VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
15-
SẮC
LỆNH
VỀ
CHỨC
VỤ
VÀ
ĐỜI
SỐNG
CÁC
LINH
MỤC
(PRESBYTERORUM
ORDINIS)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
Chương
III
Ðời
Sống
Linh
Mục
I.
Các
Linh
Mục
Ðược
Mời
Gọi
Nên
Hoàn
Thiện
12.
Nghĩa
vụ
sống
thánh
thiện.
Nhờ
Bí
Tích
Truyền
Chức
Thánh,
các
Linh
Mục
nên
giống
Chúa
Kitô
Linh
Mục,
để
như
là
thừa
tác
viên
của
Ðầu
Nhiệm
Thể
và
như
những
cộng
tác
viên
của
hàng
Giám
Mục,
các
ngài
xây
dựng
và
kiến
thiết
toàn
Thân
Người
là
Giáo
Hội.
Ðành
rằng
ngay
từ
khi
được
thánh
hiến
nhờ
phép
Rửa
Tội,
như
mọi
Kitô
hữu,
các
ngài
đã
lãnh
nhận
dấu
tích
và
ân
huệ
của
ơn
gọi
và
ơn
sủng
cao
trọng,
dù
bản
tính
nhân
loại
yếu
hèn
1,
các
ngài
vẫn
có
thể
theo
đuổi
và
phải
theo
đuổi
sự
hoàn
thiện,
đúng
như
lời
Chúa
phán:
"Các
con
hãy
nên
hoàn
thiện
như
Cha
các
con
ở
trên
trời
là
Ðấng
Hoàn
Thiện"
(Mt
5,48).
Nhưng
các
Linh
Mục
còn
có
lý
do
đặc
biệt
phải
đạt
tới
sự
hoàn
thiện
này,
vì
khi
lãnh
nhận
Chức
Thánh
là
các
ngài
được
thánh
hiến
cho
Thiên
Chúa
theo
một
cách
thức
mới:
các
ngài
trở
nên
những
khí
cụ
sống
động
của
Chúa
Kitô
Linh
Mục
Ðời
Ðời,
để
qua
các
thời
đại,
các
ngài
có
thể
tiếp
tục
công
việc
kỳ
diệu
của
Ðấng
đã
lấy
quyền
năng
cao
cả
mà
tái
lập
toàn
thể
xã
hội
con
người
2.
Do
đó,
khi
đóng
vai
trò
của
chính
Chúa
Kitô
theo
cách
của
mình,
mỗi
Linh
Mục
cũng
nhận
được
những
ơn
riêng
để
trong
khi
phục
vụ
dân
được
trao
phó
cho
ngài
và
phục
vụ
toàn
thể
dân
Chúa,
ngài
có
thể
dễ
dàng
theo
đuổi
sự
hoàn
thiện
của
đời
sống
của
Ðấng
mà
mình
đóng
vai,
và
để
sự
yếu
đuối
của
xác
thịt
loài
người
được
lành
mạnh
nhờ
sự
thánh
thiện
của
Ðấng
vì
chúng
ta
đã
trở
nên
Linh
Mục
Thượng
Phẩm
"thánh
thiện,
trong
sạch,
vô
tội,
tách
biệt
khỏi
kẻ
có
tội"
(Dth
7,26).
Chúa
Kitô,
Ðấng
Chúa
Cha
đã
thánh
hóa,
thánh
hiến
và
sai
xuống
trần
gian
3
"đã
hiến
thân
cho
chúng
ta
hầu
cứu
chúng
ta
khỏi
mọi
tội
ác
và
thanh
tẩy
một
dân
đáng
được
Ngài
chấp
nhận
và
nhiệt
thành
với
mọi
việc
lành"
(Tit
2,14),
và
như
thế
qua
cuộc
khổ
nạn
mà
vào
vinh
quang
4.
Các
Linh
Mục
cũng
vậy,
sau
khi
được
Chúa
Thánh
Thần
thánh
hiến
bởi
việc
xức
dầu
và
được
Chúa
Kitô
sai
đi,
các
ngài
hãm
dẹp
những
việc
của
xác
thịt
nơi
chính
bản
thân
và
hoàn
toàn
tận
tâm
phục
vụ
nhân
loại;
nhờ
thế
các
ngài
có
thể
tiến
tới
trên
đường
thánh
thiện
mà
các
ngài
đã
được
tô
điểm
trong
Chúa
Kitô,
để
thành
con
người
hoàn
toàn
5.
Bởi
đó,
khi
thi
hành
thừa
tác
vụ
của
Chúa
Thánh
Thần
và
của
sự
công
chính
6,
các
ngài
được
vững
mạnh
trong
đời
sống
thiêng
liêng,
miễn
là
các
ngài
ngoan
ngoãn
theo
Thánh
Thần
Chúa
Kitô,
Ðấng
ban
sự
sống
và
dẫn
dắt
các
ngài.
Thực
vậy,
chính
các
ngài
được
kêu
gọi
đạt
tới
một
đời
sống
hoàn
thiện
nhờ
chính
những
công
việc
thánh
thiện
hằng
ngày,
cũng
như
nhờ
thi
hành
trọn
vẹn
thừa
tác
vụ
khi
các
ngài
thông
hiệp
với
Giám
Mục
và
các
Linh
Mục
khác.
Vả
lại,
chính
sự
thánh
thiện
của
Linh
Mục
giúp
các
ngài
rất
nhiều
trong
việc
chu
toàn
thừa
tác
vụ
của
mình
một
cách
hữu
hiệu:
thật
vậy,
dù
ơn
Chúa
có
thể
hoàn
tất
công
trình
cứu
rỗi
qua
những
thừa
tác
viên
bất
xứng,
nhưng
thường
tình
Thiên
Chúa
muốn
tỏ
ra
những
việc
lạ
lùng
của
Ngài
qua
những
vị
sẵn
sàng
nghe
theo
sự
thúc
giục
và
hướng
dẫn
của
Chúa
Thánh
Thần
hơn,
bằng
kết
hiệp
mật
thiết
với
Chúa
Kitô
và
bằng
một
đời
sống
thánh
thiện,
để
có
thể
nói
như
thánh
Tông
Ðồ
rằng:
"dù
tôi
sống,
nhưng
không
phải
là
tôi
sống,
mà
thực
ra
Chúa
Kitô
sống
trong
tôi"
(Gal
2,20).
Vì
thế,
để
đạt
tới
những
mục
đích
mục
vụ
trong
việc
canh
tân
bên
trong
Giáo
Hội,
để
truyền
bá
Phúc
Âm
cho
tất
cả
thế
giới
cũng
như
để
đối
thoại
với
thế
giới
ngày
nay,
Thánh
Công
Ðồng
này
tha
thiết
khuyên
tất
cả
các
Linh
Mục
hãy
dùng
mọi
phương
tiện
thích
hợp
mà
Giáo
Hội
ban
cho
7
để
luôn
luôn
nỗ
lực
tiến
cao
hơn
trên
đường
thánh
thiện,
nhờ
đó
các
ngài
trở
nên
những
khí
cụ
ngày
càng
thích
hợp
hơn
cho
việc
phục
vụ
toàn
thể
Dân
Chúa
11*.
13.
Việc
thi
hành
3
nhiệm
vụ
Linh
Mục
đòi
buộc
và
khuyến
khích
sự
thánh
thiện.
Thành
tâm
và
kiên
nhẫn
thi
hành
chức
vụ
của
mình
trong
tinh
thần
Chúa
Kitô
là
phương
pháp
riêng
giúp
các
Linh
Mục
theo
đuổi
sự
thánh
thiện.
Vì
là
thừa
tác
viên
lời
Chúa
nên
hằng
ngày
các
ngài
đọc
và
nghe
lời
Chúa
mà
các
ngài
sẽ
phải
dạy
lại
cho
người
khác;
vì
nếu
một
khi
tâm
hồn
các
ngài
đã
cố
gắng
đón
nhận
lời
Chúa,
thì
càng
ngày
các
ngài
trở
nên
môn
đệ
hoàn
thiện
hơn
của
Chúa
Kitô,
như
lời
Thánh
Phaolô
Tông
Ðồ
mới
nói
với
Timotheô:
"Con
hãy
tự
giữ
mình
và
hãy
chăm
lo
lời
mình
dạy:
hãy
cương
quyết
như
vậy,
điều
đó
sẽ
khiến
con
tự
cứu
rỗi
con
và
cả
những
ai
nghe
lời
con
nữa"
(1Tm
4,15-16).
Thật
vậy,
khi
tìm
những
cách
thích
hợp
nhất
để
có
thể
thông
ban
cho
kẻ
khác
những
điều
mình
đã
chiêm
niệm
8,
các
ngài
mới
nếm
được
một
cách
ý
vị
hơn
"những
sự
phong
phú
không
thể
khám
phá
hết
được
của
Chúa
Kitô"
(Eph
3,8)
và
sự
khôn
ngoan
muôn
mặt
của
Thiên
Chúa
9.
Nhớ
rằng
chính
Chúa
là
Ðấng
mở
lòng
10
và
sự
cao
cả
không
do
các
ngài
nhưng
đến
từ
quyền
năng
Thiên
Chúa
11,
các
ngài
liên
kết
mật
thiết
hơn
với
Chúa
Kitô
là
Thầy
và
được
hướng
dẫn
bởi
Thánh
Thần
Người
trong
chính
hành
động
trao
ban
lời
Chúa.
Như
vậy,
thông
hiệp
với
Chúa
Kitô,
các
ngài
thông
phần
vào
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
mà
mầu
nhiệm
tình
yêu
đó
đã
giấu
kín
từ
lâu
đời
12
nay
được
mạc
khải
trong
Chúa
Kitô.
Như
thừa
tác
viên
của
những
Việc
Thánh,
nhất
là
trong
Hiến
Tế
Thánh
Lễ,
các
Linh
Mục
đặc
biệt
đóng
vai
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
tự
hiến
chính
mình
làm
lễ
vật
thánh
hóa
nhân
loại;
và
như
thế
các
ngài
được
mời
gọi
bắt
chước
điều
các
ngài
đang
thi
hành,
vì
khi
cử
hành
mầu
nhiệm
Chúa
chịu
chết,
các
ngài
phải
lo
khắc
chế
chi
thể
mình
khỏi
tật
xấu
và
dục
vọng
13.
Công
việc
cứu
chuộc
chúng
ta
được
liên
tục
14
thực
hiện
trong
mầu
nhiệm
Hiến
Tế
Thánh
Lễ,
trong
đó
các
linh
mục
chu
toàn
chức
vụ
trọng
yếu
nhất
của
mình;
do
đó,
hết
sức
khuyến
khích
việc
cử
hành
Thánh
Lễ
hằng
ngày
dù
các
tín
hữu
không
thể
tới
dự,
vì
đó
là
hành
động
của
Chúa
Kitô
và
của
Giáo
Hội
15.
Như
vậy,
trong
khi
liên
kết
với
hành
động
của
Chúa
Kitô
Linh
Mục,
hằng
ngày
các
Linh
Mục
tự
hiến
toàn
thân
cho
Chúa,
và
trong
khi
được
Mình
Chúa
Kitô
nuôi
dưỡng,
tự
thâm
tâm
mình,
các
ngài
tham
dự
vào
tình
yêu
của
Ðấng
đã
tự
hiến
làm
lương
thực
nuôi
các
tín
hữu.
Trong
khi
thi
hành
các
Bí
Tích,
các
ngài
cũng
hiệp
nhất
với
ý
muốn
và
tình
yêu
của
Chúa
Kitô;
và
các
ngài
thể
hiện
sự
hiệp
nhất
đó
một
cách
đặc
biệt,
khi
tỏ
ra
hoàn
toàn
và
luôn
luôn
sẵn
sàng
ban
Bí
Tích
Cáo
Giải
mỗi
khi
các
giáo
hữu
thỉnh
cầu
một
cách
hợp
lý.
Trong
khi
các
ngài
đọc
Kinh
Nhật
Tụng,
Giáo
Hội
mượn
tiếng
của
các
ngài
để
không
ngừng
cầu
nguyện
nhân
danh
toàn
thể
nhân
loại,
và
để
kết
hợp
với
Chúa
Kitô,
Ðấng
"luôn
luôn
sống
để
cầu
bầu
cho
chúng
ta"
(Dth
7,25).
Là
những
vị
cai
quản
và
chăn
dắt
Dân
Chúa,
các
ngài
được
tình
yêu
của
Chúa
Chiên
nhân
lành
thúc
đẩy
hiến
mạng
sống
cho
con
chiên
16,
và
sẵn
sàng
hy
sinh
đến
tột
bậc,
theo
gương
của
nhiều
Linh
Mục,
ngay
cả
trong
thời
hiện
đại,
không
quản
ngại
hiến
mạng
sống
mình.
Là
những
nhà
giáo
dục
trong
đức
tin
và
"được
lòng
can
đảm
bước
vào
nơi
chí
thánh
nhờ
Máu
Chúa
Kitô"
(Dth
10,19),
các
ngài
tới
gần
Thiên
Chúa
"với
một
tấm
lòng
chân
thành
tràn
đầy
đức
tin"
(Dth
10,22);
các
ngài
gây
niềm
hy
vọng
vững
vàng
cho
các
tín
hữu
của
mình
17,
để
nhờ
chính
sự
khích
lệ
mà
Thiên
Chúa
đã
khích
lệ
các
ngài,
các
ngài
có
thể
an
ủi
ho
trong
mọi
cơn
thử
thách
18,
là
những
vị
hướng
dẫn
cộng
đoàn,
các
ngài
thực
hành
việc
khổ
chế
riêng
biệt
của
vị
chăn
dắt
các
linh
hồn:
từ
bỏ
những
tiện
nghi
riêng,
không
tìm
kiếm
tư
lợi
nhưng
tìm
lợi
ích
cho
nhiều
người,
để
họ
được
cứu
rỗi
19,
luôn
tiến
bộ
hơn
trong
việc
chu
toàn
hoạt
động
mục
vụ
cách
hoàn
hảo
hơn
và
khi
cần,
các
ngài
sẵn
sàng
đi
vào
những
con
đường
mục
vụ
mới
mẻ,
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Thánh
Thần
tình
yêu,
Ðấng
thổi
nơi
nào
Ngài
muốn
20.
12*
14.
Ðời
sống
Linh
Mục
thống
nhất
và
hòa
hợp.
Trong
thế
giới
ngày
nay,
vì
con
người
phải
đối
phó
với
biết
bao
công
việc
và
phải
khổ
tâm
vì
biết
bao
vấn
đề
khác
nhau,
lắm
khi
cần
phải
được
giải
quyết
cấp
tốc,
nên
hay
có
tình
trạng
con
người
bị
chi
phối
bởi
nhiều
vấn
đề
khác
nhau.
Còn
các
Linh
Mục,
vì
bị
vướng
mắc
và
phân
tán
bởi
nhiều
trách
nhiệm
của
chức
vụ,
nên
không
khỏi
lo
lắng
tìm
phương
cách
nào
để
có
thể
phối
hợp
đời
sống
nội
tâm
của
mình
với
những
đòi
hỏi
của
hoạt
động
bên
ngoài.
Việc
thống
nhất
đời
sống
này
không
thể
được
thực
hiện
nguyên
bằng
cách
tổ
chức
hoàn
toàn
bên
ngoài
các
công
việc
của
chức
vụ
hoặc
bằng
cách
thực
thi
những
việc
đạo
đức
này,
tuy
những
việc
này
giúp
phát
triển
sự
thống
nhất
đời
sống
Linh
Mục.
Nhưng
các
Linh
Mục
có
thể
kiến
tạo
sự
thống
nhất
đời
sống
khi
các
ngài
theo
gương
Chúa
Kitô
trong
việc
chu
toàn
chức
vụ:
lương
thực
của
Người
là
làm
theo
ý
muốn
của
Ðấng
đã
sai
Người,
để
Người
hoàn
thành
công
việc
của
mình
21.
Thực
ra,
Chúa
Kitô
hành
động
qua
các
thừa
tác
viên
của
Người
để
luôn
luôn
dùng
Giáo
Hội
thi
hành
ý
muốn
của
Chúa
Cha
trên
trần
gian,
và
vì
vậy
Người
vẫn
là
nguyên
lý
và
nguồn
mạch
sự
thống
nhất
đời
sống
của
các
ngài.
Vậy,
các
linh
mục
phải
thực
hiện
việc
thống
nhất
đời
sống
của
mình
bằng
cách
kết
hợp
với
Chúa
Kitô
trong
sự
nhận
biết
ý
Chúa
Cha
và
trong
sự
hiến
thân
cho
đoàn
chiên
đã
trao
phó
cho
các
ngài
22.
Như
thế,
nhờ
thi
hành
những
nhiệm
vụ
của
Chúa
Chiên
nhân
lành,
và
trong
chính
khi
thực
thi
bác
ái
mục
vụ,
các
ngài
tìm
thấy
mối
dây
hoàn
thiện
của
Linh
Mục
ràng
buộc
đời
sống
và
hoạt
động
của
mình
làm
một.
Thật
thế,
bác
ái
mục
vụ
này
23
trước
hết
phát
xuất
từ
Hiến
Tế
Thánh
Lễ,
do
đó
Hiến
Tế
Thánh
Lễ
là
trung
tâm
và
là
cội
rễ
của
toàn
thể
đời
sống
Linh
Mục,
cho
nên
Linh
Mục
phải
cố
gắng
thực
hiện
trong
tâm
tư
điều
mình
đã
làm
trên
bàn
tế
lễ.
Nhưng
điều
đó
chỉ
có
thể
thực
hiện
được,
khi
chính
các
Linh
Mục
nhờ
cầu
nguyện,
luôn
luôn
đi
sâu
mãi
vào
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô.
Ðể
có
thể
kiểm
soát
sự
thống
nhất
đời
sống
cả
trong
những
hoàn
cảnh
cụ
thể,
các
ngài
phải
xét
đoán
mọi
hoạt
động
của
mình
cho
biết
rõ
đâu
là
ý
muốn
của
Thiên
Chúa
24,
nghĩa
là
biết
rõ
những
hoạt
động
đó
có
thích
hợp
với
những
tiêu
chuẩn
của
sứ
mệnh
Phúc
Âm
của
Giáo
Hội
hay
không.
Thực
vậy,
ai
trung
thành
với
Chúa
Kitô
không
thể
không
trung
thành
với
Giáo
Hội.
Do
đó,
đức
bác
ái
mục
vụ
đòi
hỏi
các
Linh
Mục
không
được
chạy
theo
hư
vô
25,
nhưng
phải
luôn
luôn
làm
việc
trong
mối
hiệp
thông
với
các
Giám
Mục
và
với
những
anh
em
linh
mục
khác.
Có
làm
như
thế,
các
Linh
Mục
mới
tìm
được
sự
thống
nhất
đời
sống
của
mình
trong
chính
sứ
mệnh
duy
nhất
của
Giáo
Hội,
và
như
vậy
các
ngài
mới
hiệp
nhất
với
Chúa,
và
qua
Người,
với
Chúa
Cha,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
để
có
thể
tràn
đầy
an
ủi
và
dư
thừa
hoan
lạc
26.
13*
II.
Những
Ðòi
Hỏi
Thiêng
Liêng
Ðặc
Biệt
Trong
Ðời
Linh
Mục
15.
Khiêm
tốn
và
vâng
phục.
Trong
những
đức
tính
cần
thiết
hơn
cả
cho
chức
vụ
Linh
Mục,
phải
kể
đến
tâm
trạng
này,
là
bao
giờ
cũng
sẵn
sàng
tìm
ý
muốn
Ðấng
đã
sai
mình
chứ
không
phải
tìm
ý
riêng
27.
Thực
ra
công
việc
của
Thiên
Chúa
mà
Chúa
Thánh
Thần
tuyển
chọn
28
các
ngài
để
hoàn
thành,
vượt
quá
mọi
năng
lực
và
tầm
mức
khôn
ngoan
nhân
loại;
vì
"Thiên
Chúa
đã
lựa
chọn
những
gì
yếu
hèn
trong
thế
gian
để
bêu
xấu
những
gì
mạnh
mẽ"
(1Cor
1,27).
Vậy
ý
thức
những
sự
yếu
hèn
của
mình,
thừa
tác
viên
đích
thực
của
Chúa
Kitô
khiêm
tốn
làm
việc
trong
khi
tìm
xem
điều
gì
đẹp
lòng
Thiên
Chúa
29
và
như
bị
ràng
buộc
bởi
Thánh
Thần
30,
trong
mọi
sự
ngài
đều
tuân
theo
ý
của
Ðấng
muốn
cho
mọi
người
được
cứu
rỗi.
Ngài
có
thể
khám
phá
và
tuân
theo
ý
muốn
này
trong
những
sự
kiện
hàng
ngày
bằng
cách
khiêm
tốn
phục
vụ
cho
mọi
người
được
Thiên
Chúa
ủy
thác
cho
mình
qua
các
nhiệm
vụ
riêng
của
mình
cũng
như
qua
những
biến
cố
của
đời
sống.
Nhưng
vì
chức
vụ
Linh
Mục
là
chức
vụ
của
chính
Giáo
Hội,
nên
chức
vụ
đó
chỉ
có
thể
được
chu
toàn
trong
sự
thông
công
phẩm
trật
của
toàn
thân
thể.
Vậy
đức
bác
ái
mục
vụ
thôi
thúc
các
Linh
Mục
đang
hoạt
động
trong
mối
thông
hiệp
này
biết
hy
sinh
ý
riêng
mình,
qua
việc
vâng
lời
phục
vụ
Chúa
và
anh
em,
bằng
cách
lấy
tinh
thần
đức
tin
mà
lãnh
nhận
và
tuân
theo
những
gì
được
Ðức
Giáo
Hoàng,
Ðức
Giám
Mục
của
mình,
cũng
như
các
Bề
Trên
khác
truyền
dạy
và
khuyên
bảo,
bằng
cách
hoàn
toàn
sẵn
lòng
tự
hiến
và
tự
hiến
hết
mức
31
trong
bất
cứ
chức
vụ
nào
đã
được
trao
phó
cho
mình
dù
là
thấp
kém
và
nghèo
hèn.
Thật
vậy,
nhờ
cách
đó,
các
ngài
duy
trì
củng
cố
sự
hiệp
nhất
cần
thiết
với
các
anh
em
ngài
trong
thừa
tác
vụ,
và
nhất
là
với
những
vị
được
Thiên
Chúa
đặt
làm
nhà
lãnh
đạo
hữu
hình
của
Giáo
Hội;
nhờ
thế,
các
ngài
cộng
tác
vào
việc
xây
dựng
Thân
Thể
Chúa
Kitô,
Thân
Thể
được
lớn
lên
"bằng
mọi
mối
khớp
tương
trợ"
32.
Sự
vâng
phục
này
đưa
con
cái
Thiên
Chúa
tới
sự
tự
do
trưởng
thành
hơn:
trong
khi
vì
bác
ái
thúc
đẩy
và
để
chu
toàn
chức
vụ,
các
Linh
Mục
khôn
ngoan
tìm
tòi
những
con
đường
mới
mẻ
mưu
ích
hơn
cho
Giáo
Hội,
thì
chính
sự
vâng
phục
đó
tự
bản
tính
cũng
còn
đòi
buộc
các
ngài
phải
tin
tưởng
đưa
ra
những
sáng
kiến,
phải
tha
thiết
trình
bày
những
nhu
cầu
của
đoàn
chiên
được
trao
phó
và
luôn
luôn
sẵn
sàng
tùng
phục
phán
đoán
của
những
vị
thi
hành
các
phận
vụ
chính
yếu
trong
việc
điều
khiển
Giáo
Hội
Chúa.
Nhờ
tự
ý
khiêm
nhượng
và
vâng
phục
trong
tinh
thần
trách
nhiệm
mà
các
Linh
Mục
nên
giống
Chúa
Kitô
và
có
những
cảm
thức
như
Chúa
Giêsu
Kitô,
Ðấng
"tự
hủy
mình
khi
nhận
lấy
thân
phận
tôi
tớ...
đã
vâng
lời
cho
đến
chết"
(Ph
2,7-8).
Nhờ
sự
vâng
phục
này
Người
đã
chiến
thắng
và
chuộc
lại
sự
bất
phục
tùng
của
Adam,
như
Thánh
Tông
Ðồ
đã
minh
chứng:
"vì
một
người
không
vâng
phục
mà
muôn
người
hóa
thành
tội
nhân,
thì
cũng
thế,
vì
một
Ðấng
phục
tùng
mà
nhiều
người
được
trở
nên
công
chính"
(Rm
5,19).
14*
16.
Chọn
lựa
và
kính
trọng
đời
sống
độc
thân
như
một
ân
sủng.
Sự
chế
dục
hoàn
toàn
và
vĩnh
viễn
vì
Nước
Trời
đã
được
Chúa
Kitô
khuyến
khích
33,
mà
qua
các
thời
đại
và
ngay
cả
ngày
nay
vẫn
được
một
số
đông
Kitô
hữu
sẵn
lòng
chấp
nhận
và
tuân
giữ
một
cách
đáng
khâm
phục,
thì
hiện
thời
vẫn
luôn
được
Giáo
Hội
hết
sức
quý
trọng
trong
đời
sống
Linh
Mục.
Thực
vậy,
nó
là
dấu
chứng
và
đồng
thời
là
niềm
khích
lệ
đức
bác
ái
mục
vụ
và
là
nguồn
mạch
đặc
biệt
làm
phát
sinh
đời
sống
thiêng
liêng
phong
phú
trên
thế
giới
34.
Thực
ra
tự
bản
tính
của
chức
Linh
Mục
không
đòi
buộc
điều
đó
như
đã
thấy
thực
hành
trong
Giáo
Hội
sơ
khai
35
và
trong
truyền
thống
của
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
Trong
các
Giáo
Hội
đó,
ngoài
những
vị
cùng
với
tất
cả
các
Giám
Mục,
nhờ
ơn
thánh,
đã
giữ
bậc
độc
thân,
cũng
còn
có
những
Linh
Mục
rất
xứng
đáng
đã
lập
gia
đình;
thực
vậy,
khi
khuyến
khích
bậc
độc
thân
Linh
Mục,
Thánh
Công
Ðồng
này
không
hề
có
ý
định
thay
đổi
tập
quán
khác
biệt
đang
thịnh
hành
một
cách
chính
đáng
trong
Giáo
Hội
Ðông
Phương,
và
thân
ái
khuyên
nhủ
tất
cả
những
ai
đã
nhận
lãnh
chức
Linh
Mục
và
hiện
đang
sống
đời
đôi
bạn,
hãy
bền
chí
trong
ơn
gọi
thánh
và
hoàn
toàn
quảng
đại
tiếp
tục
hy
sinh
đời
sống
mình
cho
đoàn
chiên
được
trao
phó
36.
Nhưng
bậc
độc
thân
có
rất
nhiều
thuận
tiện
cho
chức
Linh
Mục.
Thật
vậy,
sứ
mệnh
toàn
diện
của
Linh
Mục
là
tận
hiến
để
phục
vụ
một
nhân
loại
mới,
mà
Chúa
Kitô
Ðấng
chiến
thắng
sự
chết
đã
phục
hồi
trong
thế
gian
nhờ
Thánh
Thần
Người
và
là
một
nhân
loại
đã
được
sinh
ra
"không
bởi
khí
huyết,
không
bởi
ý
muốn
xác
thịt,
không
bởi
ý
muốn
của
nam
nhân,
nhưng
bởi
Thiên
Chúa".
(Gio
1,13).
Nhờ
đức
trinh
khiết
hay
là
bậc
độc
thân
vì
Nước
Trời
37
các
Linh
Mục
được
thánh
hiến
cho
Chúa
Kitô
với
một
lý
do
mới
mẻ
và
tuyệt
hảo
được
kết
hợp
cách
dễ
dàng
hơn
với
Người
bằng
một
trái
tim
không
chia
xẻ
38,
tận
hiến
cách
tự
do
hơn
trong
Người
và
nhờ
Người
để
phục
vụ
Thiên
Chúa
và
loài
người,
sẵn
sàng
hơn
trong
việc
phục
vụ
Nước
Chúa
và
việc
tái
sinh
siêu
nhiên;
như
thế
các
ngài
càng
thích
đáng
lãnh
nhận
một
cách
bao
quát
hơn
chức
vụ
làm
cha
trong
Chúa
Kitô.
Chính
nhờ
đó,
các
ngài
tuyên
bố
trước
mặt
mọi
người
rằng
mình
muốn
tận
hiến
trọn
vẹn
cho
công
việc
đã
được
trao
phó,
nghĩa
là
muốn
đính
ước
các
tín
hữu
với
một
người
bạn
độc
nhất
và
hiến
dâng
họ
cho
Chúa
Kitô
như
một
trinh
nữ
thanh
sạch
39;
như
thế
các
ngài
nhắc
lại
cuộc
hôn
nhân
mầu
nhiệm
đã
được
Thiên
Chúa
thiết
lập
và
sẽ
được
tỏ
lộ
đầy
đủ
ở
đời
sau.
Cuộc
hôn
nhân
trong
đó
Giáo
Hội
chỉ
có
một
vị
Hôn
Phu
duy
nhất
là
Chúa
Kitô
40.
Ngoài
ra,
các
ngài
còn
trở
nên
dấu
chỉ
sống
động
về
thế
giới
mai
sau,
mà
ngày
nay
đã
hiện
diện
qua
đức
tin
và
đức
ái,
trong
đó
con
cái
sự
sống
lại
không
còn
dựng
vợ
gả
chồng
nữa
41.
Vì
những
lý
do
đặt
nền
tảng
trên
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
và
sứ
mệnh
của
Người
nên
việc
sống
độc
thân
trước
tiên
được
khuyến
khích
cho
các
Linh
Mục,
rồi
sau
đã
trở
nên
luật
buộc
trong
Giáo
Hội
Latinh
cho
tất
cả
những
ai
muốn
chịu
Chức
Thánh.
Thánh
Công
Ðồng
này
phê
chuẩn
và
xác
định
luật
này
một
lần
nữa
đối
với
những
ai
muốn
chịu
chức
Linh
Mục,
vì
Công
Ðồng
tin
tưởng
vào
Chúa
Thánh
Thần
là
ơn
độc
thân,
ơn
rất
thích
hợp
với
chức
Linh
Mục
Tân
Ước,
sẽ
được
Chúa
Cha
rộng
tay
ban
phát,
miễn
là
những
người
tham
dự
chức
Linh
Mục
của
Chúa
Kitô
qua
Bí
Tích
Truyền
Chúc
cũng
như
toàn
thể
Giáo
Hội
phải
khiêm
tốn
và
khẩn
khoản
nài
xin.
Thánh
Công
Ðồng
này
cũng
khuyên
mọi
Linh
Mục
vì
tin
tưởng
vào
ơn
Chúa
đã
tự
do
và
tự
ý
chấp
nhận
bậc
độc
thân
thánh
thiện
theo
gương
Chúa
Kitô,
hãy
sống
gắn
bó
với
bậc
đó
bằng
một
tâm
hồn
quảng
đại
và
với
tất
cả
con
tim
của
mình.
Xin
họ
hãy
kiên
nhẫn
trung
thành
trong
bậc
này
và
hãy
nhìn
nhận
đó
là
ơn
rất
trọng
đại
mà
Chúa
Cha
đã
ban
cho
mình
và
Chúa
Con
đã
công
khai
tán
thưởng,
cũng
như
hãy
nhớ
đến
42
những
mầu
nhiệm
cao
cả
được
biểu
lộ
và
thực
hiện
qua
ơn
độc
thân.
Chắc
hẳn
nếu
càng
có
nhiều
người
trong
thế
giới
ngày
nay
nghĩ
rằng
sự
chế
dục
hoàn
toàn
không
thể
có
được,
thì
các
Linh
Mục
càng
phải
hiệp
cùng
với
Giáo
Hội
mà
khiêm
nhượng
và
kiên
nhẫn
hơn
nữa
để
cầu
xin
ơn
trung
thành,
vì
Chúa
không
bao
giờ
từ
chối
những
người
kêu
xin.
Ðồng
thời
các
ngài
lại
phải
luôn
dùng
mọi
phương
thế
siêu
nhiên
và
tự
nhiên
mà
mọi
người
sẵn
có,
nhất
là
các
ngài
hãy
tuân
giữ
những
luật
lệ
khổ
hạnh
đã
được
kinh
nghiệm
của
Giáo
Hội
chuẩn
nhận
và
không
kém
cần
thiết
trong
thế
giới
ngày
nay.
Vì
vậy
Thánh
Công
Ðồng
này
không
những
yêu
cầu
các
Linh
Mục
mà
còn
kêu
gọi
tất
cả
các
tín
hữu
hãy
quý
trọng
ơn
độc
thân
Linh
Mục
cao
quý
này
và
hãy
cầu
xin
cùng
Chúa
để
chính
Ngài
luôn
rộng
tay
ban
phát
dồi
dào
ơn
này
cho
Giáo
Hội
Ngài
15*.
17.
Thái
độ
đối
với
trần
thế
cũng
như
của
cải
vật
chất
và
tình
nguyện
sống
khó
nghèo.
Nhờ
đời
sống
thân
hữu
và
huynh
đệ
giữa
các
Linh
Mục
với
nhau
và
với
những
người
khác,
các
ngài
có
thể
biết
cách
thẩm
định
và
vun
trồng
những
giá
trị
nhân
bản
và
quý
mến
các
tạo
vật
tốt
lành
như
những
ơn
phúc
của
Thiên
Chúa.
Tuy
sống
giữa
thế
gian
nhưng
các
ngài
phải
luôn
biết
rằng
mình
không
thuộc
về
thế
gian,
như
lời
Chúa
là
Thầy
chúng
ta
đã
phán
dạy
43.
Vậy
xử
dụng
trần
gian
như
không
xử
dụng
44,
các
ngài
được
tự
do,
sự
tự
do
giải
thoát
các
ngài
khỏi
mọi
lo
lắng
hỗn
loạn
và
làm
cho
các
ngài
ngoan
ngoãn
nghe
theo
tiếng
Chúa
trong
đời
sống
hằng
ngày.
Từ
sự
tự
do
và
ngoan
ngoãn
đó
sẽ
nảy
sinh
khả
năng
phân
biệt
thiêng
liêng
để
nhờ
đó
tìm
ra
thái
độ
đứng
đắn
đối
với
thế
gian
và
của
cải
trần
thế.
Thực
vậy,
thái
độ
đó
rất
quan
trọng
đối
với
các
Linh
Mục
vì
sứ
mệnh
Giáo
Hội
được
hoàn
tất
giữa
trần
gian
và
vì
những
của
cải
được
tạo
dựng
lại
rất
cần
thiết
cho
sự
tiến
bộ
bản
thân
của
con
người.
Vậy
các
ngài
phải
cảm
tạ
Chúa
Cha
trên
trời
vì
tất
cả
những
gì
Ngài
rộng
ban
cho
để
được
sống
xứng
đáng.
Tuy
vậy,
các
ngài
phải
phân
biệt
dưới
ánh
sáng
đức
tin
tất
cả
những
gì
các
ngài
gặp
thấy
để
một
đàng
biết
xử
dụng
một
cách
thích
đáng
những
của
cải
theo
ý
muốn
của
Thiên
Chúa,
đàng
khác
biết
gạt
bỏ
những
gì
phương
hại
đến
sứ
mệnh
của
mình.
Thật
vậy,
vì
Chúa
là
"phần
và
là
gia
nghiệp"
của
mình
(Ds
18,20),
nên
các
Linh
Mục
chỉ
được
xử
dụng
những
của
cải
trần
gian
vào
những
mục
đích
mà
giáo
lý
Chúa
Kitô
và
quy
luật
của
Giáo
Hội
ấn
định.
Về
những
của
cải
của
Giáo
Hội
nói
riêng,
các
Linh
Mục
phải
quản
trị
chúng
theo
bản
chất
chúng
đúng
như
tiêu
chuẩn
của
giáo
luật,
với
sự
giúp
đỡ
của
những
giáo
dân
thông
thạo
khi
có
thể,
và
các
ngài
phải
luôn
luôn
nhằm
xử
dụng
chúng
vào
những
mục
đích
mà
Giáo
Hội
phải
theo
đuổi
khi
Giáo
Hội
làm
chủ
những
của
cải
trần
gian,
nghĩa
là
nhằm
vào
việc
thờ
phượng
Chúa,
cung
cấp
một
mức
sống
xứng
đáng
cho
hàng
giáo
sĩ,
cũng
như
thi
hành
những
công
cuộc
tông
đồ
thánh
thiện,
hay
những
việc
bác
ái,
nhất
là
đối
với
những
người
nghèo
túng
45.
Còn
những
của
cải
có
được
nhân
dịp
thi
hành
một
vài
nhiệm
vụ
nào
đó
của
Giáo
Hội,
trừ
khi
có
luật
ấn
định
cách
khác
46,
các
Linh
Mục
cũng
như
các
Giám
Mục
trước
hết
phải
dùng
vào
việc
cấp
dưỡng
xứng
đáng
cho
mình
và
việc
chu
toàn
những
phận
sự
của
đấng
bậc
mình,
phần
còn
lại,
các
ngài
hãy
dùng
vào
việc
gây
ích
lợi
cho
Giáo
Hội
hoặc
cho
những
công
cuộc
bác
ái.
Bởi
thế,
các
ngài
không
được
coi
chức
vụ
của
Giáo
Hội
như
một
mối
lợi,
cũng
không
được
dùng
những
lợi
tức
để
làm
giàu
cho
gia
đình
mình
47.
Bởi
vậy
các
Linh
Mục
không
bao
giờ
được
để
tâm
hồn
dính
bén
của
cải
48
nhưng
phải
luôn
luôn
tránh
mọi
tham
lam
và
xa
lánh
mọi
hình
thức
thương
mại.
Hơn
nữa,
các
ngài
được
mời
gọi
tình
nguyện
sống
nghèo
khó
để
nên
giống
Chúa
Kitô
một
cách
rõ
ràng
hơn
và
tận
tụy
hơn
với
chức
vụ
thánh.
Thật
vậy,
dù
giàu
có,
Chúa
Kitô
đã
trở
nên
nghèo
hèn
vì
chúng
ta
để
nhờ
sự
nghèo
khó
của
Người
mà
chúng
ta
trở
nên
giàu
có
49.
Cũng
thế,
chính
các
Tông
Ðồ
đã
làm
gương
chứng
minh
rằng:
đã
lãnh
nhận
ơn
cách
nhưng
không
thì
cũng
phải
ban
phát
cách
nhưng
không
50,
và
các
ngài
đã
biết
sống
khi
được
sung
túc
cũng
như
khi
phải
túng
thiếu
51.
Việc
xử
dụng
tài
sản
như
thế
theo
gương
đóng
góp
tài
sản
làm
của
chung
đã
được
tán
thưởng
trong
lịch
sử
Giáo
Hội
sơ
khai
52,
có
thể
mở
một
con
đường
dẫn
tới
bác
ái
mục
vụ
một
cách
tuyệt
hảo
và
nhờ
cách
sống
này
các
Linh
Mục
có
thể
thực
hiện
một
cách
đáng
khen
ngợi
tinh
thần
nghèo
khó
đã
được
Chúa
Kitô
khuyến
khích.
Vì
thế,
các
Linh
Mục
cũng
như
Giám
Mục,
được
hướng
dẫn
bởi
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
đã
xức
dầu
cho
Chúa
Cứu
Thế
và
sai
đi
giảng
Phúc
Âm
cho
người
nghèo
khó
53,
phải
tránh
tất
cả
những
gì
bằng
cách
này
hay
cách
khác
có
thể
làm
xa
cách
người
nghèo
khó,
và
hơn
các
môn
đệ
khác
Chúa
Kitô
các
ngài
phải
loại
bỏ
mọi
thứ
khoe
khoang
trong
các
đồ
dùng
của
mình.
Các
ngài
phải
xếp
đặt
chỗ
ở
thế
nào
để
không
ai
coi
đó
là
nơi
bất
khả
xâm
phạm,
và
để
không
ai
dù
nghèo
hèn
đến
đâu
phải
sợ
hãi
không
bao
giờ
dám
lui
tới
16*.
III.
Những
Phương
Tiện
Giúp
Ðời
Sống
Linh
Mục
18.
Phương
thế
nuôi
dưỡng
đời
sống
thiêng
liêng.
Ðể
có
thể
sống
kết
hiệp
mật
thiết
hơn
với
Chúa
Kitô
trong
mọi
cảnh
ngộ
cuộc
đời,
ngoài
việc
thực
hành
một
cách
ý
thức
thừa
tác
vụ
của
mình,
các
Linh
Mục
còn
hưởng
nhờ
những
phương
tiện
chung
và
riêng,
mới
và
cũ
mà
Chúa
Thánh
Thần
không
bao
giờ
ngừng
khơi
dậy
trong
Dân
Chúa
và
Giáo
Hội
hằng
khuyến
khích
đôi
khi
còn
buộc
dùng,
để
thánh
hóa
các
chi
thể
mình
54.
Trong
tất
cả
các
phương
thế
thiêng
liêng,
quan
trọng
hơn
cả
là
những
hoạt
động
giúp
các
Kitô
hữu
được
nuôi
dưỡng
bằng
Ngôi
Lời
nơi
Bàn
Thánh
Kinh
và
Bàn
Thánh
Thể
55;
ai
cũng
biết
rằng
việc
siêng
năng
lui
tới
bàn
thánh
quan
trọng
chừng
nào
cho
việc
thánh
hóa
bản
thân
các
Linh
Mục.
Các
thừa
tác
viên
của
ân
sủng
bí
tích
kết
hợp
mật
thiết
với
Chúa
Kitô
là
Ðấng
Cứu
Thế
và
là
Chúa
Chiên
nhờ
chịu
các
phép
Bí
Tích
cách
hiệu
quả,
nhất
là
trong
việc
năng
chịu
Bí
Tích
Cáo
Giải,
được
chuẩn
bị
bằng
sự
xét
mình
hàng
ngày,
vì
nó
sẽ
giúp
nhiều
cho
việc
thật
lòng
trở
về
với
tình
yêu
của
Cha
từ
bị.
Dưới
ánh
sáng
đức
tin
được
nuôi
dưỡng
bằng
việc
đọc
Sách
Thánh,
các
ngài
có
thể
tận
tâm
tìm
kiếm
những
dấu
hiệu
của
thánh
ý
Chúa
và
những
thúc
đẩy
của
ơn
thánh
Ngài
trong
những
biến
cố
khác
nhau
của
đời
sống,
và
như
thế
ngày
càng
trở
nên
dễ
dàng
vâng
phục
sứ
mệnh
đã
nhận
lãnh
trong
Chúa
Thánh
Thần
hơn.
Các
ngài
luôn
tìm
thấy
gương
mẫu
lạ
lùng
về
sự
dễ
vâng
phục
đó
nơi
Ðức
Trinh
Nữ
Maria,
Người
được
Chúa
Thánh
Thần
dẫn
dắt
đã
hiến
toàn
thân
cho
mầu
nhiệm
cứu
chuộc
loài
người
56;
các
Linh
Mục
phải
lấy
lòng
con
thảo
thành
kính
tôn
sùng
và
mến
yêu
Ðức
Trinh
Nữ
Maria
là
Mẹ
của
Linh
Mục
Thượng
Phẩm
vĩnh
viễn,
là
Nữ
Vương
các
Tông
Ðồ
và
là
Ðấng
bảo
trợ
thừa
tác
vụ
Linh
Mục.
Ðể
trung
thành
chu
toàn
thừa
tác
vụ
của
mình,
các
ngài
phải
chuyên
tâm
đàm
đạo
hằng
ngày
với
Chúa
Kitô
trong
lúc
viếng
Mình
Thánh
Chúa
và
trong
việc
cá
nhân
tôn
sùng
phép
Thánh
Thể
Chí
Thánh;
các
ngài
hãy
tự
ý
chăm
lo
việc
tĩnh
tâm
thiêng
liêng
và
mến
chuộng
việc
linh
hướng.
Bằng
nhiều
cách,
nhất
là
bằng
tâm
nguyện
vẫn
được
thực
hành
trong
Giáo
Hội
và
bằng
những
hình
thức
kinh
nguyện
khác
nhau
tùy
các
ngài
tự
ý
lựa
chọn,
các
Linh
Mục
tự
luyện
và
cố
tâm
khẩn
cầu
Chúa
ban
cho
mình
một
tinh
thần
thờ
phượng
đích
thực,
nhờ
đó
các
ngài
cùng
với
dân
được
trao
phó
sẽ
kết
hiệp
mật
thiết
với
Chúa
Kitô
là
Ðấng
Trung
Gian
của
Giao
Ước
Mới,
và
như
thế,
họ
có
thể
kêu
lên
như
những
nghĩa
tử
"Abba,
Cha"
(Rm
8,15).
17*
19.
Học
hỏi
và
hiểu
biết
về
mục
vụ.
Trong
nghi
lễ
truyền
chức,
Ðức
Giám
Mục
khuyên
bảo
các
Linh
Mục
hãy
"trưởng
thành
trong
sự
hiểu
biết"
và
lời
giáo
huấn
của
các
ngài
phải
là
"linh
dược
thiêng
liêng
cho
Dân
Chúa"
57.
Nhưng
kiến
thức
của
các
thừa
tác
viên
thánh
cũng
phải
thánh
vì
nó
phát
xuất
từ
nguồn
mạch
thánh
và
quy
hướng
về
cùng
đích
thánh.
Vì
vậy,
kiến
thức
đó
trước
hết
được
rút
ra
từ
việc
đọc
và
suy
gẫm
Sách
Thánh
58,
nhưng
nó
cũng
được
nuôi
dưỡng
hữu
hiệu
bằng
việc
nghiên
cứu
những
tài
liệu
của
các
Giáo
Phụ,
các
Thánh
Tiến
Sĩ
và
các
tài
liệu
khác
của
Thánh
Truyền.
Ngoài
ra,
để
trả
lời
thỏa
đáng
những
vấn
đề
do
người
thời
nay
nêu
lên,
các
Linh
Mục
phải
hiểu
biết
cho
thấu
đáo
những
tài
liệu
của
Quyền
Giáo
Huấn,
nhất
là
của
các
Công
Ðồng
và
của
các
Ðức
Giáo
Hoàng,
cũng
như
phải
tham
khảo
những
tác
giả
thần
học
thời
danh
nhất
và
đã
được
thừa
nhận.
Thực
ra,
trong
thời
đại
chúng
ta,
văn
hóa
nhân
loại
và
ngay
đến
những
khoa
học
thánh
cũng
tiến
thêm
một
bước
mới,
nên
khuyên
các
Linh
Mục
hãy
hoàn
bị
kiến
thức
của
mình
về
Thiên
Chúa
và
về
nhân
loại
một
cách
thích
hợp
và
liên
tục,
và
như
thế,
các
ngài
tự
chuẩn
bị
để
đối
thoại
với
những
người
đương
thời
một
cách
thích
hợp
hơn.
Ðể
các
Linh
Mục
nghiên
cứu
dễ
dàng
hơn
cũng
như
để
học
hỏi
những
phương
pháp
rao
giảng
Phúc
Âm
và
làm
việc
tông
đồ
một
cách
hiệu
quả
hơn,
phải
hết
sức
lo
cho
các
ngài
có
những
phương
tiện
thích
hợp,
như
tổ
chức
những
khóa
học
tập
hay
những
khóa
hội
thảo
tùy
hoàn
cảnh
chung
của
từng
địa
hạt,
thiết
lập
những
trung
tâm
học
hỏi
mục
vụ,
thành
lập
những
thư
viện
và
cắt
đặt
thích
ứng
những
người
có
khả
năng
điều
khiển
công
việc
học
tập.
Ngoài
ra
mỗi
Giám
Mục
riêng
biệt
hay
nhiều
Giám
Mục
hợp
lại,
phải
cân
nhắc
để
tìm
ra
phương
cách
thích
hợp
nhất,
hầu
tất
cả
các
Linh
Mục
của
mình
có
thể
lui
tới
khóa
học,
vào
thời
gian
ấn
định,
nhất
là
một
vài
năm
sau
khi
chịu
chức
59;
nhờ
vậy,
các
ngài
có
dịp
vừa
để
thâu
nhận
thêm
những
kiến
thức
đầy
đủ
hơn
về
phương
pháp
mục
vụ
và
khoa
thần
học,
vừa
để
củng
cố
đời
sống
thiêng
liêng
và
để
cùng
trao
đổi
với
anh
em
những
kinh
nghiệm
tông
đồ
60.
Cũng
nên
dùng
những
phương
tiện
này
và
những
phương
tiện
thích
nghi
khác
để
đặc
biệt
giúp
đỡ
những
cha
sở
mới
và
những
vị
đã
được
chỉ
định
cho
một
công
cuộc
mục
vụ
mới,
hoặc
những
vị
được
sai
đến
một
giáo
phận
hay
một
quốc
gia
khác.
Sau
hết,
các
Giám
Mục
nên
lo
liệu
cho
một
số
Linh
Mục
chuyên
về
các
khoa
học
thánh
để
không
bao
giờ
thiếu
các
giáo
sư
đầy
đủ
khả
năng
đào
tạo
hàng
Linh
Mục,
để
giúp
các
Linh
Mục
khác
và
các
tín
hữu
lãnh
nhận
được
nền
giáo
thuyết
cần
thiết,
và
để
khuyến
khích
sự
tiến
triển
lành
mạnh
trong
các
môn
học
thánh,
vì
sự
tiến
triển
đó
rất
cần
thiết
cho
Giáo
Hội.
18*
20.
Thù
lao
cân
xứng.
Nhờ
hiến
thân
phụng
sự
Thiên
Chúa
trong
việc
chu
toàn
nhiệm
vụ
được
trao
phó,
các
Linh
Mục
được
lãnh
một
số
thù
lao
cân
xứng
vì
"thợ
đáng
ăn
lương
của
mình"
(Lc
10,7)
61
và
"Chúa
đã
định
liệu
những
ai
rao
giảng
Phúc
Âm
được
sống
bởi
Phúc
Âm"
(1Cor
9,14).
Bởi
thế,
nơi
nào
không
có
sẵn
thù
lao
cân
xứng
cho
các
Linh
Mục,
thì
chính
các
tín
hữu
phải
nhận
lấy
trách
nhiệm
lo
cho
các
ngài
được
những
điều
cần
thiết
hầu
có
một
mức
sống
thích
hợp
và
xứng
đáng,
bởi
chính
vì
lợi
ích
các
tín
hữu
mà
các
ngài
hy
sinh
hoạt
động.
Còn
các
Giám
Mục
phải
nhớ
nhắc
cho
các
tín
hữu
trách
nhiệm
này
và
phải
lo
liệu
-
hoặc
vị
nào
cho
giáo
phận
nấy,
hoặc
tiện
hơn
là
nhiều
vị
chung
nhau
cho
một
vùng
-
lập
ra
những
quy
luật
giúp
bảo
đảm
đúng
mức
một
số
trợ
cấp
xứng
đáng
cho
những
vị
đang
thi
hành
hay
đã
thi
hành
một
vài
chức
vụ
trong
việc
phục
vụ
Dân
Chúa.
Phần
thù
lao
cấp
phát
cho
mỗi
vị
phải
được
ấn
định
hoặc
tùy
theo
bản
chất
của
chức
vụ
hoặc
tùy
theo
hoàn
cảnh
địa
phương
và
thời
gian.
Nhưng
phần
thù
lao
căn
bản
phải
đồng
đều
cho
tất
cả
các
vị
có
cùng
một
hoàn
cảnh,
phải
xứng
hợp
với
hoàn
cảnh
của
các
ngài,
và
hơn
nữa
phải
giúp
các
ngài
chẳng
những
có
thể
cấp
một
phần
thù
lao
cân
xứng
cho
những
kẻ
hy
sinh
giúp
việc
các
ngài,
nhưng
còn
có
thể
tự
mình
giúp
đỡ
những
kẻ
thiếu
thốn
vì
một
lý
do
nào
đó;
thực
vậy,
việc
phục
vụ
kẻ
nghèo
khó
ngay
từ
thuở
ban
đầu
đã
được
Giáo
Hội
luôn
luôn
nhiệt
liệt
tán
thưởng.
Ngoài
ra,
cũng
phải
lo
liệu
làm
sao
cho
phần
thù
lao
này
có
thể
giúp
các
Linh
Mục
hằng
năm
có
một
thời
gian
nghỉ
ngơi
thích
đáng
và
đầy
đủ;
các
Giám
Mục
phải
lo
cho
các
Linh
Mục
có
thể
có
thời
gian
nghỉ
ngơi
đó.
Tuy
nhiên,
phải
dành
tầm
quan
trọng
bậc
nhất
cho
chức
vụ
do
các
thừa
tác
viên
thi
hành.
Vì
thế,
hệ
thống
mệnh
danh
là
"ân
bổng"
phải
được
bãi
bỏ,
hoặc
ít
ra
phải
được
cải
tổ
thể
nào
để
phần
ân
bổng,
nghĩa
là
quyền
thụ
hưởng
những
lợi
tức
bởi
chức
vụ,
được
coi
như
chuyện
phụ
thuộc,
và
theo
luật,
phải
nhường
địa
vị
chính
yếu
cho
chính
chức
vụ
của
Giáo
Hội,
chức
vụ
mà
từ
nay
phải
được
hiểu
là
bất
cứ
nhiệm
vụ
nào
được
trao
phó
cách
lâu
bền
để
thi
hành
nhằm
mục
đích
thiêng
liêng.
21.
Quỹ
chung
và
bảo
hiểm
xã
hội.
Phải
luôn
luôn
nhớ
đến
gương
mẫu
của
các
tín
hữu
thời
Giáo
Hội
sơ
khai
ở
Giêrusalem
đã
đặt
"mọi
sự
làm
của
chung"
(CvTđ
4,32)
và
"phân
phát
cho
mỗi
người
tùy
nhu
cầu"
(CvTđ
4,35).
Vì
vậy,
ít
ra
trong
những
miền
mà
sự
cấp
dưỡng
cho
giáo
sĩ
tùy
thuộc
hoàn
toàn
hoặc
phần
lớn
vào
việc
dâng
cúng
của
các
tín
hữu,
thì
rất
nên
có
một
tổ
chức
giáo
phận
nào
đó
thu
góp
những
của
dâng
cúng
nhằm
mục
đích
này;
tổ
chức
này
do
Giám
Mục
điều
khiển
với
sự
trợ
giúp
của
những
Linh
Mục
được
ủy
nhiệm,
cũng
như
của
cả
những
giáo
dân
thông
thạo
trong
lãnh
vực
kinh
tế
nếu
thấy
là
hữu
ích.
Ngoài
ra,
cũng
ước
mong
rằng
nếu
có
thể
nên
thành
lập
một
công
quỹ
trong
mỗi
giáo
phận
hay
mỗi
miền
để
nhờ
đó
các
Giám
Mục
có
thể
thỏa
mãn
các
bổn
phận
khác
đối
với
những
người
phục
vụ
Giáo
Hội,
và
trợ
giúp
những
nhu
cầu
khác
nhau
trong
giáo
phận,
và
cũng
nhờ
đó
các
giáo
phận
giàu
hơn
có
thể
giúp
đỡ
các
giáo
phận
nghèo
hơn
để
sự
dư
dật
của
giáo
phận
này
bù
đắp
cho
sự
thiếu
thốn
của
giáo
phận
khác
62.
Công
quỹ
này
phải
được
thiết
lập
trước
hết
do
những
của
cải
các
tín
hữu
dâng
cúng,
nhưng
cũng
còn
do
những
nguồn
lợi
khác
như
đã
được
qui
chế
ấn
định.
Ngoài
ra,
trong
các
quốc
gia
mà
sự
bảo
hiểm
xã
hội
cho
hàng
giáo
sĩ
chưa
được
tổ
chức
cách
thích
hợp,
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
hãy
lưu
ý
đến
giáo
luật
và
dân
luật
mà
lo
liệu
cho
có
những
tổ
chức
trong
các
giáo
phận
-
và
có
thể
liên
kết
những
tổ
chức
với
nhau
-
hoặc
những
tổ
chức
được
thiết
lập
cho
nhiều
giáo
phận
khác
nhau,
hoặc
một
hội
được
thành
lập
cho
toàn
vùng;
nhờ
những
tổ
chức
này
và
dưới
sự
chăm
sóc
của
Hàng
Giáo
Phẩm,
việc
bảo
hiểm
xã
hội
được
dự
liệu
đầy
đủ
cho
tổ
chức
mà
người
ta
thường
gọi
là
tổ
chức
y
tế
dự
phòng
và
cứu
trợ,
và
dự
liệu
việc
trợ
cấp
cân
xứng
cho
các
Linh
Mục
bệnh
tật,
tàn
phế
và
già
yếu.
Các
Linh
Mục
phải
giúp
đỡ
các
tổ
chức
được
thành
lập
như
thế
với
một
tinh
thần
liên
đới
với
anh
em
mình
và
thông
cảm
những
nỗi
khổ
tâm
của
họ
63.
Ðồng
thời,
chính
vì
không
phải
bận
tâm
đến
tương
lai,
các
ngài
có
thể
hoàn
toàn
tận
hiến
cho
phần
rỗi
các
linh
hồn
và
thực
hành
đức
khó
nghèo
trong
tinh
thần
Phúc
Âm
một
cách
hăng
say
hơn.
Những
vị
có
trách
nhiệm
phải
cố
gắng
liên
kết
các
tổ
chức
như
thế
thuộc
các
quốc
gia
khác
nhau
để
chúng
thêm
vững
chắc
và
được
phổ
biến
rộng
rãi
hơn.
Kết
Luận
Và
Khuyên
Nhủ
22.
Kết
luận.
Thánh
Công
Ðồng
này
khi
nhớ
đến
những
hoan
lạc
của
đời
sống
Linh
Mục
không
thể
quên
được
những
khó
khăn
mà
các
Linh
Mục
phải
chịu
trong
những
hoàn
cảnh
của
đời
sống
hiện
tại.
Thánh
Công
Ðồng
cũng
biết
rằng
tình
trạng
kinh
tế,
xã
hội
và
ngay
cả
những
phong
tục
của
con
người
đang
thay
đổi
rất
nhiều
và
bậc
thang
giá
trị
cũng
đang
đảo
lộn
không
ít
trong
trí
phán
đoán
của
con
người;
do
đó,
các
thừa
tác
viên
của
Giáo
Hội
và
đôi
khi
ngay
cả
các
Kitô
hữu
đều
cảm
thấy
mình
như
xa
lạ
trong
thế
giới
này
và
áy
náy
tìm
kiếm
không
biết
phải
dùng
phương
pháp,
lời
nói
nào
thích
hợp
để
có
thể
giao
thiệp
với
đời.
Thật
vậy,
những
chướng
ngại
mới
cho
đức
tin,
những
việc
làm
bề
ngoài
xem
ra
vô
ích,
cũng
như
sự
cô
đơn
cay
đắng
đã
từng
trải,
có
thể
dẫn
các
ngài
đến
chỗ
nguy
hiểm
là
làm
cho
các
ngài
chán
ngán.
Nhưng
thế
giới
ngày
nay
được
trao
phó
cho
tình
yêu
và
thừa
tác
vụ
của
các
vị
Chủ
Chăn
trong
Giáo
Hội
là
thế
giới
mà
Thiên
Chúa
hết
sức
yêu
thương
đến
nỗi
đã
trao
ban
Con
Một
của
Ngài
64.
Thực
ra,
tuy
bị
nhiều
tội
lỗi
chế
ngự,
thế
giới
ngày
nay
vẫn
còn
có
những
khả
năng
lớn
lao
để
hiến
cho
Giáo
Hội
những
viên
đá
sống
động
65
hầu
cùng
nhau
xây
dựng
đền
thờ
Thiên
Chúa
trong
Chúa
Thánh
Thần
66.
Khi
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy
Giáo
Hội
mở
những
con
đường
mới
dẫn
đến
thế
giới
ngày
nay,
thì
chính
Ngài
cũng
khởi
xướng
và
khuyến
khích
những
cải
tổ
thích
hợp
cho
chức
vụ
Linh
Mục.
Các
Linh
Mục
phải
nhớ
rằng
không
bao
giờ
các
ngài
lẻ
loi
trong
khi
thi
hành
bổn
phận,
nhưng
dựa
vào
sức
mạnh
của
Thiên
Chúa
toàn
năng
và
tin
tưởng
vào
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
mời
gọi
các
ngài
đến
thông
phần
vào
chức
Linh
Mục
của
mình,
các
ngài
phải
hết
lòng
tin
tưởng
mà
hiến
thân
cho
chức
vụ
mình,
vì
biết
rằng
Thiên
Chúa
toàn
năng
có
thể
ban
cho
các
ngài
thêm
tình
yêu
67.
Các
ngài
cũng
phải
nhớ
rằng
các
anh
em
trong
chức
Linh
Mục
và
ngay
cả
những
tín
hữu
trên
toàn
thế
giới
cũng
là
bạn
hữu
của
mình.
Thực
vậy,
mọi
Linh
Mục
đều
cộng
tác
để
chu
toàn
ý
định
cứu
rỗi
của
Thiên
Chúa
-
nghĩa
là
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
hay
là
bí
tích
từ
muôn
đời
đã
được
giấu
kín
trong
Thiên
Chúa
68
- ý
định
đó
chỉ
được
thực
hiện
dần
dần
nhờ
liên
kết
nhiều
chức
vụ
khác
nhau
trong
việc
xây
dựng
Thân
Thể
Chúa
Kitô
cho
đến
khi
Thân
Thể
hoàn
toàn
triển
nở.
Và
tất
cả
những
điều
đó,
vì
được
giấu
kín
với
Chúa
Kitô
trong
Thiên
Chúa
69,
nên
nhờ
đức
tin
mà
có
thể
nhận
biết
được
rõ
ràng.
Thật
vậy,
các
vị
lãnh
đạo
Dân
Chúa
phải
bước
đi
trong
đức
tin,
theo
gương
của
Abraham
trung
thành,
là
người
đã
lấy
đức
tin
"vâng
lời
đi
đến
nơi
mà
mình
sẽ
nhận
làm
cơ
nghiệp:
ngài
đã
ra
đi
mà
chẳng
biết
mình
sẽ
đi
đâu"
(Dth
11,8).
Thực
ra,
người
phân
phát
các
mầu
nhiệm
của
Thiên
Chúa
có
thể
sánh
với
người
gieo
giống
trong
ruộng
mà
Chúa
đã
nói
"và
người
ấy
ngủ
hay
thức,
đêm
cũng
như
ngày,
hạt
giống
nảy
mầm
và
lớn
lên,
trong
khi
người
ấy
chẳng
hay
biết
gì"
(Mc
4,27).
Hơn
nữa,
Chúa
Kitô
đã
nói
"các
con
hãy
vững
tin,
Thầy
đã
thắng
thế
gian"
(Gio
16,33);
qua
lời
này,
Người
không
hứa
cho
Giáo
Hội
Người
một
cuộc
toàn
thắng
ở
trần
gian
này.
Vậy
Thánh
Công
Ðồng
vui
mừng
vì
mặt
đất
đã
được
hạt
giống
Phúc
Âm
gieo
vãi,
nay
đang
sinh
hoa
kết
quả
ở
nhiều
nơi
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
lấp
đầy
cả
trái
đất
và
khởi
xướng
trong
tâm
hồn
nhiều
Linh
Mục
và
tín
hữu
tinh
thần
truyền
giáo
đích
thực.
Về
tất
cả
những
điều
đó,
Thánh
Công
Ðồng
rất
thân
ái
cám
ơn
mọi
Linh
Mục
trên
hoàn
cầu:
"Chúc
tụng
Ðấng
Quyền
Năng
làm
được
mọi
sự
cách
phong
phú
hơn
điều
ta
cầu
xin
hay
hiểu
biết,
tùy
theo
quyền
phép
mà
Ngài
thực
hiện
nơi
chúng
ta:
chúc
tụng
vinh
quang
Ngài
trong
Giáo
Hội
và
trong
Chúa
Giêsu
Kitô"
(Eph
3,20-21).
19*.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Sắc
Lệnh
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và,
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
7
tháng
12
năm
1965.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
1
Xem
2Cor
12,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Ad
catholici
sacerdoitii,
20-12-1935
AAS:
28
(1936),
trg
10.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Gio
10,36.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Lc
24,26.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Eph
4,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
2Cor
3,8-9.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
các
văn
kiện:
T.
Piô
X,
Huấn
dụ
giáo
sĩ
Haerent
animo,
4-8-1908:
S.
Pii
X
Acta,
q.
IV
(1908),
trg
237
tt.
-
Piô
XI,
Tđ.
Ad
catholici
sacerdotii,
20-12-1935:
AAS
28
(1936),
trg
5
tt.
-
Piô
XII,
Tông
huấn
Menti
Nostrae,
23-9-1950:
AAS
42
(1950),
trg
657
tt.
-
Gioan
XXIII,
Tđ.
Sacerdotii
Nostri
primordia,
1-8-1959,
AAS
51
(1959),
trg
545
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Bí
Tích
Rửa
Tội
và
Bí
Tích
Truyền
Chức
là
nền
tảng
của
bậc
trọn
lành
linh
mục.
Các
linh
mục
được
mời
gọi
để
trở
thành
những
dụng
cụ
sống
động
của
Chúa
Kitô.
Theo
gương
Chúa
Kitô
chết
và
sống
lại,
các
ngài
cũng
phải
chết
cho
chính
mình
để
sống
trọn
vẹn
cho
tha
nhân.
Biết
sống
theo
tinh
thần
của
Chúa
Kitô,
các
ngài
có
thể
thánh
hóa
bản
thân
trong
chính
chức
vụ
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
T.
Tôma,
Summa
Theol.
II-II,
q.
188,
a7.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Eph
3,9-10.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
CvTđ
16,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
2Cor
4,7.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Eph
3,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Pont.
Rom.
Lễ
phong
chức
Linh
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Missale
Romanum,
Lời
nguyện
trên
lễ
vật
Chúa
Nhật
IX
sau
Hiện
Xuống.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
"Bất
cứ
Thánh
Lễ
nào,
dù
Linh
Mục
cử
hành
một
mình
cũng
không
mang
tính
cách
riêng
tư,
nhưng
đều
là
hành
động
của
Chúa
Kitô
và
của
Giáo
Hội;
thực
vậy,
Giáo
Hội
đã
học
biết
hiến
dâng
chính
mình
trong
hy
lễ
mà
Giáo
Hội
dâng
như
của
lễ
phổ
quát
và
ứng
dụng
sự
cứu
rỗi
độc
nhất
và
vô
cùng
của
hy
lễ
Thánh
Giá
cho
phần
rỗi
của
toàn
thể
thế
giới.
Mỗi
một
Thánh
Lễ
được
cử
hành,
không
phải
chỉ
dâng
lên
vì
phần
rỗi
một
vài
người
nhưng
còn
cho
toàn
thế
giới
(...)
Vậy
Ta
lấy
tình
cha
con
tha
thiết
nhắn
nhủ
các
Linh
Mục
là
niềm
vui
lớn
lao
nhất
và
triều
thiên
của
Ta
trong
Chúa...
các
ngài
hãy
cử
hành
Thánh
Lễ
hàng
ngày
một
cách
xứng
đáng
và
thành
kính":
Phaolô
VI,
Tđ.
Mysterium
Fidei,
3-9-1965:
AAS
57
(1965),
trg
761-762.
-
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
Saceosanctum
Concilium,
4-12-1963,
số
26
và
27:
AAS
56
(1964),
trg
107.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Gio
10,11.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
2Cor
1,7.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
2Cor
1,4.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
1Cor
10,33.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Gio
3,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
Trong
khi
thi
hành
chức
vụ,
các
linh
mục
được
mời
gọi
kết
hiệp
với
hoạt
động
của
chính
Chúa
Kitô,
mà
qua
các
ngài,
Chúa
hoàn
thành
sứ
mệnh
của
chính
Người
là
"Thầy
dạy":
khi
các
linh
mục
biết
đón
nhận
lời
Chúa
và
truyền
đạt
cho
tha
nhân;
là
"Chủ
Tế":
khi
các
ngài
tự
hiến
toàn
thân
trong
lúc
cử
hành
Thánh
Lễ;
là
"Chủ
Chăn":
khi
các
ngài
sống
khổ
hạnh
theo
đường
lối
riêng
của
đấng
bậc
hướng
dẫn
các
linh
hồn,
là
những
người
sẵn
sàng
hy
sinh
cả
đến
mạng
sống
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
Gio
4,34.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
1Gio
3,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
"Chăn
dắt
đoàn
chiên
của
Chúa
là
chứng
minh
tình
yêu
của
mình":
T.
Augustinô,
Tract.
in
Jo.,
123,5
:
PL
35,
1967.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Rm
12,2.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
Gal
2,2.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
2Cor
7,4.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Nguyên
tắc
thống
nhất
đời
sống
linh
mục
là
chính
Chúa
Kitô,
Ðấng
hoạt
động
qua
các
thừa
tác
viên
của
Người
để
hoàn
thành
Thánh
Ý
Chúa
Cha.
Các
linh
mục
được
mời
gọi
kết
hiệp
với
Chúa
trong
việc
tìm
Thánh
Ý
Chúa
Cha,
các
ngài
phải
luôn
phản
tỉnh
trong
hoạt
động
để
tìm
biết
đâu
là
ý
Chúa
(x.
Rm
12,2).
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
Gio
4,34;
5,30;
6,38.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
CvTđ
13,2.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
Eph
5,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
CvTđ
20,22.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
2Cor
12,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
Eph
4,11-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Các
linh
mục
được
mời
gọi
để
có
tâm
hồn
luôn
sẵn
sàng
và
khiêm
nhường
đối
với
thánh
ý
Chúa.
Là
thừa
tác
viên
đích
thực
của
Chúa
Kitô,
các
ngài
phải
ý
thức
được
sự
yếu
hèn
của
mình,
phải
nhận
rõ
sự
cần
thiết
phải
vâng
lời
để
củng
cố
sự
hiệp
nhất
với
anh
em
và
với
các
vị
thủ
lãnh
hữu
hình
của
Giáo
Hội,
để
cộng
tác
trong
việc
xây
dựng
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Mt
19,12.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
số
42:
AAS
57
(1965),
trg
47-49.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
1Tm
3,2-5;
Tit
1,6.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Ad
catholici
Sacerdotii,
20-12-1935:
AAS
28
(1936),
trg
28.
(Trở
lại
đầu
trang)
37
Xem
Mt
19,12.
(Trở
lại
đầu
trang)
38
Xem
1Cor
7,32-34.
(Trở
lại
đầu
trang)
39
Xem
2Cor
11,2.
(Trở
lại
đầu
trang)
40
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
số
42
và
44:
AAS
57
(1965),
trg
47-49
và
50-51.
-
Sắc
lệnh
về
việc
canh
tân
thích
nghi
đời
sống
Dòng
Tu
Perfectae
Caritatis,
số
12.
(Trở
lại
đầu
trang)
41
Xem
Lc
20,35-36.
-
Piô
XI,
Tđ.
Ad
Catholici
Sacerdotii,
20-12-1935:
AAS
28
(1936),
trg
24-28;
-
Tđ.
Sacra
Virginitas,
25-3-1954:
AAS
46
(1954),
trg
169-172.
(Trở
lại
đầu
trang)
42
Xem
Mt
19,11.
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Các
Nghị
Phụ
Công
Ðồng
chuẩn
y
và
xác
nhận
luật
độc
thân
của
hàng
giáo
sĩ
như
một
ân
huệ
Chúa
ban
cho
Giáo
Hội
Latinh.
Ðời
sống
độc
thân
của
giáo
sĩ
biểu
lộ
những
động
lực
đặt
nền
tảng
trên
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
và
sứ
mệnh
của
Người.
(Trở
lại
đầu
trang)
43
Xem
Gio
17,14-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
44
Xem
1Cor
7,31.
(Trở
lại
đầu
trang)
45
Xem
CÐ
Antioch,
đ.th.,
25:
Mansi
2,
1327-1328.
-
Decretum
Gratiani,
c.
23,
C.
12,
q.
1:
x.b.
Friedberg
I,
trg
684-685.
(Trở
lại
đầu
trang)
46
Ở
đây,
trước
tiên
hiểu
về
những
quyền
lợi
và
tập
quán
hiện
có
nơi
các
Giáo
Hội
Ðông
Phương.
(Trở
lại
đầu
trang)
47
CÐ
Paris,
năm
829,
đ.th.
15:
M.G.H,
Legum
Sact.
III,
Concilia,
q.
2,
trg
662.
-
CÐ
Trentô,
khóa
25,
De
Reform.
ch.,
1:
Conc.
Oec.
Decreta,
x.b.
Herder,
Roma
1962,
trg
760-761.
(Trở
lại
đầu
trang)
48
Xem
Tv
62,11
(bản
Phổ
Thông
61).
(Trở
lại
đầu
trang)
49
Xem
2Cor
8,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
50
Xem
CvTđ
8,18-25.
(Trở
lại
đầu
trang)
51
Xem
Ph
4,12.
(Trở
lại
đầu
trang)
52
Xem
CvTđ
2,42-47.
(Trở
lại
đầu
trang)
53
Xem
Lc
4,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Ðoạn
này
nói
về
thái
độ
đứng
đắn
của
linh
mục
về
các
giá
trị
nhân
bản
và
những
thực
tại
trần
thế,
về
việc
xử
dụng
tài
sản
của
Giáo
Hội
và
về
giá
trị
của
đức
khó
nghèo
theo
gương
Chúa
Kitô
và
các
Tông
Ðồ.
(Trở
lại
đầu
trang)
54
Xem
C.I.C,
kh
125
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
55
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
canh
tân
thích
nghi
đời
sống
Dòng
Tu
Perfectae
Caritatis,
số
7;
-
Hiến
chế
tín
lý
về
Mạc
Khải
Dei
Verbum,
số
21.
(Trở
lại
đầu
trang)
56
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
số
65:
AAS
57
(1965),
trg
64-65.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Công
Ðồng
đan
cử
những
phương
thế
chung
và
riêng
thích
hợp
với
chức
vụ
mục
vụ
của
các
Linh
Mục.
Bằng
những
phương
thế
khác
nhau,
các
Linh
Mục
có
thể
thánh
hóa
bản
thân
chính
khi
thi
hành
chức
vụ
mình
và
có
thể
kết
hiệp
mật
thiết
với
Chúa
Kitô,
Ðấng
Trung
Gian
của
Tân
Ước.
(Trở
lại
đầu
trang)
57
Pontificale
Romanum,
Lễ
phong
chức
Linh
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
58
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Mạc
Khải
Dei
Verbum,
số
25.
(Trở
lại
đầu
trang)
59
Khóa
học
này
khác
với
khóa
mục
vụ
phải
tổ
chức
ngay
sau
khi
thụ
phong,
đã
nói
trong
Sắc
lệnh
về
việc
Ðào
Tạo
Linh
Mục
Optatam
Totius,
số
22.
(Trở
lại
đầu
trang)
60
Xem
CÐ
Vat
II,
Sắc
lệnh
về
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
các
Giám
Mục
trong
Giáo
Hội
Christus
Dominus,
số
17.
(Trở
lại
đầu
trang)
18*
Ðối
với
các
linh
mục,
việc
học
hỏi
thêm,
việc
trao
đổi
liên
tục
về
kiến
thức
và
văn
hóa
phổ
thông
rất
cần
thiết
trong
thời
đại
chúng
ta.
Thiếu
tinh
thần
ấy,
chức
vụ
của
các
ngài
không
thể
đáp
ứng
đúng
với
những
đòi
hỏi
của
thời
đại
trong
việc
rao
truyền
Phúc
Âm.
(Trở
lại
đầu
trang)
61
Xem
Mt
10,10;
1Cor
9,7;
1Tm
5,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
62
Xem
2Cor
8,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
63
Xem
Ph
4,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
64
Xem
Gio
3,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
65
Xem
1P
2,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
66
Xem
Eph
2,22.
(Trở
lại
đầu
trang)
67
Xem
Pont.
Rom.,
Lễ
phong
chức
Linh
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
68
Xem
Eph
3,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
69
Xem
Col
3,3.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Toàn
thể
nội
dung
của
Sắc
Lệnh
về
Chức
Vụ
và
Ðời
Sống
Linh
Mục
là
một
trợ
giúp
được
cống
hiến
cho
các
Linh
Mục
trong
những
hoàn
cảnh
cụ
thể
chi
phối
chức
vụ
của
các
ngài.
Chúa
Thánh
Thần
luôn
thúc
đẩy
Giáo
Hội
khai
mở
những
con
đường
mới
và
qua
hoạt
động
mục
vụ,
Ngài
gợi
lên
những
thích
nghi
cần
thiết
phải
có.
(Trong
chiều
hướng
này,
tham
khảo
thêm
Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay).
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II