
hữu
tất
cả
9.
"Vì
mọi
sự
đều
thuộc
về
anh
em
còn
anh
em
thuộc
về
Chúa
Kitô
và
Chúa
Kitô
thuộc
về
Thiên
Chúa"
(1Cor
3,22-23).
38.
Kiện
toàn
hoạt
động
nhân
loại
trong
mầu
nhiệm
phục
sinh.
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa,
nhờ
Người
mà
muôn
vật
được
tạo
thành,
đã
làm
người
và
đến
sống
ở
trên
trái
đất
con
người
10.
Là
con
người
hoàn
hảo,
Người
đã
đi
vào
lịch
sử
thế
giới,
đảm
nhậm
và
thâu
kết
lịch
sử
ấy
nơi
Người
11.
Chính
Người
mạc
khải
cho
chúng
ta
"Thiên
Chúa
là
tình
thương"
(1Gio
4,8)
và
dạy
cho
chúng
ta
biết
rằng:
luật
căn
bản
để
kiện
toàn
con
người,
và
do
đó
để
cải
biến
thế
giới,
là
điều
răn
mới
về
tình
yêu.
Vậy,
đối
với
những
ai
tin
vào
tình
yêu
Thiên
Chúa,
Người
cho
họ
xác
tín
rằng
con
đường
tình
yêu
mở
rộng
cho
tất
cả
mọi
người,
và
nỗ
lực
thiết
lập
tình
huynh
đệ
đại
đồng
không
bao
giờ
luống
công.
Người
cũng
nhắc
nhở
cho
biết
đức
bác
ái
ấy
không
phải
chỉ
được
thực
hiện
trong
những
việc
vĩ
đại,
nhưng
trước
hết
trong
những
hoàn
cảnh
thông
thường
của
cuộc
sống.
Chịu
chết
cho
tất
cả
chúng
ta
là
những
người
tội
lỗi
12,
Người
lấy
gương
sáng
dạy
chúng
ta
vác
thập
giá
mà
xác
thịt
và
thế
gian
đặt
nặng
trên
vai
những
kẻ
mưu
tìm
hòa
bình
và
công
lý.
Ðức
Kitô
được
tôn
làm
Chúa
khi
sống
lại
và
được
lãnh
nhận
toàn
quyền
thống
trị
trên
trời
dưới
đất
13;
từ
nay
Người
hoạt
động
trong
lòng
con
người
nhờ
quyền
năng
Thánh
Thần
của
Người
không
những
bằng
cách
khơi
dậy
những
khát
vọng
đời
sau,
nhưng
còn
từ
những
khát
vọng
đó
cổ
võ,
tinh
luyện
và
củng
cố
những
ước
vọng
quảng
đại
thúc
đẩy
gia
đình
nhân
loại
biến
cải
cuộc
sống
của
mình
trở
nên
nhân
đạo
hơn
và
qui
phục
trái
đất
về
cùng
mục
đích
ấy.
Quả
thật
ơn
Chúa
Thánh
Thần
tác
động
mỗi
người
một
khác:
có
những
người
được
gọi
làm
chứng
nhân
tỏ
tường
cho
sự
mong
đợi
quê
trời
bảo
tồn
chứng
tá
sống
động
trong
gia
đình
nhân
loại,
một
số
khác
được
gọi
để
hiến
thân
phục
vụ
con
người
trong
phạm
vi
thế
trần,
dùng
sự
phục
vụ
ấy
chuẩn
bị
chất
liệu
cho
nước
trời.
Người
giải
thoát
tất
cả,
để
sau
khi
từ
bỏ
lòng
vị
kỷ
và
tập
trung
mọi
năng
lực
trần
thế
cho
cuộc
sống
con
người,
tất
cả
hướng
về
ngày
mai,
ngày
mà
nhân
loại
trở
nên
của
lễ
đẹp
lòng
Thiên
Chúa
14.
Chúa
đã
để
lại
cho
những
kẻ
thuộc
về
Người
bảo
chứng
cậy
trông
và
lương
thực
đi
đường
trong
bí
tích
đức
tin;
trong
bí
tích
ấy,
những
yếu
tố
thế
trần,
kết
quả
của
lao
công
con
người,
được
biến
thành
Mình
và
Máu
vinh
hiển,
nên
bữa
ăn
hiệp
thông
huynh
đệ
và
nếm
hưởng
trước
bữa
tiệc
trên
trời.
39.
Trời
mới
và
đất
mới
43*.
Chúng
ta
không
biết
được
thời
gian
hoàn
tất
của
trái
đất
và
nhân
loại
15,
chúng
ta
cũng
chẳng
biết
cách
thức
biến
đổi
vũ
trụ.
Chắc
chắn
hình
ảnh
của
một
thế
gian
lệch
lạc
vì
tội
lỗi
sẽ
qua
đi
16,
nhưng
chúng
ta
được
biết
Thiên
Chúa
đã
dọn
sẵn
một
chỗ
ở
mới
và
một
đất
mới,
nơi
công
bằng
ngự
trị
17.
Hạnh
phúc
nơi
ấy
sẽ
thỏa
mãn
và
đắp
đầy
mọi
ước
vọng
hòa
bình
trào
dâng
trong
lòng
con
người
18.
Khi
ấy,
sự
chết
sẽ
bị
đánh
bại,
con
cái
Thiên
Chúa
sẽ
phục
sinh
trong
Chúa
Kitô
và
những
gì
được
gieo
vãi
trong
yếu
hèn,
mục
nát,
sẽ
mặc
lấy
sự
không
hư
nát
19;
tình
yêu
và
các
hoạt
động
bác
ái
sẽ
tồn
tại
20
và
toàn
thể
tạo
vật
mà
Thiên
Chúa
đã
dựng
nên
cho
con
người
sẽ
được
giải
thoát
khỏi
ách
nô
lệ
phù
vân
21.
Chúng
ta
đã
được
cảnh
giác
là
lời
lãi
cả
thế
gian
mà
chính
mình
hư
mất
nào
ích
lợi
gì
22.
Nhưng
sự
trông
đợi
đất
mới
không
được
làm
suy
giảm,
trái
lại
phải
kích
thích
nỗ
lực
phát
triển
trái
đất
này,
nơi
mà
Thân
Thể
gia
đình
nhân
loại
mới
đang
tăng
trưởng
và
tiên
báo
một
vài
hình
ảnh
của
thời
đại
mới.
Bởi
vậy,
tuy
phải
phân
biệt
rõ
rệt
những
tiến
bộ
trần
thế
với
sự
bành
trướng
Vương
Quyền
Chúa
Kitô,
nhưng
những
tiến
bộ
này
trở
thành
quan
trọng
đối
với
Nước
Thiên
Chúa
tùy
theo
mức
độ
chúng
có
thể
góp
phần
vào
việc
tổ
chức
xã
hội
loài
người
cho
tốt
đẹp
hơn
23.
Thực
vậy,
sau
khi
đã
theo
mệnh
lệnh
Chúa
và
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
phổ
biến
trên
trái
đất
các
giá
trị
về
nhân
phẩm,
về
hiệp
thông
huynh
đệ
và
tự
do,
nghĩa
là
mọi
thành
quả
tốt
đẹp
do
bản
tính
và
hoạt
động
con
người
đem
lại,
chúng
ta
sẽ
gặp
lại
chúng,
nhưng
là
gặp
lại
sau
khi
chúng
được
thanh
tẩy
khỏi
mọi
tì
ố,
được
chiếu
sáng
và
biến
đổi,
nghĩa
là
khi
Chúa
Kitô
giao
hoàn
lại
Chúa
Cha
vương
quốc
vĩnh
cửu
và
đại
đồng:
"Vương
quốc
của
chân
lý
và
sự
sống,
vương
quốc
thánh
thiện
và
diễm
phúc,
vương
quốc
công
bình,
yêu
thương
và
bình
an"
24.
Vương
quốc
ấy
đã
hiện
diện
cách
mầu
nhiệm
ở
trần
gian
này
và
sẽ
được
kiện
toàn
khi
Chúa
đến.
Chú
Thích:
36*
Khi
chưa
để
ý
đến
sinh
hoạt
của
con
người,
ta
chưa
hiểu
biết
con
người
và
phẩm
giá
của
họ.
Qua
lịch
sử,
con
người
đã
nỗ
lực
để
chế
ngự
thiên
nhiên
và
vũ
trụ,
hiện
nay
con
người
đã
đạt
tới
một
mức
độ
lớn
lao
trong
công
việc
ấy.
Trước
sự
kiện
này,
Công
Ðồng
nêu
ra
ba
thắc
mắc:
1)
Sinh
hoạt
có
giá
trị
nào?
Và
Công
Ðồng
trả
lời:
a)
nó
là
phương
tiện
để
phát
triển
và
tiến
tới
việc
thích
hợp
với
ý
muốn
của
Ðấng
Tạo
Hóa.
Ðức
tin
không
trái
ngược
với
ý
muốn
tiến
bộ
đó
(số
34);
b)
hơn
thế
nữa,
sinh
hoạt
làm
cho
con
người
lớn
lên
về
nhân
cách,
do
đó
chính
con
người
trở
nên
tiêu
chuẩn
luân
lý
của
sinh
hoạt
(số
35).
2)
Sinh
hoạt
như
thế
nào?
a)
Làm
theo
những
đòi
hỏi
riêng
và
chính
thức
của
thực
tại
trần
tục
là
không
bao
giờ
đi
ngược
với
đức
tin
(số
36);
b)
đồng
thời,
tội
lỗi,
lòng
kiêu
ngạo
và
ích
kỷ
có
thể
làm
cho
sinh
hoạt
ấy
đổi
ý
nghĩa
(số
37);
c)
nhưng
ơn
Chúa
Cứu
Thế
thanh
luyện
nó.
Chính
Chúa
Giêsu,
Thiên
Chúa
Nhập
Thể,
dạy
con
người
sinh
hoạt:
nhờ
đức
ái
con
người
có
thể
xây
dựng
và
đổi
mới
thế
giới
(số
38).
3)
Sinh
hoạt
với
mục
đích
gì?
Thế
giới
cuối
cùng
sẽ
đổi
mới,
chứ
không
hoàn
toàn
hư
mất.
(số
39).
(Trở
lại
đầu
trang)
37*
Ba
câu
hỏi
trên
của
Công
Ðồng
có
lẽ
chưa
đủ
để
biểu
lộ
các
vấn
đề
bao
gồm
trong
chương
này.
Hơn
bao
giờ
hết,
thần
học
hiện
đại
đang
tìm
hiểu
thực
tại
trần
thế.
Trong
chương
này
ta
sẽ
tìm
thấy
một
số
nguyên
tắc
căn
bản
để
giải
quyết
nhiều
vấn
đề
có
thể
đặt
ra
dưới
nhiều
khía
cạnh
khác
nhau:
1)
Khía
cạnh
tín
lý
thần
học:
a)
Ta
phải
có
quan
niệm
gì
về
vũ
trụ,
về
lịch
sử,
về
sinh
hoạt?
b)
Một
thuyết
thần
học
về
thực
tại
trần
thế
phải
dựa
trên
nền
tảng
nào?
c)
Có
một
nhân
bản
chủ
nghĩa
Kitô
giáo
không?
d)
Cần
phải
nhở
thuyết
"trần
tục
hóa"
tân
thời
để
có
một
học
thuyết
thần
học
về
thực
tại
trần
thế
không?
2)
Khía
cạnh
luân
lý
thần
học:
a)
Giữa
đòi
hỏi
của
Nước
Thiên
Chúa
và
của
thực
tại
trần
thế,
con
người
phải
có
thái
độ
nào?
Phải
sống
thế
mạt
(chỉ
hướng
về
đời
sau)
hay
nhập
thể?
Hay
là,
đúng
hơn:
ta
phải
làm
thế
nào
để
điều
hòa
hai
cực
đoan
ấy
một
cách
thực
tế?
b)
Các
tín
hữu
có
chỗ
đứng
ở
giữa
cộng
đoàn
nhân
loại
đang
lo
việc
xây
dựng
thế
giới
không?
Hay
là
các
tín
hữu
phải
quay
lưng
lại
thế
giới
và
tiến
bước
trên
con
đường
khác
biệt?
c)
Các
tín
hữu
có
chung
một
thứ
ngôn
ngữ
với
người
ngoại
giáo
và
người
vô
thần
để
mở
cuộc
đối
thoại
với
họ
được
không?
3)
Khía
cạnh
tu
đức:
Căn
cứ
vào
thực
tại
trần
thế
ta
có
thể
lập
ra
một
thuyết
nào
về
đời
sống
thiêng
liêng
không?
Ðặc
biệt
về
đời
sống
giáo
dân?
4)
Khía
cạnh
tranh
luận:
Ta
phải
trả
lời
như
thế
nào?
a)
trước
những
lời
tố
cáo
cho
rằng
đức
tin
làm
cho
các
tín
hữu
tách
biệt
với
thực
tại
trần
thế
và
với
các
vấn
đề
cụ
thể
của
cuộc
sống?
b)
Cũng
như
khi
người
ta
đồng
hóa
tôn
giáo
với
những
việc
dị
đoan
phải
bị
khoa
học
loại
trừ?
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Stk
1,26-27;
9,2-3;
Kn
9,2-3.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Tv
8,7
và
10.
(Trở
lại
đầu
trang)
38*
Việc
làm
không
phải
là
sự
trừng
phạt
vì
tội
lỗi,
chỉ
tính
cách
khó
nhọc
của
việc
làm
mới
là
kết
quả
của
tội
phạm.
Do
việc
làm:
1)
con
người
khắc
phục
thiên
nhiên,
2)
kiện
toàn
vạn
vật,
3)
thể
hiện
nhân
cách:
đào
tạo
quyền
tự
do,
trí
tuệ
và
ý
chí
cũng
như
sự
khéo
léo
tinh
thần
và
thể
xác,
4)
nên
chính
con
người
hoàn
thiện
hóa
bản
thân,
5)
xây
dựng
xã
hội,
6)
cỗ
võ
sự
hiệp
nhất
giữa
nhân
loại,
7)
giúp
kiến
tạo
hòa
bình
(vì
việc
làm
đòi
hỏi
sự
cộng
tác
của
nhiều
người).
Do
đó
việc
làm
mưu
ích
riêng
cho
con
người
cũng
như
ích
chung
cho
xã
hội
và
còn
có
thể
nói
là
mưu
ích
cho
cả
vũ
trụ
nữa.
Ðức
tin
còn
cho
ta
biết
những
khía
cạnh
mới:
8)
là
nhờ
việc
làm
ta
thực
hiện
ý
muốn
của
Chúa
Tạo
Hóa,
9)
và
ta
góp
phần
để
làm
sáng
Danh
Chúa,
10)
khi
làm
việc,
con
người
càng
giống
như
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa
Tạo
Hóa,
11)
và
cộng
tác
với
Ngài,
12)
cũng
như
bắt
chước
Ðấng
Cứu
Thế
(x.
GH
41e).
13)
Ðồng
thời,
nhờ
ơn
Chúa,
chính
việc
làm
của
con
người
được
một
giá
trị
siêu
nhiên,
giống
như
công
việc
của
Ðấng
Cứu
Chuộc,
để
đền
tội,
để
cầu
xin,
để
giúp
tha
nhân
về
cùng
Chúa
và
thánh
hóa
bản
thân
cũng
như
người
khác:
như
vậy
việc
làm
trở
nên
một
phương
tiện
để
thực
hiện
đức
thương
yêu.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
A
AS
55
(1963),
trg
297.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Sứ
điệp
các
Nghị
Phụ
gởi
toàn
thể
nhân
loại
vào
dịp
khai
mạc
Công
Ðồng
Vaticanô
II,
tháng
10,
1962:
AAS
54
(1962),
trg
822-823.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Phaolô
VI,
Alloc.
Ad
Corpus
diplomaticum,
7-1-1965;
AAS
57
(1965),
trg
232.
(Trở
lại
đầu
trang)
39*
Ðây
là
thành
kiến
của
những
hình
thức
nhân
bản
chủ
nghĩa
(xem
trên,
số
7c).
Ðàng
khác,
nó
cũng
có
thể
là
kết
quả
do
kinh
nghiệm
lịch
sử
không
tốt
đẹp
gây
nên
(xem
cuối
đoạn
b
trong
số
này).
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
Công
Giáo
Dei
Filius,
ch.
III:
Dz
1785-1786
(3004-3005).
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Piô
Paschini,
Vita
e
opere
di
Galileo
Galilei,
2
quyển,
Pont.
Accademia
delle
Scienze,
Città
del
Vatic.,
1964.
(Trở
lại
đầu
trang)
40*
Các
ngành
nghệ
thuật,
văn
chương,
khoa
học,
kinh
tế,
chính
trị,
xã
hội
học,
v.v...
đều
có
đối
tượng
riêng
biệt,
phương
pháp
riêng
biệt,
kỹ
thuật
riêng
biệt.
Xét
đoán
một
tài
liệu
văn
chương
chẳng
hạn,
theo
những
tiêu
chuẩn
kinh
tế
mà
thôi,
hay
là
theo
kỹ
thuật
của
khoa
học
chính
xác,
dĩ
nhiên
là
vô
nghĩa!
Cũng
thế,
xét
các
vấn
đề
tôn
giáo
với
đầu
óc
mỹ
thuật,
văn
chương,
khoa
học...,
khi
chưa
được
đào
tạo
theo
nguyên
tắc
tôn
giáo
cũng
không
kém
nguy
hiểm.
Bởi
vậy,
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
rằng
thật
là
hết
sức
khôi
hài,
nếu
chúng
ta
dựa
trên
những
nguyên
tắc
tôn
giáo
để
quyết
định
phải
áp
dụng
kỹ
thuật
nào
cho
các
thực
tại
trần
thế.
Các
nhà
sinh
vật
học,
toán
học,
kinh
tế
học,
chính
trị...,
đều
phải
khám
phá
và
áp
dụng
những
nguyên
tắc
và
kỹ
thuật
riêng
biệt
của
từng
ngành.
Ðức
tin
sẽ
không
giúp
họ
giải
quyết
các
vấn
đề
chuyên
môn
của
họ.
Ðàng
khác,
chân
lý
không
thể
mâu
thuẫn
với
chân
lý.
Bởi
thế
những
kết
luận
đúng
sự
thật
của
khoa
học
không
thể
mâu
thuẫn
với
đức
tin
được
(về
các
thực
tại
trần
thế
khác
cũng
phải
lý
luận
một
cách
tương
tự).
Thiên
Chúa,
Ðấng
đã
mạc
khải
các
tín
điều
cũng
là
Ðấng
đã
tạo
nên
thực
tại
trần
thế.
Thiên
Chúa
không
thể
mâu
thuẫn
với
chính
Ngài.
Do
đó,
khi
nào
người
ta
đạt
tới
kết
luận
khoa
học
có
vẻ
trái
ngược
với
đức
tin
thì
phải
xét
lại:
hoặc
những
kết
luận
đó
chưa
vững
chắc
(có
thể
chỉ
là
những
giả
thuyết
nhất
thời),
hoặc
cách
hiểu
biết
tín
điều
còn
ở
trên
bình
diện
thiếu
sót,
hoặc
là
cả
hai.
Trong
ghi
chú,
Công
Ðồng
nhắc
lại
vụ
án
Galileô
để
chấp
nhận
phần
trách
nhiệm
của
Giáo
Hội
khi
vội
vã
quyết
đoán
rằng
giữa
kết
luận
khoa
học
(quả
đất
xoay
chung
quanh
mặt
trời)
và
lời
Thánh
Kinh
("mặt
trời
dừng
lại",
chẳng
hạn)
có
mâu
thuẫn.
Hôm
nay
ai
cũng
hiểu
câu
nói
như
vậy
không
khác
gì
những
câu
nói
thông
thường
của
chúng
ta:
"mặt
trời
mọc
lên,
lặn
xuống".
Về
phần
trách
nhiệm
của
chính
ông
Galileô
khi
ông
vượt
quá
biên
giới
khoa
học
để
cắt
nghĩa
lời
Thánh
Kinh,
thì
ở
đây
Công
Ðồng
không
muốn
nhắc
đến
làm
gì.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Mt
24,13;
13,24-30
và
36-43.
(Trở
lại
đầu
trang)
41*
Công
Ðồng
nói
về
cuộc
chiến
đấu
giữa
sự
lành
và
sự
dữ,
trước
hết
diễn
ra
tại
nội
tâm
của
con
người.
Con
người
ước
ao
sự
lành
nhưng
bị
sự
dữ
lôi
cuốn,
nên
con
người
bị
chia
rẽ,
như
Công
Ðồng
đã
nhắc
ở
phần
trước
(số
10a).
(Trở
lại
đầu
trang)
42*
Trong
đoạn
này
Công
Ðồng
phác
họa
chương
trình
sinh
hoạt
về
thực
tại
trần
thế:
1)
Ðể
tránh
mối
nguy
cơ
do
lòng
kiêu
ngạo
và
tánh
ích
kỷ
gây
nên,
ta
phải
ý
thức
mà
chấp
nhận
thập
giá,
"nghĩa
là
hàng
ngàn
hình
thức
thất
bại"
và
ngăn
trở
có
thể
xảy
đến
mặc
dù
ta
đầy
thiện
chí
và
hết
sức
cố
gắng.
Thập
giá
đưa
chúng
ta
đến
sự
phục
sinh,
sự
thắng
trận
cuối
cùng
trên
phạm
vi
cao
hơn.
2)
Ta
phải
yêu
mến
tạo
vật
với
một
lòng
mến
mới
mẻ
là
kết
quả
của
công
cuộc
chuộc
tội.
Mến
tạo
vật
vì
tạo
vật
là
những
quà
tặng
của
Thiên
Chúa.
3)
Ta
phải
xử
dụng
và
thụ
hưởng
tạo
vật:
nó
là
những
phương
tiện
giúp
ta
đến
cùng
Thiên
Chúa,
đồng
thời
làm
tròn
sứ
mệnh
thống
trị
cũng
như
phát
triển
vũ
trụ
noí
chung
và
bản
thân
nói
riêng.
Ta
phải
xử
dụng
và
hưởng
thụ
tạo
vật
với
tinh
thần
biết
ơn,
tinh
thần
khó
nghèo
(nghĩa
là
tinh
thần
siêu
thoát)
tạo
nên
sự
tự
do
thiêng
liêng,
không
để
tạo
vật
buộc
ta
làm
nô
lệ
nó,
bất
chấp
những
khía
cạnh
quyến
rũ
của
tạo
vật.
4)
Thực
tại
trần
thế
có
giá
trị
mới
sau
khi
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
nhập
thể;
đức
bác
ái
là
điều
răn
mới
của
Chúa
Kitô
phải
điều
khiển
các
sinh
hoạt
thuộc
về
thực
tại
trần
thế
dưới
ơn
thúc
đẩy
của
Chúa
Thánh
Thần
(số
38a).
5)
Trong
thực
tế,
thái
độ
của
tín
hữu
đối
với
thực
tại
trần
thế
sẽ
khác
nhau
tùy
theo
ơn
Chúa
Thánh
Thần
đó:
tuy
rằng
không
hề
khinh
dể
tạo
vật
nhưng
một
số
người
thoát
tục
và
do
đó
làm
chứng
cho
đời
sau,
trong
khi
người
khác
dấn
thân
để
nhờ
tạo
vật
phục
vụ
đồng
loại
(số
38a).
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
2Cor
6,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Gio
1,3
và
14.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Eph
1,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Gio
3,
14-16;
Rm
5,8-10.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
CvTđ
2,36;
Mt
28,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Rm
15,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
43*
Trong
số
này
Công
Ðồng
giải
quyết
thắc
mắc
sau
đây:
nếu
thế
giới,
sau
khi
được
xây
dựng
với
biết
bao
nỗ
lực,
việc
làm,
vất
vả,
sẽ
phải
bị
tiêu
tan
trong
ngày
tận
thế,
thì
sinh
hoạt
về
thực
tại
trần
thế
có
phải
thành
vô
nghĩa
không?
Công
Ðồng
dạy:
a)
Theo
như
Thánh
Kinh
cho
biết,
thế
giới
sẽ
đổi
mới,
chứ
không
tan
nát.
b)
Tuy
chưa
biết
rõ
như
thế
nào,
nhưng
việc
làm
của
ta
sẽ
đem
lại
kết
quả
đời
đời.
Ðặc
biệt
những
công
việc
bác
ái,
cũng
như
chính
đức
ái,
sẽ
tồn
tại
vĩnh
viễn.
c)
Tuy
rằng
ta
không
thể
đồng
hóa
sự
tiến
bộ
trần
thế
của
nhân
loại
với
sự
mở
rộng
nước
Thiên
Chúa,
nhưng
khi
chúng
ta
phục
vụ
nhân
loại
và
làm
cho
phẩm
giá
con
người
hay
tình
anh
em
và
sự
tự
do,
v.v...
phát
triển,
tức
là
chúng
ta
đóng
góp
vào
nước
Thiên
Chúa
những
điều
sẽ
tồn
tại
mãi
mãi
sau
khi
thế
giới
này
được
tẩy
luyện
và
biến
hình.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
CvTđ
1,7.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
1Cor
7,31;
T.
Ireneô,
Adv.
Haereses,
V,
36,
1:
PG
7,1222.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
2Cor
5,2;
2P
3,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
1Cor
2,9;
Kh
21,4-5.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
1Cor
15,42
và
53.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
1Cor
13,8;
3,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
Rm
8,19-21.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
Lc
9,25.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno:
AAS
23
(1931),
trg
207.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Missale
Romanum,
Kinh
Tiền
Tụng
Lễ
Chúa
Kitô
Vua.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II