VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
14-
SẮC
LỆNH
VỀ
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
CỦA
GIÁO
HỘI
(AD
GENTES)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
CHƯƠNG
IV:
CÁC
NHÀ
TRUYỀN
GIÁO
Ơn
gọi
truyền
giáo
Dù
mọi
môn
đệ
Chúa
Kitô
đều
có
bổn
phận
góp
phần
vào
công
cuộc
gieo
vãi
đức
tin
1,
nhưng
Chúa
Kitô
luôn
gọi
những
kẻ
chính
Người
muốn,
trong
số
các
môn
đệ
mình,
để
họ
ở
với
Người
và
để
Người
sai
đi
giảng
dạy
muôn
dân
2 .
Vì
thế
nhờ
Chúa
Thánh
Thần,
Đấng
tùy
ý
ban
phát
các
đoàn
sủng
để
mưu
lợi
ích
chung
3,
Chúa
Kitô
khơi
dậy
ơn
kêu
gọi
truyền
giáo
trong
tâm
hồn
từng
cá
nhân,
đồng
thời
thúc
đẩy
trong
Giáo
Hội
có
những
tổ
chức
4
đảm
nhận
như
một
bổn
phận
riêng
nhiệm
vụ
truyền
bá
Phúc
Âm
35*
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Do
đó,
những
người
có
năng
khiếu
bẩm
sinh
thích
ứng,
đủ
khả
năng
tinh
thần
và
trí
tuệ,
sẵn
sàng
lãnh
nhận
công
cuộc
truyền
giáo,
đều
được
kể
là
có
ơn
gọi
đặc
biệt
5,
36*
dù
họ
là
người
địa
phương
hay
ngoại
quốc,
là
linh
mục,
tu
sĩ
hay
giáo
dân.
Được
quyền
bính
hợp
pháp
sai
đi,
do
đức
tin
và
đức
vâng
phục,
họ
ra
đi
đến
với
những
người
xa
Chúa
Kitô;
họ
được
tách
riêng
ra
để
chu
toàn
công
việc
mà
họ
được
chọn
để
thi
hành
6
như
là
những
thừa
tác
viên
của
Phúc
Âm,
“để
việc
phụng
hiến
dân
ngoại
làm
lễ
vật
được
chấp
nhận
và
được
thánh
hóa
trong
Chúa
Thánh
Thần”
(
Rm
15,
16).
Đường
tu
đức
của
nhà
truyền
giáo
Tuy
nhiên,
con
người
phải
đáp
lại
lời
kêu
gọi
của
Thiên
Chúa
để
hoàn
toàn
dấn
thân
phục
vụ
Phúc
Âm
37*,
chứ
không
nghe
theo
xác
thịt
và
máu
mủ
7.
Nhưng
sự
đáp
lại
này
không
thể
thực
hiện
nếu
không
được
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy
và
củng
cố.
Thật
vậy,
kẻ
được
sai
đi
phải
thấm
nhuần
đời
sống
và
sứ
mệnh
của
Đấng
đã
“tự
hủy
mình
mà
nhận
lấy
thân
phận
tôi
tớ”
(Ph
2,7).
Do
đó,
họ
phải
sẵn
sàng
để
suốt
đời
đứng
vững
trong
ơn
gọi
của
mình,
phải
tự
bỏ
mình
và
những
gì
mình
có
từ
trước
đến
nay
và
“trở
nên
mọi
sự
cho
mọi
người”
8.
Trong
khi
rao
giảng
Phúc
Âm
giữa
muôn
dân,
nhà
truyền
giáo
phải
mạnh
dạn
và
tin
tưởng
làm
cho
người
ta
nhận
biết
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
mà
họ
là
sứ
giả,
đến
nỗi
trong
Người,
họ
dám
nói
như
phải
nói
9
và
không
xấu
hổ
về
vẻ
ô
nhục
của
thập
giá.
Theo
gương
Thầy
mình,
Đấng
hiền
lành
và
khiêm
nhượng
trong
lòng,
họ
phải
tỏ
ra
ách
Người
êm
ái
và
gánh
Người
nhẹ
nhàng
10.
Họ
phải
làm
chứng
về
Chúa
của
họ
bằng
đời
sống
Phúc
Âm
đích
thực
11,
đầy
kiên
nhẫn,
đại
lượng,
nhân
hậu,
yêu
mến
chân
thành
12,
và
nếu
cần
họ
sẽ
đổ
máu
ra.
Họ
sẽ
nài
xin
Thiên
Chúa
lòng
can
đảm
và
sức
mạnh
để
nhận
ra
nguồn
vui
sung
mãn
trong
nhiều
thử
thách
khổ
tâm
và
thiếu
thốn
cực
độ
13.
Họ
phải
xác
tín
rằng
đức
vâng
phục
là
sức
mạnh
đặc
biệt
của
những
thừa
tác
viên
của
Chúa
Kitô,
Đấng
đã
dùng
sự
vâng
phục
để
cứu
nhân
loại.
Những
nhà
rao
giảng
Phúc
Âm
đừng
hờ
hững
với
ân
sủng
đã
lãnh
nhận
phải
tự
canh
tân
tâm
trí
mỗi
ngày
14.
Vì
thế,
các
Đấng
Bản
Quyền
và
Bề
Trên
phải
hội
họp
các
nhà
truyền
giáo
vào
những
thời
gian
nhất
định,
để
họ
được
củng
cố
bằng
niềm
cậy
trông
của
ơn
gọi
và
được
canh
tân
trong
thừa
tác
vụ
tông
đồ;
lại
cũng
nên
lập
các
cơ
sở
thích
nghi
với
mục
đích
này.
Huấn
luyện
đời
sống
thiêng
liêng
và
luân
lý
Để
đảm
nhận
công
tác
cao
trọng
đó,
nhà
truyền
giáo
tương
lai
phải
được
huấn
luyện
đặc
biệt
về
đời
sống
thiêng
liêng
và
luân
lý
15.
Thực
vậy,
họ
phải
mau
mắn
khởi
xướng,
kiên
trì
hoàn
tất
công
việc,
bền
chí
trong
khó
khăn,
nhẫn
nại
và
can
đảm
chịu
đựng
nỗi
cô
quạnh,
sự
mệt
nhọc
và
những
cố
gắng
vô
hiệu.
Họ
sẽ
đến
cùng
mọi
người
với
tâm
hồn
rộng
mở,
với
con
tim
bao
dung,
tình
nguyện
lãnh
nhận
nhiệm
vụ
được
giao
phó,
quảng
đại
thích
nghi
cả
với
những
phong
tục
khác
thường
của
các
dân
tộc
và
những
điều
kiện
sinh
hoạt
đổi
thay,
đồng
tâm,
tương
ái
cộng
tác
với
anh
em
và
mọi
người
đang
hiến
thân
cho
cùng
một
công
việc,
để
theo
gương
cộng
đoàn
thời
các
Tông
Đồ,
họ
cùng
với
các
tín
hữu
hợp
thành
một
con
tim
và
một
tâm
hồn
duy
nhất
16.
Ngay
trong
thời
kỳ
huấn
luyện,
những
dự
kiện
đó
phải
được
chuyên
tâm
thực
hành,
trau
dồi
và
phát
triển
nuôi
dưỡng
bằng
đời
sống
thiêng
liêng.
Thấm
nhuần
đức
tin
sống
động
và
đức
cậy
vững
vàng,
nhà
trưyền
giáo
phải
là
con
người
cầu
nguyện;
phải
được
nung
đúc
bằng
tinh
thần
can
đảm,
yêu
thương
và
tự
chủ
17;
phải
học
quen
tự
túc
trong
mọi
hoàn
cảnh
18;
phải
lấy
tinh
thần
hy
sinh
mang
trên
mình
cuộc
tử
nạn
của
Chúa
Giêsu
để
sự
sống
Chúa
Giêsu
tác
động
trong
những
người
họ
được
sai
đến
19;
vì
lòng
nhiệt
thành
với
các
linh
hồn,
họ
phải
tự
nguyện
hy
sinh
mọi
sự
và
tận
hiến
chính
bản
thân
cho
các
linh
hồn
20,
để
như
vậy
họ
“gia
tăng
tình
yêu
Thiên
Chúa
và
tha
nhân
bằng
việc
thi
hành
nhiệm
vụ
hằng
ngày”
21.
Như
thế,
vâng
theo
ý
Đức
Chúa
Cha,
họ
sẽ
cùng
với
Chúa
Kitô
tiếp
tục
sứ
mệnh
của
Người
dưới
quyền
phẩm
trật
trong
Giáo
Hội,
và
sẽ
cộng
tác
vào
mầu
nhiệm
cứu
rỗi.
Huấn
luyện
giáo
lý
và
làm
tông
đồ
Như
những
thừa
tác
viên
xứng
đáng
của
Chúa
Kitô,
những
ai
được
sai
đến
với
các
dân
tộc
phải
được
nuôi
dưỡng
“bằng
lời
lẽ
đức
tin
và
giáo
lý
lành
thánh”
(Tm
4,
6)
mà
họ
sẽ
múc
lấy,
trước
hết
từ
Thánh
Kinh,
trong
khi
đào
sâu
Mầu
Nhiệm
Chúa
Kitô,
Đấng
họ
phải
rao
giảng
và
làm
chứng.
Bởi
vậy,
mọi
nhà
truyền
giáo
–
linh
mục,
tu
sĩ
nam
nữ,
giáo
dân
-
đều
phải
được
chuẩn
bị
và
đào
tạo
theo
hoàn
cảng
riêng
của
mỗi
người
để
khỏi
thiếu
những
khả
năng
đáp
ứng
với
những
đòi
hỏi
của
công
việc
mai
sau
22.
Ngay
từ
đầu,
việc
huấn
luyện
giáo
thuyết
cho
họ
phải
được
tổ
chức
thế
nào
để
vừa
bao
hàm
tính
cách
phổ
quát
của
Giáo
Hội
vừa
gồm
sự
dị
biệt
của
các
dân
tộc.
Điều
đó
cũng
có
giá
trị
đối
với
mọi
môn
học
mà
họ
phải
trau
dồi
để
hoàn
thành
thừa
tác
vụ,
cũng
như
đối
với
những
khoa
học
hữu
ích
khác,
giúp
họ
có
kiến
thức
chung
thuộc
về
quá
khứ
cũng
như
trong
hiện
tại
về
các
dân
tộc,
các
nền
văn
hóa,
các
tôn
giáo.
Như
thế
nghĩa
là
bất
cứ
ai
sẽ
đến
với
dân
tộc
khác,
phải
hết
sức
mến
chuộng
di
sản,
tiếng
nói
và
phong
tục
của
dân
tộc
đó.
Nhà
truyền
giáo
tương
lai
trước
hết
cần
phải
miệt
mài
học
hỏi
khoa
truyền
giáo,
tức
là
thấu
hiểu
giáo
thuyết
và
những
qui
tắc
của
Giáo
Hội
về
hoạt
động
truyền
giáo,
biết
đường
lối
mà
các
nhà
rao
giảng
Phúc
Âm
đã
từng
trải
qua
bao
thế
kỷ,
và
cả
tình
trạng
truyền
giáo
hiện
thời,
cùng
những
phương
pháp
hiện
nay
được
coi
là
hiệu
nghiệm
hơn
cả
23.
Mặc
dầu
việc
giáo
dục
toàn
hảo
này
chú
tâm
đặc
biệt
đến
phương
diện
mục
vụ,
nhưng
cũng
phải
chú
ý
tới
việc
đào
tạo
tinh
thần
tông
đồ
một
cách
đặc
biệt
và
có
hệ
thống
cả
về
giáo
thuyết
lẫn
thực
hành
24.
Phải
có
một
số
rất
đông
nam
nữ
tu
sĩ
được
học
hỏi
và
chuẩn
bị
kỹ
lưỡng
về
nghệ
thuật
dạy
giáo
lý
để
họ
có
thể
cộng
tác
vào
việc
tông
đồ
một
cách
đắc
lực
hơn
nữa.
Cả
những
người
chỉ
đảm
nhận
một
phần
công
tác
truyền
giáo
trong
một
thời
gian
cũng
cần
phải
được
huấn
luyện
tương
xứng
với
hoàn
cảnh
của
họ.
Những
loại
huấn
luyện
này
phải
được
bổ
túc
ở
chính
những
nơi
họ
được
sai
tới,
để
các
nhà
truyền
giáo
hiểu
biết
rộng
rãi
hơn
về
lịch
sử,
cơ
cấu
xã
hội
và
tập
quán
của
các
dân
tộc,
thấu
triệt
trật
tự
luân
lý,
luật
lệ
tôn
giáo
và
cả
những
ý
tưởng
thâm
sâu
mà
theo
truyền
thống
thiêng
liêng,
các
dân
tộc
đó
quan
niệm
về
Thiên
Chúa,
về
vũ
trụ
và
về
con
người
25.
Do
đó,
họ
phải
học
biết
tiếng
nói
đến
mức
độ
có
thể
sử
dụng
thông
thạo
và
trôi
chảy,
như
thế
họ
tìm
thấy
đường
lối
đến
với
tâm
trí
và
con
tim
con
người
một
cách
dễ
dàng
hơn
26.
Ngoài
ra,
họ
phải
được
khai
tâm
đúng
đắn
về
những
nhu
cầu
mục
vụ
riêng
biệt.
Cũng
phải
có
một
số
nhà
truyền
giáo
được
chuẩn
bị
kỹ
lưỡng
hơn
tại
những
Học
Viện
Truyền
Giáo,
hoặc
những
Phân
Khoa
hay
Đại
Học
khác
để
họ
có
thể
thi
hành
những
trách
vụ
đặc
biệt
một
cách
hữu
hiệu
hơn
27,
và
nhờ
sự
uyên
bác
của
mình
họ
có
thể
giúp
đỡ
những
nhà
truyền
giáo
khác
trong
việc
truyền
giáo,
nhất
là
trong
thời
đại
chúng
ta
có
nhiều
khó
khăn
đồng
thời
cũng
nhiều
thuận
tiện.
Hơn
nữa,
cũng
rất
mong
ước
các
Hội
Đồng
Giám
Mục
Miền
có
sẵn
trong
tay
nhiều
nhà
chuyên
môn
như
thế
và
sử
dụng
kiến
thức,
kinh
nghiệm
của
họ
một
cách
hữu
hiệu
trong
những
nhu
cầu
của
nhiệm
vụ
mình.
Cũng
nên
có
những
người
biết
sử
dụng
thông
thạo
các
dụng
cụ
kỹ
thuật
và
truyền
thông
xã
hội
mà
ai
nấy
đều
biết
tầm
quan
trọng
của
chúng.
Các
hội
thừa
sai
Tuy
tất
cả
những
điều
đó
đều
hoàn
toàn
cần
thiết
cho
bất
cứ
ai
được
sai
đến
với
các
dân
tộc,
nhưng
từng
cá
nhân
khó
có
thể
thực
sự
đạt
tới
được.
Hơn
nữa,
vì
kinh
nghiệm
đã
chứng
minh
rằng
chính
công
việc
truyền
giáo
không
thể
do
từng
người
riêng
rẽ
chu
toàn
được,
nên
những
người
có
cùng
một
ơn
kêu
gọi
đã
hợp
thành
những
Tu
Hội
38*,
để
nhờ
chung
sức
với
nhau,
họ
được
huấn
luyện
một
cách
thích
hợp
và
theo
đuổi
công
việc
đó
nhân
danh
Giáo
Hội
và
theo
ý
muốn
của
hàng
Giáo
Phẩm.
Từ
nhiều
thế
kỷ
nay,
những
Tổ
Chức
này
đã
mang
gánh
nặng
của
tháng
ngày
và
của
nóng
nực,
đã
tự
hiến
trọn
vẹn
hoặc
một
phần
cho
công
việc
truyền
giáo
vất
vả.
Thường
thường,
Tòa
Thánh
ủy
thác
cho
họ
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
những
vùng
đất
rộng
lớn,
ở
đó
họ
tụ
họp
cho
Thiên
Chúa
một
dân
tộc
mới,
một
Giáo
Hội
địa
phương
liên
kết
chặt
chẽ
với
các
chủ
chăn
mình.
Đối
với
các
Giáo
Đoàn
mà
họ
đã
xây
dựng
bằng
mồ
hôi
và
cả
bằng
máu
mình,
họ
đem
hết
lòng
nhiệt
thành
và
kinh
nghiệm
để
phục
vụ
trong
tinh
thần
cộng
tác
huynh
đệ,
hoặc
bằng
việc
săn
sóc
các
linh
hồn,
hoặc
bằng
cách
chu
toàn
những
công
tác
đặc
biệt
nhằm
lợi
ích
chung.
Đôi
khi
họ
sẽ
đảm
nhận
một
số
công
tác
khẩn
cấp
hơn
cho
cả
một
miền,
chẳng
hạn
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
những
nhóm
người
hay
những
dân
tộc,
mà
vì
những
lý
do
riêng,
có
lẽ
chưa
nhận
được,
hoặc
vẫn
còn
chống
lại
sứ
điệp
Phúc
Âm
28.
Nếu
cần,
họ
phải
sẵn
sàng
dùng
kinh
nghiệm
mình
huấn
luyện
và
giúp
đỡ
những
người
hiến
thân
trong
một
thời
gian
cho
hoạt
động
truyền
giáo.
Vì
những
lý
do
trên
và
vì
vẫn
còn
nhiều
dân
tộc
phải
được
dẫn
về
với
Chúa
Kitô,
nên
những
Tổ
Chức
đó
còn
hết
sức
cần
thiết.
CHÚ
THÍCH
34*
-
Hoạt
động
truyền
giáo
có
bản
tính
và
mục
đích
riêng
biệt.
Vì
thế
nó
phải
có
những
người
thợ
được
chỉ
định
và
được
đặc
biệt
chuẩn
bị.
Đó
là
các
vị
truyền
giáo.
Có
những
cái
nhìn
mơ
hồ
được
phổ
biến
đó
đây
quan
niệm
rằng
các
nhà
truyền
giáo
chỉ
có
tính
cách
phụ
thuộc,
và
làm
lu
mờ
hình
ảnh
cũng
như
vai
trò
của
họ.
Nhưng
các
Giám
Mục
xứ
truyền
giáo
và
với
các
ngài
cả
Công
Đồng
mong
ước
rằng
nhà
truyền
giáo
phải
được
xác
định
một
cách
trọn
vẹn,
được
diễn
tả
và
khuyến
khích
qua
một
sắc
lệnh.
Thật
vậy,
dù
cả
Giáo
Hội
phải
truyền
giáo,
nhưng
Thánh
Kinh
cũng
cho
thấy
có
một
số
người
được
cắt
đặt
rao
giảng
Phúc
Âm
(
CvTđ
13,2;
Rm
1,1).
Chủ
đề
của
chương
IV
là
ơn
kêu
gọi,
ý
niệm,
vai
trò
và
việc
huấn
luyện
một
nhà
truyền
giáo.
CĐ
Vat.
II.
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
17:
AAS
57
(1965),
trg
21.
Xem
Mc
3,
13
t.
Xem
1Cor.
12,11.
“Tổ
chức”
ở
đây
hiểu
là
các
Dòng
Tu,
Hội
Dòng,
Tu
Hội
và
các
Hiệp
Hội
làm
việc
truyền
giáo.
35*
- Ở
đây
(ngay
chương
này
cũng
như
chương
VI)
danh
từ
truyền
bá
Phúc
Âm
hiểu
theo
nghĩa
rộng
và
bao
hàm:
việc
truyền
giáo,
rao
giảng
Phúc
Âm
và
vun
trồng
Giáo
Hội,
gọi
tắt
là
công
việc
truyền
giáo.
36*
-
Đoạn
này
cho
ta
một
khái
niệm
đúng
về
nhà
truyền
giáo
và
hình
như
cải
chính
một
ý
tưởng
thông
thường
về
nhà
truyền
giáo.
Theo
dân
chúng,
nhà
truyền
giáo
là
một
người
da
trắng,
một
người
Âu
Châu,
một
người
lìa
bỏ
quê
hương
và
văn
minh
của
mình.
Những
phương
diện
đó
có
thể
đúng,
nhưng
không
thiết
yếu.
Khi
giải
thích
đoạn
này
cho
các
Nghị
Phụ,
Ủy
Ban
đặc
trách
vấn
đề
truyền
giáo
đã
nêu
lên
5
yếu
tố
trong
khái
niệm
về
nhà
truyền
giáo:
nhà
truyền
giáo
phải
là:
1)
người
được
tách
rời,
nghĩa
là
được
đại
diện
để
thi
hành
một
hoạt
động
chuyên
biệt;
2)
được
Bản
Quyền
Giáo
Hội
sai
đi;
3)
phải
ra
đi,
nghĩa
là
mang
Giáo
Hội
đến
những
nơi
chưa
có
Giáo
Hội;
4)
đến
nơi
xa,
không
nhất
thiết
phải
hiểu
theo
nghĩa
địa
lý,
nhưng
theo
nghĩa
thiêng
liêng:
đi
từ
một
nơi
Giáo
Hội
được
vun
trồng
đến
một
nơi
ngoại
giáo,
nơi
mà
Giáo
Hội
còn
vắng
mặt
và
phải
được
vun
trồng;
5)
để
rao
giảng
Phúc
Âm
như
một
sứ
giả
chân
chính
và
thi
hành
mọi
công
việc
của
một
vị
truyền
giáo.
Thật
vậy,
Sắc
Lệnh
nêu
lên
các
đặc
tính
thiết
yếu
đó.
Nếu
vậy,
những
ai
hội
đủ
các
yếu
tố
trên,
đều
là
những
nhà
truyền
giáo
chân
chính,
dù
họ
là
người
địa
phương
ngoại
quốc,
linh
mục,
tu
sĩ
hay
giáo
dân.
Xem
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
Ecclesiae,
28-2-1926
:
AAS
18
(1926),
trg
69-71.
–
Piô
XII,
Tđ.
Saeculo
exeunte,
13-6-1940
:
AAS
32
(1940),
trg
256;
Tđ.
Evangelii
praecones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
506.
Xem
CvSđ
13,2.
37*
-
Bức
chân
dung
vị
truyền
giáo
được
phát
họa
ra
đây
là
theo
mẫu
Chúa
Kitô.
Vị
truyền
giáo
biểu
lộ
các
đức
tính
chính
yếu
của
Người.
Đang
khi
cố
gắng
diễn
tả
hết
sức
hình
ảnh
Chúa
Kitô
nơi
mình
vị
truyền
giáo
đồng
thời
phải
trở
nên
chính
Người.
Ngay
từ
đoạn
đầu,
một
chương
trình
vĩ
đại
cho
vị
truyền
giáo
đã
được
phát
họa:
hoàn
toàn
ràng
buộc
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm,
sẵn
sàng
sống
trong
ơn
gọi
đó
suốt
đời,
khước
từ
chính
bản
thân
và
tất
cả
những
gì
mình
có.
Các
yêu
sách
đó
nặng
nề
đến
nỗi
không
ai
có
thể
đáp
ứng
được
nếu
không
có
sự
hỗ
trợ
và
thúc
đẩy
của
Chúa
Thánh
Thần.
Xem
Gal
1,
16
Cor
9,
72.
Xem
Eph
6.19
tt:
CvSđ
4,
31.
Xem
Mt
10,
29
tt.
Xem
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud,
30-11-1919
AAS
11
(1919),
trg
449-450.
Xem
2Cor
6,4
tt.
Xem
2Cor
8,2.
Xem
1Tm
4,
14;
Eph
4,
23;
2
Cor
4,16.
Xem
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud
30-11-1919
:
AAS
11
(1919),
trg
448
–
449.
–
Piô
XII,
Tđ
Evangelii
Praecones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
507.
Việc
đào
tạo
các
linh
mục
truyền
giáo
cũng
được
CĐ
Vat.
II
đề
cập
trong
Sắc
lệnh
về
việc
Đào
Tạo
Linh
Mục.
Xem
CvSđ
2,
42;
4,
32.
Xem
2
Tm
1,7.
Xem
Ph
4,
11.
Xem
2
Cor
4,
10
tt.
Xem
2
Cor
12,15
tt.
CĐ
Vat.
11,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
41:
AAS
57
(1965),
trg
46.
Xem
Benedicto
XV,
Tđ.
Maximum
illud,
30-11-1919
:
AAS
11
(1919),
trg
440
–
Piô
XII,
Tđ.
Evangelii
Praecones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951),
trg
507.
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud,
30-11-1919
:
AAS
11
(1919),
trg
448.
–
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Đức
Tin,
Sắc
lệnh
20-5-1923
:
AAS
15
(1923),
trg
369-370.
–
Piô
XII,
Tđ
Saeculo
exeunte.
2-6-1940
:
AAS
32
(1940),
trg
256.
–
N.t.,
Tđ.
Evangelii
Praecones,
2-6-1951
:
AAS
43
(1951).
trg
507.
–
Gioan
XXIII,
Tđ.
Princeps
Praecones,
28-11-1959
:
AAS
51
(1959),
trg
843-844.
CĐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
việc
Đào
Tạo
Linh
Mục,
số
19
–21.
–
X.
thêm
Tông
hiến
Sedes
Sapientiae
với
những
qui
luật
chung,
21-5-1956
:
AAS
48
(1956),
trg
354-365.
Piô
XII,
Tđ.
Evangelii
Praecones:
AAS
43
(1951),
trg
523-524.
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud:
AAS
11(1919),
trg
448.
–
Piô
XII,
Tđ.
Evangelii
Praecones
AAS
43
(1951),
trg
507.
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Fidei
donum,
15-6-1957
:
AAS
49
(1957),
trg
234.
38*
-
Những
Tu
Hội
truyền
giáo
dưới
những
hình
thức
khác
nhau
trong
số
này
mang
đầy
đủ
ý
nghĩa,
vì
chỉ
có
những
tổ
chức
này
mới
có
thể
bảo
đảm
công
trình
chuẩn
bị
và
thích
nghi
kỹ
thuật
cho
những
nổ
lực
truyền
giáo.
Tuy
nhiên,
những
quả
quyết
đáng
ca
tụng
đó
không
giải
quyết
các
vấn
đề
rất
nghiêm
trọng
được
đặt
ra,
nhất
là
trong
thời
đại
chúng
ta,
về
cơ
cấu
của
những
tổ
chức
truyền
giáo
thuần
túy,
về
những
tương
quan
với
Giám
Mục,
với
những
thể
thức
hoạt
động
truyền
giáo.
Xem
CĐ
Vat.
II
Sắc
lệnh
về
Chức
Vụ
và
Đời
Sống
Linh
Mục,
số
10,
chỗ
nói
về
các
giáo
phận,
các
giám
chức
biệt
hạt
và
các
miền
tương
tự.

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II