VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
14-
SẮC
LỆNH
VỀ
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
CỦA
GIÁO
HỘI
(AD
GENTES)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
CHƯƠNG
VI:
SỰ
CỘNG
TÁC
Nhập
đề
35.
Vì
toàn
thể
Giáo
Hội
là
truyền
giáo
và
vì
công
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
là
nhiệm
vụ
căn
bản
của
Dân
Chúa,
nên
Thánh
Công
Đồng
mời
gọi
mọi
người
canh
tân
tự
thâm
tâm
mình,
để
khi
đã
tích
cực
ý
thức
trách
nhiệm
riêng
của
mình
trong
việc
truyền
bá
Phúc
Âm,
mọi
người
góp
phần
vào
công
cuộc
truyền
giáo
nơi
Muôn
Dân
42*.
Nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
toàn
Dân
Thiên
Chúa
36.
Tất
cả
các
tín
hữu
vì
là
chi
thể
Chúa
Kitô
hằng
sống,
được
tháp
nhập
vào
Người
và
nên
giống
Người
nhờ
Bí
Tích
Rửa
Tội,
Thêm
Sức
và
Thánh
Thể,
nên
họ
43*
có
bổn
phận
phải
cộng
tác
vào
việc
phát
triển
và
bành
trướng
Thân
Thể
Người,
để
Thân
Thể
này
được
sung
mãn
càng
sớm
càng
hay
1.
Vì
thế,
tất
cả
con
cái
Giáo
Hội
phải
tích
cực
ý
thức
trách
nhiệm
của
mình
đối
với
thế
giới,
phải
hun
đúc
cho
mình
có
tinh
thần
thực
sự
công
giáo,
và
phải
hy
sinh
góp
sức
vào
công
việc
rao
giảng
Phúc
Âm.
Tuy
nhiên,
mọi
người
phải
biết
rằng
bổn
phận
đầu
tiên
và
quan
trọng
nhất
đối
với
việc
truyền
bá
đức
tin
là
sống
sâu
xa
đời
sống
Kitô
hữu.
Vì
chính
khi
nhiệt
thành
phụng
sự
Thiên
Chúa
và
bác
ái
đối
với
tha
nhân,
họ
mang
lại
cho
toàn
thể
Giáo
Hội
một
cảm
hứng
tinh
thần
mới
và
làm
cho
Giáo
Hội
xuất
hiện
như
một
dấu
chỉ
nổi
lên
giữa
các
dân
2,
là
“ánh
sáng
thế
gian”
(Mt
5,14)
và
là
“muối
đất”
(Mt
5,13).
Chứng
cứ
đời
sống
này
sẽ
đem
lại
kết
quả
dễ
dàng
hơn,
nếu
cùng
được
thực
hiện
chung
với
các
nhóm
Kitô
giáo
khác,
theo
tiêu
chuẩn
của
Sắc
Lệnh
về
sự
Hiệp
Nhất
3.
Nhờ
tinh
thần
đổi
mới
này,
các
kinh
nguyện
và
việc
khổ
hạnh
sẽ
được
tự
phát
dâng
lên
Thiên
Chúa,
để
nhờ
ơn
thánh
Ngài,
công
việc
của
các
nhà
truyền
giáo
mang
lại
kết
quả,
ơn
kêu
gọi
truyền
giáo
được
phát
sinh
và
những
tài
nguyên
hiện
các
xứ
truyền
giáo
đang
cần
đến
sẽ
được
dồi
dào.
Để
tất
cả
và
mỗi
một
Kitô
hữu
biết
rõ
hoàn
cảnh
hiện
tại
của
Giáo
Hội
trong
thế
giới,
và
để
họ
nghe
tiếng
kêu
gào
của
đám
đông:
“xin
giúp
chúng
tôi”
4,
phải
dùng
cả
những
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
hiện
đang
cung
cấp
những
tin
tức
truyền
giáo
để
khi
cảm
thấy
hoạt
động
truyền
giáo
là
của
mình,
họ
mở
rộng
tâm
hồn
đáp
ứng
những
nhu
cầu
rất
bao
la
và
thâm
sâu
của
con
người
và
có
thể
giúp
đỡ
những
người
ấy.
Cũng
cần
phải
phối
hợp
các
tin
tức
và
cộng
tác
với
các
cơ
quan
quốc
gia
hay
quốc
tế.
Nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
cộng
đoàn
Kitô
giáo
37.
Vì
Dân
Chúa
sống
trong
các
cộng
đoàn,
44*
nhất
là
các
cộng
đoàn
giáo
phận
và
giáo
xứ
và
tỏ
ra
hữu
hình
một
cách
nào
đó
trong
các
cộng
đoàn
trên,
nên
các
cộng
đoàn
đó
cũng
phải
minh
chứng
v ề
Chúa
Kitô
trước
mặt
Muôn
Dân.
Ơn
canh
tân
không
thể
lớn
lên
trong
các
cộng
đoàn
nếu
mỗi
cộng
đoàn
không
mở
rộng
phạm
vi
bác
ái
đến
tận
cùng
trái
đất
và
không
lo
lắng
cho
những
kẻ
ở
xa
giống
như
cho
những
người
thuộc
cộng
đoàn
mình.
Như
thế
toàn
thể
cộng
đoàn
cầu
nguyện,
cộng
tác
và
hành
động
giữa
muôn
dân
nhờ
những
người
con
đã
được
Thiên
Chúa
tuyển
chọn
vào
chức
vụ
rất
quan
trọng
này.
Cũng
sẽ
rất
hữu
ích,
miễn
là
để
đừng
xao
lãng
công
việc
truyền
giáo
phổ
quát,
nếu
giữ
được
mối
liên
lạc
với
những
nhà
truyền
giáo
xuất
thân
từ
chính
cộng
đoàn,
hoặc
với
một
giáo
xứ
hay
giáo
phận
nào
đó
trong
các
xứ
truyền
giáo,
để
mối
thông
hiệp
giữa
các
cộng
đoàn
trở
nên
hữu
hình
và
đi
đến
chổ
xây
dựng
cho
nhau
Nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
Giám
Mục
38.
Tất
cả
Giám
Mục
với
tư
cách
là
thành
phần
của
Giám
Mục
Đoàn
kế
vị
Tông
Đồ
Đoàn,
được
thánh
hiến
không
phải
ch
ỉ
cho
một
giáo
phận
nào
đó,
nhưng
cho
phần
rỗi
toàn
thế
giới.
Mệnh
lệnh
mà
Chúa
Kitô
sai
đi
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
tạo
vật
5
trước
hết
và
trực
tiếp
nhắm
tới
các
Ngài,
cùng
với
Phêrô
và
dưới
quyền
Phêrô.
Do
đó,
giữa
các
Giáo
Hội
xuất
phát
một
mối
hiệp
thông
và
cộng
tác
mà
ngày
nay
rất
cần
thiết
để
theo
đuổi
công
cuộc
rao
giảng
Phúc
Âm.
Nhờ
sự
hiệp
thông
này
mỗi
Giáo
Hội
đều
lo
lắng
cho
tất
cả
các
Giáo
Hội
khác,
cho
nhau
biết
những
nhu
cầu
riêng
của
mình,
cùng
nhau
san
sẻ
của
cải,
vì
việc
bành
trướng
Thân
Thể
Chúa
Kitô
là
nhiệm
vụ
của
toàn
thể
Giám
Mục
Đoàn
6
Khi
Giám
Mục
cổ
võ,
phát
động
và
điều
khiển
công
cuộc
truyền
giáo
trong
giáo
phận
–
mà
Giám
Mục
với
giáo
phận
chỉ
là
một
–
chính
là
Giám
Mục
làm
thể
hiện
tinh
thần
và
nhiệt
tâm
truyền
giáo
của
Dân
Chúa
và
có
thể
nói
là
thể
hiện
cách
hữu
hình,
để
toàn
thể
giáo
phận
trở
thành
truyền
giáo.
Các
Giám
Mục
có
nhiệm
vụ
khuyến
khích
trong
dân
mình,
nhất
là
giữa
những
người
bệnh
tật
và
đau
khổ,
những
tâm
hồn
quảng
đại
dâng
lên
Thiên
Chúa
kinh
nguyện
và
việc
khổ
hạnh
để
cầu
cho
công
cuộc
rao
giảng
Phúc
Âm
trên
thế
giới;
sẵn
lòng
cổ
võ
ơn
kêu
gọi
thanh
niên
và
giáo
sĩ
gia
nhập
các
Tổ
Chức
truyền
giáo,
và
cảm
tạ
Thiên
Chúa
khi
Chúa
tuyển
chọn
một
số
người
dấn
thân
vào
hoạt
động
truyền
giáo
của
Giáo
Hội;
khuyến
khích
và
giúp
đỡ
các
Hội
Dòng
giáo
phận
để
họ
góp
phần
riêng
vào
các
xứ
truyền
giáo;
phát
động
nơi
tín
hữu
mình
những
công
cuộc
của
các
Tổ
Chức
truyền
giáo
và
nhất
là
các
Hội
Giáo
Hoàng
truyền
giáo.
Thực
vậy,
những
hội
này
phải
chiếm
chổ
nhất
vì
chúng
là
những
phương
tiện
vừa
để
người
công
giáo,
ngay
từ
tuổi
thơ
được
thấm
nhiễm
cảm
thức
thực
sự
phổ
quát
và
truyền
giáo,
vừa
để
khuyến
khích
một
cuộc
quyên
góp
hữu
hiệu
những
khoản
trợ
cấp
cho
tất
cả
các
xứ
truyền
giáo
tuỳ
theo
nhu
cầu
từng
nơi
7.
Vì
ngày
càng
cần
nhiều
thợ
vườn
nho
Chúa
và
vì
các
linh
mục
giáo
phận
cũng
ước
ao
ngày
càng
được
góp
phần
lớn
hơn
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
thế
giới,
nên
Thánh
Công
Đồng
rất
ước
mong
các
Giám
Mục,
trong
khi
cân
nhắc
về
việc
thiếu
linh
mục
rất
trầm
trọng
đang
cản
trở
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
nhiều
miền,
hãy
sai
đến
những
giáo
phận
thiếu
giáo
sĩ
vài
linh
mục
xuất
sắc
đã
tự
hiến
để
làm
việc
truyền
giáo
và
đã
được
chuẩn
bị
đầy
đủ,
để
họ
thi
hành
thừa
tác
vụ
truyền
giáo
với
tinh
thần
phục
vụ
ít
là
trong
một
thời
gian
8.
Để
hoạt
động
truyền
giáo
của
các
Giám
Mục
có
thể
thực
thi
một
cách
hữu
hiệu
hơn
cho
lợi
ích
của
toàn
thể
Giáo
Hội,
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
nên
chỉnh
đốn
các
công
việc
liên
quan
đến
tổ
chức
sự
cộng
tác
trong
miền.
Trong
các
Hội
Đồng,
các
Giám
Mục
hãy
bàn
về
các
linh
mục
thuộc
hàng
giáo
sĩ
giáo
phận
cần
hiến
thân
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
muôn
dân,
về
số
tiền
đóng
góp
hạn
định,
tương
xứng
với
những
lợi
tức
riêng,
mà
mỗi
giáo
phận
hằng
năm
buộc
phải
đóng
góp
cho
công
trình
tại
các
xứ
truyền
giáo
9,
về
việc
điều
khiển
và
tổ
chức
những
cách
thức
và
phương
tiện
trực
tiếp
nâng
đỡ
các
xứ
truyền
giáo,
về
việc
giúp
đỡ
và
nếu
cần
thiết
lập
các
Tổ
Chức
truyền
giáo
và
các
chủng
viện
giáo
sĩ
giáo
phận
cho
các
xứ
truyền
giáo,
về
việc
cổ
võ
những
liên
lạc
chặt
chẽ
hơn
giữa
những
Tổ
Chức
loại
này
với
các
giáo
phận.
Cũng
thế,
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
có
nhiệm
vụ
thiết
lập
và
phát
động
những
công
cuộc
nhằm
tiếp
đón
trong
tình
huynh
đệ
và
đem
lòng
chăm
sóc
mục
vụ
thích
đáng
mà
giúp
đỡ
những
người
vì
lý
do
công
việc
hay
học
hành,
từ
các
miền
truyền
giáo
đến
trú
ngụ.
Nhờ
họ
những
dân
tộc
xa
xôi
trở
nên
gần
g
ũi
một
cách
nào
đó,
và
là
dịp
rất
tốt
để
các
đoàn
Kitô
giáo
lâu
đời
được
đối
thoại
với
những
dân
tộc
chưa
nghe
đến
Phúc
Âm,
cùng
tỏ
bày
cho
họ
gương
mặt
đích
thực
của
Chúa
Kitô
trong
nghĩa
cử
yêu
thương
và
giúp
đỡ
10.
Nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
Linh
Mục
39.
Các
linh
mục
đóng
vai
trò
Chúa
Kitô
và
là
cộng
sự
viên
của
hàng
Giám
Mục
trong
ba
phận
vụ
thánh
45*,
mà
tự
bản
tính
thuộc
về
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
11.
Vậy
các
ngài
phải
thấu
hiểu
sâu
xa
rằng
đời
sống
các
ngài
cũng
được
thánh
hiến
để
phục
vụ
các
xứ
truyền
giáo.
Vì
nhờ
thừa
tác
vụ
riêng
của
mình,
thừa
tác
vụ
này
cốt
yếu
hệ
tại
Bí
Tích
Thánh
Thể,
bí
tích
kiện
toàn
Giáo
Hội,
các
ngài
thông
hiệp
với
Chúa
Kitô
là
Đầu
và
dẫn
đưa
kẻ
khác
đến
sự
thông
hiệp
này;
do
các
ngài
không
thể
không
cảm
thấy
rằng
sự
viên
mãn
của
Thân
Thể
đến
nay
vẫn
còn
biết
bao
thiếu
sót,
và
do
đó
còn
biết
bao
điều
phải
làm
để
Thân
Thể
ngày
một
lớn
hơn.
Vậy
các
Ngài
phải
sắp
đặt
công
việc
mục
vụ
thế
nào
để
mưu
ích
cho
việc
bành
trướng
Phúc
Âm
nơi
những
người
ngoài
Kitô
giáo.
Các
linh
mục,
trong
việc
mục
vụ,
phải
cổ
võ
và
duy
trì
giữa
tín
hữu
lòng
nhiệt
thành
đối
với
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
thế
giới,
bằng
cách
dạy
giáo
lý
và
giảng
thuyết
để
giáo
huấn
họ
về
nhiệm
vụ
của
Giáo
Hội
là
phải
loan
báo
Chúa
Kitô
cho
Muôn
Dân,
bằng
cách
dạy
các
gia
đình
Kitô
hữu
về
sự
cần
thiết
và
vinh
dự
vun
trồng
ơn
kêu
gọi
truyền
giáo
nơi
con
trai
con
gái
mình,
bằng
cách
cổ
võ
nhiệt
tâm
truyền
giáo
nơi
thanh
thiếu
niên
trong
các
trường
và
các
hội
đoàn
công
giáo
để
từ
nơi
họ,
xuất
phát
những
nhà
rao
giảng
Phúc
Âm
tương
lai.
Các
ngài
phải
dạy
tín
hữu
cầu
nguyện
cho
các
xứ
truyền
giáo
và
đừng
xấu
hổ
xin
họ
bố
thí
và
trở
nên
như
những
hành
khất
vì
Chúa
Kitô
và
vì
phần
rỗi
các
linh
hồn
12.
Các
giáo
sư
Chủng
Viện
và
Đại
Học
phải
dạy
cho
thanh
thiếu
niên
biết
hoàn
cảnh
đích
thực
của
thế
giới
và
của
Giáo
Hội,
để
họ
nhìn
thấy
nhu
cầu
rất
cấp
bách
của
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
những
người
ngoài
Kitô
giáo
và
để
nuôi
dưỡng
nhiệt
tâm
của
họ.
Trong
khi
dạy
các
môn
tín
lý,
Thánh
Kinh,
luân
lý
và
lịch
sử,
phải
nêu
rõ
những
khía
cạnh
truyền
giáo
hàm
chứa
trong
các
môn
ấy,
để
nhờ
đó
đào
tạo
cho
các
linh
mục
tương
lai
một
ý
thức
truyền
giáo.
Nhiệm
truyền
giáo
của
Hội
Dòng
40.
Các
Hội
Dòng
46*
sống
đời
chiêm
niệm
hay
hoạt
động,
cho
đến
nay
đã
và
đang
góp
phần
rất
lớn
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
thế
giới.
Thánh
Công
Đồng
vui
mừng
nhìn
nhận
công
lao
của
họ
và
cảm
tạ
Thiên
Chúa
vì
biết
bao
nỗ
lực
được
thực
hiện
để
làm
vinh
danh
Chúa
và
phục
vụ
các
linh
hồn.
Thánh
Công
Đồng
khuyến
khích
họ
hãy
cứ
hăng
say
theo
đuổi
công
việc
đã
khởi
sự,
vì
họ
phải
biết
rằng
sức
mạnh
của
đức
ái
mà
ơn
kêu
gọi
buộc
họ
phải
thực
thi
một
cách
hoàn
hảo
hơn,
thúc
đẩy
và
buộc
họ
phải
có
tinh
thần
và
việc
làm
thực
sự
công
giáo
13
Các
Hội
Dòng
sống
đời
chiêm
niệm
góp
phần
rất
lớn
vào
việc
trở
lại
của
các
linh
hồn
nhờ
những
kinh
nguyện,
việc
khổ
hạnh
và
thử
thách,
vì
Thiên
Chúa
là
Đấng
sai
thợ
đến
gặt
lúa
của
Ngài
theo
lời
ta
cầu
xin
14,
Đấng
mở
rộng
tâm
hồn
người
ngoài
Kitô
giáo
để
họ
lắng
nghe
Phúc
Âm
15,
và
làm
cho
lời
cứu
rỗi
sinh
hoa
kết
quả
trong
lòng
họ
16.
Hơn
nữa,
xin
các
Hội
Dòng
đó
lập
các
nhà
trong
những
giáo
xứ
truyền
giáo,
như
họ
đã
làm
khá
nhiều,
để
ở
đó,
nhờ
sống
thích
nghi
với
các
truyền
thống
tôn
giáo
đích
thực
của
các
dân
tộc,
họ
tỏ
cho
những
người
ngoài
Kitô
giáo
thấy
một
chứng
tích
cao
đẹp
về
uy
quyền
và
tình
yêu
của
Thiên
Chúa
cũng
như
về
sự
hiệp
nhất
trong
Chúa
Kitô.
Còn
các
Hội
Dòng
sống
đời
hoạt
động,
hoặc
theo
đuổi
mục
đích
hoàn
toàn
truyền
giáo
hoặc
không,
đều
phải
thành
thật
tự
vấn
trước
mặt
Chúa
xem
mình
có
thể
bành
trướng
hoạt
động
vào
việc
mở
rộng
Nước
Chúa
nơi
Muôn
Dân
không;
xem
mình
có
thể
trao
một
số
thừa
tác
vụ
cho
những
người
khác
để
cống
hiến
sức
lực
mình
cho
các
xứ
truyền
giáo
không;
xem
mình
có
thể
khởi
công
hoạt
động
trong
các
xứ
truyền
giáo
bằng
cách
thích
nghi
Hiến
Pháp
của
mình
nếu
cần,
mà
vẫn
theo
tinh
thần
của
vị
Sáng
Lập
không;
xem
các
tu
sĩ
của
mình
có
thể
tuỳ
sức
tham
gia
vào
hoạt
động
truyền
giáo
không;
xem
cách
sống
thường
xuyên
của
họ
có
phải
là
một
chứng
nhân
của
Phúc
Âm
được
thích
nghi
với
đặc
tính
và
hoàn
cảnh
của
dân
chúng
không.
Vì
nhờ
ơn
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy,
Giáo
Hội
ngày
càng
có
thêm
nhiều
Tu
Hội
triều,
và
hoạt
động
của
các
Tu
Hội
ấy
dưới
quyền
Giám
Mục,
có
thể
mang
lại
nhiều
kết
quả
trong
các
xứ
truyền
giáo
về
nhiều
phương
diện,
như
là
dấu
chỉ
của
sự
tận
hiến
trọn
vẹn
cho
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
trên
thế
giới.
Nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
giáo
dân
41.
Giáo
Dân
47*
cộng
tác
vào
hoạt
động
rao
giảng
Phúc
Âm
của
Giáo
Hội,
đồng
thời
với
tư
cách
chứng
nhân
và
khí
cụ
sống
động
17
họ
tham
gia
vào
sứ
mệnh
cứu
rỗi
của
Giáo
Hội,
nhất
là
khi
họ
được
Thiên
Chúa
kêu
gọi
và
được
Giám
Mục
thu
nhận
để
làm
việc
đó.
Trong
những
địa
hạt
đã
theo
Kitô
giáo,
giáo
dân
tham
gia
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
bằng
cách
tự
khuyến
khích
và
khích
lệ
người
khác
hiểu
biết
và
yêu
mến
các
xứ
truyền
giáo,
cổ
võ
ơn
kêu
gọi
trong
gia
đình
mình,
trong
các
hội
đoàn
công
giáo
và
trong
các
trường
học,
dâng
cúng
mọi
thứ
của
cải;
như
thế
họ
có
thể
trao
tặng
kẻ
khác
ơn
đức
tin
mà
họ
đã
nhận
lãnh
nhưng
không.
Còn
trong
những
địa
hạt
thuộc
các
xứ
truyền
giáo,
giáo
dân,
dù
là
ngoại
kiều
hay
địa
phương,
sẽ
dạy
học
trong
các
trường,
phụ
trách
các
việc
trần
thế,
hợp
tác
vào
hoạt
động
giáo
xứ
hay
giáo
phận,
thành
lập
và
cổ
võ
các
hình
thức
làm
việc
tông
đồ
giáo
dân,
để
tín
hữu
của
các
Giáo
Hội
trẻ
trung
được
góp
phần
riêng
mình
vào
đời
sống
Giáo
Hội
càng
sớm
càng
hay
18.
Sau
cùng
giáo
dân
phải
tự
ý
cộng
tác
trong
lãnh
vực
kinh
tế
xã
hội
với
các
dân
tộc
trên
đường
phát
triển.
Sự
cộng
tác
này
càng
đáng
khen
ngợi
nếu
càng
liên
quan
đến
việc
thành
lập
các
tổ
chức
thuộc
những
cơ
cấu
căn
bản
của
đời
sống
xã
hội
hay
để
đào
tạo
những
người
có
trách
nhiệm
với
quốc
gia.
Cũng
đáng
đặc
biệt
tán
thưởng
những
giáo
dân,
trong
các
Đại
Học
hay
các
Viện
Khoa
Học,
biết
dùng
những
khảo
cứu
lịch
sử
khoa
học
tôn
giáo
mà
cổ
võ
sự
hiểu
biết
về
các
dân
tộc
và
các
tôn
giáo;
như
thế
là
họ
giúp
các
nhà
rao
giảng
Phúc
Âm
và
chuẩn
bị
cuộc
đối
thoại
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo.
Họ
cũng
phải
hợp
tác
trong
tình
huynh
đệ
với
các
Kitô
hữu
khác,
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo
và
nhất
là
với
các
hội
viên
của
những
tổ
chức
quốc
tế,
nhưng
phải
luôn
nhớ
rằng
“việc
xây
dựng
xã
hội
trần
thế
đặt
nền
tảng
trong
Chúa
và
quy
hướng
về
Người”
19
Để
chu
toàn
tất
cả
những
phận
vụ
đó,
giáo
dân
cần
phải
được
chuẩn
bị
về
kỹ
thuật
và
đời
sống
thiêng
liêng
tại
những
Học
Viện
chuyên
khoa,
để
đời
sống
họ
trở
thành
chứng
tích
cho
Chúa
Kitô
đối
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo,
như
lời
Thánh
Tông
Đồ:
“Anh
em
đừng
nêu
gương
xấu
cho
người
Do
Thái,
cho
Muôn
Dân
và
cho
Giáo
Hội
Chúa,
như
chính
tôi,
tôi
làm
vừa
lòng
mọi
người
trong
mọi
sự
mà
không
tìm
tư
lợi
gì
cho
tôi,
chỉ
mong
giúp
ích
cho
nhiều
người
để
họ
được
cứu
rỗi”
(1Cor
10,
32-33).
KẾT
LUẬN
Các
Nghị
Phụ
Công
Đồng,
hiệp
nhất
cùng
Đức
Giáo
Hoàng,
ý
thức
rất
sâu
xa
về
bổn
phận
phải
mở
rộng
Nước
Chúa
khắp
nơi,
hết
lòng
thân
ái
chào
mừng
tất
cả
những
người
rao
giảng
Phúc
Âm,
nhất
là
những
người
chịu
bách
hại
vì
danh
Chúa
Kitô
và
chia
sẻ
những
đau
khổ
của
họ.
Như
Chúa
Kitô
đã
cháy
lửa
yêu
mến
nhân
loại
thế
nào
các
Nghị
Phụ
cũng
nóng
nẩy
yêu
mến
nhân
loại
như
vậy.
Nhưng
ý
thức
rằng
chính
Thiên
Chúa
khiến
Nước
Ngài
đến
trong
thế
gian,
các
Ngài
hiệp
cùng
tất
cả
các
Kitô
hữu
để
cầu
nguyện
để
nhờ
sự
cầu
bầu
của
Trinh
Nữ
Maria
Nữ
Vương
các
Tông
Đồ,
cho
muôn
dân
mau
được
đưa
về
nhận
biết
chân
lý
21
và
vinh
quang
Thiên
Chúa
đang
chói
lọi
trên
dung
nhan
Chúa
Giêsu
Kitô,
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
được
chiếu
sáng
cho
hết
mọi
người
22.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Sắc
Lệnh
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Đồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Đồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Đồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Đền
Thánh
Phêrô,
ngày
7
tháng
12
năm
1965.
Tôi,
PHAOLÔ
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
CHÚ
THÍCH
42*
-
Giáo
Hội
là
Giáo
Hội
truyền
giáo,
chính
vì
thế
trong
chương
này,
Sắc
Lệnh
sẽ
phân
tích
những
khả
năng
mà
mọi
phần
tử
trong
Giáo
Hội
có
thể
mang
lại
cho
công
việc
truyền
giáo.
43*-
Trước
tiên
ở
đây
Sắc
Lệnh
quả
quyết
mỗi
tín
hữu
có
nhiệm
vụ
truyền
giáo,
vì
họ
đã
được
ghép
vào
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô
qua
ba
bí
tích
gia
nhập
(Thanh
Tẩy,
Thêm
Sức,
Thánh
Thể),
các
phương
thế
được
chỉ
định
là:
ý
thức
trách
nhiệm
cá
nhân,
đời
sống
Kitô
giáo
gương
mẫu,
cầu
nguyện,
tinh
thần
sám
hối.
Tiếp
theo,
Sắc
Lệnh
đề
cập
tỉ
mỉ
đến
nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
các
cộng
đoàn
Kitô
hữu
(số
37),
các
Giám
Mục
và
Hội
Đồng
Giám
Mục
(số
38),
các
linh
mục
(số
39),
các
tu
hội
(số
40),
và
sau
cùng
giáo
dân
(số
41).
Tất
cả
các
đoạn
đó
đều
đầy
đủ
chi
tiết
cụ
thể
và
thực
tiễn.
44*
-
Số
37
khuyến
khích
cộng
đoàn
cộng
tác
vào
việc
truyền
giáo
trên
lãnh
vực
giáo
phận
và
giáo
xứ.
Ở
đây,
Sắc
Lệnh
khuyến
dụ
rằng
cộng
đoàn
trong
các
nước
công
giáo
hảy
đảm
đương
việc
truyền
giáo
hay
một
phần
việc
truyền
giáo
bằng
cách
đặc
biệt
giúp
đỡ
về
mọi
phương
diện.
45*
-
Ba
phận
vụ
là
cai
trị,
thánh
hoá
và
giáo
huấn.
Sắc
Lệnh
minh
định
sự
cộng
tác
vào
việc
truyền
giáo
có
thể
thực
hiện
được
trong
những
hoàn
cảnh
khác
biệt
của
đời
sống
linh
mục:
linh
mục
trong
giáo
xứ,
linh
mục
giáo
sư
trong
một
trường
học
và
nhất
là
trong
một
chủng
viện.
Trong
phạm
vi
hoạt
động
của
mình,
mỗi
linh
mục
phải
là
một
nhà
giáo
dục
cho
các
tín
hữu
có
một
ý
thức
truyền
giáo.
46*
- C
ông
Đồng
cũng
uỷ
thác
cho
các
Hội
dòng
nhiệm
vụ
nới
rộng
hoạt
động
truyền
giáo,
và
nếu
chưa
hoạt
động
gì,
họ
phải
đảm
nhận
một
công
tác.
Có
kẻ
nghĩ
rằng
các
tu
sĩ
có
lẽ
ít
thích
hợp
trong
việc
xây
dựng
những
giáo
phận
và
nhất
là
đào
tạo
một
hàng
giáo
sĩ
giáo
phận,
nhưng
không
có
lý
do
nào
biện
minh
cho
một
linh
mục
dòng
không
thể
vun
trồng
một
Giáo
Hội
địa
phương.
Nhiều
giáo
Hội
địa
phương
trong
những
nơi
ngoại
giáo
là
kết
quả
hoạt
động
do
một
nhóm
tu
sĩ
đảm
nhiệm.
47*
-
Giáo
dân
là
một
đoàn
viên
đúng
nghĩa
trong
cộng
đoàn
dân
Chúa,
và
vì
thế
người
giáo
dân
cũng
được
mời
gọi
giúp
đỡ
việc
truyền
giáo.
Họ
có
thể
giúp
đỡ
cách
gián
tiếp,
nhất
là
bằng
lời
cầu
nguyện
và
phương
tiện
vật
chất.
Người
giáo
dân
cũng
có
thể
là
một
nhà
truyền
giáo
hy
sinh
cả
thời
giờ
và
đời
sống,
không
lương
bổng,
phục
vụ
một
công
tác
chuyên
biệt.
Số
41
này
quảng
diễn
những
cách
thức
để
giáo
dân
có
thể
cộng
tác
vào
việc
truyền
giáo
của
Giáo
Hội.
Xem
Mc
16,15
Xem
CĐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
23-24:
AAS
57
(1965),
trg
27-29
Xem
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud,
30-11-1919
:
AAS
11(1919),
trg
453-353-
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
Ecclesiae,
28-2-1926
:
AAS
18
(1926),
trg
71-73-
Piô
XII,
Tđ.
Evangelii
Prae-cones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
525-526.
–
n.t.,
Tđ.
Fidei
donum,
15-1-1957
:
AAS
49
(1957),
trg
241
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Fiedei
donum,
15-1-1957
:
AAS49
(1957),
trg
345-246
Xem
Piô.
Tđ.
Rerum
Ecclesiae.
28-2-1926
:
AAS
18
(1926),
trg
72
Xem
CĐ.
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
44:
AAS
57
(1965),
trg
50
Xem
Mt
9,38
Xem
CvSđ
16,14
Xem
1Cor
3,7
Xem
Eph
4,13
Xem
Is
11,12
Xem
CĐ
Vat
II,
Sắc
Lệnh
về
Hiệp
Nhất,
số
12:
AAS
57
(1965),
trg
99.
Xem
CvSđ
16,9.
Xem
CĐ
Vat.II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
33,35:
AAS
57
(1965),
trg
40-41.
Xem
Piô
XII.
Tđ
Evangelii
Praecones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
510-514
–
Gioan
XXIII.
Tđ
Princeps
Pastorum,
28-11-1959
:
AAS
51
(1959),
trg
851-852.
Xem
CĐ
Vat.II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
46:
AAS
57
(1965),
trg
52.
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Evangelii
Praecones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
527
–
Gioan
XXIII,
Tđ.
Princeps
Pastorum,
28-11-1959
:
AAS
51
(1959),
trg
864.
Xem
1Tm
2,4.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II