VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
13-
TUYÊN
NGÔN
VỀ
TỰ
DO
TÔN
GIÁO
(DIGNITATIS
HUMANAE)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
II.
Tự
Do
Tôn
Giáo
Dưới
Ánh
Sáng
Mạc
Khải
16*
9.
Giáo
lý
về
tự
do
tôn
giáo
bắt
nguồn
từ
Mạc
Khải.
Những
điều
Thánh
Công
Ðồng
Vaticanô
nầy
tuyên
bố
về
tự
do
tôn
giáo
của
con
người,
được
xây
dựng
trên
nhân
phẩm,
mà
nhờ
kinh
nghiệm
của
bao
thế
hệ,
lý
trí
con
người
ngày
càng
thấy
rõ
những
đòi
hỏi
của
nhân
phẩm
ấy.
Hơn
nữa,
giáo
lý
về
tự
do
tôn
giáo
còn
bắt
nguồn
từ
Mạc
Khải
của
Thiên
Chúa,
nên
người
Kitô
hữu
càng
phải
thành
kính
tuân
theo.
Mặc
dầu
không
minh
nhiên
xác
nhận
quyền
tự
do
khỏi
mọi
cưỡng
bách
bên
ngoài
trong
phạm
vi
tôn
giáo,
Mạc
Khải
cũng
đã
cho
thấy
nhân
phẩm
với
toàn
thể
tầm
mức
rộng
lớn
của
nó.
Mạc
Khải
còn
chứng
tỏ
rằng
Chúa
Kitô
đã
tôn
trọng
quyền
tự
do
của
con
người
trong
khi
họ
thi
hành
bổn
phận
tin
vào
lời
Chúa
và
dạy
cho
chúng
ta
biết
tinh
thần
mà
những
đồ
đệ
của
một
vị
Thầy
như
thế
phải
nhận
biết
và
tuân
theo
trong
mọi
lãnh
vực.
Tất
cả
những
điều
trên
làm
sáng
tỏ
những
nguyên
tắc
chung
là
những
nguyên
tắc
đặt
nền
tảng
cho
học
thuyết
về
tự
do
tôn
giáo
của
bản
Tuyên
Ngôn
này.
Nhất
là
tự
do
tôn
giáo
trong
xã
hội
hoàn
toàn
phù
hợp
với
tự
do
trong
hành
vi
đức
tin
Kitô
giáo.
10.
Hành
vi
đức
tin
phải
được
tự
do.
Một
trong
những
điểm
chính
yếu
của
học
thuyết
công
giáo,
được
chứa
đựng
trong
lời
Chúa
và
hằng
được
các
Giáo
Phụ
giảng
dạy
8,
là
con
người
phải
tự
ý
đáp
lại
lời
Chúa
trong
đời
sống
đức
tin.
Do
đó,
không
ai
bị
cưỡng
bách
phải
chấp
nhận
đức
tin
trái
với
ý
muốn
9.
Thật
vậy,
tự
bản
chất,
hành
vi
đức
tin
là
một
hành
vi
tự
ý,
vì
dù
được
Chúa
Kitô,
Ðấng
Cứu
Thế,
giải
thoát
và
được
mời
gọi
trở
nên
dưỡng
tử
nhờ
Chúa
Giêsu
Kitô
10,
con
người
cũng
không
thể
tin
theo
Thiên
Chúa,
Ðấng
tự
mạc
khải,
nếu
sau
khi
được
Chúa
Cha
lôi
cuốn
11,
họ
không
tin
phục
Thiên
Chúa
trong
tự
do
và
hợp
lý.
Vì
vậy,
trong
lãnh
vực
tôn
giáo,
loại
trừ
mọi
thứ
cưỡng
bách
về
phía
con
người
là
điều
hoàn
toàn
phù
hợp
với
bản
chất
của
đức
tin.
Bởi
đó,
ý
nghĩa
tự
do
tôn
giáo
sẽ
góp
phần
không
nhỏ
vào
việc
tạo
nên
hoàn
cảnh
thuận
lợi,
trong
đó,
con
người
có
thể
dễ
dàng
được
mời
gọi
vào
đức
tin
Kitô
giáo,
tự
ý
đón
nhận
và
bày
tỏ
đức
tin
ấy
một
cách
nhiệt
thành
trong
cả
cuộc
sống.
11.
Cách
hành
động
của
Chúa
Kitô
và
các
Tông
Ðồ.
Quả
thực
Thiên
Chúa
mời
gọi
con
người
phụng
thờ
Ngài
trong
tinh
thần
và
chân
lý.
Do
đó,
con
người
bị
ràng
buộc
nơi
lương
tâm
chứ
không
hề
bị
cưỡng
bách.
Thực
vậy,
Thiên
Chúa
tôn
trọng
phẩm
giá
con
người
do
chính
Ngài
tạo
nên,
phẩm
giá
ấy
phải
được
hưởng
tự
do
và
được
hướng
dẫn
theo
phán
đoán
của
chính
con
người.
Ðiều
này
hoàn
toàn
nổi
bật
nơi
Chúa
Kitô,
nơi
Người,
Thiên
Chúa
đã
mạc
khải
chính
mình
và
những
đường
lối
của
mình
một
cách
trọn
hảo
17*.
Quả
thật,
Chúa
Kitô
là
Thầy
và
là
Chúa
chúng
ta
12,
chính
Người
là
Ðấng
hiền
lành
và
khiêm
nhượng
trong
lòng
13,
nên
Người
đã
kiên
nhẫn
lôi
kéo
và
mời
gọi
các
môn
đệ
14.
Quả
thật,
người
đã
trợ
giúp
và
chứng
thực
lời
giảng
thuyết
của
Người
bằng
những
phép
lạ
để
khơi
dậy
và
củng
cố
lòng
tin
của
những
thính
giả
chứ
không
phải
tạo
áp
lực
cưỡng
ép
họ
15.
Thực
sự
Người
đã
quở
mắng
những
thính
giả
cứng
lòng
tin,
nhưng
Người
dành
quyền
luận
phạt
cho
Thiên
Chúa
trong
ngày
thẩm
phán
16.
Khi
sai
các
Tông
Ðồ
đi
khắp
thế
gian,
Người
phán:
"Ai
tin
và
chịu
phép
Rửa
Tội
thì
sẽ
được
rỗi,
còn
ai
không
tin
sẽ
bị
đoán
phạt"
(Mc
16,16).
Khi
nhận
thấy
cỏ
lùng
được
gieo
lẫn
vào
lúa,
chính
Người
đã
dạy:
cứ
để
cả
hai
cùng
mọc
lên
cho
đúng
mùa
gặt
sẽ
xảy
ra
khi
thời
gian
viên
mãn
17.
Vì
không
muốn
là
một
Ðấng
Thiên
Sai
làm
chính
trị,
dùng
sức
mạnh
để
cai
trị
18,
nên
Người
thích
tự
xưng
là
Con
Người,
đến
"để
phục
vụ
và
hiến
mạng
sống
mình
làm
giá
chuộc
muôn
dân"
(Mc
10,45).
Người
đã
tỏ
ra
là
một
Tôi
Tớ
hoàn
hảo
của
Thiên
Chúa
19,
"Người
sẽ
chẳng
bẻ
gẫy
cây
sậy
đã
giập,
chẳng
tắt
ngọn
đèn
đang
tàn"
(Mt
12,20).
Người
đã
thừa
nhậnquyền
bính
dân
sự
và
những
quyền
lợi
liên
hệ,
Người
đã
truyền
phải
nộp
thuế
cho
Caesar,
đồng
thời
Người
dạy
bảo
một
cách
rõ
ràng
phải
tuân
giữ
những
quyền
tối
thượng
của
Thiên
Chúa:
"Của
Caesar
hãy
trả
cho
Caesar,
còn
của
Thiên
Chúa
hãy
trả
cho
Thiên
Chúa"
(Mt
22,21).
Sau
cùng,
Người
đã
hoàn
tất
việc
mạc
khải
khi
chu
toàn
công
cuộc
cứu
chuộc
trên
thập
giá,
nhờ
đó
Người
đã
đem
lại
cho
con
người
ơn
cứu
rỗi,
và
sự
tự
do
đích
thực.
Người
đã
làm
chứng
cho
chân
lý
20.
Nhưng
Người
không
muốn
dùng
sức
mạnh
để
bắt
buộc
những
kẻ
đối
lập
phải
tin
theo.
Quả
thức,
Nước
Người
được
bảo
vệ
không
phải
do
bạo
lực
21,
nhưng
được
bền
vững
do
việc
làm
chứng
và
đón
nghe
chân
lý,
được
bành
trướng
nhờ
tình
yêu,
tình
yêu
mà
Chúa
Kitô
khi
bị
treo
trên
thập
giá
đã
kéo
mọi
sự
đến
với
Người
22.
Các
Tông
Ðồ
được
Chúa
Kitô
dùng
lời
nói
và
gương
sáng
dạy
bảo
cũng
đã
đi
theo
con
đường
ấy.
Từ
thời
Giáo
Hội
sơ
khai,
các
môn
đệ
Chúa
Kitô
đã
không
dùng
hành
động
áp
bức
và
những
mưu
mô
bất
xứng
với
Phúc
Âm,
nhưng
trước
hết,
các
ngài
đã
dùng
sức
mạnh
của
lời
Chúa
để
dẫn
đưa
con
người
trở
về
tin
nhận
Chúa
Kitô
23.
Các
ngài
đã
mạnh
dạn
loan
truyền
cho
mọi
người
biết
ý
định
của
Thiên
Chúa
Cứu
Chuộc,
"Ðấng
muốn
cho
hết
mọi
người
được
cứu
rỗi
và
nhận
biết
chân
lý"
(1Tim
2,4).
Nhưng
đồng
thời
các
ngài
cũng
tôn
trọng
những
người
yếu
đuối,
mặ
dù
họ
đang
sống
trong
lầm
lạc
và
tỏ
cho
họ
biết
"mỗi
người
chúng
ta
đều
phải
trả
lẽ
trước
nhan
Thiên
Chúa"
như
thế
nào
(Rm
14,12)
24
và
phải
hết
sức
tuân
theo
lương
tâm
mình.
Cũng
như
Chúa
Kitô,
các
Tông
Ðồ
luôn
chú
tâm
làm
chứng
cho
chân
lý
của
Thiên
Chúa.
Hơn
thế
nữa,
các
ngài
còn
thừa
can
đảm
rao
giảng
"lời
Chúa
với
lòng
tin
tưởng"
(CvSđ
4,31)
trước
mặt
dân
chúng
và
các
nhà
cầm
quyền
25.
Các
ngài
xác
tín
rằng
chính
Phúc
Âm
thực
là
sức
mạnh
Thiên
Chúa
nhằm
cứu
rỗi
mọi
kẻ
tin
theo
26.
Vì
thế,
từ
khước
mọi
"khí
giới
nhục
thể"
27,
noi
gương
hiền
lành
và
khiêm
nhượng
của
Chúa
Kitô,
các
ngài
đã
rao
giảng
lời
Chúa
với
tất
cả
lòng
tin
tưởng
vào
sức
mạnh
thần
linh
của
lời
ấy,
để
phá
tan
mọi
quyền
lực
chống
lại
Thiên
Chúa
28,
giúp
mọi
người
trở
về
đức
tin
và
vâng
phục
Chúa
Kitô
29.
Cũng
như
Thầy
mình,
các
Tông
Ðồ
đã
nhìn
nhận
chính
quyền
hợp
pháp:
"Mọi
người
hãy
tùng
phục
quyền
trên.
Ai
chống
đối
quyền
bính
tức
chống
lại
mệnh
lệnh
Thiên
Chúa"
(Rm
13,1-2)
30.
Ðồng
thời,
các
ngài
cũng
không
sợ
phải
phản
đối
công
quyền
khi
công
quyền
phản
lại
thánh
ý
Thiên
Chúa:
"Phải
vâng
lời
Thiên
Chúa
hơn
người
ta"
(CvSđ
5,29)
31.
Trải
qua
mọi
thế
hệ
và
khắp
mọi
nơi
trên
trái
đất,
biết
bao
vị
tử
đạo
và
tín
hữu
đã
đi
theo
con
đường
ấy.
12.
Giáo
Hội
theo
chân
Chúa
Kitô
và
các
Tông
Ðồ.
Vì
vậy,
trung
thành
với
chân
lý
Phúc
Âm
Giáo
Hội
noi
theo
con
đường
của
Chúa
Kitô
và
của
các
Tông
Ðồ,
khi
nhìn
nhận
và
bênh
vực
quan
điểm
tự
do
tôn
giáo
như
một
quan
điểm
phù
hợp
với
phẩm
giá
con
người
và
những
gì
Thiên
Chúa
đã
mạc
khải.
Qua
dòng
thời
gian,
Giáo
Hội
vẫn
duy
trì
và
truyền
dạy
giáo
thuyết
đã
nhận
lãnh
nơi
Thầy
Chí
Thánh
và
các
Tông
Ðồ.
Mặc
dầu
đời
sống
của
Dân
Thiên
Chúa,
trải
qua
những
cuộc
thăng
trầm
của
lịch
sử
nhân
loại
lữ
thứ,
một
đôi
khi
cũng
có
những
phương
cách
hành
động
ít
thích
hợp,
hay
hơn
nữa
trái
với
tinh
thần
Phúc
Âm,
tuy
nhiên
giáo
lý
Giáo
Hội
luôn
dạy
rằng
không
ai
cưỡng
ép
phải
tin.
Men
Phúc
Âm
đã
hoạt
động
lâu
dài
trong
các
tâm
hồn
và
giúp
nhiều
cho
con
người
đến
nỗi,
qua
dòng
thời
gian,
con
người
nhận
biết
sâu
xa
hơn
về
phẩm
giá
của
mình,
và
xác
tín
thêm
rằng
trong
lãnh
vực
tôn
giáo,
con
người
trong
xã
hội
phải
được
bảo
đảm
thoát
khỏi
mọi
cưỡng
bách
do
loài
người.
13.
Tự
do
của
Giáo
Hội.
Trong
số
những
điều
có
liên
quan
đến
lợi
ích
của
Giáo
Hội,
và
ngay
cả
đến
lợi
ích
của
xã
hội
trần
thế,
những
điều
cần
phải
được
tôn
trọng
mọi
nơi
và
mọi
đời
cũng
như
phải
được
bảo
vệ
khỏi
mọi
bất
công,
thì
chắc
chắn
điều
quan
trọng
nhất
là
Giáo
Hội
phải
được
toàn
quyền
tự
do
hành
động
tương
xứng
với
việc
đem
ơn
cứu
rỗi
cho
mọi
người
32.
Vì
thế
chính
sự
tự
do
này
là
linh
thiêng,
sự
tự
do
mà
Con
Một
Thiên
Chúa
đã
trang
điểm
cho
Giáo
Hội,
một
Giáo
Hội
được
mua
chuộc
bằng
chính
Máu
Người
18*.
Sự
tự
do
ấy
là
của
riêng
Giáo
Hội
cho
nên
những
ai
chống
báng
tự
do
này
tức
là
chống
lại
ý
định
Thiên
Chúa.
Quyền
tự
do
của
Giáo
Hội
là
nguyên
tắc
căn
bản
cho
mọi
liên
lạc
giữa
Giáo
Hội
và
chính
quyền
cũng
như
toàn
thể
cơ
cấu
dân
sự.
Trong
xã
hội
loài
người
và
đối
với
bất
cứ
công
quyền
nào,
Giáo
Hội
đòi
cho
mình
quyền
tự
do
với
tư
cách
mình
là
một
quyền
bính
thiêng
liêng
do
Chúa
Kitô
thiết
lập,
và
thừa
lệnh
Thiên
Chúa,
đã
lãnh
nhiệm
vụ
đi
khắp
thế
gian
rao
giảng
Phúc
Âm
cho
mọi
tạo
vật
33.
Giáo
Hội
cũng
đòi
cho
mình
quyền
tự
do
vì
Giáo
Hội
cũng
là
một
xã
hội
gồm
những
người
có
quyền
sống
trong
xã
hội
dân
sự
theo
những
giới
luật
của
đức
tin
Kitô
giáo
34.
Thế
nên,
nơi
nào
thể
chế
tự
do
tôn
giáo
thịnh
hành,
nghĩa
là
không
những
được
công
bố
bằng
lời
nói
hay
được
phê
chuẩn
qua
các
đạo
luật
nhưng
còn
được
đem
ra
thực
hành
cách
thành
thực,
thì
ở
đó
Giáo
Hội
mới
tìm
được
những
điều
kiện
vững
chắc,
trên
nguyên
tắc
cũng
như
trong
thực
hành,
khả
dĩ
bảo
đảm
sự
độc
lập
cần
thiết
hầu
chu
toàn
sứ
mệnh
của
Thiên
Chúa,
và
giao
quyền
càng
ngày
càng
tha
thiết
đòi
hỏi
phải
có
sự
độc
lập
này
trong
xã
hội
35.
Ðồng
thời
các
Kitô
hữu
cũng
như
các
người
khác
đều
được
hưởng
quyền
công
dân
để
không
bị
ngăn
cản
hành
động
theo
lương
tâm
trong
đời
sống
của
mình.
Như
thế,
tự
do
của
Giáo
Hội
luôn
hòa
hợp
với
tự
do
tôn
giáo.
Tự
do
tôn
giáo
này
phải
được
coi
là
quyền
lợi
của
mọi
người
và
của
mọi
cộng
đoàn
và
phải
được
chấp
nhận
trong
thể
chế
pháp
lý.
14.
Sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
Ðể
vâng
theo
mệnh
lệnh
của
Thiên
Chúa:
"Hãy
dạy
dỗ
muôn
dân"
(Mt
28,19).
Giáo
Hội
Công
Giáo
phải
làm
việc
không
quản
khó
nhọc:
"để
lời
Chúa
được
lan
rộng
và
sáng
tỏ"
(2Th
3,1).
Vì
thế,
Giáo
Hội
tha
thiết
xin
các
con
cái
mình,
trước
hết
"hãy
van
nài,
cầu
nguyện,
khẩn
khoản
và
tạ
ơn
cho
hết
mọi
người...
Ðó
là
điều
tốt
đẹp
và
hợp
tôn
ý
Thiên
Chúa,
Ðấng
Cứu
Chuộc
chúng
ta,
Ðấng
muốn
cho
hết
mọi
người
được
cứu
rỗi
và
nhận
biết
chân
lý"
(1Tm
2,1-4).
Tuy
nhiên,
trong
việc
huấn
luyện
lương
tâm,
các
Kitô
hữu
phải
luôn
chú
trọng
đến
giáo
lý
thánh
thiện
và
vững
chắc
của
Giáo
Hội
36.
Thật
vậy,
theo
ý
định
của
Chúa
Kitô,
Giáo
Hội
Công
Giáo
là
thầy
dạy
chân
lý
và
có
nhiệm
vụ
loan
báo
và
truyền
dạy
chân
lý
là
Chúa
Kitô
một
cách
chính
thức,
đồng
thời
phải
lấy
uy
quyền
mình
mà
công
bố
và
xác
nhận
những
nguyên
tắc
thuộc
phạm
vi
luân
lý,
phát
sinh
tự
bản
tính
con
người.
Ngoài
ra,
các
Kitô
hữu
phải
khôn
ngoan
tiếp
xúc
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo,
"trong
Chúa
Thánh
Thần,
trong
đức
ái
không
giả
dối,
trong
lời
chân
thật"
(2Cor
6,6-7).
Phải
cố
gắng
tỏa
ánh
sáng
sự
sống
với
tất
cả
lòng
tin
tưởng
vững
chắc
37
và
lòng
can
đảm
của
người
tông
đồ,
cho
dù
phải
đổ
máu.
Bởi
thế,
mỗi
một
môn
đệ
đều
có
bổn
phận
quan
trọng
đối
với
Chúa
Kitô,
Thầy
Chí
Thánh
của
mình,
là
phải
luôn
luôn
tìm
cách
thấu
hiểu
chân
lý
mà
Người
đã
trao
ban,
phải
trung
thành
loan
truyền
và
can
đảm
bảo
vệ,
nhưng
không
được
dùng
những
phương
tiện
trái
với
tinh
thần
Phúc
Âm.
Nhưng
đồng
thời,
vì
tình
yêu
Chúa
Kitô
thúc
bách,
họ
hãy
lấy
tình
thương,
sự
khôn
ngoan
và
lòng
kiên
nhẫn
để
đối
xử
với
những
kẻ
còn
sống
trong
lầm
lạc
hoặc
chưa
nhận
biết
đức
tin
38.
Vì
vậy,
phải
quan
tâm
đến
những
bổn
phận
đối
với
Chúa
Kitô,
là
Ngôi
Lời
ban
sự
sống
phải
được
loan
truyền;
đồng
thời,
phải
chú
ý
đến
những
quyền
lợi
của
con
người
cũng
như
đến
mức
độ
ơn
thánh
mà
Thiên
Chúa,
nhờ
Chúa
Kitô
ban
cho
những
ai
được
mời
gọi
để
tự
ý
nhận
lãnh
và
tuyên
xưng
đức
tin.
15.
Kết
luận.
Hẳn
nhiên
phải
công
nhận
là
thời
nay
con
người
khát
mong
được
tự
do
tuyên
xưng
tôn
giáo
mình
một
cách
riêng
tư
cũng
như
công
khai
19*.
Hơn
nữa,
họ
còn
muốn
tự
do
tôn
giáo
phải
được
hầu
hết
các
hiến
pháp
công
bố
như
một
dân
quyền
và
phải
được
các
văn
kiện
quốc
tế
long
trọng
chấp
nhận
39.
Tuy
nhiên,
có
nhiều
chế
đọ,
mặc
dù
đã
chấp
nhận
quyền
tự
do
phụng
tự
nơi
Hiến
Pháp,
nhưng
chính
các
cơ
quan
công
quyền
lại
luôn
tìm
cách
bắt
người
dân
phải
xa
lìa
tôn
giáo
họ
tin
theo
và
làm
cho
đời
sống
các
cộng
đoàn
tôn
giáo
trở
nên
vô
cùng
bấp
bênh
và
gặp
nhiều
trở
ngại.
Trong
niềm
hân
hoan
chào
đón
những
dấu
hiệu
tốt
đẹp
của
thời
đại
này,
nhưng
đồng
thời
cũng
phải
đau
lòng
nói
lên
những
sự
kiện
đáng
tiếc,
Thánh
Công
Ðồng
khuyên
nhủ
những
người
công
giáo
và
nài
xin
tất
cả
mọi
người
hãy
để
ý
xem
quyền
tự
do
tôn
giáo
cần
thiết
như
thế
nào,
nhất
là
trong
hoàn
cảnh
hiện
tại
của
gia
đình
nhân
loại.
Quả
thực,
người
ta
nhận
thấy
rằng
mọi
dân
tộc
ngày
càng
hiệp
nhất
với
nhau
hơn
và
mọi
người
ngày
càng
liên
kết
chặt
chẽ
với
nhau
hơn,
dù
có
khác
biệt
nhau
về
văn
hóa
và
tín
ngưỡng.
Sau
cùng,
người
ta
cũng
nhận
thấy
mỗi
cá
nhân
ý
thức
hơn
về
trách
nhiệm
mình.
Do
đó,
để
thiết
lập
và
củng
cố
giữa
nhân
loại
mối
tương
giao
ôn
hòa
và
thuận
hảo,
điều
cần
thiết
là
khắp
nơi
trên
hoàn
cầu,
tự
do
tôn
giáo
phải
được
bảo
vệ
nhờ
sự
hỗ
trợ
hữu
hiệu
của
luật
pháp,
cũng
như
những
bổn
phận
và
quyền
lợi
tối
thượng
của
con
người
trong
việc
sống
đạo
giữa
xã
hội
phải
được
tôn
trọng.
Ước
mong
Thiên
Chúa
cũng
là
Cha
mọi
người,
làm
cho
gia
đình
nhân
loại
sau
khi
đã
cẩn
thận
tuân
giữ
thể
chế
tự
do
tôn
giáo
trong
xã
hội,
được
đạt
tới
tự
do
cao
cả
vĩnh
cửu
"dành
cho
vinh
quang
con
cái
Thiên
Chúa"
(Rm
8,21),
nhờ
ơn
sủng
Chúa
Kitô
và
quyền
năng
của
Chúa
Thánh
Thần.
Tất
cả
và
từng
điều
đã
được
ban
bố
trong
Tuyên
Ngôn
này
đều
được
các
Nghị
Phụ
Thánh
Công
Ðồng
chấp
thuận.
Và
dùng
quyền
Tông
Ðồ
Chúa
Kitô
trao
ban,
hiệp
cùng
các
Nghị
Phụ
khả
kính,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
Chúng
Tôi
phê
chuẩn,
chế
định
và
quyết
nghị,
và
những
gì
đã
được
Thánh
Công
Ðồng
quyết
nghị,
Chúng
Tôi
truyền
công
bố
cho
Danh
Chúa
cả
sáng.
Roma,
tại
Ðền
Thánh
Phêrô,
ngày
7
tháng
12
năm
1965.
Tôi,
Phaolô
Giám
Mục
Giáo
Hội
Công
Giáo.
Tiếp
theo
là
chữ
ký
của
các
Nghị
Phụ.
Chú
Thích:
16*
Tự
do
tôn
giáo
theo
nghĩa
chuyên
môn
là
một
khái
niệm
pháp
lý
đặc
thù
ở
thời
đại
chúng
ta.
Khái
niệm
này
không
được
nói
rõ
trong
Mạc
Khải,
nhưng
nó
bắt
nguồn
và
được
minh
chứng
từ
đó;
thực
vậy
giáo
thuyết
này
đặt
nền
tảng
trên
nhân
phẩm
con
người,
một
nhân
phẩm
chỉ
được
hiểu
trọn
vẹn
nhờ
ánh
sáng
Mạc
Khải.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Lactantiô,
Divinarum
Institutionum,
c
V,
19:
CSEL
19,
trg
463-464;
Pl
6,614
và
616
(ch
20).
-
T.
Ambrosiô,
Epistola
ad
Valentianum
Imp,
Ep
21:
Pl
16,
1005.
- T
Augustinô,
Contra
litteras
Petiliani,
c.
II,
ch.
83:
CSEL
52,
trg
112;
PL43,
315.
-
Xem
C.
23,
vấn
đề
5,
ch
33
(x.b.
Friedberg,
cột
939).
-
N.t.
Epist.
23:
PL
33,
98.
-
N.t,
Epist.
34:
PL33,
132.
-
N.t.
Epist
35:
PL
33,
135.
-
T.
Gregoriô
cả,
Epistola
ad
Virglitum
et
Theodorum
episcopos
Massiliae
Galliarum,
Registrum
Epistolarum,
I,
45:
MGH
Epist,
1,
trg
72:
PL
77,
510-511
(c
I,
thư
47).
-
N.t.
Epistola
ad
Joannem
Episcopum
Constantinopplitanum,
Registrum,
Epistolarum,
III,
52:
MGH
Epist,
I
trg
210;
PL
77,
649(c
III,
thư
33).
-
Xem
D
45,
ch
1
(x.b.
Friedberg
cột
160).
-
CÐ
Tolet
IV,
ch
57;
Mansi
10,633.
-
Xem
D.
45,
ch.
5
(x.b.
Friedberg,
cột
161-162).
-
Clémentê
III,
X,
V,
6,9
(x.b.
Friedberg,
cột
774),
Innocentiô
III,
Epistola
ad
Arelatensem
Archiepiscopum,
X,
III,
42,
3
(x.b.
Friedberg,
cột
646).
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
CIC,
kh.
1351.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
cho
các
Vị
Cao
Cấp
cũng
như
các
viên
chức
và
tòng
sự
khác
của
Tòa
Thượng
Thẩm
Roma,
6-10-1946:
AAS
38
(1946),
trg
394.
-
N.t.
Tđ,
Mystici
Corporis,
29-6-1943:
AAS
35
(1943),
trg
243.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Eph
1,5.
(Trở
lại
đầu
trang)
11
Xem
Gio
6,44.
(Trở
lại
đầu
trang)
17*
Chúng
ta
có
thể
ngạc
nhiên
khi
thấy
Thánh
Công
Ðồng
không
đề
cập
gì
tới
Cựu
Ước.
thực
ra,
có
nhiều
yếu
tố
của
Cựu
Ước
đã
được
rút
ra
làm
điểm
tựa
cho
giáo
thuyết
của
Tuyên
Ngôn.
Tuy
nhiên
Thánh
Công
Ðồng
không
đem
vào
bản
văn
những
chi
tiết
trực
tiếp
liên
quan
tới
tình
trạng
lịch
sử
rõ
ràng
của
Do
Thái.
Thánh
Công
Ðồng
nhắc
đến
phương
cách
hành
động
của
chính
Chúa
Kitô
và
của
các
tông
đồ
qua
hai
khía
cạnh:
về
sự
tôn
trọng
lương
tâm
và
sự
tự
do
đón
nhận
đức
tin;
về
hai
quyền
bính
cũng
như
hai
phạm
vi
thẩm
quyền
riêng
biệt.
Chúng
ta
có
thể
nghĩ
đúng
rằng,
sự
phân
biệt
giữa
hai
quyền
bính
này,
trên
bình
diện
lịch
sử
là
động
lực
quyết
định
cho
sự
xuất
hiện
của
lương
tâm
và
của
đòi
hỏi
tự
do
để
được
xem
như
quyền
lợi
trong
lãnh
vực
tôn
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
12
Xem
Gio
13,13.
(Trở
lại
đầu
trang)
13
Xem
Mt
11,29.
(Trở
lại
đầu
trang)
14
Xem
Mt
11,28-30;
Gio
6,67-68.
(Trở
lại
đầu
trang)
15
Xem
Mt
9,28-29;
Mc
9,23-24;
6,5-6.
-
Phaolô
VI,
Tđ.
Ecclesiam
suam,
6-8-1964,
AAS
56
(1964),
trg
642-643.
(Trở
lại
đầu
trang)
16
Xem
Mt
11,20-24;
Rm
12,19020;
2Th
1,8.
(Trở
lại
đầu
trang)
17
Xem
Mt
13,30
và
40-42.
(Trở
lại
đầu
trang)
18
Xem
Mt
4,8-10;
Gio
6,15.
(Trở
lại
đầu
trang)
19
Xem
Is
42,1-4.
(Trở
lại
đầu
trang)
20
Xem
Gio
18,37.
(Trở
lại
đầu
trang)
21
Xem
Mt
26,51-53;
Gio
18,36.
(Trở
lại
đầu
trang)
22
Xem
Gio
12,32.
(Trở
lại
đầu
trang)
23
Xem
1Cor
2,3-5;
1Th
2,3-5.
(Trở
lại
đầu
trang)
24
Xem
Rm
14,1-23;
1Cor
8,9-13;
10,23-33.
(Trở
lại
đầu
trang)
25
Xem
Eph
6,19-20.
(Trở
lại
đầu
trang)
26
Xem
Rm
1,16.
(Trở
lại
đầu
trang)
27
Xem
2Cor
10,4;
1Th
5,8-9.
(Trở
lại
đầu
trang)
28
Xem
Eph
6,11-17.
(Trở
lại
đầu
trang)
29
Xem
2Cor
10,3-5.
(Trở
lại
đầu
trang)
30
Xem
1P
2,13-17.
(Trở
lại
đầu
trang)
31
Xem
CvSđ
4,19-20.
(Trở
lại
đầu
trang)
32
Xem
Leô
XIII,
Thư
Officio
sanctissimo,
22-12-1887),
AAS
20
(1887)
trg
269.
-
N.t.
Thư
Ex
litteris,
7-4-1887:
AAS
19
(1886),
trg
465.
(Trở
lại
đầu
trang)
18*
Nhờ
sứ
mệnh
của
Chúa
Kitô
trao
phó,
Giáo
Hội
có
thêm
danh
hiệu
độc
quyền
và
thánh
thiện
trong
việc
đòi
hỏi
tự
do
tôn
giáo.
Dưới
khía
cạnh
thiêng
liêng
này,
đặc
quyền
này
thuộc
về
Giáo
Hội
và
duy
nhất
cũng
như
trước
nhất
cho
Giáo
Hội
mà
thôi.
Nhưng
nếu
xét
theo
nội
dung
của
quyền
tự
do
này
thì
chắc
chắn
quyền
của
Giáo
Hội
cũng
là
quyền
lợi
của
mọi
người
về
tự
do
tôn
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
33
Xem
Mc
16.15;
Mt
28,18-20.
-
Piô
XII,
Tđ
Summi
Pontificatus,
20-10-1939:
AAS
31
(1939),
trg
445-446.
(Trở
lại
đầu
trang)
34
Xem
Piô
XII,
Thư
Firmissimam
Constantiam,
28-3-1937:
AAS
29
(1937),
trg
196.
(Trở
lại
đầu
trang)
35
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
Ci
riesce,
6-12-1953:
AAS
45
(1953),
trg
802.
(Trở
lại
đầu
trang)
36
Xem
Piô
XII,
Nuntius
radiophonicus,
23-3-1952:
AAS
44
(1952),
trg
270-278.
(Trở
lại
đầu
trang)
37
Xem
CvSđ
4,29.
(Trở
lại
đầu
trang)
38
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
299-300.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Sau
khi
đã
nói
với
con
cái
mình
(số
14),
Thánh
Công
Ðồng
trong
bản
Tuyên
Ngôn
muốn
lên
tiếng
với
hết
mọi
người,
nghĩa
là
với
lớp
thính
giả
mà
Giáo
Hội
đã
mong
ước
nhắm
tới
ngay
từ
đầu.
(Trở
lại
đầu
trang)
39
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
295-296.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II