VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
14-
SẮC
LỆNH
VỀ
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
CỦA
GIÁO
HỘI
(AD
GENTES)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Chương
II:
Chính
Công
Việc
Truyền
Giáo
10.
Nhập
đề.
Giáo
Hội
được
Chúa
Kitô
sai
đi
trình
bày
và
thông
ban
tình
yêu
Thiên
Chúa
cho
hết
mọi
người
và
mọi
dân
tộc,
nhận
thức
rằng
mình
còn
phải
thực
hiện
công
việc
truyền
giáo
bao
la
18*.
Thực
vậy,
hai
tỷ
người,
mà
con
số
càng
ngày
càng
tăng,
tụ
họp
thành
những
nhóm
lớn
lao
và
nhất
định,
do
những
mối
liên
lạc
bền
vững
của
đời
sống
văn
hóa,
những
truyền
thống
cổ
xưa
của
tôn
giáo,
những
mối
liên
quan
chặt
chẽ
của
tình
giao
tế
xã
hội;
số
người
này
còn
chưa
nghe
biết,
hoặc
chỉ
mới
nghe
sơ
qua
về
sứ
điệp
Phúc
Âm;
trong
số
đó
có
người
đang
theo
một
trong
các
tôn
giáo
lơn,
có
người
còn
xa
lạ
với
ý
niệm
về
chính
Thiên
Chúa,
lại
có
người
ra
mặt
phủ
nhận
và
đôi
khi
còn
ra
mặt
đả
kích
sự
hiện
hữu
của
Thiên
Chúa
nữa.
Ðể
có
thể
trình
bày
cho
mọi
người
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
và
sự
sống
mà
Chúa
đã
thông
ban,
Giáo
Hội
phải
thấm
nhập
vào
tất
cả
những
nhóm
người
đó
theo
cùng
một
chiều
hướng
như
chính
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
nhờ
việc
nhập
thể
mà
liên
kết
mình
với
những
hoàn
cảnh
nhất
định
về
xã
hội
và
văn
hóa
của
những
người
mà
Chúa
cùng
chung
sống.
Mục
1
Chứng
Tá
Của
Kitô
Hữu
11.
Chứng
tá
bằng
đời
sống
và
việc
đối
thoại.
Giáo
Hội
phải
hiện
diện
trong
các
nhóm
người
đó
nhờ
con
cái
mình
là
những
người
cùng
sống
chung
với
họ
hay
là
được
sai
đến
với
họ
19*.
Thật
vậy
mọi
Kitô
hữu,
dù
sống
ở
đâu,
đều
phải
lấy
gương
mẫu
đời
sống
và
chứng
tá
lời
nói
để
biểu
dương
con
người
mới
mà
họ
đã
mặc
lấy
nhờ
phép
Rửa,
và
biểu
dương
sức
mạnh
của
Chúa
Thánh
Thần
mà
họ
đã
được
củng
cố
nhờ
phép
Thêm
Sức,
để
những
người
khác
nhìn
thấy
những
việc
lành
của
họ
mà
ngợi
khen
Chúa
Cha
1,
cùng
nhận
thức
đầy
đủ
hơn
ý
nghĩa
đích
thực
của
đời
sống
con
người
và
mối
dây
liên
kết
toàn
thể
cộng
đồng
nhân
loại.
Ðể
có
thể
làm
chứng
về
Chúa
Kitô
một
cách
hữu
hiệu,
chính
các
Kitô
hữu
phải
lấy
lòng
kính
trọng
và
tình
bác
ái
mà
liên
kết
với
những
người
ấy,
phải
biết
mình
là
thành
phần
của
nhóm
người
mình
chung
sống,
và
tham
gia
đời
sống
văn
hóa,
xã
hội
qua
những
giao
tiếp
và
hoạt
động
khác
nhau
trong
đời
sống
nhân
loại,
lại
phải
làm
quen
với
những
truyền
thống
dân
tộc
và
tôn
giáo
của
những
người
ấy;
phải
lấy
làm
sung
sướng
và
kính
cẩn
mà
khám
phá
ra
những
hạt
giống
Lời
Chúa
đang
tiềm
ẩn
trong
họ.
Ðồng
thời,
các
Kitô
hữu
phải
chú
ý
đến
sự
biến
đổi
sâu
xa
nơi
các
dân
tộc,
và
phải
nỗ
lực
làm
cho
những
người
thời
nay
còn
quá
chú
tâm
đến
khoa
học
và
kỹ
thuật
của
thế
giới
hiện
đại
đừng
bỏ
quên
những
việc
linh
thiêng,
mà
trái
lại
còn
nhờ
đó
mà
khao
khát
mãnh
liệt
hơn
chân
lý
và
tình
thương
Chúa
đã
mạc
khải.
Như
chính
Chúa
Kitô
đã
dò
xét
tâm
hồn
con
người
và
đối
thoại
với
họ
đúng
theo
kiểu
loài
người
để
dẫn
đưa
họ
đến
ánh
sáng
thần
linh,
thì
các
môn
đệ
của
Người
đã
thấm
nhuần
tinh
thần
Chúa
Kitô,
cũng
phải
hiểu
biết
người
họ
chung
sống,
và
phải
đàm
thoại
với
họ,
để
nhờ
chính
việc
đối
thoại
chân
thành
và
nhẫn
nại
đó,
các
môn
đệ
học
biết
những
ân
huệ
phong
phú
mà
Thiên
Chúa
đã
rộng
ban
cho
các
dân
tộc;
đồng
thời
các
môn
đệ
phải
cố
gắng
đem
ánh
sáng
Phúc
Âm
chiếu
soi
những
ân
huệ
đó,
giải
thoát
chúng
và
đem
chúng
về
quy
phục
Chúa
Cứu
Thế.
12.
Sự
hiện
diện
của
đức
ái.
Sự
hiện
diện
của
các
Kitô
hữu
giữa
các
nhóm
người
phải
được
sống
động
bằng
chính
tình
bác
ái
mà
Thiên
Chúa
đã
yêu
chúng
ta
và
muốn
chúng
ta
cũng
thương
yêu
nhau
bằng
tình
bác
ái
đó
2.
Bác
ái
Kitô
giáo
thực
sự
lan
tràn
tới
mọi
người
không
phân
biệt
chủng
tộc,
hoàn
cảnh
xã
hội
hay
tôn
giáo;
bác
ái
không
cầu
mong
một
lợi
ích
hay
một
tri
ân
nào.
Như
Thiên
Chúa
đã
yêu
chúng
ta
bằng
một
tình
yêu
vô
vị
lợi,
thì
các
tín
hữu
cũng
phải
lấy
tình
bác
ái
mà
lo
lắng
cho
con
người,
bằng
cách
yêu
mến
họ
với
cùng
một
ý
hướng
như
khi
Chúa
tìm
kiếm
con
người.
Do
đó,
như
Chúa
Kitô
đã
trải
qua
khắp
các
thị
thành
và
làng
mạc,
chữa
lành
mọi
kẻ
tật
nguyền,
bệnh
hoạn,
làm
dấu
chỉ
Nước
Chúa
đã
đến
3,
thì
Giáo
Hội
cũng
nhờ
con
cái
mình
mà
liên
kết
với
mọi
người
thuộc
mọi
hoàn
cảnh,
nhất
là
với
những
người
nghèo
hèn
đau
khổ,
và
tình
nguyện
hy
sinh
cho
họ
4.
Thực
vậy,
Giáo
Hội
chia
vui
xẻ
buồn
với
họ,
nhận
biết
những
ước
vọng
và
những
vấn
đề
nhân
sinh
của
họ,
cùng
chịu
khổ
với
họ
trong
những
lo
âu
về
sự
chết.
Còn
đối
với
những
ai
tìm
kiếm
hòa
bình,
Giáo
Hội
ao
ước
đáp
ứng
trong
đối
thoại
huynh
đệ,
bằng
cách
mang
lại
cho
họ
hòa
bình
và
ánh
sáng
phát
xuất
tự
Phúc
Âm.
Các
Kitô
hữu
phải
hoạt
động
và
cộng
tác
với
mọi
người
khác
để
tổ
chức
đứng
đắn
những
công
việc
kinh
tế
xã
hội.
Họ
phải
quan
tâm
đặc
biệt
đến
việc
giáo
dục
các
thiếu
nhi
và
thanh
thiếu
niên
bằng
các
loại
trường
học
khác
nhau:
các
trường
này
không
những
phải
được
coi
như
phương
tiện
tuyệt
hảo
để
huấn
luyện
và
nâng
cao
giới
trẻ
Kitô
hữu,
mà
đồng
thời
còn
là
một
công
cuộc
phục
vụ
nhân
loại
hết
sức
giá
trị
-
nhất
là
đối
với
các
quốc
gia
đang
phát
triển
-
để
nâng
cao
nhân
phẩm
và
chuẩn
bị
những
hoàn
cảnh
hợp
nhân
bản
hơn.
Ngoài
ra,
họ
còn
phải
tham
gia
vào
nỗ
lực
của
các
dân
tộc
đang
cố
gắng
tạo
ra
những
hoàn
cảnh
sống
tốt
đẹp
hơn,
và
củng
cố
hòa
bình
thế
giới,
bằng
cách
khuất
phục
đói
khát,
dốt
nát
và
bệnh
tật.
Trong
việc
này
giáo
hữu
phải
khao
khát
cộng
tác
một
cách
khôn
ngoan
với
những
công
cuộc
đã
được
tổ
chức
tư
cũng
như
công
phát
động,
hoặc
đã
được
các
chính
phủ,
các
cơ
quan
quốc
tế,
các
cộng
đoàn
Kitô
giáo
khác
nhau,
hay
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo
khởi
xướng.
Tuy
nhiên,
Giáo
Hội
không
hề
muốn
pha
mình
vào
việc
cai
trị
xã
hội
trần
gian.
Giáo
Hội
không
đòi
cho
mình
một
quyền
hành
nào
khác
ngoài
quyền
phục
vụ
nhân
loại
-
với
ơn
Chúa
giúp
-
trong
tình
bác
ái
và
trung
thành
phụng
sự
5.
Trong
đời
sống
và
hoạt
động
của
mình,
các
môn
đệ
Chúa
Kitô,
nhờ
liên
kết
chặt
chẽ
với
nhân
loại,
hy
vọng
sẽ
mang
lại
cho
nhân
loại
một
chứng
tá
đích
thực
về
Chúa
Kitô,
và
sẽ
hoạt
động
cho
phần
rỗi
của
nhân
loại,
dù
ở
nơi
mà
họ
không
thể
rao
giảng
về
Chúa
Kitô
một
cách
đầy
đủ.
Thật
vậy
các
môn
đệ
ấy
không
tìm
tiến
bộ
và
thịnh
vượng
thuần
vật
chất
cho
con
người
nhưng
là
nâng
cao
nhân
phẩm
và
sự
hiệp
nhất
huynh
đệ,
bằng
cách
dạy
những
chân
lý
tôn
giáo
và
luân
lý
mà
Chúa
Kitô
đã
soi
sáng
bằng
ánh
sáng
của
Người,
và
như
thế,
dần
dần
họ
mở
rộng
con
đường
hoàn
hảo
hơn
dẫn
về
Thiên
Chúa.
Như
vậy
con
người
được
trợ
giúp
để
đạt
tới
phần
rỗi,
nhờ
yêu
mến
Thiên
Chúa
và
cận
nhân;
và
như
vậy,
bắt
đầu
tỏa
sáng
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô,
trong
Người
xuất
hiện
con
người
mới
đã
tạo
dựng
theo
hình
ảnh
Thiên
Chúa
6,
và
trong
Người
tình
thương
của
Thiên
Chúa
20*
được
biểu
lộ.
Mục
2
Rao
Giảng
Phúc
Âm
Và
Quy
Tụ
Dân
Chúa
13.
Rao
giảng
Phúc
Âm
và
việc
trở
lại
đạo.
Bất
cứ
nơi
nào
Thiên
Chúa
mở
rộng
cửa
cho
việc
rao
giảng
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô
7
thì
người
ta
phải
tin
tưởng
và
bền
chí
8
loan
báo
9
cho
hết
mọi
người
10
biết
Thiên
Chúa
hằng
sống
và
biết
Ðấng
Thiên
Chúa
sai
đến
cứu
chuộc
mọi
người
là
Chúa
Kitô
11
để
những
người
ngoài
Kitô
giáo
được
Chúa
Thánh
Thần
mở
lòng
12
tin
vào
Chúa
mà
tự
do
trở
lại
cùng
Người,
và
trung
thành
gắn
bó
với
Người;
vì
Người
là
"đường,
là
sự
thật
và
là
sự
sống"
(Gio
14,6),
nên
Người
cho
họ
thỏa
mãn
mọi
nguyện
vọng
thiêng
liêng
và
còn
ban
cho
dư
đầy
vô
tận.
Dĩ
nhiên
phải
hiểu
việc
trở
lại
đó
mới
chỉ
là
bước
đầu,
nhưng
để
con
người
nhận
thức
rằng,
một
khi
đã
từ
bỏ
tội
lỗi,
con
người
sẽ
được
dẫn
vào
mầu
nhiệm
tình
yêu
Thiên
Chúa,
Ðấng
gọi
họ
giao
kết
chính
bản
thân
họ
với
Ngài
trong
Chúa
Kitô.
Thật
vậy,
nhờ
ơn
Chúa
tác
động,
các
tân
tòng
quyết
khởi
sự
cuộc
hành
trình
thiêng
liêng:
nhờ
đó,
khi
đã
lấy
đức
tin
mà
thông
công
mầu
nhiệm
Chúa
chịu
chết
và
sống
lại,
họ
từ
người
cũ
đổi
thành
người
mới,
con
người
được
nên
hoàn
hảo
trong
Chúa
Kitô
13.
Sự
biến
đổi
này
đồng
thời
cũng
làm
cho
tâm
trạng
và
phẩm
hạnh
con
người
dần
dần
thay
đổi,
nên
đây
phải
là
một
cuộc
biến
đổi
rõ
ràng,
với
những
hậu
quả
của
nó
trong
phạm
vi
xã
hội
và
phải
tiến
triển
dần
dần
trong
thời
gian
dự
tòng.
Con
người
tân
tòng
thường
gặp
phải
những
nứt
rạn
và
phân
cách,
vì
Chúa
họ
tin
là
dấu
chỉ
của
sự
chống
đối
14,
nhưng
họ
cũng
nếm
được
những
vui
mừng
vô
tận
của
Chúa
ban
cho
15.
Giáo
Hội
cấm
ngặt
không
ai
được
ép
buộc
hay
dùng
những
mánh
lới
bất
xứng
để
dụ
dỗ
hay
lôi
cuốn
người
ta
theo
đạo,
cũng
như
Giáo
Hội
cương
quyết
đòi
cho
con
người
quyền
không
bị
hăm
dọa
để
bỏ
đạo
vì
những
bách
hại
bất
công
16.
Theo
thói
quen
rất
lâu
đời
của
Giáo
Hội,
phải
cứu
xét
những
động
lực
tòng
giáo,và
nếu
cần,
phải
thanh
luyện
những
động
lực
đó
nữa.
14.
Lớp
dự
tòng
và
việc
huấn
luyện
đời
sống
Kitô
hữu.
Những
người
nhờ
Giáo
Hội
được
Thiên
Chúa
ban
ơn
tin
Chúa
Kitô
17
phải
được
nhận
vào
lớp
dự
tòng
bằng
những
lễ
nghi
phụng
vụ;
lớp
dự
tòng
này
không
phải
chỉ
là
trình
bày
tín
lý
và
các
giới
răn,
nhưng
là
huấn
luyện
một
đời
sống
Kitô
hữu
đầy
đủ
và
là
thời
gian
tập
sự
được
kéo
dài
thích
đáng,
để
nhờ
đó
môn
đệ
liên
kết
với
Chúa
Kitô
là
Thầy
mình.
Vậy
các
dự
tòng
phải
được
khai
tâm
một
cách
thích
hợp
về
mầu
nhiệm
cứu
rỗi,
tập
sống
theo
Phúc
Âm,
và
qua
các
nghi
lễ
thánh
được
cử
hành
theo
từng
giai
đoạn
liên
tục
18
họ
được
đưa
vào
đời
sống
đức
tin,
phụng
vụ
và
bác
ái
của
Dân
Chúa.
Rồi
khi
đã
chịu
các
bí
tích
gia
nhập
21*
Kitô
giáo,
họ
được
giải
thoát
khỏi
quyền
lực
tối
tăm
19,
cùng
chết,
cùng
được
an
táng
và
sống
lại
với
Chúa
Kitô
20,
họ
lãnh
nhận
Chúa
Thánh
Thần
21
Ðấng
làm
cho
họ
thành
nghĩa
tử,
và
cùng
với
toàn
thể
Dân
Chúa
họ
cử
hành
lễ
kính
nhớ
việc
Chúa
chịu
chết
và
sống
lại.
Thánh
Công
Ðồng
ước
mong
phụng
vụ
mùa
chay
và
mùa
phục
sinh
được
cải
tổ
thế
nào
để
chuẩn
bị
tâm
hồn
các
tân
tòng
cho
việc
cử
hành
mầu
nhiệm
phục
sinh,
và
trong
khi
cử
hành
những
nghi
lễ
long
trọng
này,
họ
được
tái
sinh
trong
Chúa
Kitô
nhờ
phép
Thánh
Tẩy.
Lớp
khai
tâm
Kitô
giáo
trong
thời
gian
dự
tòng
đó
không
phải
chỉ
là
việc
riêng
của
các
giảng
viên
giáo
lý
hay
của
các
linh
mục,
mà
còn
là
của
cộng
đoàn
tín
hữu,
nhất
là
của
những
người
đỡ
đầu,
để
nhờ
đó
ngay
từ
đầu,
các
dự
tòng
cảm
thấy
mình
thuộc
về
Dân
Chúa.
Và
vì
đời
sống
của
Giáo
Hội
là
đời
sống
tông
đồ,
nên
các
dự
tòng
cũng
phải
học
biết
cộng
tác
tích
cực
vào
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
và
xây
dựng
Giáo
Hội
bằng
chứng
tá
đời
sống
và
việc
tuyên
xưng
đức
tin.
Sau
hết,
tình
trạng
pháp
lý
của
dự
tòng
phải
được
ấn
định
rõ
ràng
trong
bản
Giáo
Luật
mới
22*.
Thực
vậy,
họ
đã
được
kết
hợp
với
Giáo
Hội
22,
đã
thuộc
về
gia
đình
Chúa
Kitô
23
và
có
khi
đã
sống
đời
sống
tin,
cậy,
mến
rồi.
Mục
3
Việc
Thành
Lập
Cộng
Ðoàn
Kitô
Giáo
15.
Việc
thành
lập
cộng
đoàn
Kitô
giáo.
Chúa
Thánh
Thần
là
Ðấng
kêu
gọi
mọi
người
đến
với
Chúa
Kitô,
thúc
đẩy
tâm
hồn
họ
vâng
phục
đức
tin
nhờ
hạt
giống
Lời
Chúa
và
việc
rao
giảng
Phúc
Âm.
Chính
khi
Ngài
sinh
những
kẻ
tin
Chúa
Kitô
trong
lòng
Giếng
Rửa
Tội
để
sống
đời
sống
mới,
Ngài
tập
họp
họ
thành
một
Dân
Chúa
duy
nhất.
Dân
này
là
"dòng
giống
được
tuyển
chọn,
là
hàng
tư
tế
vương
giả,
là
dân
tộc
thánh
thiện,
là
dân
được
Thiên
Chúa
thu
phục"
(1P
2,9)
24.
Vậy
các
nhà
truyền
giáo
như
những
cộng
sự
viên
của
Thiên
Chúa
25,
phải
gây
dựng
những
cộng
đoàn
tín
hữu
sao
cho
họ
biết
sống
xứng
đáng
ơn
gọi
của
mình
26,
để
họ
có
thể
thi
hành
những
chức
vụ
đã
được
Chúa
trao
phó
cho
họ:
đó
là
chức
vụ
tư
tế,
tiên
tri
và
vương
giả.
Nhờ
cách
đó,
cộng
đoàn
Kitô
hữu
trở
thành
dấu
chỉ
nói
lên
sự
hiện
diện
của
Thiên
Chúa
nơi
trần
gian:
thật
vậy,
nhờ
Hiến
Tế
Thánh
Thể,
họ
luôn
được
cùng
Chúa
Kitô
vươn
lên
Chúa
Cha
27,
23*
và
khi
đã
được
nuôi
dưỡng
cẩn
thận
bằng
Lời
Chúa
28,
họ
làm
chứng
về
Chúa
Kitô
29,
và
sau
cùng
dấn
bước
trong
tình
bác
ái
và
được
hun
đúc
trong
tinh
thần
tông
đồ
30.
Do
đó,
ngay
từ
đầu,
cộng
đoàn
Kitô
hữu
phải
được
thiết
lập
làm
sao
để
tự
mình
có
thể
cung
cấp
cho
mình
những
gì
cần
thiết,
được
phần
nào
hay
phần
nấy.
Cộng
đoàn
tín
hữu
này
đã
có
sẵn
nguồn
phong
phú
về
văn
hóa
của
dân
tộc,
phải
bén
rễ
sâu
trong
dân
chúng:
các
gia
đình
đã
thấm
nhuần
tinh
thần
Phúc
Âm
phải
phát
triển
31
và
phải
được
các
trường
học
có
giá
trị
nâng
đỡ;
phải
tổ
chức
các
hội
đoàn
và
các
nhóm
người
lo
việc
tông
đồ
giáo
dân,
để
có
thể
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
thấm
nhập
toàn
thể
xã
hội.
Sau
hết,
bác
ái
phải
được
chiếu
giải
huy
hoàng
giữa
những
người
công
giáo
thuộc
các
Lễ
Chế
khác
nhau
32.
Tinh
thần
hiệp
nhất
cũng
phải
được
nuôi
dưỡng
nơi
các
tân
tòng,
để
họ
nhận
thức
rõ
ràng
rằng
những
anh
em
tin
vào
Chúa
Kitô
cũng
là
môn
đệ
Chúa
Kitô,
cũng
được
tái
sinh
nhờ
phép
Rửa,
cũng
được
chia
xẻ
rất
nhiều
ơn
lành
của
Dân
Chúa.
Chừng
nào
hoàn
cảnh
tôn
giáo
cho
phép,
phải
tìm
cách
phát
động
công
việc
hiệp
nhất,
để
khi
đã
gạt
bỏ
mọi
hình
thức
dửng
dưng
và
lẫn
lộn,
cũng
như
mọi
ganh
đua
bất
chính,
người
công
giáo
sẽ
hợp
tác
huynh
đệ
với
những
anh
em
ly
khai
theo
tiêu
chuẩn
của
Sắc
lệnh
về
Hiệp
nhất,
ngõ
hầu
cùng
nhau
tuyên
xưng
một
đức
tin
vào
Thiên
Chúa
và
Chúa
Giêsu
Kitô
trước
mặt
Muôn
Dân
24*
tùy
theo
mức
độ
có
thể,
và
cùng
nhau
cộng
tác
trong
lãnh
vực
xã
hội
và
kỹ
thuật
cũng
như
vấn
đề
văn
hóa
và
tôn
giáo.
Nhất
là
họ
phải
cộng
tác
với
nhau
vì
Chúa
Kitô,
Chúa
chung
của
mình:
nguyện
Danh
Người
liên
kết
họ
lại!
Việc
cộng
tác
chẳng
những
phải
được
thể
hiện
giữa
các
cá
nhân
với
nhau,
nhưng
còn
phải
tùy
theo
sự
phán
đoán
của
Ðấng
Bản
Quyền
địa
phương
mà
thiết
lập
sự
cộng
tác
giữa
các
Giáo
Hội
hoặc
những
cộng
đoàn
giáo
hội
25*
cũng
như
trong
những
công
cuộc
của
các
giáo
đoàn
đó.
Các
Kitô
hữu
từ
mọi
Dân
Tộc
tụ
họp
vào
Giáo
Hội,
"không
vì
chế
độ,
không
vì
ngôn
ngữ,
cũng
không
vì
tổ
chức
xã
hội
trần
gian
mà
phân
cách
với
những
người
khác",
33
nên
họ
phải
sống
cho
Thiên
Chúa
và
cho
Chúa
Kitô
trong
nếp
sống
lành
mạnh
của
dân
tộc
mình;
là
công
dân
tốt,
họ
phải
thực
sự
và
tích
cực
vun
trồng
lòng
Ái
Quốc,
tuy
nhiên
phải
hết
sức
tránh
sự
kỳ
thị
chủng
tộc
và
chủ
nghĩa
quốc
gia
quá
khích,
phải
cổ
võ
tình
yêu
thương
đại
đồng
của
nhân
loại.
Ðể
đạt
tới
những
mục
tiêu
trên,
giáo
dân,
nghĩa
là
các
Kitô
hữu
đã
nhờ
phép
Rửa
Tội
mà
sáp
nhập
vào
Chúa
Kitô
và
đang
sống
giữa
thế
gian,
giữ
một
vai
trò
rất
quan
trọng
và
đáng
được
đặc
biệt
lưu
tâm.
Thực
vậy
bổn
phận
riêng
của
họ
là:
sau
khi
thấm
nhuần
tinh
thần
Chúa
Kitô,
họ
phải
làm
sống
động
từ
bên
trong
như
men
trong
bột
và
sắp
đặt
công
việc
trần
thế
để
chúng
luôn
luôn
được
thực
hiện
theo
ý
Chúa
Kitô
34.
Tuy
nhiên,
không
thể
kể
là
đủ
khi
dân
Kitô
giáo
hiện
diện
và
được
thiết
lập
trong
một
dân
tộc
nào
đó,
cũng
không
phải
là
đủ
khi
chỉ
làm
việc
tông
đồ
bằng
gương
lành,
nhưng
dân
Kitô
giáo
được
thiết
lập
và
hiện
diện
chính
là
để
dùng
lời
nói
và
việc
làm
mà
loan
báo
Chúa
Kitô
cho
những
người
đồng
hương
ngoài
Kitô
giáo,
và
giúp
họ
đón
nhận
Chúa
Kitô
một
cách
đầy
đủ.
Ngoài
ra,
để
gieo
trồng
Giáo
Hội
và
phát
triển
cộng
đoàn
Kitô
giáo,
cần
phải
có
nhiều
thừa
tác
vụ
khác
nhau;
những
thừa
tác
vụ
này
một
khi
được
ơn
Chúa
gọi
mà
nảy
sinh
từ
chính
cộng
đoàn
tín
hữu,
phải
được
mọi
người
đặc
biệt
chăm
lo
cổ
võ
và
vun
trồng;
trong
những
thừa
tác
vụ
đó,
có
chức
linh
mục,
phó
tế
và
giảng
viên
giáo
lý
cũng
như
công
giáo
tiến
hành.
Cũng
thế,
bằng
lời
cầu
nguyện
hay
bằng
những
công
tác
hoạt
động,
các
nam
nữ
tu
sĩ
cũng
phải
thực
thi
nhiệm
vụ
thiết
yếu
để
Nước
Chúa
Kitô
bén
rễ
và
vững
mạnh
trong
các
tâm
hồn
và
được
phát
triển
thêm
mãi.
16.
Thiết
lập
hàng
giáo
sĩ
bản
xứ.
Giáo
Hội
rất
vui
mừng
cảm
tạ
Thiên
Chúa
vì
Ngài
đã
rộng
ban
một
ơn
vô
giá
là
ơn
gọi
làm
linh
mục
cho
biết
bao
thanh
niên
trong
các
Dân
Tộc
mới
quay
về
với
Chúa
Kitô.
Thực
vậy,
Giáo
Hội
càng
bén
rễ
vững
chắc
hơn
trong
mỗi
một
nhóm
người,
khi
chính
các
cộng
đoàn
tín
hữu
có
những
phần
tử
riêng
của
mình
làm
thừa
tác
viên
cứu
rỗi
đang
phục
vụ
anh
em
mình
trong
hàng
Giáo
Mục,
Linh
Mục
và
Phó
Tế
để
dần
dần
các
Giáo
Hội
trẻ
trung
tạo
được
cơ
cấu
giáo
phận
với
hàng
giáo
sĩ
riêng.
Những
điều
mà
Công
Ðồng
này
đã
ấn
định
về
ơn
kêu
gọi
và
việc
đào
tạo
linh
mục,
phải
được
kính
cẩn
tuân
giữ
ở
những
nơi
Giáo
Hội
mới
được
gieo
trồng
cũng
như
ở
những
Giáo
Hội
trẻ
trung.
Phải
hết
sức
chú
trọng
đến
những
gì
đã
được
đề
cập
về
việc
phải
liên
kết
chặt
chẽ
công
việc
huấn
luyện
thiêng
liêng
với
việc
huấn
luyện
giáo
thuyết
và
mục
vụ;
việc
sống
theo
tiêu
chuẩn
Phúc
Âm
mà
không
nhằm
lợi
ích
cá
nhân
hay
gia
đình;
việc
đào
sâu
ý
nghĩa
thâm
thúy
của
mầu
nhiệm
Giáo
Hội.
Như
thế,
họ
sẽ
học
biết
một
cách
kỳ
diệu
việc
tận
hiến
toàn
thân
để
phục
vụ
Thân
Thể
Chúa
Kitô
và
công
việc
rao
giảng
Phúc
Âm,
biết
liên
kết
với
Giám
Mục
của
họ
như
những
cộng
sự
viên
trung
thành,
đồng
thời
cộng
tác
với
các
anh
em
linh
mục
khác
35.
Ðể
đạt
tới
mục
đích
tổng
quát
này,
toàn
thể
việc
giáo
dục
chủng
sinh
phải
được
tổ
chức
dưới
ánh
sáng
của
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
như
đã
được
trình
bày
trong
Thánh
Kinh.
Họ
phải
khám
phá
và
sống
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô,
cũng
như
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
nhân
loại
36
được
thể
hiện
trong
Phụng
Vụ.
Những
đòi
hỏi
chung
đối
với
việc
huấn
luyện
linh
mục
về
phương
diện
mục
vụ
và
thực
hành,
theo
như
tiêu
chuẩn
của
Công
Ðồng
37,
phải
được
phối
hợp
với
lòng
hăng
say
tìm
kiếm
lối
suy
tư
và
hành
động
riêng
biệt
của
dân
tộc
mình.
Vì
thế,
tâm
trí
chủng
sinh
phải
được
mở
rộng
và
mài
giũa
để
hiểu
biết
đúng
và
có
thể
phán
đoán
về
nền
văn
hóa
của
dân
tộc
mình;
trong
các
môn
triết
học
và
thần
học,
chủng
sinh
phải
thấu
triệt
những
liên
lạc
giữa
truyền
thống
và
tôn
giáo
dân
tộc
với
Kitô
giáo
38.
Cũng
thế,
việc
huấn
luyện
linh
mục
phải
nhằm
vào
những
nhu
cầu
mục
vụ
của
từng
miền:
chủng
sinh
phải
học
biết
lịch
sử,
mục
đích
và
phương
pháp
hoạt
động
của
Giáo
Hội,
những
hoàn
cảnh
đặc
biệt
về
xã
hội,
kinh
tế
và
văn
hóa
của
dân
tộc
mình.
Họ
phải
được
giáo
dục
trong
tinh
thần
hiệp
nhất
và
phải
được
chuẩn
bị
đứng
đắn
để
đối
thoại
trong
tình
huynh
đệ
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo
39.
Tất
cả
điều
đó
đòi
hỏi
những
môn
học
để
làm
linh
mục
phải
được
thực
hiện
trong
nếp
sống
và
trong
sự
giao
tiếp
với
dân
tộc
mình
bao
nhiêu
có
thể
40.
Sau
hết,
phải
chú
ý
huấn
luyện
cho
biết
điều
hành
đứng
đắn
những
việc
liên
quan
đến
Giáo
Hội
cũng
như
huấn
luyện
về
phương
diện
kinh
tế
nữa.
Hơn
nữa
phải
chọn
một
số
linh
mục
có
khả
năng,
sau
khi
đã
có
một
số
kinh
nghiệm
mục
vụ,
đi
học
thêm
các
môn
học
cao
hơn
ở
các
Ðại
Học,
kể
cả
ở
các
Ðại
Học
ngoại
quốc,
nhất
là
ở
Kinh
Thành
Roma,
và
ở
các
Học
Viện
khoa
học
khác,
để
các
Giáo
Hội
trẻ
trung
có
sẵn
trong
hàng
giáo
sĩ
địa
phương
những
linh
mục
có
kiến
thức
và
kinh
nghiệm
thích
đáng
hầu
hoàn
thành
những
công
việc
khó
khăn
hơn
của
Giáo
Hội.
Nơi
nào
Hội
Ðồng
Giám
Mục
xét
là
thích
hợp,
thì
phải
thiết
lập
lại
chức
phó
tế
như
một
bậc
sống
thường
xuyên
theo
tiêu
chuẩn
của
Hiến
Chế
"về
Giáo
Hội"
41.
Thực
vậy
thật
là
hữu
ích
nếu
những
người
đang
đảm
nhận
thực
sự
chức
vụ
phó
tế,
hoặc
đang
giảng
lời
Chúa
như
các
giảng
viên
giáo
lý,
hoặc
nhân
danh
cha
sở
và
Giám
Mục
điều
khiển
những
cộng
đoàn
Kitô
giáo
xa
xôi,
hoặc
thực
thi
bác
ái
trong
những
công
cuộc
xã
hội
hay
từ
thiện,
được
thêm
mạnh
mẽ
nhờ
việc
đặt
tay
26*
lưu
truyền
từ
các
Tông
Ðồ
và
được
kết
hợp
chặt
chẽ
với
bàn
thánh
hơn,
để
họ
chu
toàn
thừa
tác
vụ
của
mình
một
cách
hữu
hiệu
hơn
nhờ
ơn
bí
tích
của
chức
phó
tế.
17.
Huấn
luyện
giảng
viên
giáo
lý.
Cũng
thế,
có
một
đạo
binh
thực
sự
đáng
khen
và
rất
đáng
thưởng
công
nhờ
việc
truyền
giáo
nơi
Muôn
Dân,
đó
là
đạo
binh
các
giảng
viên
giáo
lý
nam
cũng
như
nữ;
là
những
người
đã
thấm
nhuần
tinh
thần
tông
đồ,
họ
vất
vả
rất
nhiều
để
mang
lại
sự
trợ
giúp
đặc
biệt
và
hoàn
toàn
cần
thiết
cho
việc
bành
trướng
đức
tin
và
Giáo
Hội.
Trong
thời
đại
chúng
ta,
chức
vụ
của
các
giảng
viên
giáo
lý
rất
quan
trọng
vì
số
giáo
sĩ
ít
oi
không
đủ
để
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
quần
chúng
quá
đông
đúc
cũng
như
để
thi
hành
mục
vụ.
Vì
thế,
việc
huấn
luyện
những
giảng
viên
này
phải
được
kiện
toàn
và
thích
nghi
với
tiến
bộ
văn
hóa,
để
như
những
cộng
tác
viên
đắc
lực
của
chức
linh
mục,
họ
có
thể
hoàn
thành
đến
mức
tối
đa
nhiệm
vụ
của
họ,
nhiệm
vụ
đang
đặt
nặng
trên
vai
họ
những
trọng
trách
mới
mẻ
và
rộng
lớn
hơn.
Bởi
vậy
phải
tăng
thêm
nhiều
trường
học
thuộc
giáo
phận
và
miền,
để
các
giảng
viên
giáo
lý
tương
lai
vừa
được
học
hỏi
về
giáo
lý
công
giáo,
nhất
là
về
môn
Thánh
Kinh
và
Phụng
Vụ,
vừa
được
học
hỏi
về
phương
pháp
dạy
Giáo
lý
và
thực
hành
mục
vụ,
lại
được
tự
luyện
theo
luân
lý
Kitô
giáo
42
trong
khi
không
ngừng
cố
gắng
trau
dồi
đời
sống
đạo
đức
và
thánh
thiện.
Ngoài
ra
còn
phải
có
những
buổi
hội
thảo
hay
những
khóa
học
tập
định
kỳ,
để
các
giảng
viên
giáo
lý
được
cải
tiến
trong
những
môn
học
hay
nghệ
thuật
hữu
ích
cho
thừa
tác
vụ
cũng
như
để
nuôi
dưỡng
và
củng
cố
đời
sống
thiêng
liêng
của
mình
nữa.
Thêm
vào
đó,
đối
với
những
ai
hoàn
toàn
tận
hiến
cho
công
cuộc
này,
phải
cung
cấp
cho
họ
một
khoản
thù
lao
cân
xứng
để
họ
có
một
mức
sống
xứng
đáng
và
được
bảo
đảm
về
mặt
xã
hội
43.
Ước
mong
rằng
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Ðức
Tin
đặc
biệt
trợ
cấp
cách
thích
đáng
cho
công
cuộc
đào
tạo
và
nâng
đỡ
các
giảng
viên
giáo
lý.
Nếu
thấy
cần
và
thích
hợp,
phải
thành
lập
một
Tổ
Chức
giúp
các
giảng
viên
này.
Ngoài
ra
các
Giáo
Hội
cũng
nên
biết
ơn
nhìn
nhận
công
việc
quảng
đại
của
các
giảng
viên
giáo
lý
trợ
tá
mà
Giáo
Hội
đang
cần
họ
giúp
đỡ.
Chính
các
giảng
viên
giáo
lý
chủ
sự
các
buổi
đọc
kinh
chung
trong
cộng
đoàn
và
giảng
dạy
giáo
lý.
Cũng
phải
đặc
biệt
lo
cho
họ
được
huấn
luyện
về
giáo
lý
và
đường
thiêng
liên.
Hơn
nữa,
ước
mong
rằng
nơi
nào
thấy
thuận
lợi,
nên
công
khai
cử
hành
một
nghi
lễ
phụng
vụ
để
ủy
thác
sứ
mệnh
pháp
lý
27*
cho
các
giảng
viên
giáo
lý
đã
được
huấn
luyện
đầy
đủ,
ngõ
hầu
họ
được
thêm
uy
tín
với
dân
chúng
mà
phục
vụ
đức
tin.
18.
Cổ
võ
đời
sống
tu
trì.
Ngay
từ
thời
kỳ
gieo
trồng
Giáo
Hội,
phải
tận
tâm
cổ
võ
đời
sống
tu
trì,
một
đời
sống
không
những
đem
lại
sự
trợ
lực
quí
báu
và
hoàn
toàn
cần
thiết
cho
hoạt
động
truyền
giáo,
mà
nhờ
tận
hiến
mật
thiết
hơn
cho
Thiên
Chúa
trong
Giáo
Hội,
đời
sống
đó
còn
bày
tỏ
và
biểu
thị
rõ
ràng
bản
tính
sâu
xa
của
ơn
gọi
Kitô
giáo
44.
Trong
khi
tận
tụy
hoạt
động
để
gieo
trồng
Giáo
Hội
và
hoàn
toàn
thấm
nhuần
những
ơn
phước
huyền
nhiệm
đã
từng
làm
vẻ
vang
truyền
thống
tu
trì
của
Giáo
Hội,
các
Hội
Dòng
phải
cố
gắng
diễn
tả
và
thông
ban
những
ơn
phước
đó
tùy
theo
tinh
thần
và
đặc
tính
của
mỗi
dân
tộc.
Các
Hội
Dòng
đó
phải
cẩn
thận
suy
xét
xem
đời
sống
tu
trì
Kitô
giáo
có
thể
đón
nhận
những
truyền
thống
khổ
hạnh
và
chiêm
niệm
mà
đôi
khi
Thiên
Chúa
đã
gieo
mầm
trong
các
nền
văn
hóa
cổ
xưa
trước
khi
Phúc
Âm
được
rao
giảng
không?
Những
hình
thức
đời
sống
tu
trì
khác
nhau
phải
được
vun
trồng
trong
những
Giáo
Hội
trẻ
trung
để
biểu
dương
những
khía
cạnh
khác
nhau
của
sứ
mệnh
Chúa
Kitô
và
đời
sống
Giáo
Hội,
để
tận
hiến
cho
những
công
cuộc
mục
vụ
khác
nhau,
và
để
chuẩn
bị
đứng
đắn
những
phần
tử
sẽ
thực
thi
các
công
việc
đó.
Tuy
nhiên,
các
Giám
Mục
trong
Hội
Ðồng
phải
xem
xét
để
các
Tu
Hội
theo
đuổi
cùng
một
mục
đích
tông
đồ
đừng
tăng
thêm
nhiều,
kẻo
gây
thiệt
hại
cho
đời
sống
tu
trì
và
công
việc
tông
đồ.
Cũng
đáng
đặc
biệt
nhắc
tới
những
tổ
chức
nhằm
đặt
định
đời
sống
chiêm
niệm:
có
người
chủ
trương
duy
trì
những
yếu
tố
căn
bản
của
tổ
chức
Ðan
Viện,
nhưng
vẫn
cố
gắng
xen
vào
đó
những
truyền
thống
rất
phong
phú
của
Dòng
mình;
có
người
lại
trở
về
với
những
hình
thức
đơn
sơ
hơn
của
bậc
đan
tu
đời
trước.
Tuy
nhiên,
mọi
người
phải
cố
gắng
tìm
cách
để
thực
sự
thích
nghi
với
những
hoàn
cảnh
địa
phương.
Thực
vậy,
vì
đời
sống
chiêm
niệm
thuộc
về
sự
hiện
diện
trọn
vẹn
của
Giáo
Hội,
nên
phải
được
thiết
lập
khắp
nơi
trong
các
Giáo
Hội
trẻ
trung.
Chú
Thích:
18*
Phần
mở
đầu
chương
hai
này
nhấn
mạnh
tính
cách
vĩ
đại
và
cấp
bách
của
hoạt
động
tông
đồ.
Toàn
chương,
qua
ba
tiểu
mục,
quảng
diễn
những
giai
đoạn
tăng
trưởng
của
Giáo
Hội
trong
xứ
truyền
giáo.
Có
thể
diễn
tả
các
giai
đoạn
đó
như
sau:
biểu
dương
đức
tin
Kitô
giáo
qua
cuộc
đối
thoại
và
sự
hiện
diện
của
tình
bác
ái;
rao
giảng
Phúc
Âm
để
quy
tụ
Dân
Chúa;
thành
lập
một
cộng
đoàn
Kitô
hữu
giữa
một
dân
tộc
hay
một
nước.
Lược
đồ
này
có
thể
áp
dụng
cho
mọi
nhóm
người
sống
ngoài
đức
tin
ở
những
nơi
chưa
bao
giờ
nghe
rao
giảng
Phúc
Âm
hay
những
nước
Kitô
giáo
nhưng
còn
bị
ảnh
hưởng
ngoại
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Vì
Phúc
Âm
đã
được
loan
báo
trong
hầu
hết
các
quốc
gia,
nên
Công
Ðồng
ít
nhấn
mạnh
đến
sự
bành
trướng
địa
lý
của
hoạt
động
truyền
giáo
cho
bằng
Giáo
Hội
phải
bén
rễ
trong
mọi
văn
hóa
dị
biệt
của
những
dân
tộc
ngoài
Kitô
giáo.
Không
nên
hủy
bỏ
văn
hóa
dân
tộc,
nhưng
phải
làm
cho
văn
hóa
thấm
nhuần
Kitô
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Mt
5,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
1Gio
4,11.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Mt
9,35
tt.
;
CvTđ
10,38.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
2Cor
12,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Mt
20,26;
23,11.
-
Xem
Phaolô
VI,
diễn
từ
đọc
tại
Công
Ðồng
21-11-1964:
AAS
56
(1964)
trg
1013.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Eph
4,24.
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Ðây
là
một
vài
cách
biểu
dương
đức
tin
người
Kitô
hữu
qua
sự
hiện
diện
của
họ:
với
tư
cách
Kitô
hữu,
họ
có
thể
tỏ
ra
lòng
hâm
mộ,
thích
nghi
với
văn
hóa,
tiếp
xúc,
bác
ái
vô
vị
lợi,
cộng
tác
trong
lãnh
vực
kinh
tế,
phát
triển
xã
hội,
giáo
dục;
liêm
chính
trong
phạm
vi
công
dân
và
chính
trị
dù
không
can
dự
việc
cai
trị,
phát
huy
tình
đoàn
kết
huynh
đệ.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Col
4,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
CvTđ
4,13.
29.
31;
9,27-28;
13,46;
14,3;
19,8;
26,26;
28,31;
1Th
2,2;
2Cor
3,12;
7,4;
Ph
1,20;
Eph
3,12;
6,19-20.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
1Cor
9,15;
Rm
10,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Mc
16,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
1Th
1,9-10;
1Cor
1,18-21;
Gal
1,31;
CvTđ
14,15-17;
17,22-31.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
CvTđ
16,14.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Col
3,5-10;
Eph
4,20-24.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Lc
2,34;
Mt
10,34-39.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
1Th
1,6.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
CÐ
Vat
II,
Tuyên
ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo,
số
2,4,10.
-
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
mục
vụ
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay,
số
21.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
17:
AAS
57
(1965),
trg
20-21.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh,
số
64-65:
AAS
56
(1964),
trg
117.
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Bí
tích
gia
nhập
là
những
bí
tích
làm
cho
người
lãnh
nhận
gia
nhập
vào
cộng
đoàn
Kitô
hữu:
đó
là
phép
Rửa
Tội,
Thêm
Sức
và
Thánh
Thể.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
Col
1,13.
-
Về
việc
giải
thoát
khỏi
nô
lệ
ma
quỉ
và
tối
tăm:
trong
Phúc
Âm
xem
Mt
12,28;
Gio
8,44;
12,31
(Xem
1Gio
3,8;
Eph
2,1-2.):
trong
Phụng
vụ
về
phép
Rửa
tội,
xem
sách
Nghi
Lễ
Rôma.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Rm
6,4-11;
Col
2,12-13;
1P
3,21-22;
Mc
16,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
1Th
3,5-7;
CvTđ
8,14-17.
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Ðây
là
bộ
giáo
luật,
một
sưu
tầm
chính
thức
các
luật
pháp
của
Giáo
Hội.
Một
ủy
ban
chuyên
biệt
hiện
đảm
trách
việc
xuất
bản
bộ
luật
mới.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
14:
AAS
57
(1965),
trg
19.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
T.
Augustinô,
Tract.
in
Joan.,
11,4:
PL
35,
1476.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
9:
AAS
57
(1965),
trg
13.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
1Cor
3,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
Eph
4,1.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
10,
11,
34:
AAS
57
(1965),
trg
10-17;
39-40.
(Trở
lại
đầu
trang)
23*
Câu
này
có
nghĩa
là
cộng
đoàn
tín
hữu
luôn
luôn
ở
với
Chúa
Kitô
trên
đường
về
cùng
Chúa
Cha
cho
tới
ngày
thế
mạt.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Mạc
Khải
Thiên
Chúa,
số
21
:
AAS
57
(1965),
trg
24.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
12,
35:
AAS
57
(1965)
trg
16,
40-41.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
23,
36
: A
AS
57
(1965)
trg
28,
41-42.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
11,
35,
41
:
AAS
57
(1965),
trg
15-16,
40-41,
47.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
CÐ
Vat
II,
Sắc
lệnh
về
các
Giáo
Hội
Công
Giáo
Ðông
Phương,
số
4 :
AAS
57
(1965),
trg
77-78.
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Muôn
dân
theo
nghĩa
Thánh
Kinh
là
người
ngoại
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Những
cộng
đoàn
giáo
hội
là
những
nhóm
Kitô
hữu
không
công
giáo,
nhất
là
những
nhóm
Tin
Lành
(xem
tiếng
nầy
trong
HN,
ch.
III).
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Epist.
ad
Diognetum,
5 :
PG
2,
1173.
-Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
38:
AAS
57
(1965),
trg
43.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
32:
AAS
57
(1965),
trg
38.
-
N.t.,
Sắc
lệnh
về
Tông
Ðồ
Giáo
Dân,
số
5-7.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
việc
đào
tạo
Linh
Mục,
số
4,
8,
9.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
về
Phụng
Vụ
Thánh,
số
17:
AAS
56
(1964),
trg
105.
(Trở
lại
đầu
trang)
37
Xem
CÐ
Vat.
II,,
Sắc
lệnh
về
việc
đào
tạo
Linh
Mục,
số
1.
(Trở
lại
đầu
trang)
38
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Princeps
Pastorum,
28-11-1959:
AAS
51
(1959),
trg
843-844.
(Trở
lại
đầu
trang)
39
Xem
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Hiệp
Nhất,
số
4:
AAS
57
(1965),
trg
94-96.
(Trở
lại
đầu
trang)
40
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Princeps
Pastorum,
28-11-1959:
AAS
51
(1959),
trg
842.
(Trở
lại
đầu
trang)
41
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
29:
AAS
57
(1965),
trg
36.
(Trở
lại
đầu
trang)
26*
Ðặt
tay
là
một
nghi
lễ
thánh
thiện.
Chính
việc
đặt
tay
này
ban
bí
tích
phó
tế.
(Trở
lại
đầu
trang)
42
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Princeps
Pastorum,
28-11-1959
:
AAS
51
(1959),
trg
855.
(Trở
lại
đầu
trang)
43
Ở
đây
nói
những
người
vẫn
được
gọi
là
"catéchistes
à
plein
temps",
"full
time
catechists"
(những
thầy
giảng,
kẻ
giảng).
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Sứ
mệnh
pháp
lý
theo
giáo
luật
là
quyền
hành
do
Giáo
Quyền
có
thẩm
quyền
ban
cho,
như
quyền
dạy
dỗ,
quyền
cử
hành
các
nghi
thức
để
phục
vụ
Giáo
Hội.
(Trở
lại
đầu
trang)
44
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
31,
44
:
AAS
57
(1965),
trg
37,
50-51.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II