VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
16-
HIẾN
CHẾ
MỤC
VỤ
VỀ
GIÁO
HỘI
TRONG
THẾ
GIỚI
NGÀY
NAY
(GAUDIUM
ET
SPES)
Phần
Thứ
Nhất
Giáo
Hội
Và
Thiên
Chức
Con
Người
12*
11.
Ðáp
ứng
những
thúc
bách
của
Chúa
Thánh
Thần.
Dân
Thiên
Chúa,
nhờ
đức
tin
mà
tin
rằng
mình
được
Thánh
Thần
Thiên
Chúa
là
Ðấng
bao
phủ
mặt
đất
hướng
dẫn,
cố
gắng
nhận
định
đâu
là
những
dấu
chỉ
thực
về
sự
hiện
diện
hoặc
ý
định
của
Thiên
Chúa
trong
mọi
biến
cố,
mọi
yêu
sách
và
ước
vọng
mà
họ
dự
phần
với
những
người
đương
thời.
Thực
vậy,
đức
tin
lấy
ánh
sáng
mới
13*
mà
chiếu
soi
mọi
sự
và
biểu
lộ
ý
định
của
Thiên
Chúa
về
thiên
chức
toàn
vẹn
của
con
người
và
do
đó
hướng
dẫn
lý
trí
tới
những
giải
quyết
hoàn
toàn
nhân
bản.
Trước
hết
dưới
ánh
sáng
này,
Công
Ðồng
muốn
thẩm
định
những
giá
trị
ngày
này
rất
được
đề
cao
và
đưa
chúng
về
tới
nguồn
phát
sinh
là
Thiên
Chúa.
Thực
vậy,
những
giá
trị
này,
vì
phát
sinh
do
tài
năng
của
con
người
được
Thiên
Chúa
ban
cho,
nên
rất
tốt
đẹp.
Nhưng
vì
lòng
người
đã
hư
hỏng
nên
nhiêൠkhi
những
giá
trị
ấy
đã
bị
sai
lệch
ngoài
trật
tự
phải
có,
bởi
vậy
chúng
cần
được
thanh
lọc
14*.
Vậy
Giáo
Hội
nghĩ
gì
về
con
người?
Phải
đưa
ra
những
điểm
nào
để
xây
dựng
xã
hội
ngày
nay?
Ðâu
là
ý
nghĩa
cuối
cùng
của
hoạt
động
con
người
trong
vũ
trụ?
Người
ta
đang
chờ
một
giải
đáp
cho
những
câu
hỏi
trên
đây.
Như
thế
sẽ
tỏ
rõ
rằng
dân
Chúa
và
nhân
loại,
trong
đó
dân
Chúa
là
một
thành
phần,
phục
vụ
lẫn
nhau
đến
nỗi
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
biểu
lộ
được
tính
cách
tôn
giáo
và
chính
vì
thế
biểu
lộ
được
cả
tính
cách
hoàn
toàn
nhân
loại.
Chương
I
Phẩm
Giá
Con
Người
15*
12.
Con
người
theo
hình
ảnh
Thiên
Chúa.
Những
kẻ
tin
cũng
như
những
kẻ
không
tin
dường
như
đồng
quan
điểm
là
mọi
vật
trên
địa
cầu
phải
được
hướng
về
con
người
như
là
trung
tâm
và
tột
điểm
của
chúng.
Vậy
con
người
là
gì?
Con
người
đã
và
còn
đang
đưa
ra
nhiều
quan
niệm
về
chính
mình,
những
quan
niệm
khác
nhau
và
đôi
khi
trái
ngược
nhau.
Theo
những
quan
niệm
đó,
thường
con
người
tán
dương
mình
như
một
mẫu
mực
tuyệt
đối
hay
lại
chê
bai
đến
độ
tuyệt
vọng,
từ
đó
con
người
hoài
nghi
và
lo
lắng.
Thông
cảm
sâu
xa
được
những
khó
khăn
này,
Giáo
Hội,
vì
được
Thiên
Chúa
là
Ðấng
mạc
khải
dạy
dỗ,
có
thể
đem
lại
câu
giải
đáp
cho
những
khó
khăn
ấy,
nhờ
đó
diễn
tả
được
thân
phận
đích
thực
của
con
người,
giải
bày
những
yếu
hèn,
đồng
thời
có
thể
nhìn
nhận
xác
đáng
phẩm
giá
và
thiên
chức
của
con
người.
Thực
vậy,
Thánh
Kinh
dạy
rằng
con
người
đã
được
tạo
dựng
"theo
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa"
có
khả
năng
nhận
biết
và
yêu
mến
Ðấng
Tạo
Dựng
mình,
được
Ngài
đặt
làm
chủ
mọi
tạo
vật
trên
trái
đất
1
để
cai
trị
và
xử
dụng
chúng
mà
ngợi
khen
Thiên
Chúa
2.
Vì
"thế
nhân
là
chi
để
Ngài
nhớ
đến?
hay
con
người
là
gì
để
Ngài
phải
bận
tâm?
So
với
thiên
thần
Ngài
có
để
cho
thua
mấy
tí.
Vinh
dự
huy
hoàng
là
triều
thiên
Ngài
ban
tặng.
Ngài
cho
thống
trị
các
kiệt
tác
tay
Ngài
làm,
muôn
sự
Ngài
đã
đặt
dưới
chân"
(Tv
8,5-7).
Nhưng
Thiên
Chúa
đã
không
dựng
nên
con
người
cô
độc:
bởi
vì
từ
khởi
thủy
"Ngài
đã
tạo
dựng
có
nam
và
có
nữ"
(Stk
1,2-7).
Sự
liên
kết
giữa
họ
đã
tạo
nên
một
thứ
cộng
đoàn
đầu
tiên
giữa
người
với
người.
Thực
vậy,
tự
bản
tính
thâm
sâu
của
mình,
con
người
là
một
hữu
thể
có
xã
hội
tính
và
nếu
không
liên
lạc
với
những
người
khác
con
người
sẽ
không
sống
và
phát
triển
tài
năng
mình.
Vì
thế
như
ta
lại
đọc
thấy
ngay
trang
đầu
của
Thánh
Kinh:
"Thiên
Chúa
đã
thấy
tất
cả
những
gì
Ngài
đã
làm
đều
rất
tốt
đẹp"
(Stk
1,31).
13.
Tội
lỗi.
Ðược
Thiên
Chúa
thiết
lập
trong
sự
công
chính,
tuy
nhiên
ngay
từ
đầu
lịch
sử,
con
người
nghe
theo
Thần
Dữ
nên
đã
lạm
dụng
tự
do
của
mình
khi
nổi
dậy
chống
lại
Thiên
Chúa
và
muốn
đạt
tới
cứu
cánh
của
mình
ngoài
Thiên
Chúa.
Dù
họ
đã
nhận
biết
Thiên
Chúa
nhưng
họ
đã
chẳng
tôn
vinh
Ngài
như
Thiên
Chúa,
trái
lại
tâm
hồn
mê
muội
của
họ
đã
ra
tối
tăm
và
họ
đã
phụng
sự
tạo
vật
hơn
là
phụng
sự
Ðấng
Tạo
Hóa
3.
Ðiều
Thiên
Chúa
mạc
khải
cho
ta
biết
cũng
phù
hợp
với
kinh
nghiệm
của
ta.
Bởi
vì
nếu
nhìn
sâu
tận
đáy
lòng
mình,
con
người
cũng
khám
phá
ra
rằng
mình
đã
hướng
về
sự
dữ
và
đã
ngụp
lặn
trong
muôn
vàn
sự
dữ
là
những
điều
không
thể
xuất
phát
từ
Ðấng
Tạo
Hóa
tốt
lành
của
mình.
Nhiều
khi
từ
chối
không
nhìn
nhận
Thiên
Chúa
như
nguyên
ủy
của
mình,
con
người
cũng
phá
đổ
trật
tự
phải
có
để
đạt
tới
cùng
đích
của
mình
và
đồng
thời
phá
vỡ
mọi
hòa
hợp
nơi
chính
bản
thân
cũng
như
đối
với
những
người
khác
và
với
mọi
loài
thụ
tạo.
Vậy
trong
chính
con
người
đã
có
sự
chia
rẽ
16*.
Vì
thế
tất
cả
cuộc
sống
của
con
người,
hoặc
riêng
rẽ,
hoặc
tập
thể,
đều
biểu
hiện
như
một
cuộc
chiến,
dĩ
nhiên
là
bi
thảm,
giữa
tốt
và
xấu,
giữa
ánh
sáng
và
tối
tăm.
Hơn
nữa,
con
người
thấy
mình
không
đủ
sức
khi
phải
tự
mình
chiến
thắng
hữu
hiệu
những
tấn
công
của
sự
dữ
đến
nỗi
mỗi
người
cảm
thấy
dường
như
bị
xiềng
xích
trói
buộc.
Nhưng
chính
Chúa
đã
đến
để
giải
phóng
con
người
và
làm
cho
con
người
trở
nên
mạnh
mẽ
khi
Ngài
đổi
mới
tự
nội
tâm
họ
và
loại
ra
ngoài
thủ
lãnh
của
thế
gian
này
(xem
Gio
12,31)
là
kẻ
đã
kìm
giữ
họ
trong
vòng
nô
lệ
tội
lỗi
4.
Tội
lỗi
làm
suy
giảm
chính
con
người
và
ngăn
cản
không
cho
con
người
đạt
tới
sự
viên
mãn
17*.
Dưới
ánh
sáng
mạc
khải
này,
thiên
chức
cao
cả
và
nỗi
thống
khổ
sâu
xa
mà
con
người
nghiệm
thấy
đều
tìm
được
ý
nghĩa
cuối
cùng
của
chúng.
14.
Sự
cấu
tạo
của
con
người.
Con
người
duy
nhất
với
xác
hồn.
Xét
về
thể
xác,
con
người
là
một
tổng
hợp
những
yếu
tố
thuộc
thế
giới
vật
chất.
Vì
thế
nhờ
con
người
mà
những
yếu
tố
ấy
đạt
tới
tuyệt
đỉnh
của
chúng
và
tự
do
dâng
lời
ca
tụng
Ðấng
Tạo
Hóa
5.
Vậy
con
người
không
được
khinh
miệt
đời
sống
thể
xác.
Nhưng
trái
lại
con
người
phải
coi
thân
xác
mình
là
tốt
đẹp
và
đáng
tôn
trọng
vì
thân
xác
ấy
do
Chúa
tạo
dựng
và
phải
được
sống
lại
ngày
sau
hết.
Tuy
nhiên,
mang
thương
tích
do
tội
lỗi
gây
nên,
con
người
cảm
nghiệm
nơi
chính
mình
những
nổi
loạn
của
thân
xác.
Vậy
chính
phẩm
giá
con
người
đòi
hỏi
con
người
ca
tụng
Thiên
Chúa
nơi
thân
xác
của
mình
6
chứ
đừng
để
thân
xác
ấy
nô
lệ
cho
những
xu
hướng
xấu
xa
của
lòng
mình
18*.
Thực
vậy,
con
người
không
lầm
lẫn
khi
họ
nhận
biết
mình
cao
cả
hơn
vũ
trụ
vật
chất
và
không
coi
mình
chỉ
như
một
mảnh
vụn
của
thiên
nhiên
hay
như
một
phần
tử
vô
danh
trong
xã
hội
loài
người.
Bởi
vì
nhờ
có
nội
giới
19*,
con
người
vượt
trên
mọi
vật.
Khi
con
người
quay
về
với
lòng
mình
tức
là
họ
trở
về
với
nội
giới
thâm
sâu
này,
ở
đó
Thiên
Chúa,
Ðấng
thấu
suốt
tâm
hồn,
đang
chờ
đợi
họ
7,
và
cũng
nơi
đó
chính
con
người
tự
định
đoạt
về
vận
mệnh
riêng
của
mình
dưới
con
mắt
của
Thiên
Chúa.
Như
vậy,
khi
nhìn
nhận
mình
có
một
linh
hồn
thiêng
liêng,
bất
tử,
con
người
không
phải
là
bị
mê
hoặc
bởi
một
thứ
ảo
tưởng
phát
sinh
do
những
điều
kiện
vật
lý
và
xã
hội.
Trái
lại,
nhìn
nhận
như
thế
là
con
người
đã
đạt
tới
chính
chân
lý
sâu
xa.
15.
Phẩm
giá
của
trí
tuệ,
chân
lý
và
sự
hiểu
biết.
Dự
phần
vào
ánh
sáng
của
trí
tuệ
Thiên
Chúa,
con
người
có
lý
để
nhận
định
rằng
nhờ
trí
tuệ
họ
vượt
trên
mọi
tạo
vật.
Qua
các
thời
đại,
nhờ
chuyên
cần
trau
dồi
tài
năng
của
mình,
chính
con
người
đã
thực
sự
tiến
bộ
trong
những
khoa
học
thực
nghiệm,
những
khoa
kỹ
thuật
và
nghệ
thuật.
Trong
thời
đại
chúng
ta,
con
người
đã
đạt
được
những
thành
công
phi
thường,
nhất
là
trong
việc
khám
phá
và
chế
ngự
thế
giới
vật
chất.
Tuy
nhiên
con
người
đã
luôn
luôn
tìm
kiếm
và
đã
khám
phá
ra
chân
lý
sâu
xa
hơn.
Thực
vậy,
trí
khôn
con
người
không
hẳn
chỉ
giới
hạn
trong
những
hiện
tượng
mà
thôi,
nhưng
còn
có
thể
thấu
triệt
thực
tại
siêu
hình
một
cách
thực
sự
chắc
chắn,
cho
dù
trí
tuệ
phần
nào
đã
bị
mờ
tối
và
suy
nhược
do
hậu
quả
của
tội
lỗi.
Cuối
cùng
bản
chất
tri
thức
của
nhân
vị
được
kiện
toàn
và
phải
được
kiện
toàn
nhờ
sự
"hiểu
biết"
20*.
Chính
sự
hiểu
biết
lôi
kéo
một
cách
dịu
dàng
tâm
trí
con
người
tìm
kiếm
và
ái
mộ
những
gì
là
chân,
là
thiện.
Rồi
nhờ
thấm
nhuần
sự
hiểu
biết
mà
con
người
được
đưa
từ
thế
giới
hữu
hình
tới
thế
giới
vô
hình.
Hơn
hẳn
những
thế
kỷ
trước,
thời
đại
chúng
ta
càng
cần
đến
sự
hiểu
biết
để
tất
cả
những
khám
phá
mới
của
con
người
mang
tính
chất
nhân
bản
hơn.
Bởi
vì
vận
mệnh
tương
lai
của
thế
giới
sẽ
lâm
nguy,
nếu
thế
giới
không
phát
sinh
ra
những
bậc
thông
thái
lỗi
lạc.
Hơn
nữa,
phải
lưu
ý
rằng,
nhiều
quốc
gia
tuy
nghèo
nàn
về
kinh
tế,
nhưng
lại
giàu
có
về
phần
hiểu
biết,
nên
vẫn
có
thể
trợ
giúp
những
quốc
gia
khác
rất
đắc
lực.
Nhờ
hồng
ân
của
Chúa
Thánh
Thần,
con
người,
qua
đức
tin,
tiến
tới
sự
chiêm
ngưỡng
và
nếm
hưởng
mầu
nhiệm
Thánh
ý
Thiên
Chúa
8.
16.
Phẩm
giá
của
lương
tâm
21*.
Con
người
khám
phá
ra
tận
đáy
lương
tâm
một
lề
luật
mà
chính
con
người
không
đặt
ra
cho
mình,
nhưng
vẫn
phải
tuân
theo,
và
tiếng
nói
của
lương
tâm
luôn
luôn
kêu
gọi
con
người
phải
yêu
mến
và
thi
hành
điều
thiện
cũng
như
tránh
điều
ác.
Tiếng
nói
ấy
âm
vang
đúng
lúc
trong
tâm
hồn
của
chính
con
người:
hãy
làm
điều
này,
hãy
tránh
điều
kia.
Quả
thật
con
người
có
lề
luật
được
Chúa
khắc
ghi
trong
tâm
hồn.
Tuân
theo
lề
luật
ấy
chính
là
phẩm
giá
của
con
người
và
chính
con
người
cũng
sẽ
bị
xét
xử
theo
lề
luật
ấy
nữa
9.
Lương
tâm
là
tâm
điểm
sâu
kín
nhất
và
là
cung
thánh
của
con
người,
nơi
đây
con
người
chỉ
hiện
diện
một
mình
với
Thiên
Chúa
và
tiếng
nói
của
Ngài
vang
dội
trong
thâm
tâm
họ
10.
Nhờ
lương
tâm,
lề
luật
được
thực
hiện
trong
sự
yêu
mến
Thiên
Chúa
và
anh
em,
và
được
biểu
lộ
cách
kỳ
diệu
11.
Trung
thành
với
lương
tâm,
người
Kitô
giáo
liên
kết
với
những
người
khác
để
tìm
kiếm
chân
lý
và
giải
quyết
trong
chân
lý
biết
bao
vấn
đề
luân
lý
được
đặt
ra
trong
đời
sống
cá
nhân
cũng
như
trong
giao
tiếp
xã
hội.
Bởi
vậy
lương
tâm
ngay
thẳng
càng
thắng
thế
thì
những
cá
nhân
và
cộng
đoàn
càng
tránh
được
độc
đoán
mù
quáng
và
càng
nỗ
lực
tuân
phục
những
tiêu
chuẩn
khách
quan
của
luân
lý.
Tuy
nhiên,
lương
tâm
nhiều
khi
lầm
lạc
vì
vô
tri
bất
khả
thắng,
nhưng
cũng
không
vì
thế
mà
mất
hết
phẩm
giá.
Nhưng
không
thể
nói
như
vậy
khi
con
người
ít
lo
lắng
tìm
kiếm
điều
chân
và
điều
thiện
cũng
như
khi
vì
thói
quen
phạm
tội
mà
lương
tâm
dần
dần
trở
nên
mù
quáng.
17.
Sự
cao
cả
của
tự
do
22*.
Nhưng
con
người
chỉ
có
thể
quay
về
với
sự
thiện
một
cách
tự
do.
Sự
tự
do
ấy
những
người
đương
thời
với
chúng
ta
rất
ngưỡng
mộ
và
hăng
say
theo
đuổi,
và
họ
thực
có
lý.
Tuy
nhiên,
lắm
lúc
họ
cổ
võ
tự
do
một
cách
lệch
lạc
như
có
thể
làm
bất
cứ
điều
gì
mình
thích,
cả
điều
xấu.
Nhưng
tự
do
đích
thực
là
dấu
chỉ
cao
cả
nhất
của
hình
ảnh
Thiên
Chúa
trong
con
người.
Bởi
vì
Thiên
Chúa
đã
muốn
để
con
người
tự
định
liệu
12,
hầu
con
người
tự
mình
đi
tìm
Ðấng
Tạo
Dựng
và
nhờ
kết
hợp
với
Ngài
con
người
tiến
tới
sự
hoàn
thiện
trọn
vẹn
và
hạnh
phúc.
Vậy
phẩm
giá
của
con
người
đòi
họ
phải
hành
động
theo
sự
chọn
lựa
ý
thức
và
tự
do,
nghĩa
là
chính
con
người
được
thúc
đẩy
và
hướng
dẫn
tự
bên
trong,
chứ
không
do
bản
năng
mù
quáng
hay
cưỡng
chế
hoàn
toàn
bên
ngoài.
Con
người
sẽ
đạt
tới
phẩm
giá
ấy
một
khi
nhờ
tự
giải
thoát
khỏi
mọi
kiềm
tỏa
của
đam
mê,
con
người
theo
đuổi
cùng
đích
của
mình
trong
sự
tự
do
chọn
lấy
điều
thiện
và
khôn
khéo
cũng
như
thực
sự
tạo
cho
mình
những
phương
tiện
thích
ứng.
Tự
do
của
con
người
vì
bị
tội
lỗi
làm
tổn
thương
nên
chỉ
nhờ
ơn
Chúa
trợ
lực
mới
có
thể
thực
hiện
việc
hướng
về
Thiên
Chúa
cách
hoàn
toàn
sống
động.
Vậy
trước
tòa
án
Thiên
Chúa,
mỗi
người
sẽ
phải
trả
lẽ
về
đời
sống
của
mình
tùy
theo
chính
họ
đã
làm
điều
thiện
hay
điều
ác
13.
18.
Mầu
nhiệm
sự
chết.
Trước
cái
chết,
bí
ẩn
về
thân
phận
con
người
lên
cao
tới
tột
độ.
Con
người
không
những
bị
hành
hạ
bởi
đau
khổ
và
sự
tiến
dần
đến
tan
rã
của
thân
xác,
mà
hơn
thế
nữa,
còn
bị
dày
vò
bởi
nỗi
lo
sợ
bị
tiêu
diệt
đời
đời.
Theo
bản
năng
của
lòng
mình,
con
người
có
lý
để
ghê
sợ
cũng
như
từ
chối
sự
hủy
hoại
hoàn
toàn
và
sự
tiêu
diệt
vĩnh
viễn
của
bản
thân.
Mầm
sống
vĩnh
cửu
mà
con
người
mang
trong
mình
không
thể
giản
lược
vào
nguyên
vật
chất,
nên
nó
nổi
lên
chống
lại
sự
chết.
Mọi
cố
gắng
của
kỹ
thuật,
dù
rất
hữu
ích,
cũng
không
thể
làm
nguôi
được
nỗi
lo
âu
của
con
người:
bởi
vì
đời
sống
sinh
vật,
dù
có
được
kéo
dài
thêm
đi
nữa,
cũng
không
thể
thỏa
mãn
được
khát
vọng
một
cuộc
sống
mai
hậu
đã
được
in
sâu
trong
lòng
con
người.
Trước
cái
chết,
óc
tưởng
tượng
của
con
người
đành
bất
lực.
Nhưng
Giáo
Hội,
được
Mạc
Khải
của
Thiên
Chúa
dạy
bảo,
quả
quyết
rằng
con
người
được
Chúa
dựng
nên
để
đạt
tới
cứu
cánh
hạnh
phúc
sau
những
khổ
cực
trần
thế
này.
Hơn
nữa,
đức
tin
Kitô
giáo
còn
dạy
rằng
giả
như
con
người
không
phạm
tội,
thì
đã
không
phải
chết
14;
sự
chết
này
sẽ
bị
đánh
bại
khi
Ðấng
Cứu
Thế
toàn
năng
và
nhân
ái
mang
lại
cho
con
người
sự
cứu
rỗi
mà
vì
tội
lỗi,
họ
đã
đánh
mất.
Bởi
vì
Thiên
Chúa
đã
và
đang
kêu
gọi
con
người
đem
toàn
thân
kết
hợp
với
Ngài
trong
sự
thông
hiệp
vĩnh
viễn
vào
sự
sống
bất
diệt
của
Thiên
Chúa.
Chúa
Kitô
đã
đem
lại
chiến
thắng
ấy
khi
Người
sống
lại
và
nhờ
cái
chết
của
Người,
Người
đã
giải
phóng
con
người
khỏi
sự
chết
15.
Vậy
đức
tin
với
những
lý
chứng
vững
chắc
đem
lại
giải
đáp
cho
bất
cứ
ai
khắc
khoải
ưu
tư
về
số
phận
tương
lai
của
mình.
Ðồng
thời
đức
tin
còn
cho
con
người
khả
năng
hiệp
thông
với
những
anh
em
thân
yêu
đã
chết
trong
Chúa
Kitô,
và
làm
cho
họ
hy
vọng
rằng
những
người
ấy
đã
được
sống
thực
sự
nơi
Thiên
Chúa.
19.
Những
hình
thức
và
nguyên
nhân
vô
thần
23*.
Ý
nghĩa
cao
cả
nhất
của
phẩm
giá
con
người
là
con
người
được
kêu
gọi
tớì
kết
hiệp
với
Thiên
Chúa.
Ngay
từ
lúc
mới
sinh
ra,
con
người
đã
được
mời
gọi
đối
thoại
với
Thiên
Chúa:
thực
thế,
con
người
hiện
hữu
chỉ
là
do
Thiên
Chúa
đã
vì
yêu
thương
nên
tạo
dựng
nên
con
người,
và
cũng
vì
yêu
thương
mà
luôn
luôn
bảo
tồn
con
người;
hơn
nữa
con
người
chỉ
sống
hoàn
toàn
theo
chân
lý
một
khi
tự
ý
nhìn
nhận
tình
yêu
ấy
và
phó
thác
cho
Ðấng
tạo
dựng
mình.
Tuy
nhiên
có
nhiều
người
đương
thời
với
chúng
ta
không
nhận
ra
hoặc
công
khai
gạt
bỏ
sự
liên
kết
mật
thiết
và
sống
động
giữa
con
người
với
Thiên
Chúa.
Vì
thế
thuyết
vô
thần
phải
được
kể
là
một
trong
những
sự
kiện
quan
trọng
nhất
trong
thời
đại
này
và
cần
phải
được
nghiên
cứu
kỹ
càng
hơn.
Danh
từ
vô
thần
chỉ
những
hiện
tượng
rất
khác
nhau.
Thực
vậy,
có
người
phủ
nhận
Thiên
Chúa
cách
tỏ
tường,
có
người
lại
nghĩ
rằng
con
người
hoàn
toàn
không
thể
quả
quyết
gì
về
Thiên
Chúa
cả.
Có
người
muốn
cứu
xét
vấn
đề
về
Thiên
Chúa
theo
một
phương
pháp
làm
cho
vấn
đề
đó
xem
ra
thiếu
hẳn
ý
nghĩa.
Vượt
quá
phạm
vi
khoa
học
thực
nghiệm
một
cách
vô
lý,
nhiều
người
hoặc
chủ
trương
giải
thích
mọi
sự
chỉ
bằng
khoa
học
này,
hoặc
trái
lại,
hoàn
toàn
không
chấp
nhận
một
chân
lý
nào
là
tuyệt
đối.
Có
người
lại
quá
đề
cao
con
người
đến
nỗi
sự
tin
tưởng
vào
Thiên
Chúa
trở
nên
vô
nghĩa;
những
người
này
xem
ra
muốn
đề
cao
con
người
hơn
là
muốn
chối
bỏ
Thiên
Chúa.
Có
người
hình
dung
ra
cho
mình
một
Thiên
Chúa
theo
kiểu
họ
tưởng
đến
nỗi
biểu
tượng
mà
họ
bài
xích
không
còn
điểm
nào
là
Thiên
Chúa
của
Phúc
Âm
cả.
Cả
vấn
đề
về
Thiên
Chúa
cũng
không
hề
được
đặt
ra
bởi
vì
xem
ra
họ
không
cảm
thấy
áy
náy
gì
về
tôn
giáo
cũng
như
không
thấy
tại
sao
lại
phải
bận
tâm
về
vấn
đề
đó.
Ngoài
ra,
chủ
nghĩa
vô
thần
nhiều
lúc
phát
sinh
hoặc
do
sự
phản
kháng
mãnh
liệt
chống
lại
sự
dữ
trong
thế
gian
hoặc
do
nhận
định
sai
lầm
cho
một
số
giá
trị
của
con
người
là
tuyệt
đối
đến
nỗi
lấy
chúng
thay
thế
cho
chính
Thiên
Chúa.
Ngay
cả
nền
văn
minh
hiện
đại
nhiều
lúc
có
thể
làm
cho
khó
đến
với
Thiên
Chúa
hơn,
không
phải
tự
nó,
nhưng
vì
nó
quá
bám
víu
vào
những
thực
tại
trần
gian.
Quả
thực,
những
người
không
nghe
theo
tiếng
nói
của
lương
tâm,
cố
tình
loại
trừ
Thiên
Chúa
ra
khỏi
lòng
mình
và
tránh
né
những
vấn
đề
tôn
giáo,
chắc
chắn
họ
mắc
lỗi.
Song
chính
những
tín
hữu
nhiều
lúc
cũng
có
một
phần
trách
nhiệm
về
vấn
đề
này.
Bởi
vì
chủ
nghĩa
vô
thần
nói
chung
không
phải
do
một
nguyên
nhân
duy
nhất,
nhưng
trái
lại
nó
phát
sinh
do
nhiều
nguyên
nhân.
Trong
những
nguyên
nhân
ấy
còn
phải
kể
tới
phản
ứng
chỉ
trích
chống
lại
các
tôn
giáo,
hơn
nữa
ở
một
vài
nơi,
còn
chống
lại
cả
Kitô
giáo.
Tín
hữu
có
thể
chịu
phần
trách
nhiệm
không
phải
là
nhỏ
trong
việc
khai
sinh
vô
thần,
hoặc
bởi
xao
lãng
việc
giáo
dục
đức
tin,
hoặc
trình
bày
sai
lạc
về
giáo
lý,
hoặc
do
những
thiếu
sót
trong
đời
sống
tôn
giáo,
luân
lý
và
xã
hội.
Phải
nói
rằng
họ
che
giấu
hơn
là
bày
tỏ
bộ
mặt
đích
thực
của
Thiên
Chúa
và
tôn
giáo.
20.
Vô
thần
có
hệ
thống.
Vô
thần
hiện
nay
nhiều
khi
cũng
được
trình
bày
như
một
hệ
thống;
không
kể
tới
những
nguyên
nhân
khác,
hệ
thống
này
quá
nhấn
mạnh
đến
khát
vọng
được
tự
lập
của
con
người
đến
độ
làm
cho
nó
khó
chấp
nhận
bất
cứ
sự
lệ
thuộc
nào
vào
Thiên
Chúa.
Những
người
chủ
trương
thuyết
vô
thần
như
vậy
cho
rằng
tự
do
hệ
tại
ở
con
người
là
chính
cùng
đích
cho
mình,
là
người
tạo
nên
và
điều
khiển
24*
lịch
sử
riêng
của
mình.
Họ
tưởng
rằng
quan
niệm
trên
không
thể
đi
đôi
với
sự
nhìn
nhận
Thiên
Chúa
là
Ðấng
tác
thành
và
là
cùng
đích
của
mọi
sự,
hay
ít
ra
quan
niệm
như
thế
thì
quả
quyết
có
Thiên
Chúa
cũng
bằng
thừa.
Chủ
thuyết
này
có
thể
được
cổ
võ
thêm
vì
sự
tiến
triển
về
kỹ
thuật
hiện
nay
đem
lại
cho
con
người
cảm
tưởng
mình
đầy
thế
lực.
Trong
số
những
hình
thức
vô
thần
hiện
nay,
không
thể
bỏ
qua
một
hình
thức
vô
thần
mong
giải
phóng
con
người,
nhất
là
giải
phóng
con
người
về
phương
diện
kinh
tế
và
xã
hội.
Hình
thức
vô
thần
này
cho
rằng
tự
bản
chất,
tôn
giáo
vẫn
ngăn
cản
sự
giải
phóng
trên,
vì
khi
gây
cho
con
người
niềm
hy
vọng
vào
cuộc
sống
mai
hậu
và
hão
huyền,
tôn
giáo
đã
làm
cho
họ
xao
lãng
việc
xây
dựng
xã
hội
dương
thế
này.
Bởi
vậy,
những
người
chủ
trương
lý
thuyết
ấy,
một
khi
lên
nắm
chính
quyền,
họ
kịch
liệt
chống
lại
tôn
giáo,
dùng
cả
những
biện
pháp
cưỡng
bách
của
chính
quyền
để
truyền
bá
thuyết
vô
thần
nhất
là
trong
phạm
vi
giáo
dục
thanh
thiếu
niên.
21.
Thái
độ
của
Giáo
Hội
đối
với
chủ
nghĩa
vô
thần.
Trung
thành
với
Thiên
Chúa
cũng
như
với
con
người,
Giáo
Hội
không
thể
không
tiếp
tục
lên
án
với
nỗi
đau
buồn
và
với
tất
cả
sự
cương
quyết,
như
đã
từng
lên
án
16,
những
chủ
thuyết
vô
thần
và
những
hành
động
nguy
hại
đi
ngược
lại
lý
trí
và
kinh
nghiệm
chung
của
con
người
cũng
như
làm
cho
con
người
mất
đi
sự
cao
cả
bẩm
sinh
của
mình.
Tuy
nhiên
Giáo
Hội
vẫn
cố
gắng
tìm
hiểu
những
nguyên
nhân
chối
từ
Thiên
Chúa
tiềm
ẩn
trong
tâm
trí
những
người
vô
thần
và
ý
thức
được
tầm
quan
trọng
của
những
vấn
đề
do
vô
thần
khơi
lên
và
vì
yêu
thương
mọi
người,
nên
Giáo
Hội
thấy
cần
phải
cứu
xét
những
nguyên
nhân
ấy
kỹ
lưỡng
và
sâu
xa
hơn.
Giáo
Hội
cho
rằng
nhìn
nhận
Thiên
Chúa
không
có
gì
nghịch
lại
với
phẩm
giá
con
người,
vì
phẩm
giá
ấy
đặt
nền
tảng
và
nên
hoàn
hảo
trong
chính
Thiên
Chúa:
bởi
vì
con
người
có
trí
tuệ
và
tự
do
được
Thiên
Chúa,
Ðấng
tạo
dựng
đặt
để
trong
xã
hội,
nhưng
nhất
là
vì
con
người
được
gọi
đến
thông
hiệp
với
chính
Thiên
Chúa
và
tham
dự
vào
hạnh
phúc
của
Ngài
như
con
cái.
Ngoài
ra,
Giáo
Hội
còn
dạy
rằng
hy
vọng
vào
đời
sống
mai
sau
không
làm
giảm
tầm
quan
trọng
những
bổn
phận
ở
trần
gian
này
mà
trái
lại
còn
thêm
những
động
lực
mới
giúp
hoàn
tất
những
bổn
phận
ấy.
Vả
lại,
nếu
thiếu
căn
bản
là
Thiên
Chúa
và
thiếu
niềm
hy
vọng
vào
đời
sống
trường
cửu
thì
phẩm
giá
con
người
sẽ
bị
tổn
thương
cách
trầm
trọng
như
thường
thấy
ngày
nay,
và
những
bí
ẩn
về
sự
sống,
sự
chết,
về
tội
lỗi
và
đau
khổ
vẫn
không
giải
đáp
được,
như
thế
con
người
nhiều
khi
rơi
vào
tuyệt
vọng.
Trong
khi
đó,
mỗi
người
vẫn
còn
là
một
câu
hỏi
chưa
giải
đáp
cho
chính
mình,
một
câu
hỏi
chỉ
thấy
lờ
mờ.
Bởi
vì
có
những
lúc,
nhất
là
trong
những
biến
cố
lớn
lao
của
cuộc
sống,
không
ai
có
thể
hoàn
toàn
tránh
được
câu
hỏi
nói
trên.
Chỉ
một
mình
Thiên
Chúa
là
Ðấng
kêu
gọi
con
người
suy
nghĩ
sâu
xa
hơn
và
tìm
hiểu
khiêm
tốn
hơn
mới
đem
lại
được
câu
giải
đáp
hoàn
toàn
và
hết
sức
chắc
chắn.
Ðể
đem
lại
phương
thuốc
chữa
trị
vô
thần,
người
ta
phải
cậy
nhờ
vào
giáo
lý
được
trình
bày
một
cách
thích
hợp
và
nhờ
đó
vào
đời
sống
thanh
khiết
của
Giáo
Hội
cũng
như
của
các
chi
thể
của
Giáo
Hội.
Bởi
vì
nhiệm
vụ
của
Giáo
Hội
là
làm
sao
cho
Thiên
Chúa
Cha
và
Chúa
Con
nhập
thể
trở
nên
hiện
diện
và
như
thể
thấy
được
bằng
cách
chính
Giáo
Hội
tự
đổi
mới
và
không
ngừng
tinh
luyện
chính
mình
17
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Chúa
Thánh
Thần.
Ðiều
đó
trước
hết
nhờ
chứng
tá
của
một
đức
tin
sống
động
và
trưởng
thành,
nghĩa
là
một
đức
tin
đã
được
huấn
luyện
để
có
thể
sáng
suốt
nhận
định
và
thắng
vượt
những
khó
khăn
ấy.
Rất
nhiều
vị
tử
đạo
đã
và
còn
đang
hùng
hồn
làm
chứng
cho
đức
tin
ấy.
Ðức
tin
đó
phải
biểu
lộ
sự
phong
phú
của
mình
bằng
cách
thấm
nhập
vào
toàn
thể
đời
sống
của
các
tín
hữu,
kể
cả
đời
sống
thế
tục,
và
thúc
đẩy
họ
sống
công
bằng,
bác
ái
nhất
là
đối
với
người
nghèo
khổ.
Sau
hết,
điều
có
thể
làm
chứng
về
sự
hiện
diện
của
Thiên
Chúa
hơn
cả
là
đức
ái
huynh
đệ
của
các
tín
hữu
như
họ
đồng
tâm
nhất
trí
cộng
tác
cho
đức
tin
Phúc
Âm
18
và
tỏ
ra
họ
là
dấu
chỉ
hiệp
nhất.
Thực
vậy,
Giáo
Hội
dù
hoàn
toàn
bác
bỏ
thuyết
vô
thần,
nhưng
vẫn
thành
thực
tuyên
bố
rằng
mọi
người,
dù
tin
hay
không
tin,
cũng
đều
phải
trợ
lực
cho
việc
xây
dựng
thế
giới
này
được
hợp
lý,
là
nơi
họ
đang
chung
sống:
điều
ấy
chắc
chắn
không
thể
có
được
nếu
thiếu
cuộc
đối
thoại
thành
thực
và
khôn
ngoan.
Bởi
vậy
Giáo
Hội
phàn
nàn
về
sự
kỳ
thị
giữa
những
người
tin
và
không
tin
do
một
số
nhà
lãnh
đạo
quốc
gia
gây
ra
một
cách
bất
công
khi
không
nhìn
nhận
những
quyền
lợi
căn
bản
của
con
người.
Riêng
đối
với
các
tín
hữu,
Giáo
Hội
đòi
cho
họ
phải
được
tự
do
đích
thực
để
họ
có
thể
xây
dựng
đền
thờ
Thiên
Chúa
ngay
tại
trần
gian
này.
Ðối
với
những
người
vô
thần,
Giáo
Hội
nhân
ái
mời
gọi
họ
hãy
nghiên
cứu
Phúc
Âm
Chúa
Kitô
với
một
tâm
hồn
cởi
mở.
Bởi
vậy,
Giáo
Hội
đã
biết
rõ
sứ
điệp
của
mình
phù
hợp
với
những
khát
vọng
thầm
kín
nhất
của
lòng
người,
khi
Giáo
Hội
bênh
vực
thiên
chức
con
người
và
do
đó
đem
lại
niềm
hy
vọng
cho
những
ai
đã
thất
vọng
về
vận
mạng
cao
cả
của
mình.
Sứ
điệp
của
Giáo
Hội
chẳng
những
không
làm
suy
giảm
con
người
mà
trái
lại
còn
đổ
tràn
ánh
sáng,
sự
sống
và
tự
do
để
giúp
con
người
tiến
bộ.
Ngoài
sứ
điệp
đó
không
còn
gì
khác
có
thể
thỏa
mãn
được
lòng
người.
"Lạy
Chúa,
Chúa
đã
dựng
nên
chúng
con
để
chúng
con
đến
với
Chúa,
và
tâm
hồn
chúng
con
còn
thao
thức
cho
tới
khi
được
an
nghỉ
trong
Chúa"
19.
22.
Chúa
Kitô,
Con
Người
Mới.
Thực
vậy,
mầu
nhiệm
về
con
người
chỉ
thực
sự
được
sáng
tỏ
trong
mầu
nhiệm
Ngôi
Lời
nhập
thể.
Bởi
vì
Adam
con
người
đầu
tiên
đã
là
hình
bóng
của
Adam
sẽ
đến
20,
là
Chúa
Kitô.
Chúa
Kitô,
Adam
mới,
trong
khi
mạc
khải
về
Chúa
Cha
và
tình
yêu
của
Ngài,
đã
cho
con
người
biết
rõ
về
chính
con
người
và
tỏ
cho
họ
biết
thiên
chức
rất
cao
cả
của
họ.
Bởi
vậy
không
lạ
gì
khi
những
chân
lý
đã
nói
ở
trên
đều
tìm
thấy
nguồn
gốc
của
chúng
và
đạt
tới
tột
điểm
nơi
Người.
Là
"hình
ảnh
của
Thiên
Chúa
vô
hình"
(Col
1,15)
21,
chính
Người
là
con
người
hoàn
hảo
đã
trả
lại
cho
con
cháu
của
Adam
hình
ảnh
Thiên
Chúa
đã
bị
tội
nguyên
tổ
làm
sai
lệch.
Bởi
vì
nơi
Người
bản
tính
nhân
loại
đã
được
mặc
lấy
chứ
không
bị
tiêu
diệt
22,
do
đó
chính
nơi
chúng
ta
nữa
bản
tính
ấy
cũng
được
nâng
lên
tới
một
phẩm
giá
siêu
việt.
Bởi
vì,
chính
Con
Thiên
Chúa
khi
nhập
thể,
một
cách
nào
đó
đã
kết
hợp
với
tất
cả
mọi
người.
Người
đã
làm
việc
với
bàn
tay
con
người,
đã
suy
nghĩ
bằng
trí
óc
con
người,
đã
hành
động
với
ý
chí
con
người
23,
đã
yêu
mến
bằng
quả
tim
con
người.
Sinh
bởi
trinh
nữ
Maria,
Người
đã
thực
sự
trở
nên
một
người
giữa
chúng
ta,
giống
chúng
ta
mọi
sự,
ngoại
trừ
tội
lỗi
24.
Là
Chiên
vô
tội
Người
tự
ý
đổ
máu
ra
để
cho
chúng
ta
được
sống,
và
chính
trong
Người
Thiên
Chúa
đã
hòa
giải
chúng
ta
với
Thiên
Chúa
và
hòa
giải
giữa
chúng
ta
với
nhau
25
cũng
như
đem
chúng
ta
ra
khỏi
ách
nô
lệ
của
ma
quỉ
và
tội
lỗi,
do
đó
mỗi
người
chúng
ta
đều
có
thể
nói
như
Thánh
Tông
Ðồ
rằng:
Con
Thiên
Chúa
"đã
yêu
thương
tôi,
lại
hiến
thân
cho
tôi
nữa"
(Gal
2,20).
Chịu
đau
khổ
cho
chúng
ta,
không
những
Người
nêu
gương
để
chúng
ta
theo
vết
chân
Người
26,
nhưng
Người
còn
mở
ra
con
đường
mới
để
nếu
chúng
ta
theo
Người
thì
sự
sống
và
cái
chết
sẽ
được
thánh
hóa
và
có
một
ý
nghĩa
mới.
Con
người
Kitô
hữu
khi
trở
nên
giống
hình
ảnh
Chúa
Con
là
Trưởng
Tử
trong
đoàn
anh
em
đông
đúc
27,
họ
nhận
được
"những
hoa
trái
đầu
mùa
của
Thánh
Thần"
(Rm
8,23),
nhờ
đó
họ
có
thể
chu
toàn
lề
luật
yêu
thương
mới
28.
Nhờ
Thánh
Thần
làm
"bảo
chứng
cho
quyền
thừa
tự"
(Eph
1,14),
toàn
thể
con
người
được
canh
tân
từ
nội
tâm
cho
tới
khi
"thân
xác
được
cứu
rỗi"
(Rm
8,23):
"Nếu
Thánh
Thần
Chúa
là
Ðấng
đã
khiến
Chúa
Giêsu
từ
kẻ
chết
sống
lại
cư
ngụ
trong
anh
em,
chính
Ðấng
đã
khiến
Chúa
Giêsu
Kitô
từ
kẻ
chết
sống
lại
đó
cũng
sẽ
làm
sống
động
thân
thể
hay
hư
nát
của
anh
em
nhờ
Thánh
Thần
Ngài
ở
cùng
anh
em",
(Rm8,11)
29.
Người
Kitô
hữu
chắc
chắn
cần
thiết
và
có
bổn
phận
chiến
đấu
chống
sự
dữ
khi
phải
trải
qua
nhiều
gian
nan
cũng
như
phải
chết
nữa.
Nhưng
vì
được
dự
phần
vào
mầu
nhiệm
phục
sinh,
25*
được
đồng
hóa
với
cái
chết
của
Chúa
Kitô,
được
mạnh
mẽ
nhờ
đức
cậy,
họ
sẽ
được
sống
lại
30.
Ðiều
nói
trên
không
phải
chỉ
có
giá
trị
cho
các
tín
hữu
nhưng
cho
tất
cả
những
ai
có
thiện
chí
được
ơn
thánh
hoạt
động
một
cách
vô
hình
trong
tâm
hồn
31.
Thực
vậy,
vì
Chúa
Kitô
đã
chết
cho
mọi
người
32
và
vì
ơn
gọi
cuối
cùng
của
con
người
thực
ra
là
duy
nhất,
nghĩa
là
do
Thiên
Chúa,
cho
nên
ta
phải
tin
chắc
rằng
Chúa
Thánh
Thần
ban
cho
mọi
người
khả
năng
tham
dự
vào
mầu
nhiệm
Phục
Sinh
ấy,
cách
nào
đó
chỉ
có
Chúa
biết
thôi.
Ðó
là
tính
chất
và
sự
cao
cả
của
mầu
nhiệm
con
người,
mầu
nhiệm
được
Mạc
Khải
Kitô
giáo
soi
sáng
cho
các
tín
hữu.
Vậy
nhờ
Chúa
Kitô
và
trong
Chúa
Kitô
bí
ẩn
về
đau
khổ
và
sự
chết
được
sáng
tỏ,
bí
ẩn
đó
đè
bẹp
chúng
ta
nếu
chúng
ta
không
biết
đến
Phúc
Âm.
Chúa
Kitô
đã
sống
lại
nhờ
sự
chết
của
mình.
Người
đã
hủy
diệt
sự
chết
và
Người
đã
ban
cho
ta
dồi
dào
sự
sống
33
để
là
con
cái
trong
Chúa
Con
chúng
ta
kêu
lên
trong
Thánh
Thần:
Abba,
lạy
Cha!
34.
Chú
Thích:
12*
Trong
phần
thứ
nhất
này
Công
Ðồng
tìm
hiểu
về
con
người
dưới
ánh
sáng
đức
tin
để
rồi
trong
phần
thứ
hai
có
thể
đề
cập
tới
một
số
vấn
đề
cụ
thể.
Chương
I
nói
về
con
người
trong
thế
giới:
phẩm
giá
của
con
người.
Chương
II:
về
con
người
theo
tính
cách
xã
hội.
Chương
III:
về
ý
nghĩa
và
giá
trị
sinh
hoạt
của
con
người.
Chương
IV:
con
người
và
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Sống
theo
đức
tin
không
phải
là
quay
lưng
tránh
né
trước
các
vấn
đề
nhân
loại.
Trái
lại,
chỉ
nhờ
đức
tin
chúng
ta
mới
có
được
quan
điểm
toàn
diện
về
con
người
(không
biết
ơn
kêu
gọi
siêu
nhiên
của
con
người
làm
sao
có
thể
biết
chính
con
người
được!).
Nên,
chỉ
nhờ
đức
tin
chúng
ta
mới
có
thể
tìm
thấy
những
giải
đáp
thực
sự
có
tính
cách
nhân
loại
bởi
vì
đức
tin
giúp
ta
coi
trọng
con
người
về
mọi
phương
diện.
Dĩ
nhiên
ở
đây
không
nói
tới
một
đức
tin
trong
lý
thuyết,
chẳng
ảnh
hưởng
gì
đến
các
việc
thường
nhật.
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Các
giá
trị
nhân
bản,
các
nhân
bản
chủ
nghĩa
(xem
chú
thích
về
số
7)
đều
mang
ý
nghĩa
mơ
hồ.
Cả
về
khía
cạnh
tốt
đẹp
nhất
của
chúng,
chúng
vẫn
chưa
hoàn
toàn
và
không
đủ
để
"cứu
rỗi"
con
người
-
theo
như
ý
muốn
của
Thiên
Chúa!
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Phẩm
giá
con
người
rất
cao
cả
vì
con
người
là
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa
(số
12)
-
dầu
bị
tội
lỗi
làm
mất
vẻ
trong
sáng
(số
13)
-,
vì
giá
trị
bản
tính
thể
xác
lẫn
linh
hồn
của
mình
(số
14),
đặc
biệt
của
lý
trí
(số
15),
của
lương
tâm
luân
lý
(số
16)
của
quyền
tự
do
(số
17)
và
của
tính
bất
diệt
(số
18).
Phẩm
giá
đó
bị
hiện
tượng
vô
thần
làm
thiệt
hại
không
ít:
Công
Ðồng
mô
tả
hiện
tượng
và
nguyên
nhân
của
nó
rồi
nêu
rõ
thái
độ
của
Giáo
Hội
(số
19-21).
Phẩm
giá
của
con
người
được
biểu
lộ
một
cách
hoàn
toàn
nơi
Chúa
Kitô
(số
22).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Stk
1,26;
Kn
2,23.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Hđ
17,3-10.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Rm
1,21-25.
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Ðây
là
một
trong
những
kinh
nghiệm
đau
đớn
nhất
của
con
người.
Con
người
không
phải
chỉ
là
khán
giả
cũng
không
phải
chỉ
có
vai
trò
tác
động
trong
cuộc
tranh
đấu
giữa
sự
thiện
và
sự
ác.
Cuộc
tranh
đấu
ấy
ngay
ở
giữa
tâm
hồn
con
người.
Những
sự
dữ
vật
chất
(vô
tri,
yếu
đuối,
bệnh
tật...)
đều
đặt
giớihạn
bi
thảm
cho
lòng
khát
khao
sự
hoàn
hảo
và
toàn
vẹn.
Nhất
là
tội
ác
lôi
cuốn
con
người
từ
bên
trong
đi
ngược
với
nguyện
vọng
sâu
xa
về
sự
thiện
(xem
trên,
số
10).
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Gio
8,34.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Tội
lỗi
không
chỉ
có
nghĩa
là
từ
chối
làm
con
Thiên
Chúa
và
do
đó
ngăn
cản
không
cho
con
người
phát
triển
trọn
vẹn,
nó
còn
làm
tổn
thương
chính
bản
tính
tự
nhiên
của
con
người:
trái
ngược
với
lý
trí,
đe
dọa
ý
chí,
làm
cho
sự
tự
do
bị
sai
lạc...
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa
là
con
người
tất
nhiên
bị
hư
hỏng
rất
nhiều.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Ðn
3,57-90.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
1Cor
6,13-20.
(Trở
lại
đầu
trang)
18*
Ở
đây
Công
Ðồng
nhắc
lại
một
số
nhận
xét
về
thân
xác
theo
thần
học
công
giáo:
1)
Thân
xác
là
phần
bản
thể
của
thực
tại
duy
nhất
là
con
người.
Con
người
không
gồm
có
hai
phần:
xác
và
hồn,
nhưng
con
người
là
xác
và
hồn.
Ta
còn
có
thể
nói
con
người
là
thân
xác
này:
bởi
vì
nếu
chưa
có
hồn
thì
cũng
chưa
phải
là
thân
xác
này,
mà
chỉ
là
một
đống
vật
chất
chưa
thành
thể.
2)
Thân
thể
vật
chất
kết
tụ
các
yếu
tố
tốt
của
giới
vô
cơ,
của
giới
thực
vật
và
động
vật.
Nơi
con
người,
tất
cả
các
nguyên
tố
đó
được
thêm
ý
thức
và
khả
năng
để
ngợi
khen
Ðấng
Tạo
Hóa.
3)
Ðược
Thiên
Chúa
tạo
nên,
không
chỉ
vì
Chúa
đã
tạo
nên
vật
chất
sơ
khai
mà
còn
do
việc
cộng
tác
cần
thiết
và
hệ
trọng
nhất
của
Thiên
Chúa
với
đôi
cha
mẹ
(x.
2Mac
7,22-23).
4)
Thân
thể
hay
chết
cuối
cùng
sẽ
sống
lại.
Sống
lại
vẻ
vang
theo
ý
muốn
của
Chúa,
giống
như
thân
thể
của
Chúa
Kitô
Anh
Cả
của
loài
người
(đặc
biệt
của
tín
hữu)
(x.
1Cor
15,20-22.42-49).
5)
Do
đó
ta
phải
kính
trọng
thân
thể.
6)
Ðàng
khác
tội
lỗi
-
không
chỉ
nguyên
tội
mà
còn
các
tội
lỗi
khác,
nhất
là
tội
lỗi
của
riêng
từng
người
-
đã
làm
tổn
thương
nó.
Các
dục
vọng
(sự
sợ
hãi,
sự
nổi
giận,
tính
lười
biếng,
sự
dâm
dục,
v.v...)
dễ
dàng
thúc
đẩy
ngũ
quan
và
tâm
hồn
tìm
kiếm
những
đối
tượng
bất
chấp
tính
cách
luân
lý,
hơn
nữa
trái
ngược
với
lý
trí.
Như
thế
con
người
cảm
thấy
thân
xác
đè
nặng
mình,
giới
hạn
mình
và
trở
nên
chướng
ngại
vật
giữa
chính
mình
và
tha
nhân...
(x.
Rm
7,24).
7)
Việc
làm
sáng
danh
Thiên
Chúa
nơi
thân
thể
(x.
1Cor
6,20)
đòi
hỏi
ta
phải
gắng
sức
tranh
đấu
với
những
xu
hướng
xấu
nơi
thân
xác.
Phẩm
giá
của
con
người
cũng
đòi
hỏi
như
vậy.
"Nhờ
thân
xác,
con
người
liên
lạc
với
vũ
trụ
để
cải
thiện
nó;
với
tha
nhân,
để
cảm
thông
(nơi
hôn
nhân,
thân
xác
đạt
tới
tột
đỉnh
của
nó
như
khí
cụ
để
biểu
lộ
và
phục
vụ
tình
yêu);
với
Thiên
Chúa,
để
trung
thành
phục
vụ
Chúa
hết
lòng..."
(Vatican
II,
Gaudium
et
Spes,
x.b.
l'Action
populaire,
ghi
chú
28).
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Câu
này
muốn
nói
rằng
con
người
cao
vượt
hơn
và
có
giá
trị
hơn
cả
vũ
trụ
vì
con
người
có
lý
trí.
Nhờ
lý
trí
con
người
có
thể
suy
luận,
như
quay
về
nội
tại
của
mình
để
tìm
trong
đó
ý
nghĩa
của
mọi
sự
và
tìm
cách
chỉ
huy
không
những
chính
đời
mình
mà
còn
các
thực
tại
khác
nữa.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
1V
16,
7;
Gier
17,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Sapientia
bởi
Sapere
tức
là
nếm
mùi
có
nghĩa
rộng
hơn
và
sâu
xa
hơn
danh
từ
hiểu
biết.
Ðó
là
một
thứ
hiểu
biết
của
người
sáng
suốt,
của
người
không
phải
chỉ
hiểu
biết
chân
lý
mà
còn
thưởng
thức
ý
nghĩa
thâm
sâu
của
chân
lý,
dù
chân
lý
đó
là
những
nhận
xét
về
thiên
nhiên,
về
bản
tính
con
người
hay
về
thế
giới
vô
hình.
Người
học
thức
chưa
chắc
đã
có
thứ
hiểu
biết
này,
trái
lại
kẻ
vô
học,
mù
chữ,
rất
có
thể
lại
được
thứ
hiểu
biết
đó.
Ðầu
óc
khoa
học
và
kỹ
thuật
của
thời
đại
ít
giúp
ta
chiếm
được
thứ
hiểu
biết
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Hđ
17,7-8.
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Công
Ðồng
đã
xác
nhận
chiều
hướng
hiện
nay
đang
đề
cao
giá
trị
và
vai
trò
của
lương
tâm.
Không
lập
nên
một
thuyết
nào,
nhưng
Công
Ðồng
nhắc
lại
những
điểm
chính
trong
thần
học
Công
Giáo.
Số
này
diễn
tả
lương
tâm
luân
lý
theo
phương
pháp
hiện
tượng
thuyết:
1)
lương
tâm
như
tiếng
nói
trong
nội
tâm
từng
người,
2)
chỉ
dẫn
về
điều
lành
điều
dữ,
3)
và
đòi
hỏi
phải
tránh
điều
ác,
làm
điều
thiện,
4)
đòi
hỏi
như
ra
lệnh,
5)
giống
như
một
lề
luật
đã
được
khắc
ghi
vào
thâm
tâm,
6)
không
phải
do
chính
mình
lập
ra.
Hiện
tượng
đó
đầy
ý
nghĩa.
Theo
Công
Ðồng:
7)
Phẩm
giá
con
người
hệ
tại
việc
vâng
theo
tiếng
nói
đó,
8)
bởi
vì
đó
là
lề
luật
cuối
cùng
đối
với
từng
người:
theo
đó
con
người
sẽ
bị
xét
xử,
9)
do
đấy
lương
tâm
cũng
là
nơi
sâu
kín
nhất
trong
đó
con
người
gặp
Chúa
một
mình,
10)
và
ở
đó
con
người
tìm
thấy
luật
sinh
hoạt
là
luật
được
thực
hiện
trong
giới
răn
mến
Chúa
yêu
người,
11)
vì
mọi
người
đều
có
lương
tâm
nên
tín
hữu
và
mọi
người
khác
có
thể
gặp
nhau
và
hiểu
nhau
trong
khi
tìm
chân
lý.
Công
Ðồng
nói,
12)
về
lương
tâm
ngay
thẳng
(của
người
cố
gắng
trung
thành
với
tiếng
nói
đó)
giúp
ta
hoạt
động
theo
qui
tắc
khách
quan
chứ
không
tự
ý
mù
quáng.
13)
Sự
sai
lầm
không
làm
cho
lương
tâm
ấy
hết
giá
trị:
thực
sự
vì
ngay
thẳng
nghĩ
rằng
hoạt
động
như
thế
hợp
với
ý
Chúa,
được
Chúa
bằng
lòng.
14)
Chỉ
khi
nào
cố
ý
từ
bỏ
chân
lý
và
ý
muốn
của
Chúa,
hay
là
khi
lương
tâm
trở
nên
lu
mờ
vì
tội
lỗi,
lúc
ấy
giá
trị
của
nó
mới
bị
tổn
thương.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Rm
2,14-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Piô
XII,
Thông
điệp
truyền
thanh
de
conscientia
christiana
in
juvenibus
recte
efformando,
23-3-1952:
AAS
44
(1952),
trg
271.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Mt
22,37-40;
Gal
5,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Quyền
tự
do
là
một
thứ
quyền
đáng
sợ,
nhưng
đồng
thời
là
nguyên
nhân
khiến
con
người
nên
cao
quí
thật
sự.
Do
đó
con
người
có
thể
lấy
tình
yêu
đáp
ứng
lại
tình
yêu
Thiên
Chúa,
nhưng
cũng
có
thể
phản
nghịch.
Con
người
cao
cả
không
phải
vì
có
thể
theo
sở
thích,
vì
có
thể
phản
nghịch
hay
vì
có
thể
chiều
theo
những
xu
hướng
mù
quáng
của
dục
vọng
trái
với
lý
trí
và
đức
tin,
nhưng
chính
là
vì
có
thể
tự
ý
đón
nhận
ý
muốn
của
Thiên
Chúa.
Ðược
tạo
nên
giống
như
hình
ảnh
của
Thiên
Chúa,
con
người
thật
cao
trọng
khi
tự
ý
cố
gắng
tới
gần
và
giống
như
Thiên
Chúa
hơn.
Ðiều
đó
không
phải
là
dễ
dàng.
Quyền
tự
do
bị
ảnh
hưởng
bởi
nhiều
sức
lực
thúc
đẩy,
không
những
sức
lực
bên
ngoài
(như
giáo
dục
-
hay
là
việc
thiếu
giáo
dục
-
khung
cảnh
sống,
dư
luận,
hoàn
cảnh
xã
hội
v.v...)
mà
còn
cả
sức
lực
bên
trong
(như
tính
tình,
sức
khỏe,
dục
vọng,
mặc
cảm
và
xu
hướng
tiềm
thức).
Nếu
con
người
không
được
đào
tạo
và
giáo
dục
để
biết
xử
dụng
quyền
tự
do
thì
con
người
có
thể
sống
lâu
mà
ít
khi
hoạt
động
tự
do
thật
sự,
nghĩa
là
ít
khi
đạt
tới
mức
độ
cao
cả
của
mình
theo
như
ý
Chúa.
Về
quan
niệm
của
Công
Ðồng
đối
với
quyền
tự
do
xin
xem
bảng
phân
tích.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Hđ
15,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
2Cor
5,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Kn
1,13;
2,23-24;
Rm
5,21;
6,23;
Giac
1,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
1Cor
15,56-57.
(Trở
lại
đầu
trang)
23*
Công
Ðồng
nhắc
lại
rất
vắn
tắt
nhiều
khía
cạnh
của
hiện
tượng
đi
ngược
lại
với
phẩm
giá
của
con
người
hơn
cả:
đó
là
vô
thần.
Nhiều
Nghị
Phụ
đã
muốn
lên
án
vô
thần
một
lần
nữa,
nhất
là
vô
thần
cộng
sản.
Nhưng
tinh
thần
mới
(x.
lời
giới
thiệu)
đã
thắng
thế.
1)
Hình
thức
(số
19b):
Công
Ðồng
nhắc
lại
nhiều
hình
thức
khác
nhau
do
một
số
lý
do:
a)
vì
triết
thuyết
(phủ
nhận
Thiên
Chúa;
quả
quyết
con
người
không
thể
biết
gì
về
Chúa;
đặt
vấn
đề
về
Thiên
Chúa
một
cách
lệch
lạc
vô
nghĩa);
b)
vì
đầu
óc
khoa
học
(muốn
áp
dụng
khoa
học
vào
phạm
vi
ở
ngoài
phạm
vi
của
nó;
do
đó
không
nhận
chân
lý
tuyệt
đối);
c)
vì
chủ
nghĩa
nhân
bản
(quá
đề
cao
con
người;
Thiên
Chúa
không
quan
trọng;
coi
giá
trị
nhân
bản
như
tuyệt
đối;
hai
hình
thức
trong
số
20
cũng
có
tính
cách
nhân
bản:
con
người
phải
hoàn
toàn
tự
trị
không
cần
đến
Chúa;
hay
là
phải
hoàn
toàn
tự
lập
về
kinh
tế
xã
hội
không
bị
tôn
giáo
ràng
buộc);
d)
vì
quan
niệm
sai
lầm
về
Chúa
(từ
chối
một
Thiên
Chúa
không
phải
là
do
Phúc
Âm
cho
biết;
tin
nơi
Thiên
Chúa
để
làm
gì?);
e)
vì
vấn
nạn
về
sự
dữ;
f)
vì
đầu
óc
phàm
trần
(do
văn
minh
hiện
đại
dễ
gây
nên).
2)
Nguyên
nhân:
Ngoài
lý
do
vừa
kể,
vô
thần
có
thể
có:
a)
do
tội
của
cá
nhân;
b)
nhưng
một
phần
cũng
có
thể
vì
các
tín
hữu
chưa
được
đức
tin
đào
tạo,
vì
nhiều
khi
trình
bày
đức
tin
cách
khờ
khạo,
vì
đời
sống
không
hợp
với
đức
tin,
đặc
biệt
là
sinh
hoạt
xã
hội
(số
19c).
3)
Thực
tại
của
Giáo
Hội:
Vô
thần
là
trái
với
lý
trí,
với
kinh
nghiệm
chung
của
nhân
loại,
với
phẩm
giá
của
con
người,
a)
thì
Giáo
Hội
không
thể
không
lên
án
nó;
b)
nhưng
đàng
khác
Giáo
Hội
muốn
đối
thoại
với
người
vô
thần,
trình
bày
với
họ
rằng
vô
thần
thiếu
nền
tảng
vững
chắc
(phẩm
giá
con
người
đòi
hỏi
phải
tùng
phục
Thiên
Chúa,
và
lòng
tin
nơi
Thiên
Chúa
không
ngăn
cản
con
người
lo
cho
công
việc
phải
làm
để
xây
dựng
thế
giới,
các
thắc
mắc
căn
bản,
trước
hết
về
ý
nghĩa
chính
con
người,
không
giải
thích
được;
c)
Giáo
Hội
muốn
các
tín
hữu
dấn
thân
vào
công
việc
chung
đó;
d)
mong
đợi
người
vô
thần
sẽ
tôn
trọng
quyền
tự
do
của
họ
và
hơn
nữa
sẽ
thành
thật
tìm
hiểu
tinh
thần
Phúc
Âm;
e)
còn
tính
hữu
không
những
phải
biết
trình
bày
đức
tin,
mà
nhất
là
phải
sống
với
đức
tin
sống
động
và
với
đức
mến
nồng
nàn
để
mọi
người
có
thể
nhận
thấy
Chúa
qua
Giáo
Hội.
Về
vô
thần
cộng
sản,
Công
Ðồng
chỉ
nhắc
lại
hai
tính
cách,
dù
chưa
đủ
để
diễn
tả
nó
hoàn
toàn,
nhưng
cũng
quan
trọng:
a)
tính
cách
nhân
bản
nhằm
giải
thoát
con
người
trong
lãnh
vực
kinh
tế,
xã
hội;
b)
tính
cách
độc
tài
và
không
chịu
điều
đình
khi
chiếm
quyền
chính
trị.
Mác
xít
chủ
nghĩa
là
một
khái
niệm
cho
rằng
thế
giới
tự
nó
là
hoàn
toàn
và
mang
đầy
đủ
ý
nghĩa,
vì
thế
nó
loại
trừ
mọi
tín
ngưỡng
tôn
giáo.
Lịch
sử,
con
người,
xã
hội
v.v...
đều
có
ý
nghĩa
và
phát
triển
theo
đòi
hỏi
biện
chứng
pháp.
Nó
mang
tính
cách
tín
ngưỡng
hơn
là
khoa
học
vì
mục
đích
cuối
cùng
là
giải
thoát
(cứu
chuộc)
con
người
khỏi
các
sự
mất
nhân
cách,
cũng
như
vì
đem
lại
một
niềm
hy
vọng
(thay
thế
đức
cậy)
vào
sự
giải
thoát
đó
trong
tương
lai.
Cũng
như
Giáo
Hội,
các
tín
hữu
phải
loại
bỏ
thái
độ
thù
hằn,
tranh
đấu,
nghi
ngờ...
mà
trong
khi
lên
án
vô
thần
(hơn
nữa
chính
vì
thế)
phải
tìm
hiểu
tâm
trạng
của
người
vô
thần
để
cùng
nhau
xây
dựng
thế
giới,
và
nếu
có
thể
được,
để
đối
thoại
với
họ.
Ðối
thoại
một
cách
thành
thực
và
khôn
ngoan,
không
giấu
giếm
đức
tin
mình
mà
trái
lại,
vì
không
thể
đối
thoại
thực
sự
khi
không
biết
minh
chứng
bằng
đời
sống
mình
trước
hết
và
bằng
việc
trình
bày
giáo
lý
một
cách
đầy
đủ
và
thích
hợp
(x.
thêm
số
28b).
Ðối
thoại
như
vậy
phải
chăng
là
mới
lạ?
Nhưng
Công
Ðồng
đã
nhắc
cho
chúng
ta
rằng
chúng
ta
đang
sống
giai
đoạn
mới
(x.
số
4b).
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Công
Ðồng
dùng
danh
từ
Hy
Lạp
demiurgus.
Một
số
triết
gia
xưa
gọi
demiurgus
là
một
thần
tạo
dựng
vũ
trụ
mặc
dầu
không
phải
là
Ðấng
Tối
Cao.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Divini
Redemptoris,
19-3-1937:
AAS
29
(1937),
trg
65-106.
-
Piô
XII,
Tđ.
Ad
Apostolorum
principio,
20-6-1958:
AAS
50
(1958),
trg
601-614.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
451-453.
-
Phaolô
VI,
Tđ.
Ecclesiam
Suam,
6-8-1964:
AAS
56
(1964),
trg
651-653.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
Ch.
1,
số
8:
AAS
(1965),
trg
12.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
Ph
1,27.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
T.
Augustinô,
Confes.
I,
1:
PL
32,661.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Rm
5,14.
-
Xem
Tertullianô,
De
Carnis
resurr.
6:
"Vì
vậy,
bất
cứ
điều
gì
mà
bùn
đất
đã
biểu
thị
đều
nhắm
về
Chúa
Kitô,
Ðấng
sẽ
đến":
PL
2,802
(848);
CSEL,
47
trg
33,
hàng
12-13.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
2
Cor
4,4.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
CÐ
Constantinopla
II,
đ.th.
7:
"Ngôi
Lời
không
biến
đổi
vào
trong
bản
tính
xác
thể,
xác
thể
cũng
không
chuyển
vào
bản
tính
của
Ngôi
Lời":
Dz
219
(428).
-
Xem
thêm
CÐ
Constantinopla
III:
"Bởi
vì,
cũng
như
thế
thể
xác
Người
hoàn
toàn
thánh
thiện,
không
tì
vết
và
sống
động,
đã
không
bị
thần
hóa
làm
mất
đi,
nhưng
đã
ở
lại
trong
trạng
thái
và
theo
cách
thế
của
Người":
Dz
291
(556).
-
Xem
CÐ
Calcedonia:
"Phải
nhận
biết
rằng
trong
hai
bản
tính
không
lẫn
lộn,
không
thay
đổi,
không
phân
chia,
không
tách
biệt":
Dz
148
(302).
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
CÐ
Const.
I I
I:
"Cũng
vậy,
ý
chí
nhân
loại
của
Người
dù
được
thần
hóa
vẫn
không
bị
mất
đi":
Dz
291
(556).
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Dth
4,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
2Cor
5,18-19;
Col
1,20-22.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
1P
2,21;
Mt
16,24;
Lc
14,27.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
Rm
8,29;
Col
1,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
Rm
8,1-11.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
2Cor
4,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Tất
cả
mọi
người
có
thể
tham
dự
vào
mầu
nhiệm
phục
sinh
(xem
them
GH
13,
16;
MK
6-7,
14;
TG
3,
7...).
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
Ph
3,10;
Rm
8,17.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
gentium,
ch.II,
số
16:
A
AS
57
(1965),
trg
20.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
Rm
8,32.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Liturgia
Paschalis
Byzantina.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
Rm
8,15;
Gal
4,6;
Gio
1,
12
và
1Gio
3,1.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II