VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
14-
SẮC
LỆNH
VỀ
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
CỦA
GIÁO
HỘI
(AD
GENTES)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
CHƯƠNG
V:
TỔ
CHỨC
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
Nhập
đề
28.
Các
Kitô
hữu
vì
có
những
đoàn
sủng
khác
nhau
1,
nên
mỗi
người
phải
cộng
tác
vào
Phúc
Âm
tuỳ
theo
hoàn
cảnh
thuận
tiện,
tài
năng,
đoàn
sủng
và
tác
vụ
2
của
mình.
Do
đó
tất
cả
mọi
người,
kẻ
gieo
và
người
gặt
3,
kẻ
trồng
và
người
tưới,
phải
hiệp
nhất
với
nhau
4,
để
“khi
cùng
nhau
hướng
về
một
mục
đích
cách
tự
do
và
trật
tự”
5
họ
đồng
tâm
gắng
sức
xây
dựng
Giáo
Hội.
Vì
thế
công
việc
của
những
người
rao
giảng
Phúc
Âm
và
sự
trợ
giúp
của
các
Kitô
hữu
khác
phải
được
hướng
dẫn
và
tập
trung
thế
nào,
để
trong
mọi
lãnh
vực
hoạt
động
và
hợp
tác
truyền
giáo
“mọi
sự
đều
được
thực
hiện
theo
trật
tự”
(1Cor
14,40)
Tổ
chức
tổng
quát
29.
Vì
nhiệm
vụ
loan
báo
Phúc
Âm
cho
toàn
thế
giới
trước
hết
là
việc
của
Giám
Mục
Đoàn
6,
nên
Thượng
Hội
Đồng
Giám
Mục,
tức
“Hội
Đồng
Giám
Mục
thường
trực
để
lo
cho
toàn
thể
Giáo
Hội”
7,
giữa
những
công
tác
có
tầm
quan
trọng
tổng
quát
khác
8,
phải
đặc
biệt
lưu
tâm
đến
hoạt
động
truyền
giáo,
một
nhiệm
vụ
rất
quan
trọng
và
rất
thánh
thiện
của
Giáo
Hội
9.
Để
lo
cho
các
xứ
truyền
giáo
và
cho
mọi
hoạt
động
truyền
giáo,
phải
có
một
Thánh
Bộ
duy
nhất
có
thẩm
quyền,
tức
là
“Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Đức
Tin”;
Thánh
Bộ
này
điều
khiển
và
phối
hợp
chính
công
cuộc
truyền
giáo
cũng
như
sự
hợp
tác
truyền
giáo
trên
toàn
thế
giới;
tuy
nhiên
quyền
của
các
Giáo
Hội
Đông
Phương
vẫn
còn
nguyên
vẹn
10.
Vẫn
biết
Chúa
Thánh
Thần
có
nhiều
cách
thúc
đẩy
tinh
thần
truyền
giáo
trong
Giáo
Hội
Chúa,
và
đôi
khi
đã
đi
trước
hành
động
của
những
vị
hướng
dẫn
đời
sống
Giáo
Hội,
tuy
nhiên,
riêng
về
phần
mình,
Thánh
Bộ
này
cũng
phải
phát
động
ơn
kêu
gọi
và
tinh
thần
truyền
giáo,
nhiệt
tâm
và
kinh
nguyện
cho
các
xứ
truyền
giáo,
và
phải
thông
báo
những
tin
tức
chính
xác
và
đầy
đủ
về
những
xứ
đó.
Thánh
Bộ
cũng
phải
cổ
võ
và
phân
phối
các
nhà
truyền
giáo
tuỳ
theo
nhu
cầu
khẩn
cấp
hơn
của
các
miền.
Thánh
Bộ
lại
phải
sắp
đặt
kế
hoạch
hoạt
động
cho
có
quy
củ,
ban
bố
những
tiêu
chuẩn
hướng
dẫn
và
những
nguyên
tắc
thích
nghi
với
việc
rao
giảng
Phúc
Âm,
và
thúc
đẩy
công
việc
đó
nữa.
Thánh
Bộ
phải
phát
động
và
phối
hợp
việc
đóng
góp
hữu
hiệu
tiền
trợ
cấp
và
phân
phát
tuỳ
theo
nhu
cầu
hay
lợi
ích,
theo
diện
tích,
theo
số
tín
hữu
và
lương
dân,
theo
số
công
tác
và
tổ
chức
cũng
như
theo
số
thừa
tác
viên
và
nhà
truyền
giáo.
Hợp
với
Văn
Phòng
cổ
võ
sự
hiệp
nhất
các
Kitô
hữu.
Thánh
Bộ
phải
tìm
đường
lối
và
phương
tiện
để
tạo
ra
cũng
như
tổ
chức
sự
cộng
tác
huynh
đệ
và
cả
việc
hoà
hợp
với
những
kế
hoạch
truyền
giáo
của
các
cộng
đoàn
Kitô
giáo
khác,
hầu
tẩy
trừ
các
gương
xấu
chia
rẽ
càng
nhiều
càng
hay.
Bởi
vậy
Thánh
Bộ
này
cần
phải
vừa
là
phương
tiện
điều
hành,
vừa
là
cơ
quan
chỉ
đạo
sống
động,
biết
sử
dụng
những
phương
pháp
khoa
học
và
những
phương
tiện
thích
nghi
với
các
hoàn
cảnh
hiện
đại,
nghĩa
là
chú
trọng
đến
các
khảo
cứu
hiện
thời
về
thần
học,
phương
pháp
học
và
mục
vụ
truyền
giáo.
Trong
việc
điều
hành
Thánh
Bộ
này,
phải
có
nhiều
phần
tích
cực
với
phiếu
quyết
định
của
những
đại
biểu
được
chọn
trong
số
tất
cả
những
người
cộng
tác
vào
công
cuộc
truyền
giáo:
đó
là
các
Giám
Mục
từ
khắp
hoàn
cầu,
sau
khi
đã
lãnh
ý
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
và
những
vị
Giám
Đốc
các
tổ
chức
và
các
Hội
Giáo
Hoàng,
theo
cách
thức
và
quy
tắc
do
Đức
Giáo
Hoàng
ấn
định.
Tất
cả
những
vị
này
được
triệu
tập
theo
định
kỳ
để
thực
thi
công
việc
điều
hành
tối
cao
của
toàn
thể
công
cuộc
truyền
giáo
dưới
quyền
Đức
Giáo
Hoàng.
Thánh
Bộ
này
cũng
phải
có
một
Uỷ
Ban
Cố
Vấn
thường
trực,
gồm
những
người
chuyên
môn,
đầy
kiến
thức
và
kinh
nghiệm;
trong
các
công
việc
của
họ,
những
người
này
còn
có
nhiệm
vụ
thu
thập
những
tài
liệu
cần
biết
về
hoàn
cảnh
địa
phương
của
các
miền
và
về
những
tâm
tính
của
những
nhóm
người
khác
nhau,
cũng
như
về
những
phương
pháp
cần
phải
áp
dụng
cho
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
và
đưa
ra
những
kết
luận
có
nền
tảng
khoa
học
cho
công
cuộc
truyền
giáo
và
việc
cộng
tác
truyền
giáo.
Những
Hội
Dòng
Nữ,
cũng
như
các
công
cuộc
địa
phương
giúp
các
xứ
truyền
giáo
và
cả
những
tổ
chức
giáo
dân,
nhất
là
những
tổ
chức
quốc
tế,
đều
phải
được
đại
diện
một
cách
thích
đáng.
Tổ
chức
địa
phương
ở
các
xứ
truyền
giáo
30.
Để
việc
thi
hành
công
cuộc
truyền
giáo
này
đạt
tới
mục
đích
và
kết
quả,
mọi
người
làm
việc
truyền
giáo
phải
có
một
“con
tim
duy
nhất
và
một
tâm
hồn
duy
nhất”
(CvTđ
4,32).
Đức
Giám
Mục
40*
là
vị
chỉ
huy
và
là
trung
tâm
hiệp
nhất
việc
tông
đồ
giáo
phận,
có
nhiệm
vụ
phát
động,
điều
khiển
và
phối
hợp
hoạt
động
truyền
giáo
thế
nào
để
duy
trì
và
cổ
võ
lòng
nhiệt
thành
của
những
người
tham
gia
vào
công
việc
này.
Hết
mọi
nhà
truyền
giáo,
kể
cả
những
tu
sĩ
miễn
trừ,
đều
phục
quyền
ngài
trong
những
công
tác
nhằm
thi
hành
việc
tông
đồ
thánh
11.
Để
phối
hợp
công
việc
tốt
đẹp
hơn,
nếu
có
thể
Đức
Giám
Mục
nên
thiết
lập
Hội
Đồng
Mục
Vụ,
trong
đó
giáo
sĩ,
tu
sĩ
và
giáo
dân
đều
được
góp
phần
qua
những
đại
biểu
được
tuyển
chọn.
Ngoài
ra,
Giám
Mục
phải
lo
liệu
để
hoạt
động
tông
đồ
không
chỉ
giới
hạn
cho
những
người
đã
tòng
giáo,
nhưng
phải
dành
một
phần
nhân
lực
và
vật
lực
tương
đương
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
những
người
ngoài
Kitô
giáo.
Phối
hợp
hoạt
động
trong
miền
31.
Các
Hội
Đồng
Giám
Mục
phải
đồng
lòng
cứu
xét
những
vấn
đề
hệ
trọng
hơn
và
những
vấn
đề
khẩn
cấp
hơn,
nhưng
không
được
khinh
thường
những
dị
biệt
địa
phương
12.
Để
khỏi
phân
tán
nhân
lực
còn
thiếu
thốn,
và
để
khỏi
gia
tăng
những
sáng
kiến
không
cần
thiết,
nên
hợp
lực
thiết
lập
những
công
tác
phục
vụ
lợi
ích
chung,
thí
dụ
chủng
viện,
các
trường
cao
đẳng
hay
kỹ
thuật,
những
trung
tâm
mục
vụ,
giáo
lý,
phụng
vụ
và
cả
những
trung
tâm
cho
các
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội.
Cũng
phải
tuỳ
tiện
thiết
lập
sự
cộng
tác
như
vậy
giữa
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
khác
nhau.
Phối
hợp
hoạt
động
của
các
tổ
chức
32.
Cũng
nên
phối
hợp
hoạt
động
của
các
Tổ
Chức
hay
Hội
Đoàn
trong
Giáo
Hội.
Mọi
tổ
chức
đó,
bất
cứ
thuộc
loại
nào,
trong
bất
cứ
điều
gì
liên
quan
đến
chính
hoạt
động
truyền
giáo,
đều
phải
tùy
phục
Đấng
Bản
Quyền
địa
phương.
Vì
thế,
sẽ
rất
hữu
ích
nếu
đi
đến
những
hợp
đồng
riêng
để
qui
định
những
liên
lạc
giữa
Đấng
Bản
Quyền
và
vị
Giám
Đốc
của
các
Tổ
Chức
này.
Khi
một
địa
hạt
uỷ
thác
cho
một
Tổ
Chức
nào,
Bề
Trên
của
Giáo
Hội
địa
phương
và
của
Tổ
Chức
đó
phải
để
tâm
qui
hướng
mọi
sự
đến
mục
đích
này
là
để
cộng
đoàn
Kitô
giáo
mới
mẻ
được
phát
triển
thành
một
Giáo
Hội
địa
phương;
việc
quản
trị
Giáo
Hội
này
sẽ
được
trao
cho
Chủ
Chăn
cùng
với
hàng
giáo
sĩ
riêng
của
mình
vào
lúc
thuận
tiện.
Sau
khi
uỷ
nhiệm
một
địa
hạt
chấm
dứt,
một
hoàn
cảnh
mới
sẽ
phát
sinh.
Khi
đó
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
và
các
Tổ
Chức
phải
đồng
lòng
ấn
định
những
tiêu
chuẩn
hướng
dẫn
mối
tương
quan
giữa
các
Đấng
Bản
Quyền
và
các
Tổ
Chức
13.
Còn
Toà
Thánh
có
nhiệm
vụ
phác
hoạ
những
nguyên
tắc
tổng
quát
để
theo
đó
ký
kết
những
hiệp
ước
miền,
hoặc
cả
những
hiệp
ước
riêng
tư
nữa.
Tuy
các
Tổ
Chức
sẵn
sàng
tiếp
tục
công
việc
đã
khởi
xướng,
bằng
cách
cộng
tác
vào
các
thừa
tác
vụ
thông
thường
là
coi
sóc
các
linh
hồn,
nhưng
khi
hàng
giáo
sĩ
địa
phương
tăng
triển,
phải
trù
liệu
các
Tổ
Chức,
theo
một
mức
độ
thích
hợp
với
mục
đích
mình,
vẫn
còn
trung
thành
với
chính
giáo
phận
bằng
cách
quảng
đại
lãnh
nhận
những
công
tác
đặc
biệt
hay
một
vùng
nào
đó
trong
giáo
phận.
Phối
hợp
giữa
các
tổ
chức
33.
Những
Tổ
Chức
41*
đang
chăm
lo
công
việc
truyền
giáo
trong
cùng
một
địa
hạt
phải
tìm
đường
lối
và
phương
pháp
phối
hợp
công
tác.
Vì
thế
rất
cần
có
những
Hội
Đồng
Nam
Tu
và
Hiệp
Hội
Nữ
Tu
với
sự
tham
gia
của
mọi
tổ
chức
trong
cùng
một
nước
hay
một
miền.
Các
Hội
Đồng
này
phải
tìm
xem
có
thể
cùng
nhau
cố
gắng
làm
được
những
gì
và
phải
liên
kết
chặt
chẽ
với
các
Hội
Đồng
Giám
Mục.
Vì
lý
do
tương
tự,
tất
cả
những
điều
trên
cũng
nên
được
mang
ra
áp
dụng
vào
công
việc
cộng
tác
giữa
những
Tổ
Chức
truyền
giáo
ngay
tại
quê
hương,
để
có
thể
giải
quyết
các
vấn
đề
và
các
công
cuộc
chung
một
cách
dễ
dàng
và
ít
tốn
kém
hơn,
chẳng
hạn
như
việc
huấn
luyện
về
giáo
thuyết
cho
các
nhà
truyền
giáo
tương
lai,
những
khoá
học
cho
những
nhà
truyền
giáo,
những
liên
lạc
với
chính
quyền
hay
với
những
cơ
quan
quốc
tế
và
siêu
quốc
gia.
Phối
hợp
giữa
các
viện
khoa
học
34.
Một
hoạt
động
truyền
giáo
được
thực
thi
đứng
đắn
và
có
tổ
chức
chặt
chẽ
đòi
hỏi
các
thợ
rao
giảng
Phúc
Âm
phải
được
chuẩn
bị
cho
nhiệm
vụ
mình
một
cách
khoa
học,
nhất
là
để
đối
thoại
với
các
tôn
giáo
và
văn
hoá
ngoài
Kitô
giáo.
Họ
phải
được
giúp
đỡ
một
cách
hữu
hiệu
ngay
trong
khi
thi
hành
chức
vụ;
do
đó
ước
mong
rằng:
để
giúp
đỡ
các
xứ
truyền
giáo,
cần
có
sự
cộng
tác
huynh
đệ
và
quảng
đại
giữa
những
Tổ
Chức
khoa
học
đang
nghiên
cứu
khoa
truyền
giáo
và
những
môn
học
hay
nghệ
thuật
khác
giúp
ích
cho
các
xứ
truyền
giáo
như
nhân
chủng
học,
ngôn
ngữ
học,
lịch
sử
học,
tôn
giáo
học,
xã
hội
học,
những
nghệ
thuật
mục
vụ
và
những
môn
tương
tự.
CHÚ
THÍCH
39*
-
Công
việc
truyền
giáo
thật
là
vĩ
đại,
về
phương
diện
địa
lý
cũng
như
về
mục
đích
nhằm
thực
hiện.
Một
công
trình
như
thế
muốn
thành
công,
cần
phải
có
tổ
chức.
Chương
V
đề
cập
đến
tổ
chức
ấy.
Vì
hoạt
động
truyền
giáo
là
một
bổn
phận
chính
yếu
của
Giáo
Hội,
nên
có
thể
khảo
sát
việc
tổ
chức
này
trên
ba
phương
diện:
phổ
quát,
theo
miền
và
địa
phương.
Trên
phương
diện
phổ
quát,
có
vấn
đề
kế
hoạch
hoá
và
điều
khiển
hoạt
động
truyền
giáo
tổng
quát.
Theo
nguyên
tắc
cộng
đoàn,
trách
nhiệm
rao
giảng
cho
muôn
dân
là
trách
nhiệm
của
Giám
Mục
Đoàn
với
Đức
Giáo
Hoàng
(số
28;
GH
số
23).
Nhưng
trong
thực
tế
các
ngài
hoạt
động
dưới
hình
thức
cụ
thể
nào?
Theo
Sắc
Lệnh
thì
có
hai
cách:
việc
chỉ
huy
và
điều
khiển
công
việc
truyền
giáo
tổng
quát
là
bổn
phận
của
Đức
Thánh
Cha
với
“Hội
Đồng
Giám
Mục
thường
trực
để
lo
cho
toàn
thể
Giáo
Hội”.
Trên
phương
diện
quản
trị
và
thi
hành,
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Đức
Tin
chịu
trách
nhiệm
với
sự
phê
chuẩn
của
Giáo
Hoàng.
Sắc
Lệnh
không
quảng
diễn
điểm
thứ
hai
này
(số
29).
Nhưng
với
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Đức
Tin
có
hai
điểm
được
xác
định:
các
Giám
Mục
hội
viên
phải
được
tuyển
chọn
sau
khi
tham
khảo
ý
kiến
của
các
Hội
Đồng
Giám
Mục.
Hơn
nữa
các
đại
diện
của
những
người
cộng
tác
nào
việc
truyền
giáo
phải
góp
phần
tích
cực
với
quyền
biểu
quyết
ngay
cả
trong
Thánh
Bộ.
Tất
cả
những
yếu
tố
đó
đòi
hỏi
phải
có
một
cuộc
cải
tổ
dựa
trên
nguyên
tắc
cộng
đoàn.
40*-
Trên
bình
diện
địa
phương,
chính
Giám
Mục
là
người
phải
điều
khiển
hoạt
động
truyền
giáo
(số
39).
Trên
phương
diện
miền,
chính
Hội
Đồng
Giám
Mục
miền
có
trách
nhiệm
(số
31).
41*-
Vì
trong
các
xứ
truyền
giáo
các
tổ
chức
tôn
giáo
hay
tổ
chức
khác
hoặc
truyền
giáo
hoặc
có
tính
cách
khoa
học,
thường
đóng
vai
trò
quan
trọng,
nên
Sắc
Lệnh
cũng
được
đề
cặp
đến
việc
sắp
đặt
cũng
như
phối
hợp
hoạt
động
truyền
giáo
của
những
tổ
chức
đó
(số
32-34).
Những
thoả
hiệp
giữa
những
tổ
chức
truyền
giáo
và
các
Giám
Mục
địa
phương
sẽ
xúc
tiến
việc
phối
hợp
hoạt
động
truyền
giáo.
Giữa
các
tổ
chức
truyền
Giáo,
có
các
Uỷ
Ban
để
thoả
thuận
đưa
ra
một
vài
phương
thế
chung,
hầu
phục
vụ
việc
truyền
giáo.
Sắc
Lệnh
cũng
nhấn
mạnh
cần
phải
biểu
dương
công
giáo
tính
thật
sự
của
việc
truyền
giáo
bằng
cách
vượt
qua
mọi
tính
cách
riêng
tư
cũng
như
mọi
hình
thức
lấn
áp
quyền
hành.
1
Xem
Rm
12,6
2
Xem
1
Cor
3,10
3
Xem
Gio
4,37
4
Xem
1Cor
38
5
Xem
CĐ
vat
II.
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
18:
AAS
57
(1965)
trg
22.
6.
Xem
CĐ
Vat.II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
23:
AAS
57
(1965),trg
28.
7.
Xem
Tự
Sắc
Apostolica
Sollitudo,
15-9-1965
:
AAS
57
(1965),
trg
776.
8.
Xem
PhaolôVI,
Diễn
từ
21-11-1964
tại
Công
Đồng:
AAS
56
(1964),
trg
1011.
9.
Xem
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud,
30-11-1919
:
AAS
11(1919),
trg
39-40.
10.
Nếu
lý
do
nào
đó
mà
đến
nay
một
số
xứ
truyền
giáo
vẫn
còn
tạm
thời
tuỳ
thuộc
vào
nhiều
Thánh
Bộ
khác,
phải
làm
thế
nào
để
Thánh
Bộ
đó
có
liên
lạc
với
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Đức
Tin,
hầu
có
thể
có
một
phương
pháp
cũng
như
một
nguyên
tắc
hoàn
toàn
cố
định
và
đồng
nhất
trong
việc
tổ
chức
và
điều
khiển
mọi
xứ
truyền
giáo.
11.
Xem
CĐ
Vat
II,
Sắc
Lệnh
về
nhiệm
vụ
của
các
Giám
Mục,
số
35,4
12.
Xem
n.t.,
số
36-38.
13.
Xem
CĐ
Vat
II,
Sắc
Lệnh
về
Nhiệm
Vụ
mục
vụ
của
các
Giám
Mục,
số
35,
5-6.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II