VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
14-
SẮC
LỆNH
VỀ
HOẠT
ĐỘNG
TRUYỀN
GIÁO
CỦA
GIÁO
HỘI
(AD
GENTES)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Khóa
IX
Ngày
07
tháng
12
Năm
1965
Phaolô
Giám
Mục
Tôi
Tớ
Các
Tôi
Tớ
Thiên
Chúa
Hiệp
Nhất
Với
Các
Nghị
Phụ
Của
Thánh
Công
Ðồng
Ðể
Muôn
Ðời
Ghi
Nhớ
Lời
Mở
Ðầu
1.
Ðược
Thiên
Chúa
sai
đến
muôn
dân
để
nên
"bí
tích
cứu
độ
phổ
quát"
1,
Giáo
Hội,
vì
những
đòi
hỏi
căn
bản
của
công
giáo
tính
và
vì
mệnh
lệnh
của
Ðấng
Sáng
Lập
2,
1*
nhất
quyết
loan
báo
Phúc
Âm
cho
hết
mọi
người.
Thực
vậy,
chính
các
Tông
Ðồ,
nền
tảng
của
Giáo
Hội,
đã
theo
chân
Chúa
Kitô,
"rao
giảng
lời
chân
lý
và
khai
sinh
các
giáo
đoàn"
3.
Do
đó,
những
người
kế
vị
các
Tông
Ðồ
có
nhiệm
vụ
tiếp
tục
công
việc
này,
để
"lời
Chúa
được
lan
tràn
và
sáng
tỏ"
(2
Th
3,1),
nước
Chúa
được
công
bố
và
thiết
lập
khắp
trần
gian.
Nhưng
tình
trạng
thế
giới
hiện
nay
đặt
nhân
loại
trong
một
hoàn
cảnh
2*
mới,
vì
thế
Giáo
Hội,
là
muối
đất
và
ánh
sáng
trần
gian
4,
càng
được
kêu
mời
khẩn
thiết
hơn
để
cứu
rỗi
và
canh
tân
mọi
loài,
hầu
mọi
sự
được
tái
lập
trong
Chúa
Kitô,
và
nơi
Ngài
mọi
người
họp
thành
một
gia
đình
và
một
Dân
Chúa
duy
nhất.
Bởi
vậy
3*,
trong
niềm
cảm
tạ
Thiên
Chúa
vì
những
kỳ
công
mà
toàn
thể
Giáo
Hội
đã
nhiệt
tâm
thực
hiện,
Thánh
Công
Ðồng
này
ao
ước
vạch
ra
những
nguyên
tắc
hoạt
động
truyền
giáo
và
tập
trung
năng
lực
mọi
tín
hữu
lại,
để
Dân
Chúa,
khi
dấn
thân
bước
trên
đường
chật
hẹp
của
thập
giá,
mở
rộng
nước
Chúa
Kitô,
là
Chúa
và
là
Ðấng
thấu
suốt
muôn
đời
5
đồng
thời
dọn
đường
chờ
Người
đến.
Chương
I
Những
Nguyên
Tắc
Giáo
Thuyết
4*
2.
Ý
định
của
Chúa
Cha.
Tự
bản
tính,
Giáo
Hội
lữ
hành
phải
truyền
giáo,
vì
chính
Giáo
Hội
bắt
nguồn
từ
sứ
mạng
của
Chúa
Con
và
Chúa
Thánh
Thần
theo
Ý
Ðịnh
của
Thiên
Chúa
Cha
6.
5*
Ý
định
này
tuôn
trào
từ
"suối
tình
yêu"
cũng
là
lòng
thương
của
Thiên
Chúa
Cha,
vì
chính
Ngài
là
Nguyên
lý
vô
Nguyên
lý,
bởi
Ngài
Chúa
Con
được
sinh
ra,
và
cũng
bởi
Ngài
và
nhờ
Chúa
Con
mà
phát
xuất
Chúa
Thánh
Thần.
Vì
quá
nhân
từ
thương
xót,
Người
đã
tự
ý
dựng
nên
chúng
ta,
và
lại
nhưng
không
mời
gọi
chúng
ta
tham
dự
vào
sự
sống
và
vinh
hiển
với
Ngài;
Ngài
còn
rộng
rãi
đổ
tràn
lòng
nhân
từ
xuống
cho
chúng
ta
và
còn
đổ
mãi
không
ngừng
đến
nỗi
Ngài
là
Ðấng
tác
tạo
muôn
loài
lại
trở
nên
"mọi
sự
trong
mọi
người"
(1Cor
15,28),
để
đồng
thời
làm
vinh
danh
Ngài
và
mưu
cầu
hạnh
phúc
cho
chúng
ta.
Thực
vậy,
Thiên
Chúa
muốn
mời
gọi
mọi
người
tham
dự
vào
sự
sống
của
Ngài,
không
những
chỉ
từng
cá
nhân
không
liên
lạc
gì
với
nhau,
mà
Ngài
còn
liên
kết
họ
thành
một
dân
duy
nhất,
trong
đó
đoàn
tụ
mọi
con
cái
đã
tản
mác
khắp
nơi
7.
3.
Sứ
mệnh
của
Chúa
Con.
Ý
định
của
Thiên
Chúa
nhằm
cứu
rỗi
toàn
thể
nhân
loại
không
phải
chỉ
được
thực
hiện
một
cách
có
thể
nói
là
kín
đáo
trong
tâm
trí
con
người,
hoặc
bằng
những
kế
hoạch,
ngay
cả
kế
hoạch
tôn
giáo,
để
nhờ
đó
con
người
tìm
kiếm
Thiên
Chúa
bằng
nhiều
cách,
"hầu
may
ra
sẽ
đến
gần
Ngài
hoặc
gặp
được
Ngài,
mặc
dù
Ngài
không
ở
xa
mỗi
người
chúng
ta"
(CvTđ
17,27);
những
kế
hoạch
đó
cần
phải
được
soi
dẫn
và
tu
bổ,
tuy
đôi
khi,
nhờ
ý
định
nhân
lành
của
Chúa
Quan
Phòng,
có
thể
được
coi
như
những
con
đường
hướng
về
Thiên
Chúa
chân
thật
hoặc
chuẩn
bị
Phúc
Âm
8.
6*
Nhưng
để
củng
cố
hòa
bình
hay
là
mối
hiệp
thông
cùng
Thiên
Chúa,
và
để
xây
dựng
một
xã
hội
huynh
đệ
giữa
con
người,
con
người
tội
lỗi,
Ngài
đã
quyết
định
đi
vào
lịch
sử
loài
người
một
cách
mới
mẻ
và
dứt
khoát
bằng
cách
sai
Chúa
Con
mặc
lấy
xác
phàm
chúng
ta,
để
nhờ
Chúa
Con,
Ngài
giải
thoát
nhân
loại
khỏi
quyền
lực
tối
tăm
và
Satan
9
và
để
trong
Chúa
Con
Ngài
hòa
giải
trần
gian
với
chính
Ngài
10.
Thật
vậy,
nhờ
Chúa
Con
mà
Ngài
đã
sáng
tạo
vũ
trụ
11
thì
Ngài
cũng
đặt
Chúa
Con
thừa
hưởng
vũ
trụ,
để
trong
Chúa
Con
mọi
sự
được
tái
lập
12.
Bởi
vậy,
Chúa
Giêsu
Kitô
được
sai
xuống
thế
trần
làm
trung
gian
đích
thực
giữa
Thiên
Chúa
và
nhân
loại.
Vì
Người
là
Thiên
Chúa,
nên
"ở
trong
Người,
ngay
trong
thân
xác
Người,
có
tất
cả
sự
sung
mãn
về
thiên
tính"
(Col
2,9).
Còn
theo
nhân
tính,
Người
là
Adam
mới
7*
được
đặt
làm
đầu
nhân
loại
đã
đổi
mới:
"Người
đầy
ân
sủng
và
chân
lý"
(Gio
1,14).
Do
đó,
bằng
đường
lối
nhập
thể
đích
thực,
Con
Thiên
Chúa
đã
đến
để
làm
cho
loài
người
thông
phần
vào
bản
tính
Thiên
Chúa;
dù
giàu
sang,
Người
đã
trở
nên
nghèo
hèn
vì
chúng
ta,
để
nhờ
sự
thiếu
thốn
đó
mà
chúng
ta
được
sang
giầu
13.
Con
Người
không
đến
để
được
phục
vụ
nhưng
là
để
phục
vụ
và
hiến
mạng
sống
chuộc
tội
thay
cho
nhiều
người,
nghĩa
là
mọi
người
14.
Các
Thánh
Phụ
8*
luôn
quả
quyết
rằng
sự
gì
không
được
Chúa
Kitô
nhận
lấy
thì
không
được
cứu
thoát
15.
Thật
vậy,
Chúa
Kitô
đã
nhận
lấy
trọn
vẹn
nhân
tính
chúng
ta,
là
những
kẻ
khốn
khổ
và
nghèo
hèn,
ngoại
trừ
tội
lỗi
16.
Chúa
Kitô,
"Ðấng
được
Chúa
Cha
thánh
hóa
và
sai
xuống
trần
gian"
(x.
Gio
19,36)
đã
nói
về
chính
mình
rằng:
"Thần
Linh
Chúa
ở
trên
ta,
nên
Ngài
đã
xức
dầu
cho
Ta,
sai
Ta
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
người
nghèo
khó,
an
ủi
kẻ
khổ
tâm,
loan
báo
sự
giải
thoát
cho
kẻ
tù
đầy
và
đem
sự
sáng
mắt
cho
kẻ
đui
mù"
(Lc
4,18);
Người
còn
nói:
"Con
Người
đến
tìm
kiếm
và
cứu
vớt
điều
gì
bị
hư
đi"
(Lc
19,10).
Những
gì
Chúa
đã
một
lần
rao
giảng
hay
đã
hoàn
tất
trong
Người
cho
phần
rỗi
nhân
loại,
phải
được
công
bố
và
truyền
bá
tới
tận
cùng
trái
đất
17,
bắt
đầu
từ
Giêrusalem
18:
như
thế
những
gì
đã
một
lần
thực
hiện
cho
phần
rỗi
mọi
người,
sẽ
có
hiệu
lực
qua
suốt
dòng
thời
gian,
cho
hết
mọi
người.
4.
Sứ
mệnh
của
Chúa
Thánh
Thần.
Ðể
hoàn
thành
việc
đó,
Chúa
Kitô
đã
sai
Chúa
Thánh
Thần
từ
Chúa
Cha
đến
để
Ngài
thực
hiện
công
trình
cứu
chuộc
trong
các
tâm
hồn
và
thúc
đẩy
Giáo
Hội
bành
trướng
thêm
mãi.
Dĩ
nhiên
là
Chúa
Thánh
Thần
đã
hành
động
nơi
trần
gian
trước
khi
Chúa
Kitô
được
vinh
hiển
19,
nhưng
trong
ngày
Hiện
Xuống,
Ngài
đã
ngự
xuống
trên
các
Tông
Ðồ
để
ở
lại
với
họ
muôn
đời
20:
Giáo
Hội
công
khai
ra
mắt
dân
chúng,
Phúc
Âm
bắt
đầu
được
phổ
biến
giữa
muôn
dân
nhờ
lời
giảng
dạy,
và
sau
hết
tiên
báo
sự
hợp
nhất
các
dân
tộc
trong
tính
cách
công
giáo
của
đức
tin,
nhờ
Giáo
Hội
Tân
Ước
9*
nói
mọi
thứ
tiếng,
thấu
hiểu
và
bao
gồm
mọi
ngôn
ngữ
trong
tình
bác
ái,
và
như
thế
đã
thắng
vượt
sự
phân
tán
do
tháp
Babel
21.
10*
Thực
vậy
"công
vụ
Tông
đồ"
bắt
đầu
từ
ngày
Hiện
Xuống,
như
khi
Chúa
Thánh
Thần
đến
ngự
trên
Trinh
Nữ
Maria
thì
Chúa
Kitô
được
thụ
thai,
và
như
khi
Chúa
Thánh
Thần
ngự
trên
Chúa
Kitô
lúc
Người
cầu
nguyện
thì
Người
được
thúc
đẩy
bắt
đầu
thi
hành
chức
vụ
22.
Chính
Chúa
Giêsu
trước
khi
hiến
mạng
sống
mình
cho
thế
gian
một
cách
tự
do,
đã
xếp
đặt
chức
vụ
Tông
Ðồ
và
hứa
sai
Chúa
Thánh
Thần
đến
hầu
chức
vụ
và
việc
sai
ban
Chúa
Thánh
Thần
liên
kết
với
nhau,
để
công
trình
cứu
chuộc
luôn
luôn
đem
lại
kết
quả
khắp
nơi
23.
Qua
mọi
thời
đại,
Chúa
Thánh
Thần
"hợp
nhất
toàn
thể
Giáo
Hội
trong
mối
hiệp
thông
và
thừa
hành,
ban
phát
các
ơn
phẩm
trật
và
đặc
sủng
11*
khác
nhau"
24,
như
là
linh
hồn
làm
sống
động
những
Tổ
Chức
trong
Giáo
Hội
25
và
đổ
dần
vào
lòng
các
tín
hữu
cũng
một
tinh
thần
truyền
giáo
đã
thúc
đẩy
chính
Chúa
Kitô.
Ðôi
khi
Chúa
Thánh
Thần
lại
chuẩn
bị
một
cách
hữu
hình
cho
hành
động
truyền
giáo
26,
cũng
như
không
ngừng
dùng
những
phương
thế
khác
nhau
để
theo
sát
và
hướng
dẫn
vậy
27.
5.
Sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
Ngay
từ
đầu,
Chúa
Giêsu
"đã
gọi
đến
với
Người
những
kẻ
chính
Người
muốn
và
đặt
ra
mười
hai
người
để
họ
ở
cùng
Người
rồi
sai
họ
đi
rao
giảng"
(Mc
3,13)
28.
Như
thế,
các
Tông
Ðồ
là
mầm
mống
của
Israel
mới,
đồng
thời
cũng
là
nguồn
gốc
của
hàng
Giáo
Phẩm.
Sau
đó,
khi
Chúa
Giêsu,
bằng
cái
chết
và
sự
sống
lại,
đã
một
lần
hoàn
tất
nơi
Người
những
mầu
nhiệm
cứu
rỗi
chúng
ta
và
canh
tân
vũ
trụ,
Người
đã
chiếm
hữu
toàn
quyền
trên
trời
dưới
đất
29
và
trước
khi
về
trời
30,
đã
thiết
lập
Giáo
Hội
Người
làm
bí
tích
cứu
độ,
và
sai
các
Tông
Ðồ
đi
khắp
thế
gian
như
chính
Người
đã
được
Chúa
Cha
sai
31,
khi
Người
truyền:
"Vậy
các
con
hãy
đi
dạy
dỗ
muôn
dân:
rửa
tội
cho
họ
nhân
danh
Cha
và
Con
và
Thánh
Thần,
và
dạy
họ
giữ
mọi
điều
Ta
đã
truyền
cho
các
con"
(Mt
28,19-20).
"Hãy
đi
khắp
trần
gian
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
hết
mọi
loài
thụ
tạo.
Ai
tin
và
chịu
phép
Rửa
sẽ
được
cứu
rỗi:
còn
ai
không
tin
sẽ
bị
luận
phạt"
(Mc
16,15).
Do
đó,
Giáo
Hội
có
bổn
phận
truyền
bá
đức
tin
và
ơn
cứu
rỗi
của
Chúa
Kitô,
phần
thì
do
mệnh
lệnh
rõ
ràng
mà
các
Tông
Ðồ
đã
truyền
lại
cho
hàng
Giám
Mục
12*
với
sự
tham
dự
của
các
linh
mục,
hợp
nhất
với
Ðấng
kế
vị
Phêrô
cũng
là
Mục
Tử
Tối
Cao
của
Giáo
Hội,
phần
thì
do
đời
sống
mà
Chúa
Kitô
thông
ban
cho
các
chi
thể,
"nhờ
Người,
toàn
thân
được
khăng
khít
và
liên
kết
với
nhau
bằng
mọi
mối
khớp
cung
dưỡng,
tùy
theo
mức
độ
hoạt
động
của
mỗi
chi
thể,
làm
cho
thân
thể
triển
nở
mà
tự
kiến
tạo
trong
đức
ái"
(Eph
4,16).
Vì
thế,
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội
được
hoàn
tất
do
việc
Giáo
Hội
vâng
lệnh
Chúa
Kitô,
được
ân
sủng
và
tình
thương
Chúa
Thánh
Thần
thúc
đẩy,
đã
trở
nên
hoàn
toàn
thực
sự
có
mặt
nơi
mọi
người
hay
mọi
dân
tộc,
để
nhờ
gương
mẫu
đời
sống,
lời
giảng
dạy,
các
Bí
Tích
và
những
phương
tiện
ân
sủng
khác,
Giáo
Hội
sẽ
dẫn
họ
đến
đức
tin,
tự
do
và
hòa
bình
của
Chúa
Kitô:
nhờ
đó
họ
thấy
con
đường
tự
do
và
vững
chắc
giúp
họ
tham
dự
trọn
vẹn
mầu
nhiệm
Chúa
Kitô.
Vì
sứ
mệnh
này
tiếp
diễn,
và
qua
dòng
lịch
sử
làm
sáng
tỏ
sứ
mệnh
của
chính
Chúa
Kitô,
Ðấng
đã
được
sai
đến
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
người
nghèo
khó,
nên
Giáo
Hội
được
Thánh
Thần
Chúa
Kitô
thúc
đẩy,
cũng
phải
tiến
bước
trên
chính
con
đường
mà
Chúa
Kitô
đã
đi,
là
nghèo
khó,
vâng
lời,
phục
vụ
và
tự
hiến
thân
cho
đến
chết,
để
rồi
toàn
thắng
nhơ
sự
sống
lại
13*
của
Người.
Chính
các
Tông
Ðồ
trong
niềm
hy
vọng
cũng
đã
bước
đi
trên
đường
lối
đó,
đã
chịu
nhiều
nghịch
cảnh
và
đau
khổ
để
hoàn
tất
những
gì
còn
thiếu
sót
trong
cuộc
khổ
nạn
Chúa
Kitô
đã
chịu
vì
thân
thể
Người
là
Giáo
Hội
32.
Nhiều
khi
máu
các
Kitô
hữu
còn
là
hạt
giống
nữa
33.
6.
Hoạt
động
truyền
giáo.
Hàng
Giám
Mục,
mà
đứng
đầu
là
Ðấng
Kế
Vị
Phêrô,
phải
chu
toàn
chức
vụ
đó,
nhờ
vào
lời
cầu
nguyện
và
cộng
tác
của
toàn
thể
Giáo
Hội
bất
cứ
ở
đâu
và
bất
cứ
trong
hoàn
cảnh
nào,
chức
vụ
đó
vẫn
chỉ
là
một
chức
vụ
duy
nhất,
dầu
hoàn
cảnh
không
cho
phép
thi
hành
một
cách
như
nhau.
Vì
thế,
sự
khác
biệt
phải
nhận
là
có
trong
hoạt
động
của
Giáo
Hội
nhưng
không
phát
sinh
từ
bản
tính
sâu
xa
của
chính
sứ
mệnh,
mà
từ
những
hoàn
cảnh
mà
sứ
mệnh
này
được
thực
thi.
Những
hoàn
cảnh
đó
hoặc
tùy
thuộc
vào
Giáo
Hội,
hoặc
cũng
tùy
thuộc
vào
các
dân
tộc,
các
nhóm
người,
hay
những
ai
mà
sứ
mệnh
nhắm
tới.
Thực
vậy,
dù
do
bản
tính
Giáo
Hội
nắm
giữ
toàn
thể,
nghĩa
là
đầy
đủ
mọi
phương
tiện
cứu
rỗi,
nhưng
Giáo
Hội
không
hành
động,
cũng
không
thể
hành
động
luôn
luôn
và
tức
khắc
theo
mọi
phương
tiện
đó,
mà
phải
dò
dẫm
những
bước
đầu,
rồi
tùy
theo
các
giai
đoạn
mà
hành
động,
để
cố
gắng
thực
hiện
hữu
hiệu
ý
định
của
Thiên
Chúa.
Hơn
nữa,
đôi
lúc
sau
khi
có
những
tiến
bộ
may
mắn
ban
đầu,
Giáo
Hội
lại
phải
đau
đớn
lùi
bước,
hay
ít
ra
dừng
lại
trong
một
trạng
thái
lưng
chừng
và
thiếu
sót.
Ðối
với
con
người,
đoàn
thể
hay
dân
tộc,
Giáo
Hội
chỉ
tiếp
xúc
và
thấm
nhập
dần
dần,
và
như
vậy
nhận
họ
vào
hưởng
sự
sung
mãn
công
giáo.
Những
hành
động
riêng
tư
hay
những
khí
cụ
thích
nghi
phải
tương
xứng
với
từng
hoàn
cảnh
hay
từng
trạng
thái.
Ðược
gọi
chung
là
"việc
truyền
giáo"
tất
cả
những
công
cuộc
đặc
biệt
giúp
đỡ
các
nhà
rao
giảng
Phúc
Âm
của
Giáo
Hội
14*
đang
đi
khắp
thế
gian
để
thực
hiện
chức
vụ
rao
giảng
Phúc
Âm,
và
"trồng"
Giáo
Hội
vào
các
dân
tộc,
cũng
như
những
nhóm
người
chưa
tin
Chúa
Kitô;
những
công
cuộc
này
được
hoàn
thành
nhờ
hoạt
động
truyền
giáo,
và
phần
nhiều
được
thực
hiện
trong
những
địa
hạt
nhất
định
mà
Tòa
Thánh
đã
công
nhận.
Mục
đích
riêng
của
hoạt
động
truyền
giáo
này
là
rao
giảng
Phúc
Âm
và
trồng
Giáo
Hội
vào
các
dân
tộc
hay
những
nhóm
người
mà
Giáo
Hội
còn
chưa
bén
rễ
34.
Như
thế,
do
hạt
giống
lời
Chúa,
các
Giáo
Ðoàn
địa
phương
một
khi
đã
được
thiết
lập
đầy
đủ
khắp
nơi
trên
thế
giới,
phải
lớn
lên,
và,
một
khi
thực
sự
tự
mình
có
đủ
sức
sống
và
trưởng
thành,
nghĩa
là
đã
được
thiết
lập
Hàng
Giáo
Phẩm
riêng,
phải
hiệp
nhất
với
dân
trung
thành;
đồng
thời
có
những
phương
tiện
hầu
như
tương
ứng
để
sống
đầy
đủ
đời
sống
Kitô
giáo,
các
Giáo
Ðoàn
đó
phải
góp
phần
vào
lợi
ích
của
toàn
thể
Giáo
Hội.
Phương
tiện
chính
để
gieo
trồng
các
Giáo
Ðoàn
này
là
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
của
Chúa
Giêsu
Kitô;
chính
vì
vậy
mà
Chúa
đã
sai
các
môn
đệ
đi
khắp
thế
gian
rao
giảng
Phúc
Âm,
để
sau
khi
con
người
đã
được
tái
sinh
do
lời
Thiên
Chúa
35
sẽ
nhờ
phép
Rửa
mà
gia
nhập
Giáo
Hội,
một
Giáo
Hội,
với
tư
cách
là
thân
xác
của
Ngôi
Lời
nhập
thể,
được
nuôi
dưỡng
và
sống
động
bằng
lời
Chúa
và
bánh
thánh
thể
36.
Trong
hoạt
động
truyền
giáo
của
Giáo
Hội,
có
nhiều
thời
cảnh
đôi
khi
lẫn
lộn
với
nhau:
trước
hết
là
thời
khởi
công
hay
gieo
trồng,
sau
đó
là
thời
mới
mẻ
trẻ
trung.
Tuy
nhiên,
khi
trải
qua
các
thời
cảnh
đó
rồi,
hoạt
động
truyền
giáo
của
Giáo
Hội
vẫn
không
ngừng
trệ:
các
Giáo
Ðoàn
địa
phương
đã
được
thiết
lập
có
nhiệm
vụ
tiếp
tục
hoạt
động
truyền
giáo
và
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
từng
người
còn
ở
ngoài
15*
Giáo
Hội.
Ngoài
ra,
những
nhóm
người
mà
Giáo
Hội
đang
chung
sống,
thường
bị
thay
đổi
tận
gốc
vì
nhiều
lý
do
khác
nhau,
đến
nỗi
có
thể
xuất
hiện
những
hoàn
cảnh
hoàn
toàn
mới
mẻ.
Khi
ấy
Giáo
Hội
phải
cân
nhắc
xem
những
hoàn
cảnh
đó
có
còn
đòi
phải
hoạt
động
truyền
giáo
nữa
không?
Ngoài
ra
đôi
khi
có
những
hoàn
cảnh
làm
cho
trong
một
thời
gian
không
thể
trực
tiếp
thi
hành
ngay
sứ
mệnh
rao
giảng
Phúc
Âm:
lúc
đó,
các
nhà
truyền
giáo
có
thể
và
phải
làm
chứng
về
Chúa
Kitô
trong
nhẫn
nhục,
khôn
ngoan,
đồng
thời
trong
tin
tưởng
vững
vàng,
ít
nữa
là
làm
chứng
bằng
bác
ái
và
lòng
từ
thiện;
như
thế
là
dọn
đường
cho
Chúa
và
làm
cho
Ngài
hiện
diện
một
cách
nào
đó.
Như
thế,
rõ
ràng
là
hoạt
động
truyền
giáo
bắt
nguồn
sâu
xa
từ
chính
bản
tính
của
Giáo
Hội.
Nó
truyền
bá
đức
tin
cứu
rỗi
của
Giáo
Hội,
hoàn
tất
sự
hiệp
nhất
công
giáo
của
Giáo
Hội
bằng
cách
làm
bành
trướng
sự
hiệp
nhất
này,
nó
dựa
vào
tính
cách
tông
truyền
của
Giáo
Hội,
nó
thể
hiện
ý
nghĩa
cộng
đoàn
của
hàng
Giáo
Phẩm,
nó
làm
chứng,
truyền
bá
và
thúc
đẩy
sự
thánh
thiện
của
Giáo
Hội.
Như
thế,
hoạt
động
truyền
giáo
giữa
muôn
dân
khác
với
việc
thi
hành
hoạt
động
mục
vụ
giúp
các
tín
hữu
và
với
những
công
cuộc
nhằm
tái
lập
sự
hiệp
nhất
Kitô
hữu.
Tuy
nhiên,
cả
hai
việc
này
đều
liên
kết
rất
chặt
chẽ
với
nhiệt
tâm
truyền
giáo
của
Giáo
Hội
37:
thực
vậy,
sự
chia
rẽ
giữa
các
Kitô
hữu
gây
tai
hại
cho
công
việc
rất
thánh
thiện
là
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
loài
thụ
tạo
38,
và
còn
khép
kín
con
đường
đưa
tới
đức
tin
đối
với
nhiều
người.
Do
đó,
vì
sứ
mệnh
truyền
giáo
đòi
hỏi,
tất
cả
những
ai
đã
chịu
phép
Rửa
Tội
đều
được
kêu
gọi
quy
tụ
vào
một
đoàn
duy
nhất,
và
như
thế
họ
có
thể
đồng
lòng
làm
chứng
về
Chúa
Kitô,
Chúa
của
họ,
trước
mặt
muôn
dân.
Nếu
họ
chưa
có
thể
làm
chứng
đầy
đủ
về
một
đức
tin
duy
nhất,
thì
ít
ra
họ
phải
sống
trong
niềm
quí
trọng
và
yêu
mến
nhau.
7.
Lý
do
và
sự
cần
thiết
của
hoạt
động
truyền
giáo.
Lý
do
hoạt
động
truyền
giáo
này
bắt
nguồn
từ
ý
muốn
của
Thiên
Chúa,
Ðấng
"muốn
mọi
người
được
cứu
rỗi
và
nhận
biết
chân
lý.
Thực
vậy
chỉ
có
một
Thiên
Chúa
duy
nhất,
một
trung
gian
duy
nhất
giữa
Thiên
Chúa
và
loài
người,
là
con
người
Giêsu
Kitô,
Ðấng
đã
tự
hiến
để
cứu
chuộc
mọi
người"
(1Tm
2,4-6),
"và
sự
cứu
rỗi
không
ở
trong
một
người
nào
khác"
(CvTđ
4,12).
Vậy
mọi
người,
nhờ
lời
giảng
dạy
của
Giáo
Hội
mà
nhận
biết
Người,
phải
trở
lại
với
Người
và
chịu
phép
Rửa
để
sáp
nhập
vào
chính
Người
và
vào
Giáo
Hội,
Thân
Thể
Người.
Thực
vậy,
chính
Chúa
Kitô
"đã
minh
nhiên
công
bố
sự
cần
thiết
của
đức
tin
và
của
phép
Thánh
Tẩy
39,
đồng
thời,
Người
đã
xác
nhận
sự
cần
thiết
của
Giáo
Hội
mà
mọi
người
phải
bước
vào
qua
cửa
phép
Thánh
Tẩy.
Vì
thế,
những
ai
biết
rằng
Giáo
Hội
Công
Giáo,
được
Thiên
Chúa
thiết
lập
nhờ
Chúa
Giêsu
Kitô,
như
phương
tiện
cứu
rỗi
cần
thiết,
mà
vẫn
không
muốn
kiên
trì
sống
trong
Giáo
Hội
thì
không
thể
được
cứu
rỗi"
40.
Cho
nên,
dù
Thiên
Chúa
có
thể
dùng
những
đường
lối
Ngài
biết
để
đưa
những
kẻ
không
vì
lỗi
mình
mà
chưa
biết
Phúc
Âm
đến
với
đức
tin,
vì
không
có
đức
tin
thì
không
thê堬àm
vui
lòng
Ngài
41,
nhưng
Giáo
Hội
có
bổn
phận
và
đồng
thời
có
thánh
quyền
rao
giảng
Phúc
Âm
42;
do
đó,
ngày
nay
và
luôn
mãi,
hoạt
động
truyền
giáo
16*
vẫn
còn
giữ
vẹn
hiệu
lực
và
cần
thiết.
Nhờ
hoạt
động
truyền
giáo,
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô
không
ngừng
qui
tụ
và
phối
hợp
các
năng
lực
vào
việc
phát
triển
chính
mình
43.
Ðể
theo
đuổi
hoạt
động
truyền
giáo,
các
chi
thể
của
Giáo
Hội
phải
được
bác
ái
thúc
đẩy
vì
nhờ
đó
họ
yêu
mến
Thiên
Chúa
và
ước
ao
san
sẻ
cho
mọi
người
các
ân
huệ
thiêng
liêng
đời
này
và
đời
sau.
Sau
cùng,
nhờ
hoạt
động
truyền
giáo
này,
Thiên
Chúa
được
hoàn
toàn
tôn
vinh,
một
khi
con
người
ý
thức
chấp
nhận
hoàn
toàn
công
trình
cứu
chuộc
mà
Ngài
đã
hoàn
thành
trong
Chúa
Kitô.
Do
đó,
nhờ
hoạt
động
truyền
giáo,
ý
định
của
Thiên
Chúa
được
hoàn
tất:
Chúa
Kitô
đã
vâng
lời
và
yêu
mến
Chúa
Cha
để
làm
tôn
vinh
danh
Chúa
Cha,
Ðấng
đã
sai
Người
44,
hầu
toàn
thể
nhân
loại
hợp
thành
một
Dân
Chúa
duy
nhất,
kết
thành
một
thân
thể
duy
nhất
của
Chúa
Kitô,
xây
dựng
thành
một
đền
thờ
duy
nhất
của
Chúa
Thánh
Thần:
điều
đó
nói
lên
sự
đồng
tâm
huynh
đệ,
nên
chắc
chắn
sẽ
đáp
ứng
nguyện
vọng
sâu
xa
của
hết
mọi
người.
Chính
vì
thế
mà
sau
cùng
sẽ
thực
sự
hoàn
tất
ý
định
của
Ðấng
Tạo
Hóa,
Ðấng
đã
dựng
nên
con
người
theo
hình
ảnh
mình
và
giống
như
mình,
khi
mà
tất
cả
những
ai
tham
dự
bản
tính
nhân
loại,
một
khi
đã
được
tái
sinh
trong
Chúa
Kitô
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
và
cùng
nhau
chiêm
ngưỡng
vinh
quang
Thiên
Chúa,
sẽ
có
thể
nói:
"lạy
Cha
chúng
tôi"
45.
8.
Hoạt
động
truyền
giáo
trong
đời
sống
và
trong
lịch
sử
của
nhân
loại.
Hoạt
động
truyền
giáo
cũng
liên
kết
chặt
chẽ
với
chính
bản
tính
nhân
loại
và
những
ước
vọng
của
nhân
loại.
Thực
vậy,
khi
biểu
dương
Chúa
Kitô,
chính
là
Giáo
Hội
mạc
khải
cho
con
người
biết
chân
lý
đích
thực
về
hoàn
cảnh
và
ơn
gọi
toàn
diện
của
họ,
vì
Chúa
Kitô
là
nguyên
lý
và
mẫu
mực
của
nhân
loại
đổi
mới,
một
nhân
loại
thấm
nhuần
tình
thương
huynh
đệ,
sự
thành
thật
và
tinh
thần
hòa
bình
mà
mọi
người
đều
ước
nguyện.
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội,
một
Giáo
Hội
làm
chứng
về
chính
Chúa
Kitô
qua
lời
rao
giảng
Phúc
Âm,
vượt
trên
mọi
dị
biệt
về
nòi
giống
và
dân
tộc;
như
thế,
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội
không
có
thể
bị
coi
là
xa
lạ
với
bất
cứ
ai
hay
bất
cứ
nơi
nào
46.
Chính
Chúa
Kitô
là
sự
thật
và
là
đường
lối
mà
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
đã
bày
tỏ
cho
mọi
người
khi
vọng
đến
tai
họ
những
lời
của
chính
Chúa
Kitô:
"Hãy
hối
cải
và
tin
vào
Phúc
Âm"
(Lc
1,15).
Vì
kẻ
nào
không
tin
thì
đã
bị
luận
phạt
rồi
47,
nên
lời
Chúa
Kitô
vừa
là
lời
luận
phạt
vừa
là
lời
ân
sủng,
vừa
đem
lại
sự
chết
vừa
thông
ban
sự
sống.
Thực
vậy,
chỉ
có
cách
hủy
diệt
cái
cũ,
chúng
ta
mới
có
thể
tiến
đến
một
đời
sống
mới:
điều
đó
tuy
trước
tiên
áp
dụng
cho
con
người,
nhưng
cũng
có
giá
trị
cho
những
của
cải
khác
ở
thế
gian
này;
những
của
cải
đó
đã
bị
tội
lỗi
loài
người
ghi
dấu
và
đồng
thời
cũng
được
Thiên
Chúa
chúc
lành:
"vì
chưng
mọi
người
đã
phạm
tội
và
đã
làm
mất
vinh
quang
Thiên
Chúa"
(Rm
3,23).
Tự
mình
và
do
sức
riêng
mình,
không
ai
được
giải
thoát
khỏi
tội
lỗi
và
thắng
vượt
chính
mình,
cũng
không
ai
hoàn
toàn
thoát
ly
được
yếu
đuối,
cô
đơn
hay
nô
lệ
48,
nhưng
mọi
người
đều
cần
Chúa
Kitô
làm
gương
mẫu,
làm
Thầy
dạy,
là
Ðấng
giải
thoát,
Ðấng
cứu
độ
và
Ðấng
ban
sự
sống.
Thực
ra,
trong
lịch
sử
loài
người
dù
là
về
phương
diện
trần
thế,
Phúc
Âm
đã
là
men
tự
do
và
tiến
bộ,
lại
luôn
chứng
tỏ
là
men
huynh
đệ,
hiệp
nhất
và
hòa
bình.
Vậy
không
phải
là
vô
lý
khi
các
tín
hữu
sùng
kính
Chúa
Kitô
như
là
"Ðấng
muôn
dân
trông
đợi
và
là
Ðấng
cứu
chuộc
muôn
dân"
49.
9.
Tính
cách
cánh
chung
của
hoạt
động
truyền
giáo.
Vì
thế,
thời
gian
hoạt
động
truyền
giáo
là
thời
gian
ở
giữa
hai
lần
Chúa
đến;
và
khi
Chúa
đến
lần
thứ
hai
17*,
Giáo
Hội
ví
như
mùa
gặt
được
thu
góp
vào
Nước
Chúa
từ
bốn
phương
trời
50.
Thực
vậy,
trước
khi
Chúa
đến,
Phúc
Âm
phải
được
rao
giảng
cho
mọi
dân
tộc
51.
Hoạt
động
truyền
giáo
không
gì
khác
hơn,
cũng
không
gì
kém
hơn
là
biểu
lộ
hoặc
bày
tỏ
ý
định
của
Thiên
Chúa
và
hoàn
tất
ý
định
đó
nơi
trần
thế
và
trong
lịch
sử
thế
trần,
chính
trong
lịch
sử
này
mà
Thiên
Chúa
hoàn
thành
lịch
sử
cứu
rỗi
một
cách
rõ
rệt
nhờ
việc
truyền
giáo.
Nhờ
lời
rao
giảng
và
việc
cử
hành
các
bí
tích,
mà
trung
tâm
và
tuyệt
đỉnh
là
phép
Thánh
Thể,
hoạt
động
truyền
giáo
làm
cho
Chúa
Kitô,
Ðấng
tác
thành
công
trình
cứu
rỗi
được
hiện
diện.
Tất
cả
những
gì
là
chân
lý
và
ân
sủng
đã
được
tìm
thấy
nơi
các
dân
tộc
như
một
sự
hiện
diện
bí
ẩn
của
Thiên
Chúa
sẽ
được
hoạt
động
truyền
giáo
giải
thoát
cho
khỏi
bị
nhiễm
độc,
và
hoàn
lại
cho
Chúa
Kitô
là
Ðấng
tác
thành
chúng,
Ðấng
đã
lật
đổ
nước
ma
quỷ
và
chận
đứng
sự
dữ
muôn
hình
của
tội
lỗi.
Bởi
vậy,
bất
cứ
điều
gì
tốt
đẹp
được
nhận
biết
là
đã
được
gieo
vãi
trong
tâm
trí
con
người,
hay
trong
những
lễ
chế
và
văn
minh
riêng
của
các
dân
tộc,
sẽ
không
bị
hủy
diệt,
mà
còn
được
thanh
tẩy,
thăng
tiến
và
hoàn
tất,
để
Chúa
được
tôn
vinh,
ma
quỷ
bị
xấu
hổ
và
con
người
được
hạnh
phúc
52.
Vì
thế,
hoạt
động
truyền
giáo
hướng
về
sự
viên
mãn
cánh
chung
53:
nhờ
hoạt
động
truyền
giáo
này,
Dân
Chúa
được
phát
triển
tới
mức
độ
và
thời
gian
mà
Chúa
Cha
đã
ấn
định
do
quyền
riêng
của
Ngài
54
như
lời
tiên
tri
nói
với
Dân
này
rằng:
"Hãy
mở
rộng
nơi
con
cắm
trại,
hãy
căng
rộng
lều
vải
của
con,
đừng
ngần
ngại"
(Is
54,2)
55.
Cũng
nhờ
hoạt
động
truyền
giáo,
Nhiệm
Thể
được
triển
nở
đến
thời
hạn
viên
mãn
của
Chúa
Kitô
56,
và
đền
thờ
thiêng
liêng,
nơi
Thiên
Chúa
được
thờ
lạy
trong
tinh
thần
và
chân
lý
57,
sẽ
lớn
lên
và
được
xây
dựng
"trên
nền
móng
là
các
Tông
đồ
và
các
Tiên
tri
mà
chính
Chúa
Giêsu
Kitô
là
viên
đá
góc"
(Eph
2,20).
Chú
Thích:
1
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
48
:
AAS
57
(1965),
trg
53.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Mt
16,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
1*
Sắc
Lệnh
đưa
ra
hai
lý
do
minh
chứng
sự
truyền
giáo
là
cần
thiết:
a)
Giáo
Hội
là
Công
Giáo
mở
rộng
cho
mọi
người,
để
tất
cả
trở
nên
phần
tử
của
Giáo
Hội.
b)
Chúa
Giêsu
Kitô
đã
truyền
lệnh
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
người.
Nguyên
hai
lý
do
này
đủ
để
ngăn
chận
mọi
mưu
toan
nhằm
giảm
bớt
giá
trị
của
công
việc
truyền
giáo,
viện
cớ
rằng
người
ngoài
Kitô
giáo
tìm
được
con
đường
cứu
rỗi
trong
tôn
giáo
của
họ,
vì
thế
không
nên
đem
Phúc
Âm
đến
quấy
phá
họ.
Sắc
Lệnh
này
nhấn
mạnh
rằng
tiếng
"cải
hóa"
người
Kitô
giáo
về
với
Chúa
phải
hiểu
theo
đúng
nghĩa
của
nó.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
T.
Augustinô,
Enar.
in
Ps.
44,
23
:
PL
36,
508
;
CChr
38,
510.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Hoàn
cảnh
mới
(tiếng
la
ngữ
ở
số
ít)
được
tạo
nên
vì
con
người
hiện
đại
có
khuynh
hướng
tiến
đến
một
cộng
đoàn
thế
giới
và
thống
nhất
nhân
loại.
Khuynh
hướng
này
làm
cho
nhiệm
vụ
truyền
giáo
của
Giáo
Hội
trở
nên
cấp
bách
hơn,
vì
nhiệm
vụ
quy
tụ
mọi
người
làm
thành
một
Dân
duy
nhất
của
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Mt
5,13-14.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Ðoạn
này
trình
bày
một
cách
vắn
tắt
mục
đích
của
Sắc
Lệnh.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Hđ
36,19.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Theo
yêu
cầu
của
nhiều
Nghị
Phụ,
chương
này,
trên
phương
diện
giáo
lý,
phải
liên
kết
công
việc
truyền
giáo
với
ý
định
của
Chúa
về
nhân
loại.
Ý
định
này
là
chính
tình
yêu
được
biểu
lộ
qua
sứ
mạng
Thần
Linh
của
Chúa
Con
và
Chúa
Thánh
Thần.
Giáo
Hội
chính
là
hiệu
quả
của
các
sứ
mạng
đó,
và
hoạt
động
truyền
giáo
là
nối
dài
các
sứ
mạng
đó
đến
với
người
ngoài
Kitô
giáo.
Những
ý
tưởng
này
đã
được
phác
họa
trong
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
và
được
quảng
diễn
thêm
ở
đây.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
2 :
AAS
57
(1965),
trg
5-6.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Câu
này
quả
quyết
cơ
cấu
về
sứ
mệnh
của
Ba
Ngôi,
sứ
mệnh
dính
liền
với
ý
định
Ngôi
Cha
(số
2),
với
sứ
mệnh
Ngôi
Con
(số
3)
và
Chúa
Thánh
Thần
(số
4).
Các
đoạn
này
thuộc
phạm
vi
thần
học
thuần
túy.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Gio
11,52.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
18,1
:"Ngôi
Lời
tồn
hữu
nơi
Thiên
Chúa,
nhờ
Người
muôn
vật
được
tạo
dựng,
và
Người
hằng
hiện
diện
giữa
nhân
loại":
PG
7,
937.
-
n.t.,
IV,
6,
7:
"Từ
nguyên
thủy,
Chúa
Con
hiện
diện
trong
công
trình
tạo
dựng,
đã
mạc
khải
Chúa
Cha
cho
những
ai
Người
muốn,
khi
nào
Người
muốn
và
như
Người
muốn":
PG
7,
990.
-
Xem
n.t.,
IV,
20,
6
và
7:
PG
7,
1037.
-
T.
Ireneô,
Demonstratio
số
34:
PO
XII,
773:
Sources
Chr.
62,
Paris
1958,
trg
87.
-
Clementê
Alex.,
Protrep.
112,
1:
GCS,
n.t.,
485.
-
Về
chính
giáo
thuyết
này:
Xem
Piô
XII,
diễn
văn
truyền
thanh
31-12-1952.
-
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
16:
AAS
57
(1965),
trg
20.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Cho
đến
đây,
đoạn
này
còn
đề
cập
đến
những
người
ngoài
Kitô
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Col
1,13;
CvTđ
10,38.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
2Cor
5,19.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Dth
1,2
;
Gio
1,3
và
10
;
1Cor
8,6
;
Col
1,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Eph
1,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Adam
mới
là
Chúa
Kitô,
nguồn
ơn
cứu
độ
của
chúng
ta,
còn
Adam
thứ
nhất
(Stk
2-3)
là
nguồn
gốc
sự
sa
đọa
và
thiệt
hại
thiêng
liêng.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
2Cor
8,9.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Mc
10,45.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Các
Thánh
Phụ,
cũng
gọi
là
Giáo
Phụ,
là
những
văn
sĩ
công
giáo
thời
thượng
cổ
(từ
thế
kỷ
thứ
1
đến
thế
kỷ
thứ
8).
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
T.
Athanasiô,
Epist.
ad
Epictetum,
7:
PG
26,
1060.
-
T.
Cyrillô
Hier.,
Catech.
4,
9:
PG
33,
465.
-
Mariô
Victorinô,
Adv.
Arium
3,
3 :
PL
8,
1101.
-
T.
Basiliô,
Epist.
261,
2:
PG
32,
969.
-
T.
Gregoriô
Naz.,
Epist.
101:
PG
37,
181.
-
T.
Gregoriô
Nyss.,
Antirrheticus,
Adv.
Apollin.,
17
:
PG
45,
1116.
-
T.
Ambrosiô,
Epist.
48,
5:
PL
16,
1153.
-
T.
Augustinô,
In
Jo.,
Evang.
tr.
XXIII,
6:
PL
35,
1585;
CChr.
36,
236.
-
Hơn
nữa,
một
điều
chứng
tỏ
Chúa
Thánh
Thần
đã
không
cứu
chuộc
chúng
ta
vì
Người
đã
không
nhập
thể
:
De
Agone
Christ
.
22,
24:
PL
40,
302.
-
T.
Cyrillô
Alex.,
Adv.
Nestor.
I,
I:
PG
76,
20.
-
T.
Fulgentiô,
Epist.
17,
3,
5:
PL
65,
454
;
Ad
Trasimundum
III,
21:
PL
65,
284:
de
tristitia
et
timore.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Dth
4,15
;
9,28.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
CvTđ
1,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
Lc
24,47.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Chính
Chúa
Thánh
Thần
đã
dùng
các
tiên
tri
mà
phán
dạy:
Symb.
Constantinopol:
DS
150
-
T.
Leô
Cả,
Sermo
76:
PL
54,
trg
405-406:
"Trong
ngày
Hiện
Xuống,
Chúa
Thánh
Thần
đã
đổ
tràn
ơn
xuống
cho
các
môn
đệ
Chúa
Kitô,
nhưng
đó
không
phải
là
khởi
đầu
ân
huệ
mà
là
bổ
sung
ân
phúc:
vì
các
tổ
phụ,
các
tiên
tri,
các
thượng
tế,
cũng
như
toàn
thể
các
Thánh
sống
trong
những
thời
đại
xa
xưa,
cũng
đã
được
chính
Chúa
Thánh
Thần
thánh
hóa
dưỡng
nuôi,
mặc
dầu
mức
độ
ân
phúc
có
khác
nhau".
Và
Sermô
77,
1:
PL
54,
412.
-
Leô
XIII,
Tđ.
Divinum
illud,
9-5-1897:
ASS
29
(1897)
trg
650-651.
-
T.
Gioan
Kim
Khẩu
cũng
nói
như
vậy
mặc
dù
Ngài
nhấn
mạnh
về
tính
cách
mới
mẻ
của
sứ
mệnh
Chúa
Thánh
Thần
trong
ngày
Hiện
Xuống:
In
Eph.
4,
hom.
10,
1:
PG
62,
75.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Gio
14,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Giao
ước
cũ
được
ký
kết
giữa
Thiên
Chúa
và
dân
Do
Thái.
Giao
ước
đó
có
tính
cách
quốc
gia.
Giao
ước
mới
thì
phổ
quát
được
ký
kết
giữa
Thiên
Chúa
và
nhân
loại,
bằng
Máu
Chúa
Giêsu
Kitô,
đổ
ra
trên
Núi
Sọ
(x.
Mt
26,28).
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Các
Giáo
Phụ
thường
nói
về
tháp
Babel
và
ngày
Hiện
Xuống:
Origenê,
In
Genesim,
ch.
1:
PG
12,
112.
-
T.
Gregoriô
Naz.
Oratio
41,
16:
PG
36,
449.
-
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
Hom.
2
in
Pentec.,
2:
PG
50,
467.
-
n.t.,
In
Act.
Apost.:
PG
60,
44.
-
T.
Augustinô,
En.
in
Ps.
54,
11:
PL
36,
636
;
CChr.
39,
664
tt.
-
n.t.,
Sermo
271:
PL
38,
1245.
-
T.
Cyrillô
Alex.,
Glaphyra
in
Genesim
II:
PG
69,
79.
-
T.
Gregoriô
Cả,
Hom.
in
Evang.,
c.
II,
hom.
30,
4:
PL
76,
1222.
-
T.
Beda,
In
Hexaem.,
c.
III:
PL
91,
125.
-
Ngoài
ra,
xem
bức
họa
nơi
tiền
đường
của
Vương
Cung
Thánh
Ðường
Marcô
ở
Venezia.
-
Giáo
Hội
nói
mọi
thứ
tiếng,
và
như
thế
hợp
nhất
mọi
người
trong
tính
cách
đại
đồng
của
đức
tin:
T.
Augustinô,
Sermones
266,
267,
268,
269:
PL
38,
1225-1237.
-n.t.,
Sermo
175,
3:
38,
946.
-
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Epist.
1
ad
Cor.,
hom.
35
:
PG
61,
296.
-
T.
Cyrillô
Alex.,
Fragm.
in
Act.:
PG
74,
758.
-
T.
Fulgentiô,
Sermo
8,
2-3:
PL
65,
743-744.
-
về
lễ
Hiện
Xuống
như
là
thánh
hiến
các
Tông
Ðồ
cho
sứ
mệnh,
xem
J.A.
Cramer,
Catena
in
Acta
SS.
Apostolorum,
Oxford
1838,
trg
24
tt.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Cũng
như
tháp
Babel
(Stk
11,
8-9)
tượng
trưng
sự
chia
rẽ
và
tản
mác,
thì
lễ
Hiện
Xuống
(CvTđ
2,
5-12)
tượng
trưng
sự
hiệp
nhất
và
đoàn
kết.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
Lc
3,22
;
4,1
;
CvTđ
10,38.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
Gio
các
đoạn
14-17.
-
Phaolô
VI,
Huấn
từ
đọc
tại
Công
Ðồng,
14-9-1964:
AAS
56
(1964),
trg
807.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Ðặc
sủng
là
những
ơn
đặc
biệt
Chúa
ban
cho
một
ít
người
như
ơn
làm
phép
lạ,
tiên
đoán
tương
lai,
biết
bí
mật
tâm
hồn.
Ơn
phẩm
trật
là
quyền
thiêng
liêng
cai
trị
và
thánh
hóa
giáo
dân
(tha
tội,
hiến
thánh
bánh
và
rượu
thành
Mình
và
Máu
Chúa
Kitô
v.v...).
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
4:
AAS
57
(1965),
trg
7.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
T.
Augustinô,
Sermo
267,
4 :
PL
38,
1231:
"Linh
Hồn
làm
gì
trong
tất
cả
các
chi
thể
của
một
thân
thể,
thì
Chúa
Thánh
Thần
cũng
làm
như
thế
trong
toàn
thể
Giáo
Hội".
-
Xem
CÐ
Vat
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
7,
và
ghi
chú
8:
AAS
57
(1965),
trg
11.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
CvTđ
10,44-47;
11,15;
15,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
CvTđ
4,8;
5,32;
8,26.29.39;
9,31;
10;
11,24-28;
13,2.4.9;
16,6-7;
20,22-23;
21,11
v.v...
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
thêm
Mt
10,1-42.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
Mt
28,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
CvTđ
1,4-8.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
Gio
20,21.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
"Hàng"
Giám
Mục
là
giai
cấp,
địa
vị,
quyền
bính
của
những
ai
được
tấn
phong
Giám
Mục.
Câu
"Hàng
Giám
Mục"
cũng
có
thể
chỉ
tất
cả
những
ai
có
quyền
hành
đó.
Ðó
là
ý
nghĩa
của
số
6.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Ðoạn
này
nói
lên
nguyên
tắc
trọng
yếu
của
tất
cả
mọi
hoạt
động
truyền
giáo:
hoạt
động
này
phải
xử
dụng
những
phương
thế
như
Chúa
Giêsu
Kitô
đã
dùng
để
hoàn
thành
sứ
mệnh
của
Người
(khó
nghèo,
vâng
lời,
phục
vụ,
hy
tế).
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
Col
1,24.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Tertullianô,
Apologet.,
50,
13:
PL
1,
534;
CChr.
1,
171.
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Ở
đây
Sắc
Lệnh
kể
ra
hai
ý
niệm
then
chốt
cho
hoạt
động
truyền
giáo.
Rao
giảng
Phúc
Âm
ở
đây
hiểu
theo
nghĩa
hẹp
và
chính
xác:
nghĩa
là
tuyên
bố
Phúc
Âm
và
Chúa
Kitô
bằng
lời
giảng
dạy.
Ðây
là
bước
đầu
tiên.
Còn
phải
thêm
vào
việc
trồng
Giáo
Hội.
Ðó
là
thiết
lập
cộng
đoàn
Kitô
hữu
trong
đức
tin,
trong
phụng
tự,
nhất
là
phụng
vụ
thánh
thể
trong
tình
bác
ái,
trong
qui
luật
của
Giáo
Hội,
trong
tổ
chức
Hàng
Giáo
Phẩm.
Vun
trồng
Giáo
Hội
chính
yếu
gồm
việc
thiết
lập
Hàng
Giám
Phẩm;
tuy
nhiên,
phương
diện
pháp
lý,
và
định
chế
này
không
phải
là
phương
tiện
duy
nhất.
Trước
hết
Giáo
Hội
là
một
thực
thể
thiêng
liêng
mà
Hàng
Giáo
Phẩm
phải
phục
vụ.
Việc
vun
trồng
Giáo
Hội
phải
đi
đến
kết
quả
này
là
giáo
thuyết
Phúc
Âm
và
quy
luật
Giáo
Hội
phải
đâm
rễ
sâu
trong
tâm
hồn
những
người
đón
nhận
việc
truyền
giáo.
Ðã
có
người
muốn
hủy
bỏ
tiếng
"trồng"
dùng
trong
Sắc
Lệnh,
vì
theo
họ
có
tính
cách
quá
vật
chất.
Nhưng
danh
từ
đó
đã
được
giữ
lại,
vì
lẽ
nó
rất
cổ
điển
trong
khoa
truyền
giáo.
Hơn
nữa,
đó
là
một
danh
từ
Thánh
Kinh
(1Cor
3,6-9)
được
ám
chỉ
trong
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
(GH
số
6,
đoạn
2).
Nó
diễn
tả
chính
xác
khía
cạnh
đời
sống;
việc
đâm
rễ
và
tăng
triển
thích
hợp
với
hoạt
động
truyền
giáo.
Sắc
Lệnh
lập
lại
nhiều
lần
từ
ngữ
này.
Truyền
giáo
được
định
nghĩa
bằng
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
và
vun
trồng
Giáo
Hội
trong
các
dân
tộc,
hay
trong
những
nhóm
người
chưa
tin
Chúa
Kitô.
Sáp
nhập
việc
truyền
giáo
vào
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Ðức
Tin
tại
Roma,
thực
ra
không
nằm
trong
định
nghĩa
của
việc
truyền
giáo.
Ðó
chỉ
là
vấn
đề
thực
tế
và
pháp
lý,
nhưng
không
chạm
tới
yếu
tính
của
việc
truyền
giáo.
Việc
sáp
nhập
này
còn
có
những
lợi
ích
thực
tế,
như
Sắc
Lệnh
sẽ
cho
ta
thấy
sau
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
T.
Tôma
đã
nói
về
nhiệm
vụ
tông
đồ
phải
vun
trồng
Giáo
Hội:
xem
Sent.,
lib.
I,
dist.
16,
q.
1,
a.
2
ad
2
và
ad
4;
a.3
sol.
-
n.t.,
Summa
theol.
Ia,
q.
43,
a.7
ad
6;
I-II,
q.
106,
a.4
ad
4.
-
Xem
Benedictô
XV,
Maximum
illud,
30-11-1919:
AAS
11
(1919),
trg
445
và
453.
-
Piô
XI,
Rerum
Ecclesiae,
28-2-1926:
AAS
18
(1926),
trg
74.
-
Piô
XII,
30-4-1939,
cùng
các
vị
Giám
Ðốc
các
Hội
Giáo
Hoàng
truyền
giáo.
-
n.t.,
24-6-1944,
cùng
quí
vị
Giám
Ðốc
các
Hội
Giáo
Hoàng
truyền
giáo:
AAS
36
(1944),
trg
210,
đăng
lại
trong
AAS
42
(1950),
trg
727,
và
43
(1954),
trg
508.
-
n.t.,
29-6-1948,
cùng
giáo
sĩ
bản
xứ:
AAS
40
(1948),
trg
374.
-
n.t.,
Evangelii
Praecones,
2-6-1951:
AAS
43
(1951),
trg
507.
-
n.t.,
Fidei
donum,
15-1-1957
:
AAS
49
(1957),
trg
236.
-
Gioan
XXIII,
Princeps
Pastorum,
28-11-1959
:
AAS
51
(1959),
trg
835.
-
Phaolô
VI,
bài
giảng
ngày
18-10-1964:
AAS
55
(1964),
trg
911.
-
Các
Ðức
Giáo
Hoàng
cũng
như
các
Giáo
Phụ
và
các
nhà
Kinh
Viện
thường
nói
đến
việc
mở
rộng
Giáo
Hội:
T.
Tôma,
Comm.
in
Mt
16,28.
-
Leô
XIII,
Tđ.
Sancta
Dei
Civitas,
3-12-1880:
AAS
13
(1880),
trg
241.
-
Benedictô
XV,
Tđ
Maximum
illud,
30-11-1919:
AAS
11
(1919),
trg
442.
-
Piô
XI,
Tđ.
Rerum
Ecclesiae,
28-2-1926:
AAS
18
(1926),
trg
65.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
1P
1,23.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Xem
CvTđ
2,42.
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Phải
chú
ý
sự
nhấn
mạnh
của
đoạn
này:
việc
truyền
giáo
không
kết
thúc
với
việc
thiết
lập
Giáo
Hội
địa
phương,
nhưng
phải
được
tiếp
tục
cho
đến
khi
mọi
người
trong
địa
phương
đó
đã
trở
nên
Kitô
hữu.
(Trở
lại
đầu
trang)
37
Về
quan
niệm
hoạt
động
truyền
giáo
nói
đây
như
đã
rõ,
là
thực
tế
cũng
gồm
các
phần
Châu
Mỹ
Latinh,
nơi
chưa
có
hàng
Giáo
phẩm
riêng,
chưa
trưởng
thành
về
đời
sống
Kitô
giáo,
cũng
như
chưa
được
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
đủ.
Còn
vấn
đề
những
địa
hạt
đó
thực
tế
có
được
Tòa
Thánh
công
nhận
là
địa
hạt
truyền
giáo
hay
không,
thì
Công
Ðồng
không
lưu
tâm.
Vì
thế
vấn
đề
liên
hệ
giữa
quan
niệm
hoạt
động
truyền
giáo
với
một
vài
địa
hạt
nhất
định,
thì
nói
cho
đúng,
hoạt
động
truyền
giáo
này
"phần
nhiều"
được
thực
hiện
trong
những
địa
hạt
nhất
định
mà
Tòa
Thánh
đã
công
nhận.
(Trở
lại
đầu
trang)
38
CÐ
Vat.
II,
Sắc
lệnh
về
Hiệp
nhất,
số
1:
AAS
57
(1965),
trg
90.
(Trở
lại
đầu
trang)
39
Xem
Mc
16,16;
Gio
3,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
40
CÐ
Vat.
II,
Hiến
chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
14
:
AAS
57
(1965),
trg
18.
(Trở
lại
đầu
trang)
41
Xem
Dth
11,6.
(Trở
lại
đầu
trang)
42
Xem
1Cor
9,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
16*
Trong
số
này
Công
Ðồng
nhấn
mạnh
phải
dùng
lời
rao
giảng
để
đưa
người
ngoài
Kitô
giáo
trở
về
với
Chúa
Kitô.
Như
thế,
hoạt
động
truyền
giáo
vẫn
giữ
nguyên
ý
nghĩa
lúc
trước,
nghĩa
là
một
hoạt
động
nhằm
đem
người
ngoài
Kitô
giáo
về
với
Chúa.
Cũng
như
bất
cứ
lúc
nào,
công
việc
này
hiện
hãy
còn
cấp
bách.
(Trở
lại
đầu
trang)
43
Xem
Eph
4,11-16.
(Trở
lại
đầu
trang)
44
Xem
Gio
7,18;
8,30
và
44;
8,50;
17,1.
(Trở
lại
đầu
trang)
45
Về
ý
tưởng
tổng
hợp
này,
xem
Thánh
Ireneô
về
giáo
thuyết
"quy
tụ
về
một
Thủ
Lãnh".
-
Cũng
xem
hyppolytô,
De
Anti-christo,
số
3:
"Thương
yêu
hết
mọi
người
và
ước
ao
cứu
vớt
mọi
người,
muốn
làm
cho
mọi
người
thành
con
Thiên
Chúa
và
kêu
mời
tất
cả
các
thánh
hợp
thành
một
con
người
hoàn
hảo
duy
nhất...:
PG
10,732;
GCS
Hyppolyt
I,2,
trg
16:
"Thực
vậy
chỉ
có
một
hành
vi
duy
nhất
để
nhận
biết
Thiên
Chúa
nơi
những
người
sẽ
đạt
tới
Thiên
Chúa
dưới
sự
lãnh
đạo
của
chính
Ngôi
Lời,
Ðấng
ở
cùng
Thiên
Chúa:
như
thế,
để
tất
cả
mọi
người
được
giáo
huấn
cẩn
thận
hầu
nhận
biết
Chúa
Cha
cho
xứng
là
con
cái
Ngài,
như
hiện
giờ
chỉ
có
một
mình
Chúa
Con
nhận
biết
Chúa
Cha
mà
thôi":
PG
14,49;
GCS
Orig
IV,
20
-
T.
Augustinô,
De
Sermone
Domini
in
monte,
I
41:
"Chúng
ta
hãy
yêu
thương
những
gì
có
thể
cùng
chúng
ta
được
dẫn
vào
vương
quốc,
nơi
mà
không
một
ai
nói
với
Thiên
Chúa
duy
nhất
"Cha
tôi"
nhưng
tất
cả
đều
nói
"Cha
chúng
tôi":
PL
34,
1250.
-
T.
Cyrillô
Alex,
In
Joann,
I:
"Thực
vậy,
tất
cả
chúng
ta
đều
ở
trong
Chúa
Kitô
và
chính
nơi
Người
mà
bản
tính
nhân
loại
chung
của
chúng
ta
được
tái
sinh.
Chính
vì
thế
Người
đã
được
gọi
là
Ađam
mới.
Người
đã
cư
ngụ
giữa
chúng
ta;
Người
là
Ðấng
tự
bản
tính
là
Con
và
cũng
là
Thiên
Chúa;
cho
nên,
trong
Thánh
Thần
Người,
chúng
ta
được
kêu
lên:
Abba,
Cha!
Ngôi
Lời
cư
ngụ
nơi
mọi
người
chúng
ta
như
trong
một
đền
thờ
duy
nhất,
nghĩa
là
chính
đê࠴hờ
mà
Người
đã
nhận
lấy
vì
chúng
ta
và
từ
chúng
ta
ngõ
hầu
một
khi
tất
cả
chúng
ta
đã
ở
trong
Người,
Người
sẽ
giao
hòa
tất
cả
chúng
ta
với
Chúa
Cha
trong
một
thân
thể
duy
nhất,
như
lời
Thánh
Phaolô":
PG
73,
161-164.
(Trở
lại
đầu
trang)
46
Benedictô
XV,
Tđ.
Maximum
illud,
30-11-1919:
AAS
11
(1919),
trg
445:
"Vì
cũng
như
Giáo
Hội
Chúa
là
công
giáo,
và
không
xa
lạ
gì
đối
với
bất
cứ
một
dân
tộc
hay
một
quốc
gia
nào...".
-
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ.
Mater
et
Magister:
"Theo
thần
quyền,
Giáo
Hội
lan
rộng
đến
mọi
quốc
gia,
vì
một
khi
Giáo
Hội
đi
vào
một
dân
tộc
nào
như
tiêm
chích
quyền
lực
của
mình
vào
mạch
máu
của
dân
tộc
đó,
thì
Giáo
Hội
không
là,
cũng
không
tự
coi
mình
là
một
tổ
chức
đặt
ngoài
dân
tộc
này...
Hơn
nữa,
tất
cả
những
gì
một
dân
tộc
cho
là
tốt
đẹp,
thiện
hảo,
thì
họ
(tức
là
những
người
đã
được
tái
sinh
trong
Chúa
Kitô"
cũng
xác
nhận
như
thế,
và
còn
làm
cho
hoàn
hảo
hơn
nữa".
25-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
444.
(Trở
lại
đầu
trang)
47
Xem
Gio
3,18.
(Trở
lại
đầu
trang)
48
Xem
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.,
III,
15,
3:
PG
7,
919:
"Họ
đã
là
những
nhà
rao
giảng
chân
lý
và
là
những
tông
đồ
mang
lại
tự
do".
(Trở
lại
đầu
trang)
49
Tiền
xướng
"O"
ngày
23-12
trong
Breviarium
Romanum.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Trong
số
này
Sắc
Lệnh
đặt
hoạt
động
truyền
giáo
trong
viễn
ảnh
thế
mạt:
Giáo
Hội
phải
hướng
về
sự
toàn
thiện
và
viên
mãn
theo
ý
định
của
Chúa
cho
đến
ngày
cuối
cùng.
Muốn
cho
mức
độ
viên
mãn
được
thực
hiện
trong
mọi
tầng
lớp
nhân
loại,
vai
trò
hoạt
động
tông
đồ
không
thể
thiếu
được.
Một
lần
nữa,
Sắc
Lệnh
quả
quyết
truyền
giáo
là
cần
thiết.
(Trở
lại
đầu
trang)
50
Xem
Mt
24,31.
-
Didachè
10,5
:
Funk
I,32.
(Trở
lại
đầu
trang)
51
Xem
Mc
13,10.
(Trở
lại
đầu
trang)
52
CÐ
Vat.
II,
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội,
số
17:
AAS
57
(1965),
trg
20-21.
-
T.
Augustinô,
De
Civ,
Dei,
19,
17:
PL
41,
646.
-
Thánh
Bộ
Truyền
Bá
Ðức
Tin,
Bài
giáo
huấn
Collectanea
I,
số
135,
trg
42.
(Trở
lại
đầu
trang)
53
Theo
Origenê,
Phúc
Âm
phải
được
rao
giảng
trước
khi
tận
thế:
Hom.
in
Luc.,
XXI:
GCS,
Orig.
IX
136,
21tt.;
-
In
Matth.
comm.
ser.,
39:
XI
75,
25tt.;
-
76,
4tt.;
-
Hom.
in
Jerem.
III,
2:
VIII
308,
29t.;
-
T.
Tôma,
Summ.
Theol.,
I-II,
q.
106,
a.
4,
ad
4.
(Trở
lại
đầu
trang)
54
Xem
CvTđ
1,7.
(Trở
lại
đầu
trang)
55
T.
Hilariô
Piet.,
In
Ps.
14:
PL
9,
301.
-
Eusebiô
Caes.,
In
Isaiam,
54,
2-3:
PG
24,
426-463.
-
T.
Cyrillô
Alex.,
In
Isaiam,
ch.
V,
54,1-3:
PG
70,
1193.
(Trở
lại
đầu
trang)
56
Xem
Eph
4,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
57
Xem
Gio
4,23.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II