VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
13-
TUYÊN
NGÔN
VỀ
TỰ
DO
TÔN
GIÁO
(DIGNITATIS
HUMANAE)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
I.
Quan
Ðiểm
Tổng
Quát
Về
Tự
Do
Tôn
Giáo
2.
Ðối
tượng
và
nền
tảng
của
tự
do
tôn
giáo.
Thánh
Công
Ðồng
Vaticanô
này
tuyên
bố
con
người
có
quyền
tự
do
tôn
giáo
4*.
Quyền
tự
do
này
hệ
tại
con
người
không
bị
chi
phối
vì
sự
cưỡng
bách
5*
của
cá
nhân,
đoàn
thể
xã
hội
hay
bất
cứ
quyền
bính
trần
gian
nào
khác.
Với
ý
nghĩa
đó,
trong
lãnh
vực
tôn
giáo,
không
ai
bị
ép
buộc
hành
động
trái
với
lương
tâm,
cũng
không
ai
bị
ngăn
cấm
hành
động
theo
lương
tâm,
dù
cho
đó
là
hành
động
riêng
tư
hay
công
khai,
một
mình
hay
cùng
với
người
khác,
trong
những
giới
hạn
chính
đáng.
Hơn
nữa,
Thánh
Công
Ðồng
còn
tuyên
bố
rằng
tự
do
tôn
giáo
thực
sự
được
xây
dựng
trên
phẩm
giá
con
người
6*,
một
phẩm
giá
đúng
như
lời
Thiên
Chúa
mạc
khải
và
chính
lý
trí
cho
biết
được
2.
Quyền
tự
do
tôn
giáo
của
con
người
trong
cơ
cấu
pháp
lý
của
xã
hội
phải
được
chấp
nhận
là
một
quyền
lợi
dân
sự.
Xét
theo
phẩm
giá,
mọi
người,
vì
là
những
nhân
vị
nghĩa
là
có
trí
khôn
và
ý
chí
tự
do,
nên
phải
chịu
trách
nhiệm
về
cá
nhân
mình
7*.
Vì
thế,
do
bản
tính
tự
nhiên
thúc
đẩy,
cũng
như
do
bổn
phận
luân
lý
đòi
buộc,
con
người
phải
tìm
kiếm
chân
lý,
nhất
là
chân
lý
liên
quan
đến
tôn
giáo.
Họ
cũng
phải
tin
theo
chân
lý
đã
nhận
biết,
và
hướng
dẫn
toàn
thể
đời
sống
mình
theo
những
đòi
hỏi
của
chân
lý.
Tuy
nhiên,
con
người
không
thể
chu
toàn
bổn
phận
đó
một
cách
thích
hợp
nếu
không
được
hưởng
dụng
sự
tự
do
tâm
lý
đồng
thời
được
đặc
miễn
đối
với
sức
cưỡng
bách
bên
ngoài
8*.
Vậy
quyền
tự
do
tôn
giáo
đặt
nền
tảng
trên
chính
bản
tính
con
người,
chứ
không
phải
trên
thái
độ
chủ
quan
của
con
người.
Vì
ngay
cả
những
người
không
chu
toàn
nhiệm
vụ
tìm
kiếm
và
tuân
theo
chân
lý,
vẫn
còn
quyền
đặc
miễn
này,
và
không
ai
được
ngăn
cản
việc
hành
xử
quyền
ấy
nếu
trật
tự
công
cộng
chính
đáng
vẫn
được
bảo
đảm.
3.
Tư
do
tôn
giáo
và
mối
tương
quan
tất
yếu
giữa
con
người
với
Thiên
Chúa.
Những
điều
trên
đây
còn
sáng
tỏ
hơn
nữa
đối
với
những
ai
chấp
nhận
khuôn
mẫu
tối
thượng
của
đời
sống
con
người
là
chính
luật
vĩnh
cửu,
khách
quan
và
phổ
cập
của
Thiên
Chúa.
Qua
luật
này,
Ngài
xếp
đặt,
hướng
dẫn
và
điều
khiển
cả
hoàn
vũ
cũng
như
các
hướng
đi
của
cộng
đoàn
nhân
loại
trong
ý
định
đầy
khôn
ngoan
và
thương
mến
của
Ngài
9*.
Ngài
đã
cho
con
người
được
tham
dự
vào
lề
luật
của
Ngài,
để
con
người,
nhờ
sự
an
bài
yêu
thương
của
Thiên
Chúa
quan
phòng,
ngày
càng
có
thể
nhận
biết
chân
lý
không
hề
đổi
thay
3.
Vì
thế,
mỗi
người
đều
có
bổn
phận,
và
do
đó,
có
quyền
tìm
kiếm
chân
lý
trong
lãnh
vực
tôn
giáo,
để
họ
dùng
những
phương
tiện
thích
đáng
mà
phán
đoán
đúng
đắn
và
chân
thật
theo
lương
tâm
một
cách
khôn
ngoan.
Tuy
nhiên
phải
tìm
kiếm
chân
lý
theo
cách
thế
xứng
hợp
với
phẩm
giá
và
bản
tính
xã
hội
của
con
người,
tức
là
bằng
việc
tự
do
tìm
kiếm,
bằng
lời
giảng
dạy
hay
giáo
huấn,
bằng
trao
đổi
và
đối
thoại.
Nhờ
đó,
con
người
bày
tỏ
cho
nhau
biết
chân
lý
mà
mình
tìm
được
hay
nghĩ
là
đã
tìm
được,
hầu
giúp
đỡ
lẫn
nhau
trong
việc
tìm
kiếm
chân
lý.
Một
khi
đã
tìm
thấy
chân
lý,
mỗi
người
phải
tự
mình
xác
nhận
và
vững
mạnh
tin
theo.
Thực
ra,
nhờ
lương
tâm,
con
người
nhận
thức
và
hiểu
biết
những
mệnh
lệnh
của
lề
luật
Chúa.
Họ
phải
trung
thành
tuân
theo
lương
tâm
ấy
trong
mọi
hoạt
động
của
mình
hầu
tiến
tới
Thiên
Chúa
là
cùng
đích.
Vì
vậy,
không
ai
bị
cưỡng
bách
hành
động
trái
với
lương
tâm,
cũng
như
không
ai
bị
ngăn
cấm
hành
động
theo
tiếng
lương
tâm
nhất
là
trong
lãnh
vực
tôn
giáo.
Vì
việc
hành
đạo,
tự
bản
chất,
trước
hết
ở
tại
những
hành
vi
ý
chí
và
tự
do
bên
trong,
hướng
con
người
thẳng
tới
Thiên
Chúa.
Những
hành
vi
này
không
thể
bị
một
quyền
bính
thuần
nhân
loại
nào
ép
buộc
hay
ngăn
cản
4.
Ðàng
khác,
chính
bản
tính
xã
hội
của
con
người
đòi
hỏi
phải
diễn
tả
những
hành
vi
tôn
giáo
bên
trong
ra
bên
ngoài,
thông
truyền
cho
nhau
trong
lãnh
vực
tôn
giáo,
tuyên
xưng
đạo
của
mình
dưới
hình
thức
cộng
đoàn.
Vậy
chối
bỏ
quyền
tự
do
hành
đạo
của
con
người
nơi
xã
hội,
trong
trường
hợp
trật
tự
công
cộng
vẫn
được
bảo
đảm,
tức
là
nhục
mạ
con
người
và
trật
tự
mà
Thiên
Chúa
đã
ấn
định
cho
con
người.
Hơn
nữa
theo
bản
chất,
những
hành
vi
tôn
giáo
nào
còn
giúp
con
người
tự
ý
hướng
tới
Thiên
Chúa
một
cách
riêng
tư
hay
công
khai
đều
vượt
trên
phạm
vi
trần
thế
và
thời
gian
của
sự
vật.
Bởi
vậy,
quyền
bính
dân
sự,
vì
mục
đích
riêng
biệt
là
phục
vụ
công
ích
trần
thế,
nên
phải
nhìn
nhận
và
nâng
đỡ
đời
sống
tôn
giáo
của
người
công
dân.
Nhưng
nếu
tự
ý
hướng
dẫn
hay
ngăn
cản
hành
vi
tôn
giáo,
thì
quyền
bính
này
phải
nói
là
đã
vượt
quá
những
giới
hạn
của
mình.
4.
Tự
do
của
cộng
đoàn
tôn
giáo.
Quyền
tự
do
hay
quyền
đặc
miễn
khỏi
mọi
cưỡng
bách
trong
lãnh
vực
tôn
giáo
được
nhìn
nhận
cho
mỗi
cá
nhân,
thì
cũng
phải
được
chấp
nhận
trong
khi
họ
hành
động
chung
với
nhau
10*
vì
bản
tính
xã
hội
của
con
người
cũng
như
bản
chất
của
tôn
giáo
đều
đòi
phải
có
những
cộng
đoàn
tôn
giáo.
Vậy,
nếu
không
phương
hại
đến
những
đòi
hỏi
chính
đáng
của
trật
tự
công
cộng,
về
pháp
lý
các
cộng
đoàn
này
phải
được
tự
do
11*
để
hoạt
động
theo
những
quy
luật
riêng,
công
khai
phụng
thờ
Ðấng
Tối
Cao
giúp
đỡ
các
tín
hữu
trong
việc
thực
thi
đời
sống
tôn
giáo,
nuôi
dưỡng
họ
bằng
giáo
lý,
phát
triển
các
tu
hội,
trong
đó
các
phần
tử
cộng
tác
với
nhau
để
tổ
chức
đời
sống
riêng
theo
những
nguyên
tắc
tôn
giáo
của
họ.
Các
cộng
đoàn
tôn
giáo
cũng
có
quyền
đòi
các
cơ
quan
lập
pháp,
hành
pháp
dân
sự
không
có
quyền
ngăn
cản
việc
chọn
lựa,
đào
tạo,
bổ
nhiệm
và
thuyên
chuyển
các
viên
chức
riêng
của
mình,
việc
liên
lạc
với
giáo
quyền
và
những
cộng
đoàn
tôn
giáo
ở
những
nơi
khác
trên
hoàn
cầu,
việc
thiết
lập
các
cơ
sở
tôn
giáo
cũng
như
thu
hoạch
và
quản
trị
những
tài
sản
thích
hợp.
Các
cộng
đoàn
tôn
giáo
cũng
có
quyền
công
khai
giảng
dạy
và
minh
chứng
đức
tin
của
mình
bằng
lời
nói
và
bằng
chữ
viết
mà
không
bị
cấm
cản.
Nhưng
trong
khi
truyền
bá
và
đem
thực
hành
đức
tin
tôn
giáo,
phải
luôn
luôn
tránh
mọi
hành
động
có
tính
cách
ép
buộc,
thuyết
phục
bất
chính
hay
kém
ngay
thẳng,
nhất
là
đối
với
những
người
chất
phác
và
nghèo
túng.
Hành
động
như
thế
là
lạm
dụng
quyền
lợi
của
mình
và
xâm
phạm
quyền
lợi
của
người
khác.
Ngoài
ra,
tự
do
tôn
giáo
còn
có
nghĩa
là
các
cộng
đoàn
tôn
giáo
không
bị
ngăn
cản
trong
việc
tự
do
biểu
lộ
các
hiệu
năng
riêng
của
giáo
thuyết
mình
trong
việc
tổ
chức
xã
hội
và
làm
cho
toàn
thể
sinh
hoạt
nhân
loại
được
sống
động.
Sau
hết,
theo
bản
tính
xã
hội
của
con
người,
cũng
như
theo
bản
chất
của
tôn
giáo,
con
người
có
quyền
tự
do
hội
họp
hay
thành
lập
những
hiệp
hội
giáo
dục,
văn
hóa,
từ
thiện
và
xã
hội
do
cảm
thức
tôn
giáo
thúc
đẩy.
5.
Tự
do
tôn
giáo
của
gia
đình.
Mỗi
gia
đình,
với
tư
cách
là
xã
hội
được
hưởng
quyền
lợi
riêng
biệt
và
tiên
quyết,
có
quyền
tự
do
tổ
chức
đời
sống
tôn
giáo
trong
gia
đình
mình,
dưới
sự
hướng
dẫn
của
cha
mẹ.
Cha
mẹ
cũng
có
quyền
ấn
định
việc
giáo
dục
cho
con
cái
theo
tôn
giáo
mình
tin
tưởng.
Vì
thế,
quyền
bính
dân
sự
phải
chấp
nhận
quyền
tự
do
thực
sự
của
cha
mẹ
trong
việc
lựa
chọn
trường
học
và
những
phương
tiện
giáo
dục
khác,
và
không
có
quyền
vì
lẽ
được
tự
do
lựa
chọn
mà
bắt
họ
phải
chịu
đựng
những
gánh
nặng
bất
công
dù
trực
tiếp
hay
gián
tiếp.
Ngoài
ra,
quyền
lợi
của
cha
mẹ
sẽ
bị
xâm
phạm,
nếu
con
cái
họ
bị
cưỡng
bách
theo
học
những
môn
học
không
đáp
ứng
với
niềm
xác
tín
về
tôn
giáo
của
họ,
hay
bắt
phải
theo
một
lề
lối
giáo
dục
duy
nhất
hoàn
toàn
loại
bỏ
việc
giáo
dục
tôn
giáo.
6.
Cần
quan
tâm
đến
tự
do
tôn
giáo.
Lợi
ích
chung
của
xã
hội
12*
bao
gồm
tất
cả
những
điều
kiện
của
đời
sống
xã
hội
nhằm
giúp
con
người
có
thể
tiến
tới
sự
hoàn
bị
của
chính
mình
một
cách
đầy
đủ
và
dễ
dàng
hơn.
Lợi
ích
ấy
hệ
tại
đặc
biệt
vào
việc
bênh
vực
những
quyền
lợi
và
bổn
phận
của
con
người
5.
Vì
thế,
tùy
cách
thế
riêng,
các
công
dân,
đoàn
thể
xã
hội,
quyền
bính
dân
sự
cũng
như
Giáo
Hội
và
các
cộng
đoàn
tôn
giáo
khác
đều
có
nhiệm
vụ
lo
lắng
đến
quyền
tự
do
tôn
giáo
theo
như
nhiệm
vụ
của
mình
đối
với
công
ích.
Nhiệm
vụ
thiết
yếu
của
quyền
bính
dân
sự
là
bảo
vệ
và
phát
huy
những
quyền
lợi
bất
khả
xâm
phạm
của
con
người
6.
Do
đó,
quyền
bính
dân
sự
phải
bảo
vệ
cách
hữu
hiệu
quyền
tự
do
tôn
giáo
của
mọi
công
dân
bằng
những
đạo
luật
chính
đáng
và
những
phương
tiện
thích
hợp
khác,
phải
tạo
nên
những
điều
kiện
thuận
lợi
giúp
phát
triển
đời
sống
tôn
giáo.
Nhờ
đó,
các
công
dân
có
thể
thực
sự
hưởng
dụng
những
quyền
lợi
và
chu
toàn
những
nhiệm
vụ
đối
với
tôn
giáo,
đồng
thời
xã
hội
sẽ
được
hưởng
nhờ
những
lợi
ích
của
công
lý
và
hòa
bình,
phát
sinh
do
lòng
trung
thành
con
người
đối
với
Thiên
Chúa
và
thánh
ý
Ngài
7.
Ðối
với
những
dân
tộc,
vì
hoàn
cảnh
riêng,
mà
đặc
biệt
chỉ
chấp
nhận
một
cộng
đoàn
tôn
giáo
nào
đó
theo
thể
chế
pháp
lý
của
quốc
gia
13*,
thì
đồng
thời
cũng
phải
nhìn
nhận
và
tôn
trọng
quyền
tự
do
tín
ngưỡng
đối
với
tất
cả
các
công
dân
và
cộng
đoàn
tôn
giáo.
Sau
hết,
quyền
bính
dân
sự
phải
lo
liệu
sao
cho
quyền
được
bình
đẳng
trên
phương
diện
pháp
lý
của
các
công
dân,
là
quyền
liên
quan
đến
công
ích
xã
hội,
không
bao
giờ
bị
xâm
phạm
dù
cách
công
khai
hay
kín
đáo
vì
những
lý
do
tôn
giáo,
cũng
như
phải
tránh
mọi
sự
chia
rẽ
giữa
các
công
dân.
Do
đó,
công
quyền
không
được
phép
dùng
bạo
lực,
đe
dọa
hay
những
phương
tiện
khác
để
bắt
buộc
người
dân
phải
tuyên
xưng
hay
chối
bỏ
một
tôn
giáo
nào,
hoặc
ngăn
cản
không
cho
họ
gia
nhập
hay
rời
bỏ
một
cộng
đoàn
tôn
giáo.
Công
quyền
sẽ
đi
ngược
với
ý
định
của
Thiên
Chúa
và
những
quyền
lợi
thiêng
liêng
của
cá
nhân
cũng
như
của
gia
đình
các
dân
tộc,
nếu
dùng
bạo
lực
dưới
bất
cứ
hình
thức
nào
để
tiêu
diệt
hay
cấm
đoán
một
tôn
giáo
trong
toàn
thể
nhân
loại,
trong
một
miền
hay
một
nhóm
người
nào
đó.
7.
Những
giới
hạn
của
tự
do
tôn
giáo.
Vì
quyền
tự
do
trong
lãnh
vực
tôn
giáo
được
thi
hành
trong
xã
hội
loài
người,
nên
việchưởng
dụng
quyền
này
cần
phải
dựa
theo
một
vài
quy
tắc
hướng
dẫn
14*.
Trong
khi
hưởng
dụng
mọi
quyền
tự
do,
nguyên
tắc
luân
lý
phải
tuân
giữ
là
trách
nhiệm
cá
nhân
và
đoàn
thể:
khi
hành
xử
những
quyền
lợi
của
mình,
cá
nhân
cũng
như
đoàn
thể,
phải
tuân
giữ
luân
lý
nghĩa
là
phải
quan
tâm
đến
quyền
lợi
của
ngươì
khác,
cũng
như
những
bổn
phận
của
mình
đối
với
tha
nhân
và
lợi
ích
chung
của
mọi
người.
Phải
đối
xử
với
mọi
người
theo
lẽ
công
bình
và
tình
nhân
loại.
Ngoài
ra,
xã
hội
dân
sự
có
quyền
tự
vệ
chống
lại
những
lạm
dụng
có
thể
nẩy
sinh
dưới
chiêu
bài
tự
do
tôn
giáo.
Ðặc
biệt,
quyền
bính
dân
sự
phải
bảo
lãnh
việc
tự
vệ
này.
Tuy
nhiên,
quyền
bính
dân
sự
cũng
không
được
thi
hành
cách
độc
đoán
hay
thiên
vị
một
phe
phái
nào,
nhưng
phải
dựa
theo
những
quy
tắc
pháp
lý,
phù
hợp
với
trật
tự
luân
lý
khách
quan.
Những
quy
tắc
ấy
cần
phải
có,
để
bảo
vệ
hữu
hiệu
và
dung
hòa
được
quyền
lợi
của
mọi
công
dân,
bảo
đảm
đúng
mức
nền
an
ninh
công
cộng
đích
thực
khả
dĩ
giúp
mọi
người
sống
chung
trong
công
bằng
chân
chính,
và
bảo
vệ
được
nền
luân
lý
chung.
Tất
cả
những
điều
đó
tạo
nên
phần
chính
yếu
của
lợi
ích
chung
và
được
gọi
là
trật
tự
công
cộng
15*.
Ngoài
ra,
cần
phải
duy
trì
tập
quán
về
tự
do
trọn
vẹn
trong
xã
hội,
theo
đó,
con
người
phải
được
tự
do
đến
mức
tối
đa
và
chỉ
bị
hạn
chế
trong
trường
hợp
khẩn
thiết
mà
thôi.
8.
Huấn
luyện
con
người
biết
thực
thi
tự
do
tôn
giáo.
Con
người
thời
đại
chúng
ta
thường
bị
nhiều
áp
lực
khác
nhau
dồn
ép
và
bị
đe
dọa
mất
quyền
tự
do
phán
đoán
theo
quan
điểm
cá
nhân.
Ðàng
khác,
nhiều
người
dường
như
có
khuynh
hướng
dựa
vào
tự
do
mà
chối
bỏ
mọi
sự
lệ
thuộc
và
coi
nhẹ
việc
vâng
lời
phải
lẽ.
Vì
thế,
Thánh
Công
Ðồng
Vaticanô
này
khuyến
khích
mọi
người,
nhất
là
những
ai
có
sứ
mạng
giáo
dục
kẻ
khác,
hãy
cố
gắng
đào
tạo
nên
những
con
người
biết
vâng
phục
quyền
bính
hợp
pháp
và
yêu
chuộng
sự
tự
do
đích
thực
trong
khi
tuân
giữ
trật
tự
luân
lý.
Hãy
cố
gắng
đào
tạo
nên
những
con
người
biết
tự
phán
đoán
các
sự
việc
dưới
ánh
sáng
chân
lý,
biết
hành
động
với
tinh
thần
trách
nhiệm
và
cố
gắng
theo
đuổi
những
điều
chân
thật
và
công
bằng,
bằng
cach
tự
ý
cộng
tác
với
người
khác.
Vậy
tự
do
tôn
giáo
cũng
phải
giúp
đỡ
và
hướng
dẫn
con
người
để
khi
chu
toàn
nhiệm
vụ
của
mình
trong
đời
sống
xã
hội,
con
người
sẽ
hành
động
với
nhiều
ý
thức
trách
nhiệm
hơn.
Chú
Thích:
4*
Ðây
là
xác
quyết
quan
hệ
và
long
trọng
nhất
của
toàn
văn
kiện.
Ðoạn
này
tổng
hợp
những
yếu
tố
nòng
cốt
của
văn
kiện.
(Trở
lại
đầu
trang)
5*
Ðối
tượng
của
quyền
tự
do
tôn
giáo
không
cấu
tạo
bởi
nội
dung
của
những
niềm
tin
tôn
giáo;
lý
do
là
vì
nếu
một
niềm
tin
tôn
giáo
chứa
đựng
những
yếu
tố
sai
lầm,
thì
như
vậy
có
nghĩa
là
công
nhận
quyền
tuyên
xưng
điều
lầm
lạc
và
quyền
làm
điều
xấu.
Ðối
tượng
này
cũng
không
thể
định
nghĩa
theo
chiều
hướng
của
một
khả
năng
luân
lý
để
làm
một
điều
gì.
Bản
văn
muốn
tránh
ý
nghĩa
ấy
để
khỏi
đề
cập
tới
lý
thuyết
về
quyền
của
lương
tâm
sai
lầm.
Vậy
đối
tượng
của
quyền
tự
do
tôn
giáo
được
định
nghĩa
cách
tiêu
cực
như
là
một
đặc
miễn.
Sự
đặc
miễn
khỏi
áp
lực
là
một
đối
tượng
chính
đáng
hoàn
toàn
phù
hợp
với
phẩm
giá
con
người.
Từ
lâu,
giáo
thuyết
công
giáo
luôn
chấp
nhận
quyền
không
bị
sự
cưỡng
bách
chi
phối.
Còn
quyền
không
bị
ngăn
cản
thì
mới
được
chấp
nhận
ở
thời
đại
hiện
tại.
(Trở
lại
đầu
trang)
6*
Có
một
số
Nghị
Phụ
quan
niệm
quyền
tự
do
tôn
giáo
như
một
quyền
công
dân
thông
thường
được
phép
chấp
nhận
tùy
theo
công
ích
và
đặt
nền
tảng
trong
một
hoàn
cảnh
lịch
sử
xác
định
nào
đó.
Nếu
hoàn
cảnh
lịch
sử
đổi
thay,
quyền
tự
do
này
có
thể
mất
theo.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
260-261.
-
Piô
XII,
Nuntius
radiophonicus,
24-12-1942,
AAS
35
(1943),
trg
19.
-
Piô
XI,
Tđ,
Mit
brennender
Sorge,
14-3-1937:
AAS
29
(1937),
trg
160.
-
Leô
XIII,
Tđ
Libertas
praestantissimum,
20-6-1888;
Acta
Leonis
XIII,
8
(1888),
trg
237-238.
(Trở
lại
đầu
trang)
7*
Lý
trí,
ý
chí
tự
do,
trách
nhiệm
luân
lý
là
những
yếu
tố
cấu
tạo
của
con
người:
chúng
là
nền
tảng
và
căn
nguyên
của
tự
do
tôn
giáo.
Ðoạn
này
nhấn
mạnh
về
bản
tính
con
người
cách
tổng
quát
ngay
trước
khi
đi
tìm
chân
lý.
Theo
đó,
quyền
đặc
miễn
này
tồn
tại
trong
mọi
người,
ngay
cả
nơi
những
người
không
chu
toàn
bổn
phận
tìm
kiếm
chân
lý,
vì
chưng,
họ
vẫn
giữ
nguyên
vẹn
bản
tính
có
khả
năng
theo
đuổi
mục
đích
này,
và
là
một
bản
tính
được
tạo
dựng
vì
mục
đích
ấy.
Lý
chứng
này
của
Thánh
Công
Ðồng
có
thể
được
mọi
người
chấp
nhận,
ngay
cả
những
người
vô
tín
ngưỡng.
(Trở
lại
đầu
trang)
8*
Không
những
không
có
mâu
thuẫn
giữa
tự
do
tôn
giáo
và
bổn
phận
đi
tìm
chân
lý,
mà
hơn
thế
tự
do
tôn
giáo
lại
đặt
nền
tảng
trên
bổn
phận
đi
tìm
chân
lý.
Ðàng
khác
chính
bổn
phận
này
đòi
hỏi
phải
có
tự
do
tôn
giáo.
(Trở
lại
đầu
trang)
9*
Lý
chứng
của
số
7
được
Thánh
Công
Ðồng
nhắc
lại
cách
dứt
khoát
hơn,
Ðồng
thời,
các
Nghị
Phụ
nhấn
mạnh
tới
tương
quan
giữa
con
người
với
Thiên
Chúa
là
Chân
Lý
hằng
hữu.
Chúng
ta
đạt
được
sự
hiểu
biết
về
Thiên
Chúa
và
về
lề
luật
của
Ngài
nhờ
việc
tìm
kiếm
riêng
(số
3a),
nhờ
lời
dạy
bảo
và
đối
thoại
(số
3b),
nhất
là
nhờ
mệnh
lệnh
của
lương
tâm
(số
3c).
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
T.
Tôma,
Summa
theologica,
I-II,
q.
91,
a.
1;
q.
93,
a.
1-2.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
270.
-
Phaolô
VI,
Nuntius
radiophonicus,
22-12-1964:
AAS
57
(1965),
trg
181-182.
-
T.
Tôma,
Summa
theologica,
I-II,
q.
91,
a.
4c.
(Trở
lại
đầu
trang)
10*
Ở
đây,
Thánh
Công
Ðồng
đề
cập
tới
lãnh
vực
chủ
thể
xã
hội.
Ngoài
cá
nhân,
chủ
thể
được
hưởng
quyền
tự
do
này
còn
là
những
tập
thể
tôn
giáo,
được
xem
như
những
chủ
thể
đích
thực
và
trực
tiếp
theo
luật
(số
4).
Các
gia
đình
cũng
là
những
chủ
thể
xã
hội
hưởng
quyền
này.
(Trở
lại
đầu
trang)
11*
Vì
thế,
nếu
không
có
phương
hại
đến
đòi
hỏi
chính
đáng
của
trật
tự
công
cộng,
quyền
tự
do
tôn
giáo
phải
được
bảo
vệ
nơi
các
cộng
đoàn.
Ở
những
số
kế
tiếp,
các
Nghị
Phụ
ấn
định
tầm
mức
rộng
rãi
của
quyền
tự
do
tôn
giáo.
Quyền
này
bao
gồm:
1)
đời
sống
nội
tâm
(số
4b,c).
-
2)
quyền
tuyên
xưng
đức
tin
cách
công
khai
(số
4d).
-
3)
quyền
điều
hành
những
hoạt
động
và
qui
chế
thuộc
lãnh
vực
trần
thế
theo
ánh
sáng
giáo
lý
riêng.
(Trở
lại
đầu
trang)
12*
Giữa
những
quyền
lợi
của
con
người
mà
Quốc
gia
dân
chủ
hiện
đại
có
trách
nhiệm
phải
bảo
vệ,
bằng
cách
tạo
nên
những
điều
kiện
xã
hội
thích
hợp
cho
việc
thi
hành
những
quyền
lợi
đó,
phải
kể
cả
quyền
tự
do
tôn
giáo
hiểu
theo
ý
nghĩa
của
bản
Tuyên
Ngôn.
Như
vậy,
Quốc
gia
tự
căn
bản,
có
cùng
những
nhiệm
vụ
trong
lãnh
vực
tôn
giáo
cũng
như
đã
có
đối
với
các
quyền
lợi
khác
của
con
người.
Do
đó,
Quốc
gia
phải:
1)
công
nhận
và
tôn
trọng
quyền
này
(số
6c).
-
2)
bảo
vệ
bằng
pháp
luật
(số
6b).
-
3)
phát
huy
(số
6b).
-
4)
hạn
chế
sự
thi
hành
quyền
dó
trong
trường
hợp
những
yếu
tố
căn
bản
của
công
ích
bị
xúc
phạm
(số
7).
Văn
kiện
phác
họa
một
mẫu
Quốc
gia;
dĩ
nhiên
Quốc
gia
ấy
không
được
coi
như
là
quốc
gia
trung
lập
hay
"ngoại
đạo".
Ðúng
ra
đó
là
một
mẫu
quốc
gia
mà
người
ta
gọi
là
"trần
thế",
theo
nghĩa
không
có
quyền
thẩm
định
về
những
giá
trị
tinh
thần
hay
về
nội
dung
các
tín
ngưỡng.
Tuy
nhiên,
Quốc
gia
đó
có
bổn
phận
phải
thừa
nhận
và
tôn
trọng
các
giá
trị
này;
và
vì
thế
cũng
phải
gắng
sức
lo
liệu
cho
mọi
công
dân
khỏi
thiếu
các
phương
tiện
để
vun
trồng
và
thấm
nhiễm
các
giá
trị
ấy.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
417;
n.t,
Tđ
Pacem
in
terris,
11-4-1963:
AAS
55
(1963),
trg
273.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ,
Pacem
in
terris,
11-3-1963:
AAS
55
(1963),
trg
273-274,
Piô
XII,
Nuntius
radiophonicus,
1-6-1941:
AAS
33
(1941),
trg
200.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Leô
XIII,
Tđ
Immortale
Dei,
1-11-1885:
AAS
18
(1885),
trg
161.
(Trở
lại
đầu
trang)
13*
Ở
đây,
Thánh
Công
Ðồng
ám
chỉ
đến
những
quốc
gia
theo
quốc
giáo.
Các
Nghị
Phụ
công
nhận
tính
chất
bất
hợp
pháp
của
các
quốc
gia
như
thế.
Tuy
nhiên,
cách
nói
"về
hoàn
cảnh
riêng"
của
Công
Ðồng
cho
chúng
ta
hiểu
rằng
quốc
giáo
chỉ
là
tình
trạng
pháp
lý
do
một
hoàn
cảnh
lịch
sử
xã
hội
nhất
định
và
cá
biệt
tạo
ra.
Vì
vậy,
các
quốc
gia
đó
phải
nhận
biết
những
giới
hạn
cần
thiết
của
mình.
(Trở
lại
đầu
trang)
14*
Các
Nghị
Phụ
đề
cập
tới
bổn
phận
và
giới
hạn
của
quyền
bính
ở
các
quốc
gia
theo
quốc
giáo.
Ðoạn
này
rất
tế
nhị
do
những
lạm
dụng
có
thể
xảy
ra
vì
quyền
giới
hạn
này.
Thánh
Công
Ðồng
đưa
ra
hai
qui
luật:
qui
luật
luân
lý
(số
7b)
và
qui
luật
pháp
lý
(số
7c).
(Trở
lại
đầu
trang)
15*
Do
nhiều
Hiến
pháp
của
các
quốc
gia
tân
tiến,
và
những
văn
kiện
quốc
tế
gợi
ý,
Thánh
Công
Ðồng
nhìn
nhận
rằng
ý
niệm
"trật
tự
công
cộng"
sẽ
được
xem
như
là
tiêu
chuẩn
khách
quan
cho
những
can
thiệp
của
quyền
bính
quốc
gia.
Trật
tự
công
cộng
mà
hình
luật
qui
chiếu,
là
phần
chính
yếu
của
lợi
ích
chung,
phải
được
đảm
bảo
sao
cho
đời
sống
xã
hội
xứng
đáng
với
phẩm
giá
con
người.
Công
quyền
có
quyền
và
bổn
phận
bảo
vệ
trật
tự
đó
bằng
cách
cấm
đoán
và
ngăn
cản
mọi
hành
vi
phương
hại
nhiều
đến
công
ích.
Dĩ
nhiên,
các
Nghị
Phụ
không
muốn
nói
đến
bất
cứ
một
loại
trật
tự
công
cộng
nào,
nhưng
là
một
trật
tự
xã
hội
thích
hợp
với
trật
tự
luân
lý
khách
quan
và
đặt
nền
tảng
trên
sự
công
bình
chân
thực.
Như
thế,
chúng
ta
nhận
thấy
rằng,
khi
nói
tới
việc
đề
cao
và
bảo
vệ
quyền
tự
do
tôn
giáo
(số
6),
công
ích
phải
được
quan
niệm
rộng
rãi
hết
sức.
Thế
nhưng,
khi
phải
hạn
chế
quyền
tự
do
đó,
Thánh
Công
Ðồng
lại
đắn
đo
và
để
ý
tới
những
yếu
tố
căn
bản
của
lợi
ích
chung
đó.
Bởi
vì,
việc
đảm
bảo
và
duy
trì
những
yếu
tố
ấy
rất
cần
thiết
cho
đời
sống
xã
hội.
Cách
cụ
thể,
chúng
ta
nhận
thấy
chính
hình
luật
được
soạn
thảo
dựa
theo
trật
tự
công
cộng.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II