VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
15-
SẮC
LỆNH
VỀ
CHỨC
VỤ
VÀ
ĐỜI
SỐNG
CÁC
LINH
MỤC
(PRESBYTERORUM
ORDINIS)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
Chương
II
Thừa
Tác
Vụ
Của
Linh
Mục
I.
Chức
Vụ
Của
Linh
Mục
4.
Linh
Mục,
thừa
tác
viên
Lời
Chúa.
Dân
Chúa
được
đoàn
tụ
trước
hết
là
nhờ
lời
Thiên
Chúa
hằng
sống
1;
lời
này
phải
được
đặc
biệt
tìm
thấy
nơi
miệng
lưỡi
các
Linh
Mục
2.
Thực
vậy,
không
ai
có
thể
được
cứu
rỗi
nếu
trước
đó
không
có
lòng
tin
3
do
đó
các
Linh
Mục,
vì
là
cộng
sự
viên
của
các
Giám
Mục,
nên
trước
tiên
có
nhiệm
vụ
loan
báo
cho
mọi
người
Phúc
Âm
của
Thiên
Chúa
4,
để
khi
thi
hành
mệnh
lệnh
của
Chúa:
"Các
con
hãy
đi
khắp
thế
giới
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
tạo
vật"
(Mc
16,15)
5,
các
ngài
thiết
lập
Dân
Chúa
và
làm
cho
Dân
Chúa
càng
ngày
càng
đông
thêm.
Thật
thế,
chính
lời
cứu
rỗi
khơi
động
đức
tin
trong
tâm
hồn
những
người
chưa
tin
và
nuôi
dưỡng
đức
tin
trong
tâm
hồn
các
tín
hữu;
chính
đức
tin
này
đã
khai
sinh
và
phát
triển
cộng
đoàn
tín
hữu,
như
lời
Thánh
Tông
Ðồ:
"đức
tin
do
nghe
nói,
còn
điều
nghe
nói
thì
bởi
lời
Chúa
Kitô"
(Rm
10,17).
Do
đó,
các
Linh
Mục
mắc
nợ
với
mọi
người
về
việc
thông
truyền
cho
họ
chân
lý
Phúc
Âm
6
mà
các
ngài
đã
nhận
được
nơi
Chúa.
Vì
thế,
dù
khi
các
ngài
sống
một
đời
sống
tốt
lành
giữa
các
dân
ngoại
để
làm
cho
họ
tôn
vinh
Thiên
Chúa
7,
dù
khi
các
ngài
công
khai
giảng
thuyết
để
loan
truyền
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
cho
những
người
chưa
tin,
dù
khi
dạy
giáo
lý
Kitô
giáo
hay
giải
thích
giáo
thuyết
của
Giáo
Hội,
dù
khi
chăm
lo
nghiên
cứu
những
vấn
đề
thời
đại
dưới
ánh
sáng
Chúa
Kitô:
trong
mọi
trường
hợp,
phận
sự
của
các
ngài
không
phải
là
giảng
dạy
sự
thông
biết
của
mình,
nhưng
là
giảng
dạy
lời
Chúa
và
phải
khẩn
thiết
mời
gọi
mọi
người
cải
thiện
và
nên
thánh
8.
Nhưng
trong
tình
trạng
thế
giới
ngày
nay,
lời
giảng
thuyết
của
Linh
Mục
thường
gặp
rất
nhiều
khó
khăn.
Do
đó
để
dễ
lay
chuyển
tâm
hồn
thính
giả,
giảng
thuyết
không
phải
chỉ
là
trình
bày
lời
Chúa
một
cách
tổng
quát
và
trừu
tượng,
nhưng
phải
áp
dụng
chân
lý
ngàn
đời
của
Phúc
Âm
vào
các
hoàn
cảnh
cụ
thể
của
đời
sống.
Như
thế,
có
nhiều
cách
thi
hành
chức
vụ
rao
giảng
tùy
theo
nhu
cầu
mỗi
lúc
mỗi
khác
của
các
thính
giả
và
tùy
theo
đặc
sủng
của
các
vị
giảng
thuyết.
Nơi
những
miền
hay
những
nhóm
người
chưa
theo
Kitô
giáo,
chính
nhờ
nghe
rao
giảng
Phúc
Âm
mà
người
ta
đi
tới
đức
tin
và
lãnh
nhận
những
Bí
Tích
ban
ơn
cứu
rỗi
9.
Còn
trong
chính
cộng
đoàn
Kitô
giáo,
nhất
là
đối
với
những
người
có
vẻ
ít
hiểu
và
ít
tin
những
điều
họ
quen
thực
hành,
cần
phải
rao
giảng
lời
Chúa
để
dẫn
họ
đến
chịu
các
Bí
Tích,
vì
đây
là
những
Bí
Tích
đức
tin,
mà
đức
tin
lại
được
phát
sinh
và
nuôi
dưỡng
bằng
lời
giảng
dạy
10,
điều
này
đặc
biệt
thể
hiện
trong
phần
phụng
vụ
lời
Chúa
khi
cử
hành
Thánh
Lễ,
trong
đó
lời
loan
truyền
việc
Chúa
chịu
chết
và
sống
lại
liên
kết
chặt
chẽ
với
câu
đáp
của
dân
chúng
đang
nghe
và
với
chính
việc
hiến
dâng
mà
Chúa
Kitô
đã
dùng
để
củng
cố
Tân
Ước
trong
Máu
Người,
cũng
như
các
tín
hữu
thông
công
vào
việc
hiến
dâng
đó
bằng
lời
cầu
nguyện
và
bằng
việc
lãnh
nhận
Bí
Tích
Thánh
Thể
11.
3*
5.
Linh
mục,
thừa
tác
viên
các
bí
tích
và
bí
tích
Thánh
Thể.
Thiên
Chúa
là
Ðấng
Thánh
Thiện
và
là
Ðấng
Thánh
Hóa
duy
nhất
đã
muốn
nhận
loài
người
làm
cộng
sự
viên
và
trợ
tá
để
họ
khiêm
tốn
giúp
vào
công
việc
thánh
hóa.
Vậy
qua
tay
Ðức
Giám
Mục,
các
Linh
Mục
được
Thiên
Chúa
hiến
thánh,
để
khi
đã
tham
dự
đặc
biệt
vào
chức
Linh
Mục
của
Chúa
Kitô,
thì
trong
lúc
cử
hành
các
việc
thánh,
các
ngài
hành
động
như
những
thừa
tác
viên
của
Người,
Ðấng
không
ngừng
thi
hành
Chức
Vụ
Linh
Mục
trong
Phụng
Vụ,
nhờ
Thánh
Thần
Người,
để
mưu
ích
cho
chúng
ta
12.
Thực
vậy,
nhờ
Phép
Rửa,
các
ngài
dẫn
đưa
người
ta
vào
Dân
Chúa;
nhờ
Bí
Tích
Cáo
Giải,
các
ngài
hòa
giải
tội
nhân
với
Thiên
Chúa
và
Giáo
Hội;
nhờ
dầu
bệnh
nhân,
các
ngài
xoa
dịu
người
đau
ốm;
nhất
là
nhờ
việc
cử
hành
Thánh
Lễ,
các
ngài
hiến
dâng
Hy
Tế
của
Chúa
Kitô
cách
bí
tích.
Như
Thánh
Ignatiô
Tử
Ðạo
đã
minh
chứng
ngay
từ
thời
Giáo
Hội
sơ
khai
13,
trong
khi
thi
hành
các
Bí
Tích,
các
Linh
Mục
liên
kết
trong
phẩm
trật
thánh
với
vị
Giám
Mục
vì
những
lý
do
khác
nhau;
và
như
thế
các
ngài
nói
lên
được
phần
nào
sự
có
mặt
của
Giám
Mục
trong
mỗi
cộng
đoàn
tín
hữu
14.
Tuy
nhiên,
cả
những
Bí
Tích
khác
cũng
như
các
thừa
tác
vụ
trong
Giáo
Hội
và
các
hoạt
động
tông
đồ
đều
gắn
liền
với
Bí
Tích
Thánh
Thể
và
qui
hướng
về
đó
15.
Thật
vậy,
Phép
Thánh
Thể
Chí
Thánh
chứa
đựng
tất
cả
của
cải
thiêng
liêng
của
Giáo
Hội
16,
đó
chính
là
Chúa
Kitô;
Người
là
mầu
nhiệm
Phục
Sinh
của
chúng
ta;
Người
là
Bánh
Hằng
Sống,
ban
sự
sống
cho
nhân
loại
bằng
chính
Thịt
của
Người,
Thịt
đã
được
sống
động
nhờ
Thánh
Thần
và
làm
cho
người
ta
được
sống.
Như
thế,
Người
mời
gọi
và
dẫn
đưa
con
người
hiến
dâng
chính
mình,
dâng
những
vất
vả
của
mình
và
mọi
tạo
vật
làm
một
với
Người.
Bởi
vậy,
Phép
Thánh
Thể
là
nguồn
mạch
và
tuyệt
đỉnh
của
toàn
thể
công
việc
rao
giảng
Phúc
Âm;
vì
các
người
dự
tòng
được
dẫn
đưa
dần
dần
đến
việc
tham
dự
Phép
Thánh
Thể;
còn
các
tín
hữu,
những
người
đã
mang
ấn
tín
Rửa
Tội
và
Thêm
Sức,
sẽ
được
kết
hợp
trọn
vẹn
với
Thân
Thể
Chúa
Kitô
nhờ
rước
Thánh
Thể.
Vì
thế,
Tiệc
Thánh
Thể
là
trung
tâm
tụ
họp
của
tín
hữu
mà
vị
Linh
Mục
là
người
chủ
sự.
Như
thế
Hiến
Tế
Thánh
Lễ,
các
Linh
Mục
dạy
tín
hữu
biết
dâng
lên
Chúa
Cha
lễ
vật
chí
thánh
và
hợp
cùng
của
lễ
đó
hiến
dâng
lễ
vật
cuộc
sống
mình.
Với
tinh
thần
của
Chúa
Kitô
Chủ
Chăn,
các
ngài
dạy
họ
hết
lòng
thống
hối
xưng
thú
tội
lỗi
mình
với
Giáo
Hội
qua
Bí
Tích
Cáo
Giải
để
càng
ngày
càng
quay
về
gần
Chúa
hơn
khi
nhớ
lại
lời
Người:
"Hãy
hối
cải
vì
Nước
Trời
đã
đến
gần"
(Mt
4,17).
Cũng
thế,
các
ngài
còn
dạy
họ
tham
dự
những
buổi
cử
hành
Phụng
Vụ
Thánh,
để
trong
các
nghi
lễ
đó
họ
biết
cầu
nguyện
chân
thành;
tùy
theo
ân
sủng
và
nhu
cầu
của
mỗi
người
các
ngài
hướng
dẫn
họ
thực
thi
tinh
thần
cầu
nguyện
mỗi
ngày
thêm
hoàn
hảo
trong
suốt
đời
sống;
các
ngài
khuyến
khích
mọi
người
chu
toàn
nhiệm
vụ
đấng
bậc
mình;
còn
đối
với
những
ai
hoàn
thiện
hơn,
các
ngài
khích
lệ
họ
biết
thực
thi
những
lời
khuyên
Phúc
Âm
hợp
với
mỗi
người.
Cũng
thế
các
ngài
dạy
tín
hữu
biết
dùng
thánh
thi
và
thánh
ca
mà
chúc
tụng
Thiên
Chúa
trong
lòng,
biết
nhân
danh
Chúa
Giêsu
Kitô,
Chúa
chúng
ta
mà
luôn
cảm
tạ
Thiên
Chúa
là
Cha
vì
mọi
ơn
lành
17.
Những
lời
ca
tụng
và
tạ
ơn
mà
các
Linh
Mục
dâng
lên,
trong
khi
cử
hành
Thánh
Lễ,
chính
các
ngài
còn
kéo
dài
suốt
ngày
trong
các
giờ
Kinh
Nhật
Tụng,
khi
ấy
các
ngài
nhân
danh
Giáo
Hội
khẩn
cầu
cùng
Thiên
Chúa
cho
toàn
dân
đã
được
trao
phó
cho
các
ngài
và
cầu
cho
cả
thế
giới
nữa.
Nhà
cầu
nguyện,
nơi
để
cử
hành
và
cất
giữ
Thánh
Thể
Chí
Thánh
cũng
như
để
tín
hữu
tụ
họp
và
gặp
được
sự
nâng
đỡ
ủi
an
trong
khi
tôn
sùng
sự
hiện
diện
của
Con
Thiên
Chúa,
Ðấng
Cứu
Chuộc
chúng
ta,
Ðấng
đã
được
hiến
dâng
vì
chúng
ta
trên
bàn
tế
lễ:
nhà
nầy
cần
phải
sạch
sẽ,
xứng
hợp
với
việc
cầu
nguyện
và
những
lễ
nghi
long
trọng
18.
Chính
nơi
đây,
chủ
chăn
và
tín
hữu
được
mời
đến,
để
với
lòng
biết
ơn,
họ
đáp
lại
ân
huệ
của
Ðấng
đã
dùng
Nhân
Tính
mà
không
ngừng
đổ
tràn
sự
sống
siêu
nhiên
vào
các
chi
thể
của
Thân
Thể
Người
19.
Các
Linh
Mục
phải
chăm
lo
trau
dồi
kiến
thức
và
nghệ
thuật
phụng
vụ,
để
nhờ
việc
các
ngài
thi
hành
phụng
vụ
mà
cộng
đoàn
Kitô
hữu
được
trao
phó
cho
các
ngài
biết
ca
ngợi
Thiên
Chúa
là
Cha
và
Con
và
Thánh
Thần
mỗi
ngày
một
hoàn
hảo
hơn.
4*
6.
Linh
mục,
thầy
dạy
của
Dân
Chúa.
Thi
hành
chức
vụ
của
Chúa
Kitô
là
Ðầu
và
là
Chủ
Chăn
theo
phận
vụ
mình,
các
Linh
Mục
nhân
danh
Giám
Mục,
tụ
họp
gia
đình
Thiên
Chúa
như
một
cộng
đoàn
huynh
đệ
duy
nhất,
và
nhờ
Chúa
Kitô
trong
Chúa
Thánh
Thần
các
ngài
dẫn
đưa
họ
đến
cùng
Chúa
Cha
20.
Ðể
thi
hành
thừa
tác
vụ
này
cũng
như
các
chức
vụ
khác,
các
Linh
Mục
được
trao
ban
quyền
thiêng
liêng
để
kiến
thiết
Giáo
Hội
21.
Trong
việc
kiến
thiết
này,
các
Linh
Mục
phải
theo
gương
Chúa
mà
đối
xử
rất
nhân
đạo
với
hết
mọi
người.
Tuy
nhiên,
khi
dạy
dỗ
và
khuyên
bảo
họ
như
những
người
con
rất
yêu
qúy
22,
các
ngài
phải
đối
xử
với
họ
không
phải
theo
sở
thích
loài
người
23,
nhưng
theo
giáo
thuyết
và
đời
sống
Kitô
giáo
đòi
hỏi,
như
lời
Thánh
Tông
Ðồ:
"Hãy
nhấn
mạnh
khi
thuận
tiện
cũng
như
khi
bất
tiện,
hãy
khiển
trách,
đe
dọa,
khuyến
khích,
với
tất
cả
lòng
nhẫn
nại
và
chủ
tâm
dạy
dỗ"
(2Tm
4,2)
24.
Vì
thế,
với
tư
cách
là
những
người
huấn
luyện
đức
tin,
các
Linh
Mục
có
nhiệm
vụ,
hoặc
đích
thân
hoặc
nhờ
người
khác,
lo
cho
mỗi
tín
hữu
được
hướng
dẫn
trong
Chúa
Thánh
Thần
để
vun
trồng
ơn
gọi
riêng
của
mình
theo
Phúc
Âm,
để
có
một
đức
ái
chân
thành
và
linh
hoạt,
để
được
sự
tự
do
mà
Chúa
Kitô
đã
dùng
để
giải
thoát
chúng
ta
25.
Những
nghi
lễ
dù
đẹp
mắt,
những
hội
đoàn
dù
phát
triển
rầm
rộ
cũng
không
có
ích
bao
nhiêu,
nếu
chúng
không
hướng
về
việc
giáo
dục
con
người
đạt
tới
sự
trưởng
thành
Kitô
giáo
26.
Ðể
đạt
đến
sự
trưởng
thành
đó,
các
Linh
Mục
phải
giúp
họ
sáng
suốt
nhận
ra
chính
các
biến
cố
lớn
nhỏ,
đâu
là
việc
phải
làm,
đâu
là
ý
Chúa
muốn.
Các
ngài
cũng
phải
dạy
các
Kitô
hữu
để
họ
không
chỉ
sống
riêng
cho
mình,
nhưng
theo
những
đòi
hỏi
của
luật
bác
ái
mới,
mỗi
người
phải
tùy
ơn
nhận
được
mà
phục
vụ
lẫn
nhau
27;
và
như
vậy,
mọi
người
chu
toàn
nhiệm
vụ
của
mình
theo
tinh
thần
Kitô
giáo
trong
cộng
đoàn
nhân
loại.
Tuy
mắc
nợ
với
hết
mọi
người,
nhưng
các
Linh
Mục
phải
đặc
biệt
săn
sóc
những
người
nghèo
khổ
và
yếu
đuối
được
trao
phó
cho
mình:
vì
chính
Chúa
đã
tỏ
ra
là
bạn
hữu
với
họ
28
và
coi
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
họ
là
dấu
hiệu
cho
công
cuộc
cứu
thế
29.
Các
Linh
Mục
cũng
phải
đặc
biệt
tận
tâm
theo
dõi
các
thanh
thiếu
niên,
ngay
cả
những
người
đã
có
đôi
bạn
và
những
bậc
phụ
huynh,
để
ước
gì
họ
họp
thành
những
nhóm
bạn
hữu
biết
giúp
đỡ
nhau
sống
đời
Kitô
giáo
một
cách
dễ
dàng
và
đầy
đủ
hơn
trong
cuộc
sống
đầy
khó
khăn.
Các
Linh
Mục
cũng
đừng
quên
các
tu
sĩ
nam
nữ,
vì
họ
là
thành
phần
ưu
tú
trong
nhà
Chúa,
họ
đáng
được
coi
sóc
đặc
biệt
để
được
tấn
tới
trong
đàng
thiêng
liêng
hầu
giúp
ích
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Sau
hết,
các
ngài
phải
hết
sức
ân
cần
chăm
sóc
những
người
yếu
đau
và
hấp
hối
bằng
cách
thăm
viếng
và
an
ủi
họ
trong
Chúa
30.
Vì
thế,
nhiệm
vụ
của
Chủ
Chăn
không
phải
chỉ
thu
hẹp
trong
việc
coi
sóc
từng
cá
nhân
tín
hữu,
nhưng
còn
lan
rộng
tới
việc
huấn
luyện
một
cộng
đoàn
Kitô
hữu
đích
thực.
Muốn
thế,
tinh
thần
cộng
đoàn
đích
thực
này
phải
bao
gồm
không
những
Giáo
Hội
địa
phương
mà
cả
Giáo
Hội
phổ
quát
nữa.
Vì
thế,
cộng
đoàn
địa
phương
không
những
phải
lưu
tâm
đến
việc
chăm
sóc
các
tín
hữu
của
mình,
nhưng
một
khi
đã
thấm
nhuần
nhiệt
tâm
truyền
giáo
còn
phải
dọn
đường
cho
mọi
người
đến
với
Chúa
Kitô.
Tuy
nhiên,
cộng
đoàn
đặc
biệt
chú
trọng
đến
các
dự
tòng
và
các
tân
tòng,
họ
phải
được
giáo
dục
dần
dần
để
hiểu
biết
và
sống
đời
Kitô
hữu.
Không
một
cộng
đoàn
Kitô
hữu
nào
được
thiết
lập
mà
không
đặt
nền
tảng
và
trọng
tâm
vào
việc
cử
hành
Phép
Thánh
Thể
Chí
Thánh:
cho
nên
mọi
nền
giáo
dục
về
tinh
thần
cộng
đoàn
phải
bắt
đầu
từ
đó
31.
Nhưng
việc
cử
hành
này
muốn
được
chân
thành
đầy
đủ,
thì
một
đàng
phải
đưa
đến
những
việc
bác
ái
và
tương
trợ
lẫn
nhau,
đàng
khác
phải
dẫn
tới
các
hoạt
động
truyền
giáo,
và
cả
những
hình
thức
minh
chứng
Kitô
giáo
nữa.
Ngoài
ra,
nhờ
bác
ái,
kinh
nguyện,
gương
lành
và
những
việc
sám
hối,
cộng
đoàn
Giáo
Hội
thực
thi
tình
mẫu
tử
chân
thực
đối
với
những
linh
hồn
phải
được
đưa
về
với
Chúa
Kitô.
Thực
thế,
cộng
đoàn
Giáo
Hội
hợp
thành
một
khí
cụ
hữu
hiệu
để
chỉ
dẫn
hoặc
mở
đường
cho
những
kẻ
chưa
tìm
đến
cùng
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
Người,
cũng
như
để
khích
lệ,
dưỡng
nuôi
và
củng
cố
các
tín
hữu
trên
đường
chiến
đấu
thiêng
liêng.
Trong
việc
kiến
thiết
cộng
đoàn
Kitô
hữu,
các
Linh
Mục
không
bao
giờ
phục
vụ
cho
một
chủ
thuyết
hay
một
đảng
phái
nhân
loại
nào,
nhưng
vì
là
những
vị
rao
giảng
Phúc
Âm
và
là
chủ
chăn
của
Giáo
Hội,
các
ngài
lo
lắng
theo
đuổi
việc
phát
triển
thiêng
liêng
của
Thân
Thể
Chúa
Kitô.
5*
II.
Liên
Lạc
Giữa
Linh
Mục
Với
Những
Người
Khác
7.
Tương
quan
giữa
Giám
Mục
và
Linh
Mục.
Tất
cả
các
Linh
Mục,
hiệp
nhất
với
các
Giám
Mục,
đều
tham
dự
cùng
một
chức
Linh
Mục
và
thừa
tác
vụ
duy
nhất
của
Chúa
Kitô;
cho
nên,
chính
tính
cách
duy
nhất
của
việc
tấn
phong
và
sứ
mệnh
đòi
phải
có
sự
hiệp
thông
phẩm
trật
giữa
các
ngài
và
hàng
Giám
Mục
32;
đôi
khi
mối
hiệp
thông
đó
được
biểu
hiện
một
cách
rất
cao
đẹp
trong
việc
cùng
cử
hành
phụng
vụ,
và
một
cách
minh
nhiên
trong
khi
cử
hành
Tiệc
Thánh
Thể
33.
Do
đó,
vì
ơn
Chúa
Thánh
Thần
ban
cho
các
Linh
Mục
khi
lãnh
nhận
Chức
Thánh,
các
Giám
Mục
phải
coi
các
ngài
như
những
trợ
tá
và
cố
vấn
cần
thiết
trong
thừa
tác
vụ,
cũng
như
trong
chức
vụ
dạy
dỗ,
thánh
hóa
và
chăn
dắt
dân
Chúa
34.
Ngay
từ
thời
xa
xưa
của
Giáo
Hội,
các
văn
kiện
phụng
vụ
đã
mạnh
dạn
công
bố
điều
đó
khi
long
trọng
cầu
xin
Chúa
ban
cho
Linh
Mục
sắp
thụ
phong
"tinh
thần
ân
sủng
và
khôn
ngoan,
để
ngài
giúp
đỡ
và
điều
khiển
dân
chúng
với
một
tâm
hồn
trong
sạch"
35;
cũng
như
xưa
trong
sa
mạc,
tinh
thần
của
Môisen
đã
lan
truyền
sang
tâm
trí
của
bảy
mươi
người
khôn
ngoan
36
"để
dùng
họ
như
những
trợ
tá,
ông
dễ
dàng
cai
trị
đám
quần
chúng
đông
đúc
trong
dân"
37.
Chính
vì
sự
hiệp
thông
trong
cùng
một
chức
Linh
Mục
và
thừa
tác
vụ,
các
Giám
Mục
phải
coi
các
Linh
Mục
như
anh
em
và
bạn
hữu
38,
và
hết
sức
lo
lắng
đến
phần
ích
vật
chất
và
nhất
là
thiêng
liêng
của
các
ngài.
Thực
vậy,
trước
hết
các
ngài
gánh
lấy
trọng
trách
thánh
hóa
các
Linh
Mục
của
mình
39:
do
đó
các
ngài
phải
hết
sức
chú
tâm
đến
việc
đào
luyện
liên
tục
các
Linh
Mục
của
mình
40.
Các
Giám
Mục
phải
sẵn
sàng
lắng
nghe,
hơn
nữa
phải
hỏi
han
và
đối
thoại
với
các
Linh
Mục
về
những
vấn
đề
cần
thiết
cho
công
việc
mục
vụ
và
ích
lợi
cho
giáo
phận.
Nhưng
để
thực
hiện
điều
đó,
phải
tùy
theo
phương
thức
thích
hợp
với
những
hoàn
cảnh
và
nhu
cầu
ngày
nay
41,
tùy
hình
thức
và
tiêu
chuẩn
do
quy
luật
ấn
định,
mà
thành
lập
một
hội
đồng
hay
một
nguyên
lão
viện
các
Linh
Mục
42,
đại
diện
cho
Linh
Mục
Ðoàn,
để
có
thể
góp
ý
kiến
giúp
đỡ
Giám
Mục
một
cách
hữu
hiệu
hơn
trong
việc
quản
trị
địa
phận.
Phần
các
Linh
Mục,
nên
nhớ
rằng:
các
Giám
Mục
lãnh
nhận
sung
mãn
Bí
Tích
Truyền
Chức
Thánh,
nên
phải
tôn
trọng
nơi
các
Ngài
quyền
bính
của
Chúa
Kitô,
Chủ
Chăn
tối
cao.
Vậy
các
Linh
Mục
phải
kết
hiệp
với
Giám
Mục
bằng
tình
thương
yêu
chân
thành
và
lòng
vâng
phục
43.
Ðược
thấm
nhuần
tinh
thần
cộng
tác,
đức
vâng
phục
của
Linh
Mục,
đặt
nền
tảng
trên
chính
việc
tham
dự
vào
thừa
tác
vụ
của
Giám
Mục,
mà
các
Linh
Mục
đã
lãnh
nhận
khi
chịu
Bí
Tích
Truyền
Chức
Thánh
và
bài
sai
do
Ðức
Giám
Mục
trao
44.
Ngày
nay,
sự
hiệp
nhất
giữa
các
Linh
Mục
và
các
Giám
Mục
lại
càng
khẩn
thiết
hơn,
vì
trong
thời
đại
chúng
ta,
bởi
nhiều
lý
do,
các
công
cuộc
tông
đồ
không
những
cần
phải
mang
rất
nhiều
hình
thức
khác
nhau,
nhưng
thật
ra
còn
cần
phải
vượt
khỏi
giới
hạn
giáo
xứ
hay
giáo
phận.
Vậy,
không
một
Linh
Mục
nào
có
thể
chu
toàn
đầy
đủ
sứ
mệnh
của
mình
một
cách
lẻ
loi
và
hầu
như
riêng
rẽ,
nhưng
phải
hợp
với
các
Linh
Mục
khác,
dưới
sự
điều
khiển
của
các
vị
lãnh
đạo
trong
Giáo
Hội.
6*
8.
Hiệp
nhất
và
cộng
tác
huynh
đệ
giữa
các
Linh
Mục.
Khi
gia
nhập
hàng
Linh
Mục
nhờ
Bí
Tích
Truyền
Chức
Thánh,
tất
cả
các
Linh
Mục
liên
kết
với
nhau
bằng
một
tình
huynh
đệ
do
bí
tích;
nhưng
đặc
biệt
trong
một
giáo
phận,
khi
được
chỉ
định
phục
vụ
dưới
quyền
Giám
Mục
của
mình,
các
ngài
hợp
thành
một
Linh
Mục
Ðoàn
duy
nhất.
Thực
vậy,
tuy
giữ
những
chức
vụ
khác
nhau,
nhưng
các
ngài
vẫn
thi
hành
một
thừa
tác
vụ
Linh
Mục
duy
nhất
cho
loài
người.
Thật
thế,
tất
cả
các
Linh
Mục
đều
được
sai
đi
để
cùng
cộng
tác
vào
một
công
việc:
hoặc
thi
hành
thừa
tác
vụ
ở
giáo
xứ
hay
liên
xứ,
hoặc
giúp
vào
công
cuộc
nghiên
cứu
khoa
học
hay
dạy
học,
hoặc
làm
việc
chân
tay
khi
được
Giáo
Quyền
hữu
trách
chấp
nhận
và
được
coi
là
có
lợi
ích
để
chia
xẻ
số
phận
của
chính
các
công
nhân,
hoặc
sau
hết,
chu
toàn
những
công
việc
tông
đồ
khác,
hay
những
việc
chuẩn
bị
cho
công
cuộc
tông
đồ.
Nhưng
tất
cả
các
Linh
Mục
đều
phải
hướng
về
mục
đích
duy
nhất
này
là
xây
dựng
Thân
Thể
Chúa
Kitô;
việc
này
đòi
hỏi
rất
nhiều
phận
vụ
khác
nhau
cũng
như
nhiều
thích
nghi
mới
mẻ,
nhất
là
trong
thời
đại
chúng
ta.
Bởi
thế,
điều
rất
quan
trọng
là
tất
cả
các
Linh
Mục,
triều
cũng
như
dòng,
phải
giúp
đỡ
nhau,
để
luôn
luôn
là
những
cộng
tác
viên
của
chân
lý
45.
Vì
vậy,
mỗi
vị
liên
kết
với
những
thành
phần
khác
nhau
của
Linh
Mục
Ðoàn
bằng
những
mối
dây
đặc
biệt
của
tình
bác
ái
tông
đồ,
của
thừa
tác
vụ
và
tình
huynh
đệ:
điều
này
đã
được
biểu
hiện
trong
phụng
vụ,
ngay
từ
thời
xa
xưa,
khi
các
Linh
Mục
hiện
diện
được
mời
cùng
với
Giám
Mục
chủ
phong
đặt
tay
trên
vị
tiến
chức,
và
khi
các
ngài
đồng
tâm
cùng
cử
hành
Bí
Tích
Thánh
Thể.
Vậy,
mỗi
Linh
Mục
hiệp
nhất
với
các
anh
em
Linh
Mục
khác
bằng
mối
dây
bác
ái,
cầu
nguyện
và
cộng
tác
dưới
mọi
hình
thức,
và
như
thế,
thể
hiện
được
sự
hiệp
nhất
mà
Chúa
Kitô
muốn
cho
các
môn
đệ
Người
kết
hợp
nên
một,
để
thế
gian
nhận
biết
Chúa
Con
đã
được
Chúa
Cha
sai
46.
Bởi
vậy,
những
Linh
Mục
lớn
tuổi
hãy
thực
sự
đón
nhận
các
Linh
Mục
trẻ
như
những
người
em
và
hãy
giúp
đỡ
họ
trong
những
công
tác
cũng
như
những
gánh
nặng
đầu
tiên
của
thừa
tác
vụ;
hơn
nữa,
các
ngài
nên
cố
gắng
tìm
hiểu
tâm
trạng
của
họ,
dù
khác
với
tâm
trạng
mình,
và
theo
dõi
các
công
việc
của
họ
với
lòng
nhân
hậu.
Cũng
thế,
các
Linh
Mục
trẻ
phải
kính
trọng
tuổi
tác
và
kinh
nghiệm
của
các
vị
lớn
tuổi
cũng
như
phải
bàn
hỏi
với
các
ngài
về
những
vấn
đề
liên
quan
đến
việc
coi
sóc
các
linh
hồn
và
sẵn
lòng
cộng
tác
với
các
ngài.
Trong
tình
thần
huynh
đệ
đó,
các
Linh
Mục
đừng
quên
lòng
hiếu
khách
47,
phải
lo
làm
việc
thiện
và
san
sẻ
của
cải
48,
nhất
là
phải
chú
tâm
đến
những
vị
đau
yếu,
phiền
muộn,
lao
lực,
cô
đơn,
bị
đày
ải
và
ngay
cả
những
vị
bị
bách
hại
49.
Các
ngài
cũng
hãy
sẵn
lòng
và
vui
vẻ
họp
nhau
để
tỉnh
dưỡng
tâm
hồn,
vì
nhớ
lại
những
lời
mà
chính
Chúa
đã
mời
gọi
các
Tông
Ðồ
mệt
mỏi:
"Các
con
hãy
đến
nơi
thanh
vắng
và
nghỉ
ngơi
một
chút"
(Mc
6,31).
Ngoài
ra,
để
giúp
nhau
vun
trồng
đời
sống
thiêng
liêng
và
tri
thức,
để
có
thể
cộng
tác
với
nhau
đắc
lực
hơn
trong
thừa
tác
vụ,
và
để
tránh
những
nguy
hiểm
có
thể
xẩy
ra
do
sự
cô
đơn,
các
Linh
Mục
phải
cổ
võ
một
đời
sống
chung,
hoặc
một
lối
sống
cộng
đoàn
nào
đó.
Việc
này
có
thể
thực
hiện
theo
nhiều
hình
thức
khác
nhau
tùy
những
nhu
cầu
khác
biệt
thuộc
cá
nhân
hay
mục
vụ:
như
ở
chung
nơi
nào
có
thể
hoặc
ăn
chung,
hoặc
ít
là
có
những
cuộc
họp
mặt
thường
xuyên
và
định
kỳ.
Cũng
nên
thành
lập
và
nhiệt
liệt
khuyến
khích
các
hội
Linh
Mục
mà
nội
quy
đã
được
giáo
quyền
hữu
trách
chuẩn
nhận,
những
hội
này
cổ
võ
các
Linh
Mục
nên
thánh
trong
khi
thi
hành
thừa
tác
vụ
bằng
cách
tổ
chức
một
đời
sống
thích
hợp
đã
cùng
nhau
chấp
nhận
và
bằng
sự
tương
trợ
huynh
đệ;
như
vậy
những
hội
đó
hướng
về
việc
phục
vụ
toàn
thể
hàng
Linh
Mục.
Sau
hết,
vì
liên
kết
với
nhau
trong
chức
Linh
Mục
như
thế,
nên
các
ngài
phải
biết
rằng
mình
đặc
biệt
có
trách
nhiệm
đối
với
những
vị
đang
gặp
những
hoàn
cảnh
khó
khăn;
các
ngài
phải
kịp
thời
giúp
đỡ,
và
nếu
cần
phải
khuyên
bảo
một
cách
tế
nhị.
Ðối
với
những
vị
khiếm
khuyết
về
một
vài
vấn
đề
nào
đó,
các
ngài
phải
luôn
lấy
tình
bác
ái
huynh
đệ
và
quảng
đại
mà
đối
xử,
lại
phải
cầu
nguyện
rất
nhiều
với
Chúa
cho
các
vị
đó,
và
phải
luôn
tỏ
ra
mình
là
anh
em
và
bạn
hữu
đích
thực
của
họ
7*.
9.
Tương
quan
giữa
Linh
Muụ
và
giáo
dân.
Các
Linh
Mục
Tân
Ước,
tuy
bởi
Bí
Tích
Truyền
Chức
Thánh,
thi
hành
nhiệm
vụ
rất
cao
cả
và
cần
thiết
là
làm
Cha
và
làm
Thầy
trong
Dân
Chúa
và
cho
Dân
Chúa,
nhưng
đồng
thời
cùng
với
mọi
Kitô
hữu,
các
ngài
cũng
là
môn
đệ
Chúa
Kitô,
được
dự
phần
trong
Nước
Chúa
nhờ
ơn
gọi
của
Người
50.
Thật
vậy,
cùng
với
tất
cả
những
ai
được
tái
sinh
trong
suối
nước
Rửa
Tội,
các
Linh
Mục
là
những
anh
em
giữa
các
anh
em
51,
như
chi
thể
của
cùng
một
Thân
Thể
duy
nhất
của
Chúa
Kitô
mà
mọi
người
có
nhiệm
vụ
xây
dựng
52.
Như
vậy
các
Linh
Mục
phải
lãnh
đạo
làm
sao
để
không
tìm
tư
lợi,
nhưng
tìm
lợi
ích
cho
Chúa
Giêsu
Kitô
53;
các
ngài
hợp
tác
với
giáo
dân
và
sống
giữa
môi
trường
của
họ
theo
gương
Thầy,
Ðấng
đến
ở
giữa
mọi
người
"không
để
được
phục
vụ,
nhưng
để
phục
vụ
và
hiến
mạng
sống
mình
thay
cho
nhiều
người"
(Mt
20,28).
Các
Linh
Mục
phải
thành
thật
nhìn
nhận
và
khích
lệ
phẩm
giá
và
vai
trò
riêng
của
giáo
dân
trong
sứ
mệnh
Giáo
Hội.
Các
ngài
cũng
phải
thành
thật
kính
trọng
sự
tự
do
chân
chính
mà
mọi
người
có
quyền
được
hưởng
trong
xã
hội
trần
gian.
Các
ngài
phải
sẵn
lòng
lắng
nghe
giáo
dân,
cứu
xét
các
nguyện
vọng
của
họ
trong
tinh
thần
huynh
đệ,
nhìn
nhận
kinh
nghiệm
và
khả
năng
chuyên
môn
của
họ
trong
các
lãnh
vực
khác
nhau
của
hoạt
động
nhân
sinh,
để
cùng
với
họ
có
thể
nhận
biết
những
dấu
chỉ
của
thời
đại.
Trong
khi
nghiệm
xem
các
tinh
thần
có
phải
từ
Thiên
Chúa
đến
hay
không
54,
các
ngài
phải
lấy
tinh
thần
đức
tin
mà
khám
phá,
vui
mừng
mà
nhận
biết,
và
chuyên
cần
phát
triển
những
đặc
sủng
muôn
hình
của
giáo
dân,
từ
đặc
sủng
nhỏ
bé
nhất
đến
đặc
sủng
cao
cả
nhất.
Trong
những
đặc
ân
mà
Thiên
Chúa
ban
tràn
đầy
trên
các
tín
hữu,
phải
đặc
biệt
lưu
tâm
đến
ơn
lôi
kéo
một
số
giáo
dân
tiến
xa
hơn
trên
đường
thiêng
liêng.
Cũng
thế,
các
ngài
phải
tin
tưởng
trao
phó
nhiệm
vụ
cho
các
giáo
dân
trong
việc
phục
vụ
Giáo
Hội,
để
cho
họ
được
tự
do
và
có
lãnh
vực
hoạt
động,
hơn
nữa
lúc
thuận
tiện,
phải
khuyến
khích
họ
tự
ý
đảm
trách
công
việc
55.
Sau
cùng,
các
Linh
Mục
được
đặt
giữa
giáo
dân
để
dẫn
đưa
mọi
người
về
hiệp
nhất
trong
đức
ái,
hãy
"thương
yêu
nhau
với
tình
bác
ái
huynh
đệ,
thi
đua
tôn
trọng
lẫn
nhau"
(Rm
12,10).
Vậy
các
ngài
phải
tìm
cách
hòa
hợp
các
tâm
trạng
khác
nhau,
để
không
ai
cảm
thấy
mình
xa
lạ
trong
cộng
đoàn
tín
hữu.
Các
ngài
là
những
người
bênh
vực
ích
chung
mà
các
ngài
coi
sóc
nhân
danh
Giám
Mục,
và
đồng
thời
là
những
người
can
đảm
bảo
vệ
chân
lý
để
các
tín
hữu
không
bị
lôi
cuốn
bởi
bất
cứ
luồng
lý
thuyết
nào
56.
Các
ngài
phải
đặc
biệt
lo
lắng
đến
những
kẻ
đã
xao
lãng
việc
lãnh
nhận
các
bí
tích,
và
những
kẻ
có
lẽ
đã
mất
đức
tin;
như
những
người
chăn
chiên
nhân
lành
các
ngài
đừng
quên
lui
tới
thăm
nom
họ.
Các
ngài
phải
lưu
tâm
đến
những
nguyên
tắc
về
sự
hiệp
nhất
57
để
đừng
quên
những
anh
em
không
được
cùng
chúng
ta
thông
hiệp
trọn
vẹn
với
Giáo
Hội.
Sau
hết,
các
ngài
phải
đặc
biệt
coi
sóc
tất
cả
những
người
chưa
nhận
biết
Chúa
Kitô
là
Ðấng
Cứu
Chuộc
mình.
Nhưng
chính
các
Kitô
hữu
phải
ý
thức
rằng
mình
có
trách
nhiệm
đối
với
các
Linh
Mục
của
mình,
và
phải
lấy
lòng
thảo
hiếu
mà
đối
xử
với
các
ngài
như
những
chủ
chăn
và
như
là
cha
mình
vậy;
cũng
thế,
họ
phải
chia
xẻ
những
nỗi
lo
âu
của
các
ngài,
giúp
đỡ
các
ngài
bằng
lời
cầu
nguyện
và
bằng
việc
làm
càng
nhiều
càng
hay,
để
các
ngài
có
thể
thắng
vượt
những
khó
khăn
một
cách
dễ
dàng
hơn,
và
chu
toàn
trách
vụ
của
mình
một
cách
hữu
hiệu
hơn
58.
8*
III.
Phân
Phối
Linh
Mục
Và
Ơn
Kêu
Gọi
Linh
Mục
10.
Phân
phối
Linh
Mục
để
lo
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Ân
huệ
thiêng
liêng
mà
các
Linh
Mục
đã
nhận
lãnh
trong
khi
chịu
chức,
chuẩn
bị
cho
các
ngài
không
phải
cho
một
sứ
mệnh
giới
hạn
và
thu
hẹp
nào
đó,
nhưng
cho
một
sứ
mệnh
cứu
rỗi
rất
rộng
lớn
và
bao
quát
"đến
tận
cùng
trái
đất"
(CvTđ
1,8),
vì
bất
cứ
thừa
tác
vụ
linh
mục
nào
cũng
tham
gia
vào
sứ
mệnh
rộng
lớn
và
bao
quát
mà
Chúa
Kitô
đã
trao
phó
cho
các
Tông
Ðồ.
Thực
vậy,
chức
Linh
Mục
của
Chúa
Kitô
mà
các
Linh
Mục
được
tham
dự,
cần
phải
hướng
về
mọi
dân
nước
và
mọi
thời
đại,
không
bị
hạn
chế
bởi
một
ranh
giới,
một
dân
tộc
hay
một
thời
đại
nào,
như
đã
được
tiêu
biểu
cách
huyền
nhiệm
trong
hình
ảnh
Melchiseđê
59.
Do
đó
các
Linh
Mục
phải
để
tâm
lo
lắng
cho
tất
cả
các
giáo
hội.
Bởi
thế
các
Linh
Mục
thuộc
các
giáo
phận
giàu
ơn
gọi
hơn,
khi
được
Ðấng
Bản
Quyền
cho
phép
hoặc
khích
lệ,
hãy
hăm
hở
tỏ
ra
sẵn
sàng
thi
hành
thừa
tác
vụ
mình
trong
các
địa
hạt,
trong
các
xứ
truyền
giáo,
hay
trong
những
hoạt
động
bị
sa
sút
vì
thiếu
Linh
Mục.
Ngoài
ra,
những
tiêu
chuẩn
về
việc
xuất
nhập
giáo
phận
phải
được
duyệt
lại
thế
nào
để,
dầu
phải
duy
trì
quy
chế
đã
có
từ
lâu
đời,
nhưng
vẫn
đáp
ứng
được
với
những
nhu
cầu
mục
vụ
ngày
nay
một
cách
tốt
đẹp
hơn.
Vậy
nơi
nào
hoàn
cảnh
tông
đồ
đòi
hỏi,
thì
cần
phải
dễ
dãi
hơn
trong
việc
phân
phối
các
Linh
Mục
một
cách
thích
hợp,
cũng
như
trong
những
công
việc
mục
vụ
chuyên
biệt
dành
cho
những
môi
trường
xã
hội
khác
nhau
để
những
công
việc
đó
được
hoàn
thành
trong
một
miền,
một
quốc
gia,
hoặc
trong
bất
cứ
phần
đất
nào
trên
thế
giới.
Vậy
để
đạt
mục
đích
đó,
điều
hữu
ích
là
có
thể
thiết
lập
những
chủng
viện
quốc
tế,
những
giáo
phận
đặc
biệt,
hoặc
những
tổ
chức
tương
tự
khác,
trong
đó
các
Linh
Mục
có
thể
được
bổ
dụng
hoặc
gia
nhập
để
mưu
cầu
công
ích
cho
toàn
thể
Giáo
Hội,
tùy
theo
những
cách
thức
được
ấn
định
cho
từng
tổ
chức
và
bao
giờ
cũng
tôn
trọng
quyền
lợi
các
Ðấng
Bản
Quyền
địa
phương.
Nhưng
khi
gửi
các
Linh
Mục
đến
một
địa
hạt
mới,
nhất
là
khi
các
ngài
chưa
biết
rõ
ngôn
ngữ
và
phong
tục
của
địa
hạt
đó,
thì
hãy
hết
sức
lo
liệu
làm
sao
để
đừng
sai
họ
đi
từng
người
một,
nhưng
theo
gương
các
môn
đệ
của
Chúa
Kitô
60,
hãy
cho
đi
ít
là
từng
hai
hay
ba
người,
để
nhờ
đó
họ
có
thể
giúp
đỡ
lẫn
nhau.
Cũng
phải
để
tâm
chăm
sóc
đời
sống
thiêng
liêng,
sức
khỏe
tinh
thần
và
thể
xác
của
các
ngài;
và
nếu
có
thể,
chuẩn
bị
cho
các
ngài
nơi
ở
và
những
điều
kiện
để
làm
việc
tùy
hoàn
cảnh
cá
biệt
của
mỗi
người.
Cũng
phải
tiên
liệu
hết
sức
cho
những
vị
đi
đến
một
dân
tộc
mới,
chẳng
những
học
biết
đầy
đủ
ngôn
ngữ
của
miền
này
và
hơn
nữa
những
đặc
tính
tâm
lý
và
xã
hội
của
dân
tộc
mà
các
ngài
muốn
khiêm
tốn
phục
vụ,
để
dễ
dàng
cảm
thông
được
với
họ,
theo
gương
Thánh
Phaolô
Tông
Ðồ,
Ðấng
đã
có
thể
nói
về
mình:
"Thật
vậy,
mặc
dầu
tôi
tự
do
đối
với
mọi
người,
nhưng
tôi
phục
vụ
hết
thảy
hầu
làm
ích
cho
nhiều
người.
Và
với
người
Do
Thái,
tôi
trở
nên
như
Do
Thái,
cốt
sinh
lợi
cho
Do
Thái..."
(1Cor
9,19-20).
9*
11.
Quan
tâm
đến
các
ơn
kêu
gọi
làm
Linh
Mục.
Chúa
Giêsu,
vị
Chủ
Chăn
và
Giám
Mục
của
linh
hồn
chúng
ta
61,
khi
thiết
lập
Giáo
Hội
Người,
đã
muốn
Dân
mà
Người
đã
chọn
lựa
và
chuộc
lại
bằng
máu
mình
62,
phải
luôn
luôn
có
các
Linh
Mục
cho
đến
tận
thế,
để
các
Kitô
hữu
không
bao
giờ
giống
như
những
con
chiên
không
có
người
chăn
63.
Hiểu
biết
ý
muốn
của
Chúa
Kitô
như
thế
và
được
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy,
các
Tông
Ðồ
đã
nhận
thấy
mình
có
nhiệm
vụ
chọn
những
thừa
tác
viên
"có
đủ
khả
năng
mà
dạy
lại
cho
người
khác"
(2Tm
2,2).
Chắc
chắn
nhiệm
vụ
đó
thuộc
về
chính
sứ
mệnh
Linh
Mục,
cho
nên
Linh
Mục
phải
chia
xẻ
nỗi
lo
lắng
của
toàn
thể
Giáo
Hội,
để
Dân
Chúa
ở
trần
gian
không
bao
giờ
thiếu
người
làm
việc.
Nhưng
vì
"thuyền
trưởng
và
những
khách
đi
tàu...
cùng
chung
một
số
phận"
64,
nên
toàn
dân
Kitô
giáo
phải
được
dạy
dỗ
để
biết
mình
có
nhiệm
vụ
phải
cộng
tác
bằng
nhiều
cách
khác
nhau:
bằng
lời
cầu
nguyện
tha
thiết
cũng
như
bằng
những
phương
thế
khác
mà
họ
sẵn
có
65
ngõ
hầu
Giáo
Hội
lúc
nào
cũng
có
những
Linh
Mục
cần
thiết
để
chu
toàn
sứ
mệnh
Chúa
trao
phó.
Vậy
trước
hết
các
Linh
Mục
phải
hết
sức
để
tâm
trình
bày
cho
các
tín
hữu
sự
cao
quý
và
cần
thiết
của
chức
Linh
Mục;
các
ngài
có
thể
làm
cho
họ
hiểu
điều
ấy
bằng
lời
giảng
dạy
và
bằng
chứng
tá
đời
sống,
một
đời
sống
bộc
lộ
rõ
ràng
tinh
thần
phục
vụ
và
niềm
vui
phục
sinh
đích
thực;
và
sau
khi
thận
trọng
phán
đoán
những
ai
hoặc
còn
trẻ
hoặc
đã
trưởng
thành,
có
đủ
tư
cách
thi
hành
chức
vụ
cao
cả
này,
các
ngài
đừng
quản
ngại
lo
lắng
và
khó
khăn
mà
giúp
họ
dọn
mình
xứng
đáng,
cho
đến
một
ngày
kia,
các
Giám
Mục
có
thể
gọi
họ
mà
họ
vẫn
hoàn
toàn
tự
do
cả
bên
trong
lẫn
bên
ngoài.
Ðể
đạt
tới
mục
đích
đó,
phải
chuyên
cần
và
khôn
ngoan
hướng
dẫn
về
mặt
thiêng
liêng,
vì
đó
là
một
điều
ích
lợi
hơn
cả.
Các
phụ
huynh,
giáo
chức
và
tất
cả
những
ai
tham
gia
một
cách
nào
đó
vào
việc
giáo
dục
thiếu
nhi
và
thanh
thiếu
niên,
phải
dạy
chúng
làm
sao
để
một
khi
đã
nhận
biết
mối
bận
tâm
của
Chúa
đối
với
đoàn
chiên
Người,
cũng
như
khi
nhìn
đến
những
nhu
cầu
của
Giáo
Hội,
họ
sẵn
sàng
quảng
đại
đáp
lại
lời
Chúa
gọi,
như
tiên
tri
xưa:
"Này
con
đây,
xin
hãy
sai
con"
(Is
6,8).
Nhưng
tiếng
Chúa
gọi
đây
không
tới
tai
các
Linh
Mục
tương
lai
một
cách
lạ
thường
như
người
ta
tưởng.
Thật
vậy,
đúng
hơn
tiếng
gọi
đó
phải
được
hiểu
và
nhận
định
qua
những
dấu
hiệu
mà
hằng
ngày
Chúa
muốn
dùng
để
tỏ
ý
Người
cho
các
Kitô
hữu
khôn
ngoan;
các
Linh
Mục
phải
cẩn
thận
cứu
xét
những
dấu
hiệu
đó
66.
Do
đó,
hết
sức
khuyến
khích
các
ngài
tham
gia
những
hội
cổ
võ
ơn
kêu
gọi
trong
giáo
phận
hay
trong
toàn
quốc
67.
Những
bài
giảng,
những
giờ
giáo
lý,
những
sách
báo
phải
nêu
cho
người
ta
biết
rõ
các
nhu
cầu
của
Giáo
Hội
địa
phương
cũng
như
của
Giáo
Hội
hoàn
cầu;
phải
trình
bày
cách
sống
động
ý
nghĩa
và
sự
cao
quý
của
chức
vụ
Linh
Mục,
vì
đây
là
một
chức
vụ
mang
những
trọng
trách
nặng
nề
nhưng
đồng
thời
cũng
tràn
đầy
hoan
lạc,
và
nhất
là
vì
có
thể
chứng
tỏ
một
bằng
chứng
cao
cả
nhất
về
tình
yêu
đối
với
Chúa
Kitô
như
các
Giáo
Phục
dạy
68.
10*
Chú
Thích:
1
Xem
1P
1,23;
CvTđ
6,7;
12,24.
"Các
Tông
Ðồ
đã
rao
giảng
lời
chân
lý
và
đã
khai
sinh
các
Giáo
Hội":
T.
Augustinô,
Enarr.
in
Ps.
44,23
:
PL
36,508.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Mal
2,7;
1Tm
4,11-13;
2Tm
4,5;
Tt
1,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Mc
16,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
2Cor
11,7.
Những
gì
nói
về
các
Giám
Mục
cũng
có
giá
trị
cho
các
Linh
Mục
với
tư
cách
là
cộng
tác
viên
của
Giám
Mục.
Xem
Statuta
Ecclesiae
Antiqua,
c.3
(x.b.
Ch.
Munier,
Paris
1960
trg
79);
Decretum
Gratiani,
c.
6,
D.
88
(x.b.
Friedberg,
I,
307);
-
CÐ
Trentô
Sắc
lệnh
De
Reform.,
khóa
V,
ch.2,
số
9
(Conc.
Oec.
Decreta,
x.b.
Herder,
Roma
1962,
trg
645);
khóa
XXIV,
ch.4,
trg
739;
-
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
21-11-1964,
số
25
:
ASS
57
(1965),
trg
29-31.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Constitutiones
Apostolorum,
II,
26,7:
"(Các
Linh
Mục)
hãy
trở
nên
những
vị
tiến
sĩ
thông
thạo
khoa
học
về
Thiên
Chúa,
vì
chính
Chúa
đã
truyền
cho
chúng
ta
khi
Ngài
phán:
Các
con
hãy
đi
giảng
dạy
v.v...":
x.b.
F.X.
Funk,
Didascalia
et
Constitutiones
Apostolorum,
I,
Paderborn,
1905,
trg
105.
-
Sacramentarium
Leonianum
và
những
sách
lễ
nghi
khác
cho
tới
Pontificale
Romanum,
Kinh
Tiền
Tụng
lễ
phong
chức
Linh
Mục:
"Lạy
Chúa,
với
sự
quan
phòng
ấy,
Chúa
đã
cho
các
Tông
Ðồ
của
Con
Chúa
có
những
người
bạn
tiến
sĩ
trong
đức
tin
như
những
người
trợ
lực
trong
việc
rao
giảng,
để
các
Tông
Ðồ
gieo
vãi
Phúc
Âm
trên
toàn
thế
giới".
-
Liber
Ordinum
Liturgiae
Mozarabicae,
Kinh
Tiền
Tụng
lễ
phong
chức
Linh
Mục:
"Là
tiến
sĩ
của
dân
và
thủ
lãnh
của
giáo
hữu,
ước
gì
các
ngài
duy
trì
đức
tin
công
giáo
trong
trật
tự
và
rao
giảng
ơn
cứu
rỗi
chân
thực
cho
mọi
người":
x.b.
M.
Férotin,
Le
Liber
Ordinum
en
usage
dans
l'Eglise
Wisigothique
et
Mozarabe
d?Espagne:
Monumenta
Ecclesiae
Liturgica,
q.5,
Paris
1904,
cột
55,
hàng
4-6.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Gal
2,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
1P
2,12.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
lễ
nghi
phong
chức
Linh
Mục
trong
Giáo
Hội
Giacobit
ở
Alexandria:
"...hãy
tập
họp
dân
chúng
ngươi
đến
nghe
lời
giáo
lý,
như
người
mẹ
nâng
niu
con
cái
mình":
H.
Denzinger,
Ritus
Orientalium,
bộ
II,
Wurzburg
1863,
trg
14.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Mt
28,19;
Mc
16,16;
-
Tertullianô,
De
Baptismo,
14,2
(Corpus
Christianorum,
Series
latina,
I,
trg
289,
11-13);
-
T.
Athanasiô,
Adv.
Arianos,
2
42
:
PG
26,
237
A-B;
-
T.
Hieronymô,
In
Mt
28,19:
PL
26,
226
D:
"Trước
hết
các
ngài
dạy
dỗ
mọi
dân
nước
tiếp
đến
lấy
nước
rửa
tội
những
kẻ
đã
được
giáo
huấn.
Thật
vậy,
không
thể
để
cho
thể
xác
nhận
lãnh
bí
tích
Rửa
Tội
khi
linh
hồn
chưa
nhận
lãnh
chân
lý
đức
tin";
-
T.
Tôma,
Expositio
primae
Decretalis,
1:
"khi
sai
các
môn
đệ
đi
rao
giảng,
Ðấng
Cứu
Thế
của
chúng
ta
đã
trao
cho
họ
ba
mệnh
lệnh.
Trước
nhất
là
giảng
đức
tin,
thứ
đến
là
ban
các
bí
tích
cho
những
kẻ
có
lòng
tin":
x.b.
Marietti,
Opuscula
Theologica,
Taurini
Roma
1954,
1138.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
CÐ.
Vat.
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
Sacrasanctum
Concilium,
4-12-1963,
số
35,2:
A
AS
56
(1964),
trg
109.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
CÐ.
Vat.
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
Sacrasanctum
Concilium,
4-12-1963,
số
33,
35,
48,
52,
trg
108-109,
113,
114.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Các
linh
mục
phải
hết
sức
quan
tâm
tới
lãnh
vực
xã
hội
và
sự
tiến
hóa
nơi
môi
trường
hoạt
động
của
các
ngài
để
có
thể
áp
dụng
hữu
hiệu
chân
lý
Phúc
Âm
vào
những
hoàn
cảnh
cụ
thể
của
đời
sống.
Các
ngài
truyền
đạt
đến
mọi
người
giáo
lý
tinh
tuyền
của
Giáo
Hội,
đặc
biệt
là
trong
khi
cử
hành
phụng
vụ.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
n.t.,
số
7
(trg
100-101).
-
Piô
XII,
Tđ.
Mystici
Corporis,
29-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
230.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
T.
Ignatiô
Tử
đạo,
Smyrn.,
8,
1-2:
x.b.
F.X.
Funk
6,
trg
240.
-
Constitutiones
Apostolorum,
VIII,
12,3:
x.b.
F.X.
Funk.
496;
VIII,
29,2,
n.t.,
trg
532.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
21-11-1964,
số
28:
AAS
57
(1965),
33-36.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Bí
Tích
Thánh
Thể
là
sự
đúc
kết
tất
cả
đời
sống
thiêng
liêng
và
là
cứu
cánh
của
tất
cả
các
bí
tích
khác:
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.73,
a.3
c :
xem
Summa
Theol.
III,
q.65,
a.
3.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
T.
Tôma,
Summa
Theol.
III,
q.
65,
a.
3,
ad
1;
q.
79,
a.
1,
c,
và
ad
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
Eph
5,19-20.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
T.
Hieronymô,
Epist.,
114,2:
"...chén
thánh,
khăn
thánh
và
tất
cả
những
gì
liên
quan
đến
việc
tôn
sùng
cuộc
Tử
Nạn
của
Chúa...
vì
được
thông
công
với
Mình
và
Máu
Chúa,
nên
phải
được
kính
cẩn
như
chính
Mình
và
Máu
Người
vậy":
PL
22,
934.
-
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh,
4-12-1963,
số
122-127:
AAS
56
(1964),
trg
130-132.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
"Hơn
nữa,
các
tín
hữu
đừng
xao
lãng
việc
năng
viếng
Mình
Thánh
Chúa;
Mình
Thánh
Chúa
phải
được
cất
giữ
trong
nhà
thờ,
tại
một
nơi
xứng
đáng
nhất
và
hết
sức
vinh
dự,
theo
luật
phụng
vụ.
Thực
vậy,
việc
kính
viếng
Chúa
Kitô
hiện
diện
nơi
đây
là
một
dấu
chỉ
biết
ơn
đối
với
Chúa
Kitô,
là
bảo
chứng
tình
yêu
và
là
một
việc
tôn
thờ
thích
đáng":
Phaolô
VI,
Tđ.
Mysterium
Fidei,
3-9-1965:
AAS
57
(1965),
trg
771.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Mọi
cử
hành
phụng
vụ
Thánh
Lễ
đều
thuộc
quyền
Giám
Mục
(x.
GH
số
28)
đó
là
lý
do
tại
sao
các
linh
mục
một
khi
đã
được
"tấn
phong
bởi
Giám
Mục"
phải
liên
kết
với
chức
Giám
Mục
theo
phẩm
trật
và
phải
nên
như
hiện
thân
của
Giám
Mục
trong
mỗi
cộng
đoàn
Kitô
hữu.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
21-11-1964,
số
28:
AAS
57
(1965),
trg
33-36.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
2Cor
10,8
;
13,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
1Cor
4,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Gal
1,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Didascalia,
II,
34,3;
II,
46,6;
II
47,
1;
-
Constitutiones
Apostolorum,
II,
47,
1:
x.b.
F.X.
Funk,
Didascalia
et
Constitutiones,
I,
trg
116,
142
và
143.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
Gal
4,3
;
5,1
và
13.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
T.
Hieronymô,
Epist.,
58,7:
"Thành
quách
chói
sáng
ngọc
ngà
nào
có
ích
chi,
nếu
Chúa
Kitô
chết
đói
trong
thân
phận
một
người
nghèo
khổ?":
PL
22,584.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
1P
4,10
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
Mt
25,34-45.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
Lc
4,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Có
thể
kể
những
hạng
người
khác,
ví
dụ
những
người
di
cư,
những
dân
du
mục
v.v...
Vấn
đề
này
được
đề
cập
đến
trong
Sắc
Lệnh
về
Nhiệm
vụ
Mục
vụ
của
các
Giám
Mục
trong
Giáo
Hội
Christus
Dominus,
28-10-1965.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
Didascalia,
II,
59,
1-3:
"Khi
dạy
dỗ,
hãy
truyền
bảo
và
khuyến
dụ
dân
chúng
năng
đến
nhà
thờ,
đừng
bao
giờ
vắng
mặt,
trái
lại
tụ
họp
nhau
luôn,
và
đừng
xa
lánh,
vì
như
thế
khiến
Giáo
Hội
bị
giảm
thiểu
và
bớt
mất
một
chi
thể
nơi
Thân
Thể
Chúa
Kitô...
Vậy,
anh
em
là
chi
thể
Chúa
Kitô,
chính
anh
em
đừng
phân
tán
xa
Giáo
Hội
chỉ
vì
không
chịu
hội
hợp
với
nhau;
anh
em
có
Chúa
Kitô
là
Ðầu,
Người
đang
hiện
diện
và
thông
hiệp
với
anh
em
theo
như
lời
Người
hứa;
vì
thế
chính
anh
em
đừng
khinh
khi
và
khiến
Ðấng
Cứu
Thế
trở
nên
xa
lạ
với
các
chi
thể
Người,
đừng
chia
rẽ
và
phân
tán
Thân
Thể
Người..."
:x.b.
F.X.
Funk,
I,
trg
170.
-
Phaolô
VI,
diễn
văn
trước
một
số
giáo
sĩ
Ý
tham
dự
Ðại
Hội
XIII
Di
aggiornamento
pastorale,
6-9-1963:
AAS
(1963),
trg
750
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Nhiệm
vụ
chăn
dắt
đoàn
chiên
phải
được
coi
như
việc
giáo
dục
đức
tin
và
đức
ái
đối
với
mọi
người,
nhất
là
những
người
yếu
đuối
cần
giúp
đỡ
nhiều
hơn.
Ngoài
ra
còn
mục
đích
kiến
tạo
cộng
đoàn
Kitô
hữu
đích
thực
mà
điều
cốt
yếu
chính
là
tinh
thần
truyền
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
21-11-1964,
số
28:
AAS
57
(1965),
trg
35.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Constitutionem
Ecclesiasticam
Apostolorum,
XVIII:
Các
Linh
Mục
là
những
kẻ
đồng
tham
dự
các
mầu
nhiệm
(symmystai)
và
đồng
chiến
đấu
(synepemachoi)
của
các
Giám
Mục:
x.b.
Th.
Schermann,
Die
allgemeine
Kirchenordnung,
I,
Paderborn
1914,
trg
26.
-
A.
Harnack,
Die
Quellen
der
sog.
Apostolilschen
Kirchenordnung,
T.u.
U.
II,
5,
trg
13,
số
18
và
19.
-
Hieronymô
Giả,
De
septem
Ordinibus
Ecclesiae:
"...trong
việc
chúc
lành,
họ
là
những
người
cùng
với
Giám
Mục
tham
dự
các
mầu
nhiệm":
x.b.
A.
W.
Kalff,
Wurzburg
1937,
trg
45.
-
T.
Isidorô
Hispal,
De
Ecclesiasticis
Officiis,
II,
ch.
VII:
"Họ
đứng
đầu
Giáo
Hội
của
Chúa
Kitô
và
tham
dự
với
các
Giám
Mục
trong
việc
cử
hành
Bí
Tích
Thánh
Thể,
cũng
như
trong
việc
dạy
dỗ
dân
và
trong
phận
vụ
rao
giảng":
PL
83,
787.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
Didascalia,
II,
28,
4:
x.b.
F.X.
Funk,
trg
108.
-
Constitutiones
Apostolorum,
II,
28,
4;
II,
34,
3 :
n.v.t.,
trg
109
và
117.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Const.
Apost.
VIII,
16,
4:
x.b.
F.X.
Funk,
I,
trg
523.
-
Xem
Epistome
Const.
Apost.,
VI:
n.v.t.,
II,
trg
80,
3-4.
-
Testamentum
Domini:
"...Xin
Chúa
ban
cho
người
này
tinh
thần
ơn
thánh,
ơn
khuyến
dụ,
ơn
đại
độ,
và
tinh
thần
linh
mục...
hầu
người
này
giúp
đỡ
và
cai
trị
dân
Chúa
trong
việc
làm
với
lòng
kính
sợ
và
tâm
hồn
trong
trắng":
bản
dịch
Latinh
của
I.E.
Rahmani,
Moguntiae
1899,
trg
69.
Ý
tưởng
này
cũng
gặp
trong
Trad.
Apost.:
x.b.
B.
Botte,
La
Tradition
Apostolique
de
S.
Hippolyte,
Munster
i.
W.
1963,
trg
20.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Xem
Ds
11,
16-25.
(Trở
lại
đầu
trang)
37
Pont.
Rom.
Kinh
Tiền
Tụng
lễ
phong
chức
Linh
Mục;
những
lời
ấy
đã
có
trong
Sacramentarium
Leonianum,
Sacramentarium
Gelasianum
và
Sacramentarium
Gregorianum.
Cũng
gặp
những
ý
tưởng
tương
tự
trong
Phụng
vụ
Ðông
Phương:
xem
Trad.
Apost.:
"...Xin
Chúa
nhìn
đến
tôi
tớ
Chúa
đây
và
khấn
ban
tinh
thần
ơn
thánh
và
ơn
khuyến
dụ,
tinh
thần
linh
mục,
để
tôi
tớ
Chúa
giúp
đỡ
và
cai
trị
dân
Chúa
với
một
tâm
hồn
trong
trắng,
như
Chúa
đã
nhìn
đến
dân
Chúa
chọn
và
đã
ra
lệnh
cho
Môisen
tuyển
lựa
những
bô
lão
mà
Chúa
đã
đổ
tràn
Thánh
Thần
Chúa,
Thánh
Thần
mà
Chúa
đã
ban
cho
tôi
tớ
Chúa":
theo
bản
dịch
Latinh
Verona,
x.b.
B.
Botte,
La
Tradition
Apostolique
de
S.
Hippolyte.
Essai
de
reconstruction,
Munster
i.
W.
1963,
trg
20.
-
Const.
Apost.
VIII,
16,
4
:x.b.
F.X.
Funk
I,
trg
522,
16-17.
-
Epist.
Const.
Apost.
VI:
x.b.
F.X.
Funk
II
trg
20,
5-7.
-
Testamentum
Domini:
bản
dịch
Latinh
của
I.
E.
Rahmani,
Moguntiae
1899,
trg
69.
-
Euchologium
Serapionis,
XXVII:
x.b.
F.X.
Funk,
Didascalia
et
Constitutiones
II,
trg
190,
hàng
1-7.
-
Ritus
Ordinationis
in
ritu
Maronitarum:
bản
dịch
H.
Denzinger,
Ritus
Orientalium,
II,
Wurzburg,
1863,
trg
161;
-
Trong
số
các
Giáo
Phục,
có
thể
kể:
Theodorô
Mopsuestenô,
In
1Tim.
3,8
:
x.b.
Swete,
II,
trg
119-121.
-
Theodoretô,
Questiones
in
numeros,
XVIII:
PG
80,
369C-372
B.
(Trở
lại
đầu
trang)
38
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
21-11-1964,
số
28:
AAS
57
(1965),
trg
35.
(Trở
lại
đầu
trang)
39
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Sacerdotii
Nostri
primordia,
1-8-1959:
AAS
51
(1959)
trg
576.
-
T.
Piô
X,
huấn
dụ
giáo
sĩ
Haerent
Animo,
4-8-1908
:
S.
Pii
X
Acta,
q.
IV
(1908),
trg
237
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
40
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
Giám
Mục
trong
Giáo
Hội
Christus
Dominus,
28-10-1965,
số
15
và
16.
(Trở
lại
đầu
trang)
41
Theo
Giáo
luật
hiện
hành,
Kinh
sĩ
hội
Chính
tòa
như
là
"nguyên
lão
viện
và
ban
cố
vấn"
của
Giám
Mục
(C.I.C.,
kh.
391)
hoặc
nếu
không
có,
thì
Hội
đồng
cố
vấn
giáo
phận
thay
thế
(xem
C.I.C.,
kh.
423-428).
Tuy
nhiên
điều
rất
đáng
mong
ước
là
những
tổ
chức
ấy
phải
được
chỉnh
đốn
lại
cho
thích
hợp
hơn
với
những
hoàn
cảnh
và
nhu
cầu
hiện
đại.
Hội
đồng
Linh
Mục
dĩ
nhiên
khác
Ủy
Ban
cố
vấn
mục
vụ:
về
vấn
đề
này
có
nói
trong
Sắc
lệnh
về
nhiệm
vụ
mục
vụ
của
các
Giám
Mục
trong
Giáo
Hội
Christus
Dominus,
28-10-1965,
số
27,
vì
trong
Ủy
Ban
cố
vấn
mục
vụ
có
cả
giáo
dân,
và
chỉ
có
thẩm
quyền
trong
những
gì
liên
quan
đến
hoạt
động
mục
vụ.
Về
việc
các
Linh
Mục
như
là
cố
vấn
của
Giám
Mục
có
thể
xem
Didascalia
II,
28,4:
x.b.
F.X.
Funk,
I,
trg
108.
-
Const.
Apost.
II,
28,4:
x.b.
F.X.
Funk,
I,
trg
109.
-
T.
Ignatiô
Tử
đạo,
Magn.
6,1:
x.b.
F.X.
Funk,
trg
194;
Trall.,
3,1:
x.b.
F.X.
Funk,
trg
204.
Origenê,
Contra
Celsum
III,
30:
các
Linh
Mục
là
những
cố
vấn
hay
là
bouleytai:
PG
11,
957D-960
A.
(Trở
lại
đầu
trang)
42
Ignatiô
Tử
đạo,
Magn.,
6,1:
"Cha
van
xin
các
con
hãy
chăm
chú
làm
mọi
sự
trong
bầu
hòa
khi
của
Thiên
Chúa,
dưới
quyền
Giám
Mục,
Ðại
diện
Thiên
Chúa,
dưới
quyền
các
vị
linh
mục,
đại
diện
hội
đồng
các
Tông
Ðồ,
và
dưới
quyền
các
phó
tế
rất
thân
ái
của
cha,
vì
những
vị
này
được
ủy
thác
phục
vụ
Chúa
Giêsu
Kitô,
Ðấng
đã
ngự
bên
Thiên
Chúa
từ
trước
khi
có
các
thời
đại,
và
đã
xuất
hiện
vào
cuối
thời":
x.b.
F.X.
Funk,
trg
195.
-
T.
Ignatiô
Tử
đạo,
Trall.
3,1:
"Cũng
vậy,
mọi
người
hãy
kính
trọng
các
vị
phó
tế
như
đối
với
Chúa
Kitô,
cũng
như
kính
trọng
Giám
Mục
là
hình
ảnh
Chúa
Cha,
các
Linh
Mục
là
nguyên
lão
viện
của
Thiên
Chúa
và
là
hội
đồng
các
Tông
Ðồ:
vì
không
có
các
đấng
ấy,
không
thể
nói
đến
Giáo
Hội":
n.v.t.,
trg
204.
-
T.
Hieronymô,
In
Isaiam,
II,
3:
PL
24,61
D:
"Trong
Giáo
Hội,
chúng
ta
cũng
có
nguyên
lão
viện
của
chúng
ta
là
hội
đồng
Linh
Mục".
(Trở
lại
đầu
trang)
43
Xem
Phaolô
VI,
diễn
văn
tại
đền
Sixtine
cho
các
cha
xứ
và
các
linh
mục
giảng
thuyết
mùa
chay
ở
Roma,
1-3-1965:
AAS
57
(1965),
trg
326.
(Trở
lại
đầu
trang)
44
Xem
Const.
Apost.
VIII,
47,39:
"Các
linh
mục...
không
được
làm
gì
mà
không
hỏi
ý
kiến
Giám
Mục,
vì
chính
Giám
Mục
là
người
mà
Dân
Chúa
đã
được
ủy
thác
và
Ngài
phải
trả
lẽ
về
những
linh
hồn
được
các
linh
mục
coi
sóc":
x.b.
F.X.
Funk,
trg
577.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Sự
duy
nhất
trong
việc
hiến
thánh
và
trong
sứ
mệnh
là
lý
do
sâu
xa
tạo
nên
cộng
đoàn
phẩm
trật
giữa
Giám
Mục
và
các
linh
mục
và
quy
định
mọi
liên
lạc
hỗ
tương:
đó
là
lòng
quý
trọng
và
tín
nhiệm
về
phía
Giám
Mục
đối
với
các
linh
mục
đoàn
cũng
như
lòng
thảo
kính
và
vâng
lời
nơi
các
linh
mục
đối
với
Giám
Mục
của
các
ngài.
(Trở
lại
đầu
trang)
45
Xem
3Gio
8.
(Trở
lại
đầu
trang)
46
Xem
Gio
17,23.
(Trở
lại
đầu
trang)
47
Xem
Dth
13,1-2.
(Trở
lại
đầu
trang)
48
Xem
Dth
13,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
49
Xem
Mt
5,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Nhờ
Bí
Tích
Truyền
Chức,
các
linh
mục
trở
nên
anh
em
với
nhau.
Trong
một
giáo
phận,
tình
đoàn
kết
huynh
đệ
giữa
các
linh
mục
tạo
thành
"linh
mục
đoàn"
của
Giám
Mục
địa
phương.
Dù
"phận
vụ"
của
các
linh
mục
dòng
và
triều
có
sự
khác
biệt,
nhưng
tất
cả
đều
cùng
chung
một
sứ
mệnh,
các
ngài
phải
được
nối
kết
với
nhau
trong
tình
tương
thân
tương
ái
tông
đồ.
(Trở
lại
đầu
trang)
50
Xem
1Th
2,12;
Col
1,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
51
Xem
Mt
23,8.
-
"Muốn
trở
thành
chủ
chăn,
thành
người
cha
và
thầy
của
mọi
người,
chúng
ta
phải
là
anh
em
của
họ":
Phaolô
VI,
Tđ.
Ecclesiam
suam,
6-8-1964:
AAS
58
(1964),
trg
647.
(Trở
lại
đầu
trang)
52
Xem
Eph
4,7
và
16.
-
Const.
Apost.
VIII,
1,20:
"Giám
Mục
không
nên
chống
các
phó
tế
hoặc
linh
mục,
cũng
như
các
linh
mục
không
nên
chống
dân
chúng,
vì
cả
hai
đều
làm
thành
một
cộng
đoàn":
x.b.
F.X.
Funk,
I,
trg
467.
(Trở
lại
đầu
trang)
53
Xem
Ph
2,21.
(Trở
lại
đầu
trang)
54
Xem
1Gio
4,1.
(Trở
lại
đầu
trang)
55
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium
21-11-1964,
số
37:
AAS
57
(1965),
trg
42-43.
(Trở
lại
đầu
trang)
56
Xem
Eph
4,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
57
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Hiệp
Nhất
Unitatis
Redintegratio,
21-11-1964:
AAS
57
(1965)
trg
90
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
58
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
Lumen
Gentium,
21-11-1964,
số
37
AAS
57
(1965),
trg
42-43.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Nhờ
Bí
Tích
Rửa
Tội,
các
linh
mục
được
gia
nhập
Dân
Chúa,
trở
nên
người
anh
em
"của
các
anh
em".
Nhờ
Bí
Tích
Truyền
Chúa,
các
ngài
lãnh
trách
nhiệm
lãnh
đạo
cộng
đoàn,
nhưng
các
ngài
phải
sống
như
nô
bộc
biết
đón
nhận,
lắng
nghe
và
nhận
ra
những
đặc
sủng
nơi
các
tín
hữu
mà
các
ngài
giúp
khám
phá
ra
trách
nhiệm
riêng
của
họ.
Các
linh
mục
cần
phải
nhận
thức
bổn
phận
mình
là
phải
hoạt
động
chung
với
họ
với
tinh
thần
Bác
ái
trong
việc
phục
vụ
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
59
Xem
Dth
7,3.
(Trở
lại
đầu
trang)
60
Xem
Lc
10,1.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Nền
tảng
giáo
lý
về
sự
tùng
phục
hoàn
toàn
của
các
linh
mục,
nghĩ
a
là
sẵn
sàng
đảm
nhận
bất
cứ
chức
vụ
gì
ở
bất
cứ
nơi
nào,
hệ
tại
sự
tham
dự
vào
chức
Linh
Mục
của
Chúa
Kitô,
vào
sứ
mệnh
phổ
quát
mà
Chúa
đã
ủy
thác
cho
các
Tông
Ðồ.
Trách
nhiệm
của
các
linh
mục
vì
vậy
cũng
mang
một
trương
độ
phổ
quát.
(Trở
lại
đầu
trang)
61
Xem
1P
2,25.
(Trở
lại
đầu
trang)
62
Xem
CvTđ
20,28.
(Trở
lại
đầu
trang)
63
Xem
Mt
9,36.
(Trở
lại
đầu
trang)
64
Pont.
Rom.
Lễ
phong
chức
Linh
Mục.
(Trở
lại
đầu
trang)
65
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
việc
Ðào
Tạo
Linh
Mục
Optatam
Totius,
28-10-1965,
số
2.
(Trở
lại
đầu
trang)
66
"Tiếng
Chúa
gọi
được
biểu
hiện
bằng
hai
cách
khác
nhau,
nhưng
đều
tuyệt
diệu
và
đồng
quy:
một
là
tiếng
nói
bên
trong,
đó
là
tiếng
nói
của
ơn
thánh,
của
Chúa
Thánh
Thần,
của
một
sức
lôi
cuốn
nội
tâm
khôn
tả,
một
tiếng
nói
âm
thầm
và
quyền
năng
của
Chúa
phát
tỏa
trong
thâm
cung
con
người
không
thể
đo
lường
được;
tiếng
nói
khác
từ
bên
ngoài,
có
tính
cách
nhân
loại,
khả
giác,
xã
hội,
luật
pháp
cụ
thể,
đó
là
tiếng
nói
của
thừa
tác
viên
Lời
Chúa
có
đầy
đủ
phẩm
cách,
là
tiếng
nói
của
vị
Tông
Ðồ,
của
Phẩm
Trật,
một
dụng
cụ
cần
thiết
đã
được
Chúa
Kitô
thiết
lập
và
muốn
có
như
trung
gian
diễn
ngữ
sứ
điệp
của
Ngôi
Lời
và
giới
luật
của
Thiên
Chúa.
Về
điều
này,
giáo
lý
công
giáo
đã
cùng
với
Thánh
Phaolô
dạy
rằng:
"Nếu
không
có
Người
giảng
thuyết
thì
nghe
biết
làm
sao
được?...
Ðức
tin
do
nghe
nói
(Rm
10,14
và
17)":
Phaolô
VI,
huấn
dụ
ngày
5-5-1965:
l'Osservatore
Romano,
6-5-1965,
trg
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
67
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
việc
Ðào
Tạo
Linh
Mục
Optatam
Totius,
28-10-1965,
số
2.
(Trở
lại
đầu
trang)
68
Các
Giáo
Phụ
dạy
như
thế
khi
chú
giải
những
lời
Chúa
Kitô
nói
với
Phêrô:
"Con
có
yêu
mến
Ta
không?...
Hãy
chăn
các
chiên
mẹ
của
Ta"
(Gio
21,17):
chẳng
hạn
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
De
Sacerdotio,
II,
2:
PG
48,
633;
-
T.
Gregoriô
Cả,
Reg.
Past.
Liber:
phần
I,
ch.
5:
PL
77,
19A.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Các
linh
mục
cộng
tác
vào
ơn
thiên
triệu
linh
mục
mà
Chúa
đoái
thương
ban
cho
con
người
bằng
gương
sống
bản
thân,
bằng
việc
giáo
huấn
tín
hữu
và
bằng
cách
nâng
đỡ
tinh
thần
đối
với
những
ứng
viên
ngưỡng
vọng
thiên
chức
linh
mục.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II