VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
Nhập
Ðề
|
Phần
I: |
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
Phần
II:
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
Chương
II
Cộng
Ðoàn
Nhân
Loại
26*
23.
Mục
Ðích
Công
Ðồng
nhắm
tới.
Trong
những
khía
cạnh
chính
yếu
của
thế
giới
hôm
nay
phải
kể
tới
sự
gia
tăng
những
mối
tương
quan
giữa
con
người
với
nhau,
mà
những
tiến
bộ
kỹ
thuật
ngày
nay
đóng
góp
rất
nhiều
vào
việc
phát
triển
sự
gia
tăng
ấy.
Tuy
nhiên,
cuộc
đối
thoại
huynh
đệ
giữa
con
người
được
hoàn
hảo
không
phải
ở
trong
những
tiến
bộ
ấy,
nhưng
một
cách
sâu
xa
hơn
trong
cộng
đoàn
nhân
loại.
Cộng
đoàn
này
đòi
hỏi
phải
có
sự
tôn
trọng
tất
cả
phẩm
giá
thiêng
liêng
của
nhau.
Mạc
khải
Kitô
giáo
giúp
nhiều
vào
việc
cổ
võ
cho
sự
hiệp
thông
giữa
các
nhân
vị,
đồng
thời
cũng
đưa
ta
tới
chỗ
hiểu
biết
sâu
xa
hơn
về
những
luật
lệ
của
đời
sống
xã
hội
mà
Tạo
Hóa
đã
in
vào
bản
tính
thiêng
liêng
và
luân
lý
của
con
người.
Bởi
vì
những
tài
liệu
mới
đây
của
Giáo
Quyền
đã
trình
bày
sâu
rộng
hơn
lý
thuyết
Kitô
giáo
về
xã
hội
con
người1,
nên
Công
Ðồng
chỉ
nhắc
lại
một
ít
chân
lý
chính
yếu
và
Công
Ðồng
trình
bày
những
nét
căn
bản
của
các
chân
lý
ấy
dưới
ánh
sáng
của
Mạc
Khải.
Tiếp
đến,
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
tới
một
vài
hậu
quả
xét
là
quan
trọng
hơn
ở
thời
đại
chúng
ta.
24.
Ðặc
tính
cộng
đoàn
của
thiên
chức
con
người
trong
ý
định
Thiên
Chúa.
Lấy
tình
Cha
săn
sóc
mọi
người,
Thiên
Chúa
đã
muốn
rằng
tất
cả
mọi
người
phải
làm
thành
một
gia
đình
và
đối
xử
với
nhau
bằng
tình
huynh
đệ.
Bởi
vì
mọi
người
được
tạo
dựng
giống
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa
là
Ðấng
đã
"cho
tất
cả
nhân
loại
do
một
nguyên
tổ
cư
ngụ
trên
khắp
mặt
đất"
(CvTđ
17,26),
nên
họ
đều
được
gọi
tới
cùng
một
cứu
cánh
duy
nhất
là
chính
Thiên
Chúa.
Do
đó
yêu
mến
Thiên
Chúa
và
anh
em
là
giới
răn
thứ
nhất
và
trọng
nhất.
Thánh
Kinh
dạy
ta
rằng
tình
yêu
mến
Thiên
Chúa
không
thể
tách
rời
với
tình
yêu
anh
em:
"...nếu
có
điều
răn
nào
khác
đi
nữa
cũng
gồm
tóm
trong
lời
này:
hãy
thương
yêu
anh
em
như
chính
mình...
Thương
yêu
là
chu
toàn
luật
pháp
vậy"
(Rm
13,9-10;
x.
1Gio
4,10).
Ðiều
nói
trên
cũng
được
nhận
là
quan
trọng
nhất
đối
với
con
người
mỗi
ngày
một
lệ
thuộc
nhau
hơn
cũng
như
đối
với
thế
giới
ngày
càng
hiệp
nhất
lại.
Hơn
nữa,
khi
cầu
nguyện
với
Chúa
Cha:
"xin
cho
mọi
người
nên
một...,
như
chúng
ta
là
một"
(Gio
17,21-22),
Chúa
Giêsu
mở
ra
những
viễn
tượng
mà
lý
trí
con
người
không
thể
tự
đạt
tới
được.
Như
vậy
Chúa
Giêsu
đã
nói
lên
một
sự
tương
tự
nào
đó
giữa
sự
kết
hợp
của
Ba
Ngôi
Thiên
Chúa
với
sự
kết
hợp
của
các
con
cái
Chúa
trong
chân
lý
và
đức
ái.
Sự
tương
tự
này
cho
thấy
con
người,
tạo
vật
duy
nhất
ở
trần
gian
được
Thiên
Chúa
dựng
nên
cho
chính
họ,
chỉ
có
thể
gặp
lại
chính
bản
thân
mình
nhờ
thành
thực
hiến
thân
2.
25.
Sự
lệ
thuộc
giữa
con
người
và
xã
hội.
Ðặc
tính
xã
hội
của
con
người
cho
thấy
rõ
sự
thăng
tiến
của
con
người
và
sự
phát
triển
của
xã
hội
lệ
thuộc
nhau
27*.
Thực
vậy,
nhân
vị
chính
là
và
phải
là
nguyên
lý,
chủ
thể
và
cứu
cánh
của
mọi
định
chế
xã
hội,
bởi
vì
tự
bản
chất
nhân
vị
phải
hoàn
toàn
cần
đến
đời
sống
xã
hội
3.
Cho
nên
vì
đời
sống
xã
hội
đối
với
con
người
không
phải
là
một
cái
gì
phụ
thuộc,
do
đó
nhờ
trao
đổi
với
người
khác,
nhờ
phục
vụ
lẫn
nhau
và
nhờ
đối
thoại
với
anh
em,
con
người
được
tăng
triển
mọi
khả
năng
của
mình
và
có
thể
đáp
ứng
được
thiên
chức
của
mình.
Giữa
những
mối
liên
hệ
xã
hội
cần
thiết
để
con
người
được
phát
triển,
có
những
mối
liên
hệ
đáp
ứng
được
bản
tính
sâu
xa
của
con
người
một
cách
trực
tiếp
hơn,
đó
là
gia
đình
và
cộng
đoàn
chính
trị;
cũng
có
những
mối
liên
hệ
phát
sinh
do
ý
muốn
tự
do
của
con
người.
Trong
thời
đại
chúng
ta,
nhiều
nguyên
nhân
làm
cho
những
mối
tương
quan
và
lệ
thuộc
nhau
mỗi
ngày
một
tăng
thêm;
do
đó
phát
sinh
nhiều
hiệp
hội
và
những
tổ
chức
khác
nhau,
công
hay
tư
xét
về
phương
diện
pháp
lý
28*.
Sự
kiện
này
được
mệnh
danh
là
xã
hội
hóa,
không
phải
là
không
có
những
nguy
hại,
tuy
nhiên
cũng
đem
lại
nhiều
lợi
ích
lớn
lao
để
củng
cố
cũng
như
làm
gia
tăng
những
đức
tính
của
con
người
và
bảo
đảm
những
quyền
lợi
của
con
người
4.
Nhưng
nếu
đời
sống
xã
hội
giúp
nhiều
cho
con
người
chu
toàn
sứ
mệnh
của
mình
kể
cả
sứ
mệnh
tôn
giáo
nữa,
thì
ta
cũng
không
thể
phủ
nhận
rằng
con
người
vì
những
hoàn
cảnh
xã
hội
họ
đang
sống
và
tiêm
nhiễm
ngay
từ
thuở
thiếu
thời,
nên
nhiều
khi
xa
lánh
không
làm
điều
thiện
và
bị
lôi
kéo
làm
điều
ác.
Chắc
chắn
những
xáo
trộn
rất
thường
xảy
ra
trong
phạm
vi
xã
hội
một
phần
phát
sinh
từ
chính
tình
trạng
căng
thẳng
giữa
những
tổ
chức
kinh
tế,
chính
trị
và
xã
hội.
Nhưng
sâu
xa
hơn,
những
xáo
trộn
trên
phát
sinh
do
ích
kỷ
và
kiêu
căng
của
con
người,
đó
cũng
là
những
nguyên
nhân
làm
cho
môi
trường
xã
hội
ra
vẩn
đục.
Một
khi
trật
tự
xã
hội
bị
đảo
lộn
do
hậu
quả
của
tội
lỗi,
thì
con
người,
bẩm
sinh
đã
nghiêng
chiều
về
sự
xấu,
lại
gặp
phải
những
cám
dỗ
mới
để
phạm
tội.
Những
cám
dỗ
này
nếu
không
có
cố
gắng
liên
lỉ
và
không
có
ơn
thánh
trợ
giúp
sẽ
không
thể
lướt
thắng
được.
26.
Bổn
phận
mưu
cầu
công
ích.
Sự
lệ
thuộc
nhau
mỗi
ngày
một
chặt
chẽ
hơn
và
dần
dần
lan
rộng
trên
toàn
thể
thế
giới,
vì
thế
công
ích
-
tức
là
toàn
bộ
những
điều
kiện
của
đời
sống
xã
hội
cho
phép
những
tập
thể
hay
những
phần
tử
riêng
rẽ
có
thể
đạt
tới
sự
hoàn
hảo
riêng
một
cách
đầy
đủ
và
dễ
dàng
hơn
-
ngày
nay
mỗi
lúc
một
nới
rộng
tầm
phổ
quát
hơn
và
do
đó
bao
hàm
những
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
của
toàn
thể
nhân
loại.
Bất
cứ
tập
thể
nào
cũng
phải
tôn
trọng
nhu
cầu
và
nguyện
vọng
chính
đáng
của
các
tập
thể
khác,
hơn
thế
nữa,
phải
tôn
trọng
công
ích
của
toàn
thể
gia
đình
nhân
loại
5.
Nhưng
đồng
thời
con
người
càng
ngày
càng
ý
thức
hơn
về
phẩm
giá
cao
trọng
vốn
có
của
mình,
bởi
vì
con
người
vượt
trên
mọi
loài
và
vì
những
quyền
lợi
cũng
như
bổn
phận
của
con
người
là
phổ
quát
và
bất
khả
xâm
phạm.
Vậy
cần
phải
cho
con
người
được
tất
cả
những
gì
thiết
yếu
mà
con
người
phải
có
để
thực
sự
sống
đời
sống
con
người,
như
của
ăn,
áo
quần,
chỗ
ở,
quyền
tự
do
chọn
lựa
bậc
sống
và
quyền
lập
gia
đình,
quyền
được
giáo
dục,
quyền
làm
việc,
quyền
bảo
tồn
danh
thơm
tiếng
tốt,
quyền
được
kính
trọng,
quyền
thông
tin
xứng
hợp,
quyền
hành
động
theo
tiêu
chuẩn
chính
thực
của
lương
tâm
mình,
quyền
bảo
vệ
đời
sống
tư
và
quyền
tự
do
chính
đáng
cả
trong
phạm
vi
tôn
giáo
nữa.
Bởi
vậy,
trật
tự
xã
hội
và
tiến
bộ
của
nó
phải
luôn
luôn
nhằm
ích
lợi
của
các
nhân
vị,
bởi
vì
trật
tự
của
muôn
vật
phải
lệ
thuộc
vào
trật
tự
của
các
nhân
vị
chứ
không
ngược
lại.
Ðiều
này
chính
Chúa
đã
ám
chỉ
khi
Người
nói
rằng
ngày
nghỉ
được
lập
ra
vì
con
người
chứ
không
phải
con
người
được
dựng
nên
vì
ngày
nghỉ
6.
Trật
tự
này
phải
phát
triển
mỗi
ngày
một
hơn,
phải
đặt
nền
tảng
trên
chân
lý,
xây
dựng
trong
công
bình,
nuôi
sống
nhờ
tình
yêu;
phải
dần
dần
tìm
được
trong
tự
do
sự
quân
bình
mỗi
ngày
mỗi
hợp
với
nhân
bản
hơn
7.
29*
Ðể
chu
toàn
được
những
điều
trên,
phải
có
sự
đổi
mới
tâm
thức
và
những
thay
đổi
sâu
rộng
trong
xã
hội.
Thánh
Thần
Chúa,
Ðấng
điều
khiển
những
biến
chuyển
thời
gian
và
canh
tân
bộ
mặt
trái
đất
với
sự
quan
phòng
kỳ
diệu,
đang
hiện
diện
trong
cuộc
tiến
hóa
này.
Men
Phúc
Âm
đã
và
đang
làm
dậy
lên
trong
lòng
con
người
sự
đòi
hỏi
phải
có
nhân
phẩm,
một
đòi
hỏi
không
thể
cưỡng
chế
được.
27.
Tôn
trọng
nhân
vị.
Ðể
đi
tới
những
kết
luận
thực
hành
và
cần
thiết
hơn,
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
về
sự
tôn
trọng
con
người.
Vậy
mỗi
người
đều
phải
coi
người
đồng
loại
không
trừ
một
ai
như
"cái
tôi
thứ
hai",
cho
nên
trước
hết
phải
quan
tâm
đến
sự
sống
của
họ
và
quan
tâm
đến
những
phương
tiện
cần
thiết
giúp
họ
sống
một
đời
sống
xứng
đáng
8,
chứ
đừng
bắt
chước
người
giàu
có
kia
đã
không
săn
sóc
gì
tới
người
nghèo
Lazarô
9.
Nhất
là
thời
nay,
chúng
ta
có
bổn
phận
khẩn
thiết
phải
trở
nên
người
lân
cận
của
bất
cứ
người
nào
và
tích
cực
giúp
đỡ
khi
họ
đến
với
mình,
hoặc
có
thể
là
một
người
già
lão
bị
mọi
người
bỏ
rơi,
hoặc
là
một
công
nhân
ngoại
quốc
bị
khinh
bỉ
một
cách
bất
công,
hoặc
là
một
người
lưu
vong,
hay
một
đứa
bé
sinh
ra
do
cuộc
tình
duyên
bất
hợp
pháp
chịu
đau
khổ
cách
bất
công
vì
tội
lỗi
mình
không
phạm,
hoặc
một
người
đói
ăn
đang
kêu
gọi
lương
tâm
chúng
ta,
làm
vang
lại
lời
của
Chúa:
"Bao
nhiêu
lần
các
ngươi
làm
những
việc
đó
cho
một
trong
những
người
hèn
mọn
là
anh
em
Ta
đây,
tức
là
các
ngươi
làm
cho
Ta
vậy"
(Mt
25,40).
Ngoài
ra,
tất
cả
những
gì
đi
ngược
với
chính
sự
sống,
như
giết
người
dưới
bất
cứ
hình
thức
nào,
diệt
chủng,
phá
thai
30*,
giết
chết
cách
êm
dịu
31*,
hoặc
tự
tử
trực
tiếp;
tất
cả
những
gì
xâm
phạm
sự
toàn
vẹn
của
con
người,
như
cắt
bỏ
một
phần
thân
xác,
hành
hạ
thân
xác
hoặc
tâm
trí,
làm
áp
lực
tâm
lý;
tất
cả
những
gì
xúc
phạm
đến
nhân
phẩm,
như
những
cảnh
sống
thấp
kém
dưới
mức
độ
phải
có
của
con
người,
giam
cầm
vô
cớ,
lưu
đày,
nô
lệ,
mãi
dâm,
buôn
bán
phụ
nữ
và
trẻ
con;
kể
cả
những
tình
trạng
làm
việc
nhục
nhã
khiến
cho
công
nhân
hoàn
toàn
trở
thành
dụng
cụ
cho
lợi
lộc,
chứ
không
được
coi
như
con
người
tự
do
và
có
trách
nhiệm:
tất
cả
những
điều
nói
trên
và
những
điều
tương
tự
đều
thực
sự
ô
nhục.
Và
trong
khi
làm
thối
nát
nền
văn
minh
nhân
loại,
thì
tất
cả
những
điều
trên
lại
càng
bôi
nhọ
chính
những
kẻ
chủ
động
hơn
là
bôi
nhọ
những
kẻ
phải
chịu
sự
nhục
mạ,
đồng
thời
cũng
xúc
phạm
nặng
nề
đến
danh
dự
của
Ðấng
Tạo
Hóa.
28.
Kính
trọng
và
yêu
thương
đối
thủ.
Cũng
phải
kính
trọng
và
yêu
thương
những
người
không
cùng
một
cảm
nghĩ
hoặc
cùng
một
hành
động
với
chúng
ta
trong
những
vấn
đề
xã
hội,
chính
trị
hay
cả
tôn
giáo
nữa.
Thực
vậy,
càng
lấy
sự
nhân
ái
và
yêu
thương
mà
tìm
hiểu
sâu
xa
hơn
những
cách
cảm
nghĩ
của
họ,
chúng
ta
càng
dễ
dàng
có
thể
đi
tới
đối
thoại
với
họ
hơn.
Thực
ra,
đức
ái
và
lòng
nhân
hậu
này
không
bao
giờ
cho
phép
chúng
ta
trở
thành
dửng
dưng
với
điều
chân
và
thiện.
Hơn
thế
nữa,
chính
đức
ái
thúc
bách
các
môn
đệ
Chúa
Kitô
loan
báo
cho
mọi
người
chân
lý
cứu
rỗi.
Nhưng
phải
phân
biệt
lầm
lỗi,
điều
luôn
luôn
phải
loại
bỏ,
với
người
lầm
lỗi
32*
vì
những
người
lầm
lỗi
vẫn
còn
giữ
được
nhân
phẩm,
ngay
cả
khi
họ
có
những
ý
niệm
sai
lầm
hoặc
hơi
lệch
lạc
về
tôn
giáo
10.
Chỉ
có
mình
Thiên
Chúa
là
quan
tòa
và
là
Ðấng
thấu
suốt
mọi
tâm
hồn:
bởi
vậy
Ngài
ngăn
cấm
chúng
ta
xét
đoán
tội
lỗi
bên
trong
của
bất
cứ
người
nào
11.
Giáo
lý
của
Chúa
Kitô
cũng
đòi
chúng
ta
phải
tha
thứ
những
xúc
phạm
và
giáo
lý
ấy
nới
rộng
giới
răn
yêu
thương
đối
với
tất
cả
kẻ
thù,
đó
chính
là
giới
răn
trong
Luật
Mới:
"Các
ngươi
có
nghe
lời
truyền
dạy
hãy
thương
yêu
thân
nhân
mà
ghét
thù
địch
mình.
Còn
Ta,
Ta
dạy
các
ngươi:
hãy
thương
yêu
kẻ
thù
nghịch
mình,
cứ
làm
ơn
cho
kẻ
ghét
mình,
lại
cầu
nguyện
cho
những
người
bắt
bớ
vu
vạ
cho
ngươi
nữa"
(Mt
5,
43-44)
12.
29.
Bình
đẳng
căn
bản
giữa
mọi
người
với
nhau
và
công
bình
xã
hội.
Càng
ngày
càng
phải
nhận
thức
sự
bình
đẳng
căn
bản
giữa
mọi
người
hơn,
bởi
vì
mọi
người
đều
có
một
tâm
linh
và
được
dựng
nên
giống
hình
ảnh
Thiên
Chúa
nên
có
cùng
một
bản
tính
và
cùng
một
nguồn
gốc,
hơn
nữa
vì
được
Chúa
Kitô
cứu
chuộc
nên
họ
đều
được
mời
gọi
như
nhau
và
cùng
hưởng
chung
một
cùng
đích
nơi
Thiên
Chúa.
Dĩ
nhiên
mọi
người
không
bằng
nhau
vì
không
có
khả
năng
thể
chất
như
nhau
và
những
năng
lực
trí
tuệ
và
tinh
thần
như
nhau.
Tuy
nhiên
phải
vượt
lên
trên
và
loại
bỏ
mọi
hình
thức
kỳ
thị
về
những
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người,
hoặc
trong
phạm
vi
xã
hội
hoặc
trong
phạm
vi
văn
hóa,
kỳ
thị
vì
phái
tính,
chủng
tộc,
màu
da,
địa
vị
xã
hội,
ngôn
ngữ
hay
tôn
giáo,
vì
như
vậy
là
trái
với
ý
định
của
Thiên
Chúa.
Do
đó
thực
đáng
buồn
khi
những
quyền
lợi
căn
bản
của
nhân
vị
cho
đến
nay
vẫn
chưa
được
bảo
đảm
toàn
vẹn
ở
mọi
nơi.
Thí
dụ
người
ta
không
nhìn
nhận
phụ
nữ
có
quyền
tự
do
chọn
lựa
người
chồng
hay
quyền
tự
do
chọn
bậc
sống,
hoặc
quyền
được
giáo
dục
và
có
văn
hóa
như
nam
giới
33*.
Hơn
nữa,
dù
có
những
khác
biệt
chính
đáng
giữa
con
người
với
nhau,
tuy
nhiên
nhân
phẩm
như
nhau
của
mọi
người
cũng
đòi
hỏi
người
ta
phải
tiến
tới
mức
sống
nhân
đạo
hơn
và
xứng
hợp
với
con
người
hơn.
Thực
vậy,
những
chênh
lệch
quá
đáng
về
kinh
tế
và
xã
hội
giữa
những
thành
phần
hay
giữa
những
dân
tộc
trong
cùng
một
gia
đình
nhân
loại
thực
là
những
gương
xấu
và
đi
ngược
với
công
bằng
xã
hội,
lẽ
phải,
34*
nhân
phẩm
và
nền
hòa
bình
xã
hội
cũng
như
quốc
tế.
Còn
các
tổ
chức
của
con
người
hoặc
tư
hoặc
công
hãy
nỗ
lực
phục
vụ
phẩm
giá
cũng
như
cứu
cánh
của
con
người,
đồng
thời
hãy
mạnh
mẽ
chống
lại
bất
cứ
hình
thức
nô
lệ
nào
trên
phương
diện
xã
hội
hay
chính
trị
và
bảo
vệ
những
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người
trong
trong
bất
cứ
một
chính
thể
nào.
Hơn
nữa,
các
tổ
chức
ấy
còn
phải
dần
dần
phù
hợp
với
những
việc
thiêng
liêng
là
những
việc
cao
cả
hơn
hết,
dù
đôi
khi
phải
trải
qua
một
thời
gian
khá
lâu
để
đạt
tới
mục
đích
hằng
mong
mỏi
đó.
30.
Cần
phải
vượt
ra
khỏi
thứ
luân
lý
cá
nhân
chủ
nghĩa.
Hoàn
cảnh
biến
đổi
sâu
rộng
và
nhanh
chóng
đòi
hỏi
cấp
bách
đừng
ai
chủ
trương
một
thứ
luân
lý
duy
cá
nhân
mà
không
lưu
tâm
hoặc
không
màng
chi
tới
diễn
tiến
thời
cuộc
35*.
Bổn
phận
công
bình
và
bác
ái
được
chu
toàn
mỗi
ngày
một
hơn
là
do
mỗi
người
biết,
tùy
theo
những
khả
năng
của
mình
và
nhu
cầu
của
kẻ
khác
mà
mưu
ích
chung,
bằng
cách
cổ
võ
và
trợ
giúp
những
tổ
chức
công
hay
tư
nhằm
cải
thiện
những
điều
kiện
sống
của
con
người.
Lại
có
những
người
ngoài
miệng
thì
chủ
trương
rộng
rãi
và
đại
lượng,
mà
thực
tế
họ
luôn
luôn
sống
như
chẳng
quan
tâm
gì
tới
những
nhu
cầu
của
xã
hội.
Hơn
nữa
tại
nhiều
nơi
có
nhiều
người
còn
coi
thường
các
luật
lệ
và
những
qui
định
của
xã
hội.
Một
số
người
không
ngần
ngại
dùng
những
hình
thức
gian
lận
và
lừa
đảo
để
trốn
những
thuế
vụ
chính
đáng
hoặc
trốn
tránh
những
gì
xã
hội
đòi
buộc.
Có
người
lại
coi
nhẹ
một
số
luật
lệ
trong
cuộc
sống
xã
hội,
chẳng
hạn
những
luật
lệ
liên
hệ
tới
việc
bảo
vệ
sức
khoẻ,
hoặc
việc
xe
cộ
lưu
thông,
bởi
vì
họ
không
nhận
thức
được
rằng
do
bất
cẩn
như
thế
sẽ
gây
nguy
hiểm
cho
tính
mạng
của
họ
và
của
những
người
khác.
Mỗi
người
đều
phải
nhìn
nhận
và
tôn
trọng
những
liên
đới
xã
hội
như
một
trong
những
nghĩa
vụ
chính
yếu
của
con
người
thời
nay.
Bởi
vì
thế
giới
càng
hợp
nhất
thì
hiển
nhiên
những
bổn
phận
của
con
người
càng
vượt
trên
những
nhóm
riêng
rẽ
hơn
và
dần
dần
sẽ
lan
rộng
tới
toàn
thế
giới.
Ðiều
ấy
chỉ
thể
hiện
được
một
khi
mỗi
người
và
mỗi
cộng
đoàn
trau
dồi
nơi
chính
họ
những
đức
tính
luân
lý
và
xã
hội,
đồng
thời
đem
những
đức
tính
ấy
gieo
rắc
ngoài
xã
hội.
Như
vậy,
với
sự
trợ
giúp
cần
thiết
của
ơn
thánh
Chúa
sẽ
có
những
con
người
thật
sự
mới
và
là
những
người
kiến
tạo
một
nhân
loại
mới.
31.
Trách
nhiệm
và
tham
gia.
Ðể
mỗi
người
chu
toàn
một
cách
cẩn
thận
hơn
nghĩa
vụ
của
họ
đối
với
mình
hay
đối
với
những
cộng
đoàn
mà
họ
là
thành
phần,
thì
với
những
phương
thế
phong
phú
của
nhân
loại
ngày
nay,
họ
phải
được
giáo
dục
chu
đáo
để
có
văn
hóa
sâu
rộng
hơn.
Trước
hết
cần
phải
tổ
chức
việc
giáo
dục
những
người
trẻ
thuộc
bất
cứ
thành
phần
nào
trong
xã
hội,
làm
sao
để
đào
tạo
được
những
người
nam
và
nữ
không
những
tài
giỏi
về
văn
hóa
mà
còn
có
một
tâm
hồn
cao
thượng,
bởi
vì
thời
đại
chúng
ta
đang
khẩn
thiết
đòi
phải
có
những
người
như
vậy.
Nhưng
con
người
khó
mà
nắm
được
ý
nghĩa
trách
nhiệm
này
nếu
những
hoàn
cảnh
sinh
sống
không
cho
phép
họ
ý
thức
về
phẩm
giá
của
mình
cũng
như
không
cho
phép
họ
đáp
lại
sứ
mệnh
của
mình
bằng
cách
hiến
thân
phục
vụ
Thiên
Chúa
và
người
khác.
Ngoài
ra,
sự
tự
do
của
con
người
nhiều
lúc
suy
giảm
đi,
một
khi
con
người
rơi
vào
cảnh
quá
cùng
cực,
cũng
như
tự
do
ấy
bị
hạ
giá
một
khi
buông
thả
theo
những
dễ
dãi
quá
mức
trong
cuộc
sống,
con
người
dường
như
tự
khép
mình
trong
thứ
lâu
đài
cô
đơn
ngà
ngọc.
Trái
lại
tự
do
ấy
được
củng
cố
khi
con
người
chấp
nhận
những
ràng
buộc
không
thể
tránh
được
trong
cuộc
sống
xã
hội,
coi
những
nhu
cầu
muôn
mặt
của
tình
liên
đới
nhân
loại
là
của
mình
và
tự
buộc
mình
phải
phục
vụ
cho
cộng
đoàn
nhân
loại.
Vì
thế,
thiện
chí
muốn
góp
phần
vào
những
công
việc
chung
cần
được
cổ
võ
nơi
mọi
người.
Ngoài
ra
phải
ca
tụng
đường
lối
của
những
quốc
gia
đang
để
cho
càng
đông
công
dân
càng
tốt
được
tham
gia
việc
nước
trong
sự
tự
do
đích
thực.
Tuy
nhiên
cần
phải
lưu
ý
tới
hoàn
cảnh
thực
tế
của
mỗi
dân
tộc
cũng
như
tới
uy
quyền
cần
thiết
của
quyền
bính
quốc
gia.
Hơn
nữa,
để
mọi
công
dân
phấn
khởi
tham
dự
vào
cuộc
sống
của
các
đoàn
thể
tạo
nên
cơ
cấu
xã
hội,
thì
họ
cần
phải
tìm
được
trong
những
tổ
chức
ấy,
những
lợi
ích
lôi
cuốn
họ
và
giúp
họ
sẵn
sàng
phục
vụ
người
khác.
Chúng
ta
có
thể
nghĩ
một
cách
hợp
lý
rằng
số
phận
mai
sau
của
nhân
loại
nằm
trong
tay
những
người
có
khả
năng
trao
cho
hậu
thế
những
lý
do
để
sống
và
để
hy
vọng.
32.
Ngôi
Lời
Nhập
Thể
và
tình
liên
đới
nhân
loại.
Thiên
Chúa
đã
dựng
nên
con
người
không
phải
để
sống
riêng
rẽ
nhưng
để
tạo
nên
sự
liên
kết
xã
hội.
Cũng
thế
"...
Thiên
Chúa
không
muốn
thánh
hóa
và
cứu
rỗi
loài
người
cách
riêng
rẽ,
thiếu
liên
kết,
nhưng
Ngài
muốn
qui
tụ
họ
thành
một
dân
tộc
để
họ
nhận
biết
chính
Ngài
trong
chân
lý
và
phụng
sự
Ngài
trong
thánh
thiện"
13.
Ngay
từ
khởi
đầu
lịch
sử
cứu
rỗi
chính
Ngài
đã
chọn
con
người,
không
phải
với
tính
cách
như
những
cá
nhân,
nhưng
như
những
phần
tử
của
một
cộng
đoàn.
Thực
thế,
trong
khi
Thiên
Chúa
biểu
lộ
ý
định
của
Ngài,
Ngài
cũng
đã
gọi
những
người
được
chọn
là
"dân
Ngài"
(Xac
3,7-12),
hơn
nữa
còn
ký
kết
giao
ước
với
dân
ấy
tại
Sinai
14.
Tính
chất
cộng
đoàn
này
nhờ
công
nghiệp
của
Chúa
Giêsu
Kitô
được
kiện
toàn
và
hoàn
tất.
Chính
Ngôi
Lời
Nhập
Thể
đã
muốn
chia
sẻ
tình
liên
đới
nhân
loại.
Người
đã
hiện
diện
tại
tiệc
cưới
Cana,
đã
vào
nhà
Giakêu,
đã
ăn
uống
với
những
người
thu
thuế
và
những
người
tội
lỗi.
Người
đã
mạc
khải
tình
yêu
thương
của
Chúa
Cha
và
sứ
mệnh
cao
cả
của
con
người,
khi
Người
nhắc
tới
những
điều
hết
sức
thông
thường
trong
xã
hội
và
dùng
những
kiểu
nói
cũng
như
những
hình
ảnh
hoàn
toàn
thuộc
cuộc
sống
thường
nhật.
Tự
ý
tuân
phục
những
luật
lệ
trong
quốc
gia
Người,
Người
đã
thánh
hóa
những
mối
liên
hệ
của
con
người,
nhất
là
những
liên
hệ
thuộc
về
gia
đình
là
nguồn
gốc
phát
sinh
những
liên
hệ
xã
hội.
Người
đã
muốn
sống
cuộc
sống
của
những
thợ
thuyền
với
người
đương
thời
nơi
quê
hương
Người.
Trong
khi
rao
giảng,
Người
đã
truyền
dạy
rõ
ràng
cho
con
cái
Thiên
Chúa
phải
cư
xử
với
nhau
như
anh
em.
Lúc
cầu
nguyện,
Người
đã
xin
cho
tất
cả
các
môn
đệ
Người
được
nên
"một".
Hơn
nữa,
là
Ðấng
Cứu
Chuộc
mọi
người,
chính
Người
đã
tự
hiến
thân
chết
cho
mọi
người.
"Chẳng
ai
có
lòng
thương
yêu
hơn
kẻ
liều
mạng
sống
mình
vì
bạn
hữu"
(Gio
15,13).
Người
còn
ra
lệnh
cho
các
Tông
Ðồ
rao
giảng
sứ
điệp
Phúc
Âm
cho
muôn
dân
để
nhân
loại
trở
nên
gia
đình
của
Thiên
Chúa,
trong
đó
sự
sung
mãn
của
lề
luật
chính
là
đức
ái.
Là
trưởng
tử
của
một
đoàn
anh
em
đông
đúc,
sau
khi
chết
và
sống
lại,
Người
đã
thiết
lập
nhờ
hồng
ân
của
Thánh
Thần
Người
một
sự
kết
hiệp
huynh
đệ
mới
giữa
tất
cả
những
kẻ
đón
nhận
Người
với
đức
tin
và
đức
ái
trong
chính
Thân
Thể
của
Người
tức
là
Giáo
Hội,
ở
đấy
mọi
người
là
chi
thể
với
nhau,
tùy
theo
những
ơn
đã
lãnh
nhận
mà
phục
vụ
lẫn
nhau.
Tình
liên
đới
này
cần
phải
được
gia
tăng
luôn
mãi
cho
tới
ngày
nó
được
hoàn
tất,
và
ngày
đó
nhờ
được
ơn
thánh
cứu
thoát,
loài
người
như
một
gia
đình
được
Thiên
Chúa
và
Chúa
Kitô
là
Anh
yêu
thương,
sẽ
dâng
lên
Thiên
Chúa
lời
chúc
tụng
toàn
hảo.
Chú
Thích:
26*
Chương
này
bổ
túc
chương
I.
1)
Con
người
có
bản
tính
xã
hội,
theo
ý
Ðấng
Tạo
Hóa:
con
người
đều
bởi
một
Chúa,
đều
là
một
loại,
đều
có
chung
một
cùng
đích.
Lời
Chúa
mạc
khải:
như
trong
điều
răn
thứ
nhất,
trong
ý
nguyện
của
Chúa
Giêsu
cũng
như
trong
tính
cách
con
cái
một
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi
cũng
xác
nhận
điều
ấy
(số
24).
2)
Do
đó
con
người
cần
nhờ
xã
hội
để
phát
triển.
Xã
hội
là
để
phục
dịch
con
người.
Nhưng
nếu
con
người
không
sinh
hoạt
trong
xã
hội
vì
công
ích
thì
không
có
xã
hội.
Sự
nhượng
bộ
lợi
ích
riêng
cốt
để
nhờ
công
ích
xã
hội
mà
giúp
đỡ
từng
cá
nhân.
Ðàng
khác
nhiều
khi
lý
tưởng
đó
còn
xa
vời:
do
thiếu
sót
về
kinh
tế,
về
chính
trị,
về
xã
hội
(lắm
lúc
do
tội
ích
kỷ
và
kiêu
ngạo
gây
nên).
Trong
trường
hợp
ấy
xã
hội
làm
thiệt
hại
cho
con
người
(số
25).
3)
Nên
phải
tôn
trọng
ích
chung
của
cả
thế
giới
cốt
cổ
võ
quyền
lợi
căn
bản
cá
nhân.
Cần
phải
canh
tân
tâm
trạng
dưới
ảnh
hưởng
của
Chúa
Thánh
Thần
và
theo
tinh
thần
Phúc
Âm
(số
26).
4)
Phải
tôn
trọng
nhân
vị
mọi
người.
Công
Ðồng
nhắc
tới
một
số
người
thường
vẫn
chưa
được
tôn
trọng,
và
một
số
tội
lỗi
của
xã
hội
ngày
nay
là
vết
nhơ
cho
nền
văn
minh
và
cho
chính
kẻ
phạm
tội
đó;
những
tội
lỗi
đó
quả
thực
làm
ô
danh
Thiên
Chúa
(số
27).
5)
Không
tiêu
diệt
đối
phương:
tôn
trọng
nghĩa
là
tìm
hiểu
và
đối
thoại,
là
lên
án
sự
sai
lầm
chứ
không
xét
đoán
ý
kín
đáo
của
kẻ
sai
lầm.
Hơn
nữa,
ta
phải
yêu
thương
kẻ
làm
hại
ta
(số
28).
6)
Phải
công
nhận
mọi
người
đều
bình
đẳng
về
quyền
lợi
căn
bản
vì
cùng
một
bản
tính,
một
nguyên
thủy,
một
cùng
đích
và
cũng
được
cứu
chuộc
như
nhau.
Nên,
phải
loại
trừ
mọi
phân
biệt
về
quyền
lợi
đó
trên
phạm
vi
cá
nhân,
trong
sinh
hoạt
xã
hội,
văn
hóa
và
chính
trị
dù
có
những
sự
khác
biệt
phụ
thuộc
(số
29).
7)
Luân
lý
cá
nhân
phải
nhượng
bộ
cho
luân
lý
nhấn
mạnh
về
nhiệm
vụ
xã
hội:
Công
Ðồng
vừa
diễn
tả
thái
độ
theo
luân
lý
xã
hội,
vừa
nêu
ra
vài
thí
dụ
cụ
thể
trái
ngược
với
luân
lý
ấy
(số
30).
8)
Ðể
được
như
vậy
phải
giáo
dục
xã
hội
và
canh
tân
trạng
huống
sinh
hoạt.
Công
dân
phải
lần
lần
góp
phần
vào
đời
sống
chính
trị
(số
31).
Hoạt
động
và
lời
Chúa
mạc
khải
xác
nhận
khía
cạnh
xã
hội
của
con
người:
đặc
biệt
khi
tập
trung
loài
người
như
anh
em,
như
chi
thể
của
một
thân
thể.
Tình
liên
đới
ấy
sẽ
hoàn
thiện
hóa
ở
đời
sau
(số
32).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
401-464;
-
và
Tđ.
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
257-304.
-
Phaolô
VI,
Tđ.
Ecclesiam
suam,
6-8-1964:
AAS
56
(1964),
trg
609-659.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Lc
17,33.
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Ðiều
hòa
quyền
lợi
của
xã
hội
(số
26)
và
quyền
lợi
cá
nhân
(số
27)
trong
thực
tế
rất
khó,
chẳng
hạn
thật
là
rất
nguy
hiểm
nếu
dựa
trên
tiêu
chuẩn
về
lượng
để
xét
định
những
đòi
hỏi
của
công
ích.
Những
bảng
thống
kê
về
kết
quả
kinh
tế
xã
hội
(sự
gia
tăng
sản
xuất,
mức
độ
sinh
hoạt,
công
trình
thịnh
vượng,
trừng
phạt
tội
trạng,
v.v...)
đã
có
thể
vi
phạm
nhân
vị
dù
chưa
nói
gì
về
phương
pháp
được
xử
dụng.
Trong
trường
hợp
ấy
các
kết
quả
mỹ
mãn
đó
không
phục
vụ
công
ích!
Làm
hại
hay
tiêu
diệt
các
nhóm
thiểu
số
để
đạt
tới
mục
tiêu
của
đa
số
cũng
là
một
ví
dụ
(x.
số
59,
73).
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
T.
Tôma,
1
Ethic.,
lect.
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
28*
Gọi
là
chế
độ
"công
pháp
hay
tư
pháp"
tùy
theo
liên
quan
đến
ích
lợi
chung
hay
ích
lợi
riêng.
Ví
dụ
hệ
thống
tư
pháp
cũng
có
tính
cách
công
pháp
vì
là
cần
thiết
cho
công
ích.
Hệ
thống
đó
nhằm
bảo
vệ
những
quyền
lợi
riêng
của
từng
cá
nhân
hay
của
từng
pháp
nhân
(chính
quốc
gia
cũng
có
quyền
lợi
riêng
như
vậy):
những
quyền
lời
ấy
thuộc
về
tư
pháp.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Gioan
XIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
418.
-
Xem
thêm
Piô
XI,
Tđ.
Quadragesimo
anno,
15-5-1931:
AAS
23
(1931),
trg
222tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Gioan
XIII,
Tđ
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
trg
417.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Mc
2,27.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Gioan
XIII,
Tđ
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
266.
(Trở
lại
đầu
trang)
29*
Không
những
sự
giao
thiệp
giữa
cá
nhân
với
cá
nhân
và
giữa
cá
nhân
với
quốc
gia,
mà
cả
những
hoạt
động
của
chính
quyền
và
của
các
quốc
gia
với
nhau
cũng
phải
dựa
trên
bốn
cột
trụ
này:
chân
lý,
công
bình,
tình
yêu,
tự
do.
Phải
chăng
Công
Ðồng
có
lý
khi
đòi
hỏi
phải
canh
tân
tâm
trạng
và
đổi
mới
ngay
chính
xã
hội
nữa.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Giac
2,
15-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Lc
16,
19-31.
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
Phá
thai
là
tội
trọng
đi
ngược
với
sự
sống
(MV
51b).
Giết
thai
nhi
khi
chưa
thành
hình
(chừng
6
tuần
đầu)
có
lẽ
không
phải
sát
nhân
(thần
học
cũng
như
khoa
học
chưa
chắc
chắn
về
vấn
đề
thai
nhi
ấy
đã
sống
do
linh
hồn
nhân
loại
chưa),
nhưng
chắc
chắn
sự
phá
thai
đó
là
giết
mạng
sống
đã
có
đặc
tính
nhân
loại.
Hơn
nữa
vì
có
lẽ
đã
có
linh
hồn
nhân
loại
rồi,
nên
phá
thai
là
liều
lĩnh
giết
người
và
đó
là
một
tội,
và
sát
hại
một
kẻ
không
những
hoàn
toàn
vô
tội
mà
còn
là
đứa
con
của
chính
kẻ
sát
nhân.
Dù
trường
hợp
người
mẹ
rất
nguy,
cũng
không
thể
giết
thai
nhi
để
cứu
mẹ:
mạng
sống
của
thai
nhi
cũng
như
của
chính
người
mẹ
là
thuộc
quyền
của
Chúa:
không
ai
có
quyền
cắt
đi.
Không
bao
giờ
được
phép
làm
sự
dữ,
dù
với
mục
đích
tốt
lành.
Chẳng
may,
vì
lý
do
có
nhiều
vụ
phá
thai
bất
hợp
pháp
và
làm
trong
những
hoàn
cảnh
thiếu
cẩn
thận
(nhiều
khi
do
người
không
phải
là
bác
sĩ
và
thiếu
phương
tiện),
thì
có
quốc
gia
lập
luật
cho
phép
phá
thai
với
một
số
điều
kiện
bảo
đảm.
Phải
hiểu
rõ
là
dù
có
luật
như
thế
đi
chăng
nữa,
"cho
phép"
chỉ
có
thể
có
nghĩa
là
luật
pháp
không
coi
vụ
phá
thai
đó
là
tội
trạng
mà
các
tòa
án
phải
trừng
phạt;
chứ
không
có
nghĩa
phá
thai
không
phải
là
tội.
"Phá
thai...
là
tội
ác
đáng
ghê
tởm"
(MV
51c).
Giáo
Hội
phạt
tội
này
với
vạ
tuyệt
thông
cho
tất
cả
những
ai
góp
phần
hiệu
lực
cho
việc
phá
thai.
(Trở
lại
đầu
trang)
31*
Tức
là
làm
cho
những
người
bệnh
nặng,
tàn
tật,
già
nua,
mau
chết
để
khỏi
phải
kéo
dài
sự
đau
đớn.
Hành
động
có
vẻ
nhân
đạo
nhưng
thực
sự
là
tội
sát
nhân,
và
tỏ
lòng
ích
kỷ
(bệnh
nhân
nào
lại
không
quấy
rầy
kẻ
chung
quanh)
hơn
là
tỏ
lòng
bác
ái.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Sự
lầm
lạc
vẫn
đáng
ghét
vì
không
hợp
với
bản
tính
con
người
đã
có
lý
trí
để
hiểu
biết
sự
thật.
Sự
lầm
lạc
trong
phạm
vi
luân
lý
nhất
là
do
tội
còn
đáng
ghét
hơn
nữa
vì
nó
làm
cho
con
người
nên
xấu
xa
và
có
thể
ảnh
hưởng
trên
người
khác
rất
nhiều.
Nhưng
chính
người
lầm
lạc
vẫn
còn
là
con
người
phải
được
tôn
trọng.
"Lầm
lẫn
thì
không
có
quyền
lợi":
nghĩa
là
bản
tính
con
người
đòi
hỏi
rằng
phải
nỗ
lực
để
loại
trừ
sự
lầmlạc.
Dĩ
nhiên
chỉ
con
người
mới
có
thể
có
quyền
lợi.
Thế
thì
kẻ
lầm
lạc
không
có
quyền
để
lầm
lạc,
nhưng
vẫn
có
quyền
để
được
kính
trọng
như
con
người,
mặc
dầu
đã
lầm
lạc
(về
vấn
đề
này
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo
còn
nói
rõ
hơn).
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Pacem
in
terris:
AAS
55
(1963),
trg
299-300.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Lc
6,37-38;
Mt
7,1-2;
Rm
2,1-11;
14,10-12.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Mt
5,43-47.
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Ðây
chỉ
là
một
thí
dụ
về
việc
kỳ
thị
căn
cứ
vào
giới
tính.
Trong
xã
hội
thấm
nhuần
văn
minh
Nho
Giáo
và
Phật
Giáo,
sự
kỳ
thị
này
có
ít
hay
nhiều,
tùy
trường
hợp
(coi
sau
này:
số
60c).
(Trở
lại
đầu
trang)
34*
Ðức
công
bằng
giúp
ta
trả
cho
mọi
người
của
riêng
họ.
Từ
xưa
đã
có
thói
quen
phân
biệt
công
bằng
giao
hoán
đối
với
từng
phần
tử
xã
hội,
giúp
mỗi
người
trao
trả
cho
người
khác
tất
cả
những
gì
mà
kẻ
ấy
có
quyền
đòi
hỏi;
công
bằng
pháp
lý
đối
với
chính
cộng
đoàn
xã
hội,
khiến
mọi
cá
nhân
hoạt
động
theo
những
đòi
hỏi
của
ích
chung;
công
bằng
phân
phối
của
xã
hội
(nhờ
các
đại
diện
của
xã
hội)
đối
với
mọi
phần
tử
cộng
đoàn,
thúc
đẩy
xã
hội
phân
chia
nhiệm
vụ
cũng
như
quyền
lợi
giữa
phần
tử
của
cộng
đoàn
một
các
chính
đáng.
Theo
văn
kiên
của
Tòa
Thánh
(Ðức
Piô
XI
và
XII):
công
bằng
xã
hội
phải
được
hiểu
như
công
bằng
pháp
lý
tổng
quát,
nghĩa
là
nhân
đức
khiến
mọi
phần
tử
của
xã
hội
thực
hiện
mọi
nhân
đức
khác
mỗi
khi
ích
chung
đòi
hỏi
như
vậy
(theo
như
Thánh
Tôma
dạy,
II-II,
q.
58,
a
a.
5-7
(x.
Calvez-Perrin,
Eglise
et
Société
économique.
L?Enseignement
social
des
Papes
de
Léon
XIII
à
Pie
XII,
Paris
1959,
trg
192-203
và
543-567).
"Aequitas"
(lẽ
phải)
là
danh
từ
có
nghĩa
gần
giống
danh
từ
công
bằng,
nhưng
phong
phú
hơn:
không
chỉ
dựa
trên
nguyên
tắc
pháp
lý
để
giải
quyết
một
vấn
đề,
mà
còn
cố
gắng
cân
nhắc
các
hoàn
cảnh
chủ
quan
cũng
như
khách
quan.
Sự
trọng
tài
giữa
người
phá
hoại
và
nạn
nhân
có
lẽ
không
thỏa
mãn
đòi
hỏi
của
nguyên
tắc
công
bằng
giao
hoán,
nhưng
trong
hoàn
cảnh
thực
tế
rất
có
thể
là
giải
pháp
tốt
nhất:
thích
hợp
cho
con
người.
(Trở
lại
đầu
trang)
35*
Phải
chăng
đây
là
điều
hơi
lạ
khi
Công
Ðồng
chỉ
nêu
ra
lý
do
nhất
thời
của
những
xu
hướng
hiện
đại?
Nếu
con
người
có
bản
tính
xã
hội
(Công
Ðồng
đã
xác
nhận
điều
này
ở
trên,
số
24-25),
phải
chăng
con
người
không
thể
chỉ
hoạt
động
tuân
theo
một
luân
lý
cá
nhân?
Ngoài
ra,
đức
tin
lại
không
nhấn
mạnh
rằng
đức
bác
ái
là
trên
hết
hay
sao?
...
Tố
cáo
Giáo
Hội
chỉ
mới
bắt
đầu
lưu
tâm
đến
các
vấn
đề
xã
hội
từ
cuối
thế
kỷ
19,
nghĩa
là
sau
cuộc
cách
mạng
kỹ
thuật
và
theo
sau
các
phong
trào
xã
hội
chủ
nghĩa,
tố
cáo
như
thế
chỉ
là
không
biết
lịch
sử
mà
thôi
(ví
dụ
như
từ
trong
CvTđ
2,
44-45;
4,32-35
đến
các
nhà
Dòng
chuyên
lo
chuộc
lại
những
người
bị
tù
hay
chuyên
săn
sóc
bệnh
nhân
v.v...).
Nhưng
đàng
khác
không
thể
phủ
nhận
được
rằng
những
triết
thuyết
từ
thời
cải
cách
tin
lành
trở
đi
đã
ảnh
hưởng
tới
quan
niệm
tôn
giáo
rất
nhiều
đến
nỗi
có
nhiều
tín
hữu
đạo
đức
trong
các
bổn
phận
cá
nhân
mà
lại
không
biết
tôn
trọng
công
bằng
và
bác
ái
xã
hội
chút
nào.
"Tôi
không
giết
người,
không
cướp
của
người"
là
những
câu
năng
được
nghe
và
chúng
đã
tỏ
lộ
thứ
quan
niệm
ấy.
Thế
thì
làm
thiệt
hại
cho
tha
nhân,
không
kính
trọng
quyền
lợi
của
tha
nhân
không
phải
là
cách
giết
và
cướp
của
người
ta
hay
sao?
Ngoài
ra
họ
có
lo
gì
cho
những
đòi
hỏi
của
ích
chung
không?...
Vả
lại
trước
đây
trong
các
lớp
dạy
giáo
lý
và
luân
lý
thần
học
cũng
gần
như
chỉ
biết
nhấn
mạnh
thái
độ
cá
nhân
về
các
bổn
phận
luân
lý.
Dạy
về
bổn
phận
cá
nhân
đối
với
cá
nhân
tương
đối
là
dễ;
trái
lại
dạy
về
bổn
phận
đối
với
tha
nhân
vô
danh
và
đối
với
ích
chung
thì
khó.
Chắc
chắn
là
cần
phải
nhấn
mạnh
đến
các
nguyên
tắc
và
đào
tạo
lương
tâm
của
mọi
giáo
dân
để
họ
trưởng
thành
và
biết
tự
xét
đoán
mọi
hoàn
cảnh,
hơn
là
tiếp
tục
để
cho
họ
chỉ
biết
hoạt
động
theo
những
giải
quyết
từng
chi
tiết
của
các
giáo
sĩ.
Số
31
phác
họa
một
chương
trình
căn
bản
về
việc
giáo
dục
xã
hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
CÐ
Vat.
I
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.
I
I,
số
9:
A
AS
57
(1965),
trg
12-13.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Xac
24,1-8.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II