VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
14-
SẮC
LỆNH
VỀ
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
CỦA
GIÁO
HỘI
(AD
GENTES)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Chương
III:
Các
Giáo
Hội
Ðịa
Phương
28*
19.
Sự
tiến
triển
của
các
Giáo
Hội
trẻ.
Việc
gieo
trồng
Giáo
Hội
trong
một
nhóm
người
nhất
định
kể
như
là
đã
đạt
tới
mục
đích,
khi
cộng
đoàn
tín
hữu
-
đã
bén
rễ
trong
đời
sống
xã
hội
và
đã
phù
hợp
một
phần
nào
với
văn
hóa
địa
phương
-
hưởng
được
một
sự
mạnh
mẽ
và
vững
chắc
nào
rồi:
nghĩa
là
cộng
đoàn
tín
hữu
đó
đã
có
dồi
dào,
tuy
chưa
đủ,
các
linh
mục,
tu
sĩ
và
giáo
dân
địa
phương,
đã
có
những
thừa
tác
vụ
và
những
tổ
chức
cần
thiết
cho
việc
dẫn
dắt
và
phát
triển
đời
sống
Dân
Chúa,
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Giám
Mục
29*
riêng
mình.
Trong
những
Giáo
Hội
30*
trẻ
trung
đó,
đời
sống
Dân
Chúa
phải
trưởng
thành
về
mọi
phương
diện
của
đời
sống
Kitô
giáo
được
canh
tân
theo
những
tiêu
chuẩn
của
Công
Ðồng
này:
các
cộng
đoàn
tín
hữu
mỗi
ngày
một
ý
thức
hơn
rằng
mình
trở
nên
những
cộng
đoàn
sống
đức
tin,
phụng
vụ
và
bác
ái;
nhờ
chuyên
lo
hoạt
động
dân
sự
và
tông
đồ,
giáo
dân
phải
cố
gắng
thiết
lập
trật
tự
bác
ái
và
công
bằng
trong
xã
hội;
phải
xử
dụng
các
phương
tiện
truyền
thông
xã
hội
một
cách
thích
hợp
và
khôn
ngoan;
nhờ
sống
đời
sống
thực
sự
Kitô
giáo,
các
gia
đình
phải
trở
nên
những
vườn
ương
việc
tông
đồ
giáo
dân,
ơn
gọi
linh
mục
và
tu
sĩ.
Sau
hết,
đức
tin
phải
được
giảng
dạy
nhờ
khoa
dạy
giáo
lý
thích
hợp,
được
cử
hành
trong
Phụng
Vụ
hợp
với
đặc
tính
dân
tộc,
và
được
đưa
vào
các
tổ
chức
lành
mạnh
cũng
như
các
phong
tục
địa
phương
nhờ
bản
giáo
luật
thích
ứng.
Còn
các
Giám
Mục
-
mỗi
vị
hợp
nhất
với
linh
mục
đoàn
của
mình
và
ngày
càng
thấm
nhuần
cảm
thức
của
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
-
phải
cảm
thông
và
sống
với
toàn
thể
Giáo
Hội.
Các
Giáo
Hội
trẻ
trung
phải
duy
trì
mối
thông
hiệp
mật
thiết
với
toàn
thể
Giáo
Hội
và
phải
liên
kết
những
yếu
tố
của
truyền
thống
Giáo
Hội
với
nền
văn
hóa
riêng,
để
nhờ
được
trao
đổi
sinh
lực
cho
nhau
mà
phát
triển
đời
sống
Nhiệm
Thể
1.
Do
đó,
phải
trau
dồi
những
yếu
tố
thần
học,
tâm
lý
và
nhân
bản
có
thể
góp
phần
vào
việc
cổ
võ
cảm
thức
thông
hiệp
cùng
toàn
thể
Giáo
Hội.
Nhưng
các
Giáo
Hội
này
vì
thường
ở
những
miền
khá
nghèo
túng
trên
địa
cầu
nên
vẫn
còn
thiếu
linh
mục,
đôi
khi
thiếu
một
cách
hết
sức
trầm
trọng,
và
nhiều
khi
thiếu
cả
viện
trợ
vật
chất
nữa.
Vì
thế,
hoạt
động
truyền
giáo
liên
tục
của
toàn
thể
Giáo
Hội
cần
phải
trợ
cấp
cho
những
Giáo
Hội
đó,
để
trước
hết
giúp
cho
Giáo
Hội
địa
phương
phát
triển
và
giúp
cho
đời
sống
Kitô
giáo
được
trưởng
thành.
Hoạt
động
truyền
giáo
này
cũng
phải
giúp
đỡ
các
Giáo
Hội
tuy
đã
thành
lập
từ
lâu,
nhưng
đang
bị
rơi
vào
tình
trạng
thoái
hóa
và
suy
yếu.
Tuy
nhiên,
các
Giáo
Hội
đó
phải
khôi
phục
lòng
nhiệt
thành
mục
vụ
chung
và
những
công
cuộc
thích
ứng,
để
nhờ
đó
số
ơn
kêu
gọi
vào
hàng
giáo
sĩ
giáo
phận
và
vào
các
Hội
Dòng
được
gia
tăng,
được
phân
biệt
một
cách
chắc
chắn
hơn
và
được
huấn
luyện
hữu
hiệu
hơn
2;
như
vậy
dần
dần
các
Giáo
Hội
đó
có
thể
tự
túc
và
giúp
đỡ
các
Giáo
Hội
khác.
20.
Hoạt
động
truyền
giáo
của
các
Giáo
Hội
địa
phương.
Vì
Giáo
Hội
địa
phương
31*
có
nhiệm
vụ
phản
ảnh
Giáo
Hội
hoàn
cầu
một
cách
hết
sức
hoàn
hảo,
nên
phải
thành
thực
nhận
định
rằng
mình
cũng
được
sai
tới
những
kẻ
chưa
tin
Chúa
Kitô
đang
sống
trong
cùng
một
địa
hạt
với
mình,
để
nhờ
chứng
tá
đời
sống
của
mỗi
tín
hữu
và
của
toàn
thể
cộng
đoàn,
Giáo
Hội
này
trở
thành
dấu
chỉ
cho
họ
thấy
Chúa
Kitô.
Ngoài
ra
cần
phải
có
thừa
tác
vụ
Lời
Chúa
để
Phúc
Âm
đến
với
mọi
người.
Do
đó,
trước
hết
Giám
Mục
phải
là
người
rao
giảng
đức
tin
để
dẫn
đưa
các
môn
đệ
mới
đến
với
Chúa
Kitô
3.
Ðể
chu
toàn
đứng
đắn
chức
vụ
cao
trọng
đó,
ngài
phải
thấu
triệt
sâu
xa
về
những
hoàn
cảnh
của
đoàn
chiên
mình,
cũng
như
về
những
ý
niệm
thâm
sâu
của
đồng
bào
về
Thiên
Chúa;
ngài
cũng
phải
cẩn
thận
để
ý
đến
những
biến
đổi
gây
nên
bởi
những
cuộc
thành
thị
hóa,
như
người
ta
thường
nói,
những
cuộc
di
dân
và
chủ
nghĩa
lãnh
đạm
đối
với
tôn
giáo.
Các
linh
mục
bản
xứ
ở
những
Giáo
Hội
trẻ
trung
phải
hăng
say
bắt
tay
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
bằng
cách
tổ
chức
hoạt
động
chung
với
những
nhà
truyền
giáo
ngoại
quốc,
những
người
hợp
cùng
các
ngài
làm
thành
một
linh
mục
đoàn
duy
nhất,
liên
kết
dưới
quyền
Giám
Mục,
không
những
để
chăn
dắt
các
tín
hữu
và
để
cử
hành
việc
phụng
thờ
Thiên
Chúa,
nhưng
còn
để
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
những
người
ngoài
Giáo
Hội.
Các
ngài
phải
tỏ
ra
sẵn
sàng,
và
khi
có
dịp,
các
ngài
phải
hăng
say
tình
nguyện
để
Ðức
Giám
Mục
sai
đi
khởi
công
truyền
giáo
tại
những
miền
xa
xôi
và
bị
bỏ
rơi
trong
giáo
phận
mình
hoặc
trong
các
giáo
phận
khác.
Các
tu
sĩ
nam
nữ
và
cả
giáo
dân
cũng
phải
nung
đúc
lòng
nhiệt
tâm
truyền
giáo
đó
đối
với
đồng
bào
mình,
nhất
là
với
những
người
nghèo
khổ
hơn.
Các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
phải
lo
lắng
tổ
chức
những
khóa
tu
nghiệp
định
kỳ
về
Thánh
Kinh,
thần
học,
tu
đức
và
mục
vụ,
với
mục
đích
là
giữa
những
đổi
thay
và
xáo
trộn
của
thế
sự,
giáo
sĩ
được
hiểu
biết
đầy
đủ
hơn
về
thần
học
và
phương
pháp
mục
vụ.
Ðàng
khác,
cũng
phải
kính
cẩn
tuân
giữ
những
điều
Công
Ðồng
này
đã
quyết
định,
nhất
là
trong
Sắc
Lệnh
về
Chức
Vụ
và
Ðời
Sống
Linh
Mục.
Ðể
có
thể
hoàn
thành
công
việc
truyền
giáo
của
Giáo
Hội
địa
phương,
cần
có
những
thừa
tác
viên
đủ
khả
năng,
được
chuẩn
bị
đúng
lúc
và
thích
hợp
với
hoàn
cảnh
của
mỗi
Giáo
Hội
địa
phương.
Thực
vậy,
con
người
càng
ngày
càng
tập
trung
thành
từng
nhóm,
vì
thế
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
rất
nên
thiết
lập
những
kế
hoạch
chung
để
tổ
chức
đối
thoại
với
những
nhóm
người
đó.
Nếu
trong
một
vài
miền
có
những
nhóm
người
không
muốn
đón
nhận
đức
tin
công
giáo
vì
không
thể
thích
ứng
với
hình
thức
đặc
biệt
mà
Giáo
Hội
tại
đó
đã
mặc
lấy
thì
ước
mong
phải
lo
liệu
một
phương
thức
đặc
biệt
với
hoàn
cảnh
đó
4,
cho
đến
khi
tất
cả
các
Kitô
hữu
có
thể
đoàn
tụ
thành
một
cộng
đoàn
duy
nhất.
Còn
nếu
Tòa
Thánh
có
sẵn
những
nhà
truyền
giáo
để
thực
thi
mục
đích
này,
thì
mỗi
Giám
Mục
phải
mời
gọi
hoặc
sẵn
sàng
đón
nhận
họ
vào
giáo
phận
mình,
và
ủng
hộ
công
cuộc
của
họ
một
cách
hữu
hiệu.
Ðể
nhiệt
tâm
truyền
giáo
đó
được
nẩy
nở
nơi
đồng
bào
mình,
Giáo
Hội
trẻ
trung
rất
nên
tham
gia
vào
công
cuộc
truyền
giáo
phổ
quát
của
Giáo
Hội
càng
sớm
càng
hay,
bằng
cách
sai
chính
những
nhà
truyền
giáo
của
mình
đi
rao
giảng
Phúc
Âm
khắp
nơi
trên
hoàn
cầu,
dù
mình
còn
thiếu
giáo
sĩ.
Thực
vậy
mối
thông
hiệp
cùng
toàn
thể
Giáo
Hội
kể
như
là
hoàn
tất
khi
chính
các
Giáo
Hội
trẻ
trung
cũng
tích
cực
tham
gia
và
hoạt
động
truyền
giáo
nơi
các
dân
tộc
khác.
21.
Cổ
võ
việc
tông
đồ
giáo
dân.
Giáo
Hội
chưa
được
thiết
lập
thực
sự,
chưa
sống
đầy
đủ,
cũng
chưa
là
dấu
chỉ
tuyệt
hảo
của
Chúa
Kitô
giữa
loài
người,
nếu
chưa
có
hàng
giáo
dân
đích
thực
và
nếu
hàng
giáo
dân
này
chưa
cùng
làm
việc
với
Hàng
Giáo
Phẩm
32*.
Thật
vậy,
Phúc
Âm
không
thể
đi
sâu
vào
tinh
thần,
đời
sống
và
sinh
hoạt
của
một
dân
tộc
nếu
không
có
sự
hiện
diện
linh
hoạt
của
giáo
dân.
Do
đó,
ngay
khi
thiết
lập
Giáo
Hội
phải
hết
sức
chú
tâm
đến
việc
đào
tạo
một
hàng
giáo
dân
Kitô
giáo
trưởng
thành.
Thật
vậy,
các
tín
hữu
giáo
dân
cùng
một
trật
hoàn
toàn
thuộc
về
Dân
Chúa
và
về
xã
hội
trần
gian:
họ
thuộc
về
một
dân
tộc,
nơi
chôn
nhau
cắt
rốn
của
họ;
họ
đã
bắt
đầu
thông
dự
những
kho
tàng
văn
hóa
của
dân
tộc
nhờ
việc
giáo
huấn,
liên
kết
với
đời
sống
dân
tộc
bằng
nhiều
mối
dây
xã
hội
khác
nhau,
cộng
tác
vào
tiến
bộ
riêng
của
dân
tộc
qua
nghề
nghiệp
của
họ,
cảm
thấy
những
vấn
đề
của
dân
tộc
như
là
những
vấn
đề
của
chính
họ
và
cố
gắng
giải
quyết.
Lại
nữa,
họ
còn
thuộc
về
Chúa
Kitô,
vì
họ
được
tái
sinh
trong
Giáo
Hội
bằng
đức
tin
và
phép
Rửa,
để
nhờ
đời
sống
mới
và
việc
làm
mới,
họ
là
của
riêng
Chúa
Kitô
5,
để
mọi
sự
qui
phục
Thiên
Chúa
trong
Chúa
Kitô
và
sau
cùng
để
Thiên
Chúa
là
mọi
sự
trong
mọi
người
6.
Nhiệm
vụ
chính
của
giáo
dân,
nam
cũng
như
nữ,
là
làm
chứng
về
Chúa
Kitô,
làm
chứng
bằng
đời
sống
và
lời
nói
trong
gia
đình,
trong
các
đoàn
thể
xã
hội,
cũng
như
trong
môi
trường
nghề
nghiệp.
Thật
vậy,
họ
phải
biểu
lộ
con
người
mới
đã
được
tạo
dựng
theo
hình
ảnh
Thiên
Chúa,
trong
sự
công
chính
và
thánh
thiện
của
chân
lý
7.
Nhưng
họ
phải
diễn
tả
nếp
sống
mới
đó
trong
môi
trường
xã
hội
và
văn
hóa
của
quê
hương,
theo
truyền
thống
của
dân
tộc
mình.
Chính
họ
phải
hiểu
biết
nền
văn
hóa
đó,
sửa
chữa,
bảo
tồn,
và
cải
tiến
theo
những
hoàn
cảnh
mới,
và
sau
cùng
phải
hoàn
tất
nó
trong
Chúa
Kitô,
để
niềm
tin
vào
Chúa
Kitô
và
đời
sống
Giáo
Hội
không
còn
xa
lạ
với
xã
hội
họ
sống,
nhưng
bắt
đầu
thấm
nhiễm
và
cải
hóa
xã
hội
đó.
Họ
phải
liên
kết
với
đồng
bào
mình
bằng
tình
bác
ái
chân
thành,
để
trong
cách
sống
của
họ
xuất
hiện
một
mối
dây
mới
về
hiệp
nhất
và
về
liên
kết
đại
đồng
đã
được
bắt
nguồn
từ
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô.
Họ
cũng
phải
gieo
rắc
đức
tin
vào
Chúa
Kitô
giữa
những
người
có
liên
lạc
với
họ
trong
đời
sống
nghề
nghiệp;
điều
bó
buộc
này
càng
khẩn
thiết
hơn
vì
nhiều
người
chỉ
có
thể
nghe
Phúc
Âm
và
nhận
biết
Chúa
Kitô
nhờ
các
giáo
dân
sống
gần
họ.
Hơn
nữa,
nơi
nào
có
thể,
giáo
dân
phải
được
chuẩn
bị
để
cộng
tác
trực
tiếp
hơn
với
hàng
Giáo
Phẩm
trong
việc
hoàn
tất
sứ
mệnh
đặc
biệt
là
loan
báo
Phúc
Âm
và
truyền
thông
giáo
lý
Kitô
giáo
ngõ
hầu
Giáo
Hội
mới
khai
sinh
thêm
vững
mạnh.
Vậy
các
thừa
tác
viên
của
Giáo
Hội
phải
quí
trọng
việc
tông
đồ
khó
khăn
này
của
giáo
dân.
Các
ngài
phải
huấn
luyện
sao
cho
giáo
dân,
với
tư
cách
là
chi
thể
của
Chúa
Kitô,
ý
thức
về
trách
nhiệm
của
mình
đối
với
tất
cả
mọi
người.
Các
ngài
phải
dạy
dỗ
họ
thật
sâu
xa
về
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô,
chỉ
dẫn
họ
những
phương
pháp
thực
hành,
và
sát
cánh
với
họ
trong
những
lúc
khó
khăn,
theo
tinh
thần
của
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội
và
Sắc
Lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân.
Vì
thế,
trong
khi
vẫn
giữ
đúng
chức
vụ
và
trách
nhiệm
riêng
của
Chủ
Chăn
và
của
giáo
dân,
toàn
thể
Giáo
Hội
trẻ
trung
phải
trở
thành
chứng
tá
duy
nhất,
sống
động
và
vững
chắc
về
Chúa
Kitô,
để
trở
nên
dấu
chỉ
rõ
ràng
của
ơn
cứu
rỗi
đã
đến
với
chúng
ta
trong
Chúa
Kitô.
22.
Khác
biệt
trong
hiệp
nhất.
Lời
Chúa
là
hạt
giống,
vừa
nẩy
mầm
trong
đất
màu
mỡ
thấm
nhuần
sương
thiêng,
vừa
thu
hút
biến
đổi
và
tiêu
hóa
mầu
mỡ
đó,
để
sau
cùng
mang
lại
nhiều
hoa
trái
33*.
Thật
vậy,
tương
tự
như
chương
trình
Nhập
Thể,
các
Giáo
Hội
trẻ
trung,
khi
đang
được
bén
rễ
trong
Chúa
Kitô
và
xây
dựng
trên
nền
tảng
các
Tông
Ðồ,
qua
một
cuộc
trao
đổi
kỳ
diệu,
thu
nhận
tất
cả
những
sự
phong
phú
của
các
Dân
Tộc
đã
được
trao
cho
Chúa
Kitô
làm
gia
nghiệp
8.
Các
Giáo
Hội
đó
phải
rút
ra
từ
những
tập
quán
và
truyền
thống,
từ
lẽ
khôn
ngoan
và
nền
đạo
lý,
từ
những
nghệ
thuật
và
khoa
học
của
dân
tộc
mình,
tất
cả
những
gì
có
thể
góp
phần
vào
việc
tuyên
xưng
vinh
quang
của
Tạo
Hóa,
làm
rạng
ngời
ân
sủng
của
Ðấng
Cứu
Chuộc
và
vào
việc
tổ
chức
tốt
đẹp
đời
sống
Kitô
hữu
9.
Ðể
đạt
tới
ý
định
đó,
thì
trong
mỗi
vùng
rộng
lớn
cùng
chung
một
nền
văn
hóa,
như
người
ta
thường
nói,
cần
phải
thúc
đẩy
việc
suy
tư
về
thần
học,
để
nhờ
ánh
sáng
Thánh
Truyền
của
toàn
thể
Giáo
Hội
mà
khám
phá
thêm
những
gì
Thiên
Chúa
đã
mạc
khải
qua
hành
động
và
ngôn
từ
của
Ngài,
đã
được
ghi
chép
trong
Sách
Thánh
và
đã
được
các
Giáo
Phụ
và
Quyền
Giáo
Huấn
giải
thích.
Như
thế
sẽ
nhận
thấy
rõ
ràng
hơn
những
đường
lối
nào
là
đức
tin
có
thể
tìm
gặp
lý
trí,
một
khi
đã
dựa
vào
triết
học
hay
lẽ
khôn
ngoan
của
các
dân
tộc,
và
những
phương
thức
nào
có
thể
hòa
hợp
các
phong
tục,
quan
niệm
đời
sống
và
trật
tự
xã
hội
với
lối
sống
đã
được
Chúa
mạc
khải.
Nhờ
đó
sẽ
mở
ra
những
con
đường
để
thích
nghi
sâu
xa
hơn
trong
mọi
lãnh
vực
của
đời
sống
Kitô
giáo.
Nhờ
đường
lối
hành
động
đó,
mọi
hình
thức
chủ
nghĩa
hòa
đồng
và
chủ
nghĩa
cá
thể
sai
lạc
sẽ
bị
loại
trừ,
đời
sống
Kitô
giáo
sẽ
được
thích
nghi
với
tinh
thần
và
đặc
tính
của
từng
nền
văn
hóa
10,
những
truyền
thống
đặc
thù
và
những
đặc
tính
riêng
của
mỗi
gia
đình
dân
tộc
nhờ
được
ánh
sáng
Phúc
Âm
chiếu
soi,
sẽ
được
đón
nhận
vào
sự
hiệp
nhất
công
giáo.
Sau
cùng,
các
Giáo
Hội
địa
phương
mới
mẻ
với
những
truyền
thống
tốt
đẹp
của
mình
sẽ
có
một
địa
vị
riêng
trong
khi
hiệp
thông
cùng
Giáo
Hội
mà
vẫn
duy
trì
nguyên
vẹn
Quyền
Tối
Cao
của
Tòa
Phêrô,
tòa
lãnh
đạo
toàn
thể
tập
đoàn
bác
ái
11.
Vậy
ước
mong,
và
hơn
nữa
điều
này
hoàn
toàn
thích
hợp
là
các
Hội
Ðồng
Giám
Mục
ở
những
vùng
rộng
lớn
cùng
chung
một
nền
văn
hóa
xã
hội
hiệp
nhất
với
nhau
thế
nào
để
có
thể
đồng
tâm
hợp
ý
theo
đuổi
ý
định
thích
nghi
đó.
Chú
Thích:
28*
Hai
số
19
và
20
trước
kia
thuộc
chương
2,
trong
đó
Giáo
Hội
địa
phương
(riêng
biệt)
được
xem
như
một
kết
thúc
của
hoạt
động
truyền
giáo
không
hơn
không
kém.
Nhưng
vì
các
Giám
Mục
xứ
truyền
giáo
can
thiệp,
nên
hai
số
đó
được
để
riêng
thành
một
chương
đầy
đủ
ý
nghĩa.
Hành
động
này
quy
định
rõ
ràng
quy
chế
của
một
Giáo
Hội
trẻ
trung
trên
đà
trưởng
thành,
dù
còn
cần
các
Giáo
Hội
khác
trợ
giúp.
Các
Giáo
Hội
trẻ
không
phải
là
những
nhóm
người
công
giáo
chung
quanh
Giáo
Hội
phổ
quát,
nhưng
tăng
trưởng
trong
Giáo
Hội
phổ
quát
và
như
thế
cũng
góp
phần
vào
đặc
tính
vừa
duy
nhất
vừa
khác
biệt
của
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Phương
diện
mới
này
dĩ
nhiên
có
những
hậu
quả.
Giáo
Hội
phổ
quát
không
những
lo
lắng
cách
riêng
nhưng
còn
phải
biết
nghe
và
quan
tâm
đến
các
yêu
sách
của
các
Giáo
Hội
trẻ.
(Trở
lại
đầu
trang)
29*
Các
Giáo
Hội
trẻ
phải
tiến
đến
sự
trưởng
thành
và
phải
trưởng
thành,
vì
sự
viên
mãn
hay
kết
quả
của
việc
vun
trồng
Giáo
Hội
là
Giáo
Hội
trưởng
thành.
Vun
trồng
Giáo
Hội
địa
phương
là
công
trình
của
một
đời
sống
tuần
tự
như
sự
tăng
trưởng
của
cây
cối
hay
của
con
người;
khó
mà
quy
định
một
cách
chính
xác
lúc
nào
một
Giáo
Hội
mới
bắt
đầu
trưởng
thành.
Ðoạn
thứ
nhất
phác
họa
những
nét
chính
yếu
của
một
Giáo
Hội
trưởng
thành.
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
Ðoạn
thứ
hai
và
những
đoạn
tiếp
nói
rõ
một
Giáo
Hội
trẻ
trung
có
thể
trưởng
thành
bằng
những
phương
thế
nào.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Princeps
Pastorum,
28-11-1959:
AAS
51
(1959),
trg
838.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Chức
Vụ
và
Ðời
Sống
Linh
Mục,
số
11.
-
N.t.,
Sắc
lệnh
về
việc
Ðào
Tạo
Linh
Mục,
số
2.
(Trở
lại
đầu
trang)
31*
Giáo
Hội
địa
phương
hay
Giáo
Hội
riêng
biệt,
theo
bản
văn
là
toàn
thể
các
Giáo
Hội
"địa
phương"
trong
một
miền
hay
trong
một
nước
nhất
định;
danh
gọi
đó
chỉ
tất
cả
các
giáo
phận
hay
những
giáo
khu
trong
một
nước.
Cả
số
20
nhấn
mạnh
một
Giáo
Hội
mới
trưởng
thành
có
bổn
phận
phải
biến
thành
một
Giáo
Hội
truyền
giáo
chủ
động
và
phải
hoạt
động,
truyền
giáo
trong
các
vùng
chung
quanh
hay
ngay
cả
ở
nước
ngoài.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
25:
AAS
57
(1965),
trg
29.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Chức
Vụ
và
Ðời
Sống
Linh
Mục,
số
10:
để
công
việc
mục
vụ
đặc
biệt
cho
những
đoàn
thể
xã
hội
khác
nhau
được
dễ
dàng,
phải
tiên
liệu
thiết
lập
các
Giám
chức
biệt
hạt
trong
mức
độ
sự
tổ
chức
đứng
đắn
của
việc
tông
đồ
đòi
hỏi.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Cả
số
21
diễn
tả
vai
trò
giáo
dân
trong
Giáo
Hội
trẻ:
biểu
dương
đức
tin,
truyền
giáo
cách
ý
thức,
quy
mô,
hữu
hiệu.
Việc
tông
đồ
giáo
dân
này
cũng
là
một
bằng
chứng
Giáo
Hội
trẻ
đã
trưởng
thành.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
1Cor
15,23.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
1Cor
15,28.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Eph
4,24.
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Bằng
chứng
cuối
cùng
của
một
Giáo
Hội
trẻ
trung
trưởng
thành
là
đem
các
giá
trị
văn
hóa
riêng
biệt
của
một
dân
tộc
vào
Giáo
Hội.
Phương
pháp
đồng
hóa
và
sáp
nhập
được
diễn
tả
trong
số
22.
Ở
đây
các
vấn
đề
phần
lớn
được
khảo
cứu
theo
ánh
sáng
mạc
khải.
Nhờ
các
Giáo
Hội
địa
phương
thích
nghi
sâu
xa
với
các
quốc
gia,
nên
Giáo
Hội
phổ
quát
mới
được
sáng
ngời
bằng
sự
khác
nhau
trong
duy
nhất.
Tính
cách
duy
nhất
này
còn
được
bảo
đảm
nhờ
một
đức
tin,
một
tình
bác
ái,
một
đời
sống
bí
tích,
một
quyền
cai
trị
tối
cao.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Tv
2,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
13:
AAS
57
(1965),
trg
17-18.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Phaolô
VI,
Diễn
từ
đọc
trong
lễ
phong
thánh
cho
các
Vị
Tử
Ðạo
Uganda:
AAS
56
(1964),
trg
908.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
13:
AAS
57
(1965),
trg
18.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II