VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
12-
SẮC
LỆNH
TÔNG
ĐỒ
GIÁO
DÂN
(APOSTOLICAM
ACTUOSITATEM)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
Chương
III
Các
Môi
Trường
Hoạt
Ðộng
Tông
Ðồ
8*
9.
Nhập
đề.
Giáo
dân
thi
hành
việc
tông
đồ
muôn
mặt
của
mình
trong
Giáo
Hội
cũng
như
giữa
đời.
Trong
cả
hai
lãnh
vực
này,
nhiều
môi
trường
hoạt
động
tông
đồ
khác
nhau
được
khai
mở.
Ở
đây
chúng
tôi
muốn
nhắc
tới
những
môi
trường
chính
yếu
hơn
cả
là:
các
cộng
đoàn
Giáo
Hội,
gia
đình,
giới
trẻ,
môi
trường
xã
hội,
các
lãnh
vực
quốc
gia
và
quốc
tế.
Ngày
nay
phụ
nữ
càng
ngày
càng
góp
phần
tích
cực
vào
tất
cả
đời
sống
xã
hội,
cho
nên
điều
quan
trọng
là
làm
sao
cho
họ
tham
gia
nhiều
hơn
vào
cả
những
lãnh
vực
tông
đồ
của
Giáo
Hội.
10.
Các
cộng
đoàn
trong
Giáo
Hội.
Giáo
dân
góp
phần
tích
cực
vào
đời
sống
và
hoạt
động
của
Giáo
Hội,
nhờ
được
tham
dự
vào
chức
vụ
của
Chúa
Kitô
là
tư
tế,
ngôn
sứ
và
là
vua.
Trong
những
cộng
đoàn
của
Giáo
Hội,
hoạt
động
của
họ
cần
thiết
đến
nỗi
nếu
không
có
hoạt
động
đó,
chính
hoạt
động
tông
đồ
của
các
vị
chủ
chăn
thường
không
thể
đạt
được
đầy
đủ
kết
quả.
Cũng
như
giáo
dân
nam
nữ
đã
giúp
Thánh
Phaolô
trong
việc
rao
giảng
Phúc
Âm
(x.
CvTđ
18,18-26;
Rm
16,3),
những
người
giáo
dân
có
tinh
thần
tông
đồ
đích
thực
cũng
đang
trợ
giúp
những
anh
em
thiếu
thốn
và
nâng
đỡ
tinh
thần
các
vị
chủ
chăn
và
các
tín
hữu
khác
(x.
1Cor
16,17-18).
Vì
được
nuôi
dưỡng
nhờ
tham
dự
cách
tích
cực
vào
đời
sống
phụng
vụ
của
cộng
đoàn,
chính
họ
nhiệt
thành
góp
phần
vào
những
công
cuộc
tông
đồ
của
chính
cộng
đoàn
đó:
họ
đem
những
người
có
lẽ
đang
xa
lạc
trở
về
với
Giáo
Hội.
Họ
cộng
tác
đắc
lực
vào
việc
rao
truyền
lời
Chúa
nhất
là
bằng
việc
dạy
giáo
lý.
Họ
đem
khả
năng
của
mình
làm
cho
việc
coi
sóc
các
linh
hồn
và
cả
việc
quản
trị
tài
sản
của
Giáo
Hội
sinh
hiệu
quả
hơn.
Giáo
xứ
là
một
hình
thức
tông
đồ
cộng
đồng
kiểu
mẫu,
vì
đó
là
nơi
qui
tụ
mọi
hạng
người
thành
một
cộng
đoàn
và
đem
họ
vào
tinh
thần
đại
đồng
của
Giáo
Hội
1.
Giáo
dân
nên
tập
thói
quen
cộng
tác
chặt
chẽ
với
các
linh
mục
của
mình
để
hoạt
động
trong
giáo
xứ
2.
Họ
cũng
nên
có
thói
quen
trình
bày
với
cộng
đoàn
Giáo
Hội
những
vấn
đề
riêng
của
mình
hay
của
cả
thế
giới
hoặc
những
vấn
đề
liên
quan
tới
phần
rỗi
mọi
người
để
cùng
nhau
góp
ý
kiến,
nghiên
cứu
và
giải
quyết.
Họ
cũng
phải
tùy
sức
mà
cố
gắng
đóng
góp
vào
mọi
công
cuộc
tông
đồ
và
truyền
giáo
của
gia
đình
Giáo
Hội
địa
phương.
Giáo
dân
phải
luôn
luôn
nuôi
dưỡng
ý
thức
về
giáo
phận
vì
giáo
xứ
như
một
tế
bào
của
giáo
phận.
Họ
phải
luôn
mau
mắn
đáp
lại
tiếng
gọi
của
Chủ
Chăn
và
tùy
sức
tham
gia
những
sáng
kiến
chung
của
giáo
phận.
Hơn
nữa,
để
đáp
ứng
những
nhu
cầu
nơi
thành
thị
cũng
như
ở
thôn
quê
3,
họ
không
chỉ
hạn
hẹp
sự
cộng
tác
của
mình
trong
giới
hạn
giáo
xứ
hay
giáo
phận
nhưng
họ
cố
gắng
mở
rộng
phạm
vi
tới
cả
các
lãnh
vực
liên
xứ,
liên
giáo
phận,
quốc
gia
hay
quốc
tế.
Hơn
nữa,
việc
di
dân
mỗi
ngày
một
nhiều,
những
mối
tương
giao
gia
tăng,
và
việc
giao
thông
dễ
dàng
đã
không
để
một
thành
phần
xã
hội
nào
sống
đóng
kín
cho
riêng
mình.
Vì
thế
người
giáo
dân
phải
quan
tâm
đến
những
nhu
cầu
của
dân
Thiên
Chúa
ở
rải
rác
trên
khắp
địa
cầu.
Nhất
là
họ
phải
coi
những
công
cuộc
truyền
giáo
như
việc
của
chính
mình,
bằng
cách
đóng
góp
về
vật
chất
hay
về
cả
nhân
sự.
Vì
chưng
nhiệm
vụ
và
vinh
dự
của
người
Kitô
hữu
là
trả
lại
cho
Thiên
Chúa
phần
của
họ
đã
nhận
nơi
Ngài.
11.
Gia
đình
trong
việc
tông
đồ.
Vì
Ðấng
Tạo
Hóa
đã
đặt
cộng
đoàn
hôn
nhân
làm
nguồn
gốc
và
nền
tảng
cho
xã
hội
loài
người
và
dùng
ơn
thánh
Ngài
nâng
lên
hàng
bí
tích
cao
cả
trong
Chúa
Kitô
và
trong
Giáo
Hội
(x.
Eph
5,32)
cho
nên
việc
tông
đồ
của
vợ
chồng
và
của
các
gia
đình
có
tầm
quan
trọng
đặc
biệt,
đối
với
Giáo
Hội
cũng
như
đối
với
xã
hội
dân
sự.
Những
đôi
vợ
chồng
Kitô
giáo
là
những
người
cộng
tác
với
ơn
thánh
và
chứng
nhân
của
đức
tin
đối
với
nhau,
cũng
như
đối
với
con
cái
và
những
phần
tử
khác
trong
gia
đình
họ.
Chính
họ
là
những
người
đầu
tiên
phải
rao
truyền
và
giáo
dục
đức
tin
cho
con
cái
họ.
Bằng
lời
nói
và
gương
sáng
họ
huấn
luyện
con
cái
sống
đời
Kitô
giáo
và
làm
việc
tông
đồ.
Họ
thận
trọng
giúp
đỡ
con
cái
trong
việc
lựa
chọn
ơn
kêu
gọi,
và
nếu
thấy
chúng
có
ơn
thiên
triệu,
họ
tận
tình
nuôi
dưỡng
ơn
kêu
gọi
đó.
Tất
cả
những
việc
ngày
xưa
vốn
là
bổn
phận
vợ
chồng,
ngày
nay
còn
phải
được
coi
là
phần
quan
trọng
nhất
của
việc
tông
đồ.
Ðó
là
phải
biểu
lộ
và
chứng
minh
bằng
đời
sống
tính
cách
bất
khả
phân
ly
và
sự
thánh
thiện
của
dây
hôn
phối.
Phải
mạnh
mẽ
nói
lên
rằng
quyền
lợi
và
nhiệm
vụ
đã
được
trao
ban
cho
bậc
cha
mẹ
và
những
người
bảo
trợ
là
giáo
dục
con
cái
theo
Kitô
giáo.
Phải
bảo
vệ
phẩm
giá
và
quyền
tự
trị
hợp
pháp
của
gia
đình.
Vì
vậy
chính
họ
và
những
tín
hữu
khác
phải
cộng
tác
với
mọi
người
thiện
chí
để
những
quyền
trên
đây
được
dân
luật
bảo
vệ
hoàn
toàn,
nghĩa
là
trong
việc
cai
trị,
chính
phủ
phải
quan
tâm
tới
những
nhu
cầu
của
gia
đình
liên
quan
tới
nơi
cư
ngụ,
việc
giáo
dục
trẻ
em,
điều
kiện
làm
việc,
an
ninh
xã
hội
và
thuế
khóa.
Khi
phải
tổ
chức
di
dân,
đời
sống
chung
của
gia
đình
phải
được
hoàn
toàn
bảo
đảm
4.
Chính
gia
đình
đã
lãnh
nhận
từ
Thiên
Chúa
sứ
mệnh
trở
nên
tế
bào
đầu
tiên
và
sống
động
của
xã
hội.
Gia
đình
sẽ
chu
toàn
được
sứ
mệnh
đó
nếu
gia
đình
tỏ
ra
như
một
đền
thờ
của
Giáo
Hội
trong
nhà
mình
nhờ
yêu
thương
nhau
và
cùng
nhau
dâng
lời
cầu
nguyện
lên
Thiên
Chúa,
nếu
toàn
thể
gia
đình
cùng
tham
dự
vào
việc
phụng
vụ
của
Giáo
Hội,
sau
cùng
nếu
gia
đình
tỏ
ra
hiếu
khách
và
cổ
võ
đức
công
bằng
cũng
như
những
việc
thiện
khác
giúp
các
anh
em
đang
túng
thiếu.
Trong
các
việc
tông
đồ
của
gia
đình
cần
phải
kể
đến
những
việc
như:
nhận
làm
con
những
đứa
trẻ
bị
bỏ
rơi,
ân
cần
tiếp
đón
những
khách
lạ,
cộng
tác
với
học
đường,
khuyên
bảo
và
giúp
đỡ
thanh
thiếu
niên,
giúp
những
người
đã
đính
hôn
chuẩn
bị
cho
việc
hôn
nhân
của
họ
được
tốt
đẹp,
giúp
dạy
giáo
lý,
nâng
đỡ
những
đôi
vợ
chồng
cũng
như
những
gia
đình
khi
họ
gặp
khó
khăn
về
vật
chất
hay
tinh
thần,
lo
cho
người
già
cả
không
những
có
những
điều
cần
thiết,
mà
còn
cung
cấp
cho
họ
những
tiện
nghi
chính
đáng
của
tiến
bộ
kinh
tế.
Ở
mọi
nơi
và
mọi
lúc,
nhất
là
trong
những
miền
mà
hạt
giống
Phúc
Âm
vừa
được
gieo
vãi,
hoặc
trong
những
nơi
Giáo
Hội
mới
được
thành
lập
hay
trong
những
nơi
Giáo
Hội
đang
gặp
những
trở
ngại
lớn
lao,
những
gia
đình
Kitô
giáo
vẫn
là
chứng
nhân
quí
giá
nhất
của
Chúa
Kitô
đối
với
thế
gian
bằng
tất
cả
đời
sống
gắn
liền
với
Phúc
Âm
và
tỏ
ra
là
gia
đình
Kitô
giáo
gương
mẫu
5.
Ðể
dễ
dàng
đạt
tới
những
mục
đích
tông
đồ
này
các
gia
đình
nên
qui
tụ
thành
những
nhóm
6.
12.
Giới
trẻ
hoạt
động
tông
đồ.
Trong
xã
hội
ngày
nay,
giới
trẻ
làm
thành
một
sức
mạnh
rất
quan
trọng
7.
Những
hoàn
cảnh
sống
của
họ,
những
nếp
sống
tinh
thần
và
cả
những
tương
quan
của
họ
với
gia
đình
đã
thay
đổi
rất
nhiều.
Thường
thường
họ
chuyển
quá
nhanh
sang
một
hoàn
cảnh
xã
hội
và
kinh
tế
mới.
Hơn
nữa,
vai
trò
xã
hội
cũng
như
chính
trị
của
họ
mỗi
ngày
một
thêm
quan
trọng,
nhưng
họ
không
được
chuẩn
bị
đầy
đủ
để
đảm
nhận
những
trọng
trách
mới
này
cách
xứng
hợp.
Trọng
trách
của
họ
trong
xã
hội
gia
tăng,
đòi
hỏi
họ
gia
tăng
hoạt
động
tông
đồ.
Vả
lại,
chính
bản
tính
tự
nhiên
của
họ
vốn
hướng
về
hoạt
động
đó.
Nhờ
trưởng
thành
trong
ý
thức
về
nhân
vị
và
được
thúc
đẩy
do
sức
sống
hăng
say
và
tính
ham
mê
hoạt
động,
họ
nhận
lãnh
trách
nhiệm
của
mình
và
ước
muốn
góp
phần
vào
đời
sống
xã
hội
và
văn
hóa.
Nếu
lòng
nhiệt
thành
này
được
thấm
nhuần
tinh
thần
Chúa
Kitô
và
được
thúc
đẩy
do
sự
tuân
phục
và
yêu
mến
các
vị
chủ
chăn
của
Giáo
Hội
thì
có
thể
hy
vọng
nơi
họ
những
thành
quả
phong
phú.
người
trẻ
phải
trở
nên
những
tông
đồ
đầu
tiên
và
trực
tiếp
của
giới
trẻ
trong
khi
chính
họ
hoạt
động
tông
đồ
giữa
người
trẻ
và
nhờ
người
trẻ
tùy
theo
môi
trường
xã
hội
họ
đang
sống
8.
Người
lớn
cần
quan
tâm
để
tạo
cuộc
đối
thoại
thân
hữu
với
giới
trẻ,
vì
cuộc
đối
thoại
cho
phép
cả
hai
giới
vượt
qua
sự
ngăn
cách
về
tuổi
tác,
hiểu
biết
lẫn
nhau
và
thông
cho
nhau
sự
phong
phú
riêng
của
mỗi
giới.
Người
lớn
hãy
thúc
đẩy
giới
trẻ
làm
tông
đồ
trước
hết
bằng
gương
sáng
và
tùy
dịp
bằng
ý
kiến
khôn
ngoan
và
giúp
đỡ
thiết
thực.
Còn
giới
trẻ
cũng
phải
nuôi
dưỡng
lòng
trọng
kính
và
tín
nhiệm
đối
với
người
lớn,
dầu
theo
tính
tự
nhiên
họ
ham
thích
những
điều
mới
lạ,
tuy
nhiên
họ
cũng
phải
tôn
trọng
những
truyền
thống
đáng
quí
trọng.
Trẻ
em
cũng
có
hoạt
động
tông
đồ
riêng
của
chúng.
Tùy
khả
năng,
chúng
co
thể
thực
sự
là
những
chứng
nhân
sống
động
của
Chúa
Kitô
giữa
các
bạn
hữu.
13.
Môi
trường
xã
hội.
Làm
tông
đồ
trong
môi
trường
xã
hội
là
cố
gắng
đem
tinh
thần
Kitô
giáo
thấm
nhuần
não
trạng,
phong
tục,
luật
lệ
và
cơ
cấu
của
cộng
đoàn
nơi
họ
sống:
đó
là
bổn
phận
và
trách
nhiệm
của
người
giáo
dân
mà
không
ai
có
thể
làm
thay
họ
cách
đầy
đủ.
Trong
lãnh
vực
này,
người
giáo
dân
có
thể
làm
tông
đồ
cho
người
đồng
cảnh
ngộ
với
mình.
Ở
đó
lấy
lời
nói
bổ
túc
cho
bằng
chứng
của
đời
sống
9.
Cũng
ở
đó,
họ
dễ
dàng
giúp
đỡ
anh
em
trong
môi
trường
làm
việc
hay
nghề
nghiệp,
môi
trường
học
vấn,
cư
ngụ,
giải
trí
cũng
như
trong
sinh
hoạt
địa
phương.
Người
giáo
dân
chu
toàn
sứ
mệnh
này
của
Giáo
Hội
nơi
trần
gian:
trước
tiên
bằng
đời
sống
hòa
hợp
với
đức
tin,
để
nhờ
đó
họ
trở
thành
ánh
sáng
thế
gian;
bằng
đời
sống
lương
thiện
trong
bất
cứ
công
ăn
việc
làm
nào
để
làm
cho
mọi
người
yêu
mến
sự
thật,
sự
thiện
và
cuối
cùng
đưa
họ
tới
Chúa
Kitô
và
Giáo
Hội;
bằng
đời
sống
bác
ái
huynh
đệ
qua
việc
họ
thực
sự
chia
sẻ
với
anh
em
trong
hoàn
cảnh
sống,
trong
đau
khổ
cũng
như
trong
mọi
ước
vọng,
và
như
thế
họ
âm
thầm
chuẩn
bị
cho
ơn
cứu
rỗi
hoạt
động
trong
tâm
hồn
mọi
người;
bằng
cuộc
sống
ý
thức
đầy
đủ
về
vai
trò
của
mình
trong
việc
xây
dựng
xã
hội,
họ
cố
gắng
chu
toàn
hoạt
động
nơi
gia
đình,
ngoài
xã
hội,
trong
nghề
nghiệp
với
lòng
quảng
đại
của
Kitô
giáo;
như
thế
phương
thức
hành
động
của
họ
dần
dần
thấm
nhập
vào
môi
trường
sống
và
cả
môi
trường
làm
việc.
Việc
tông
đồ
này
phải
nhắm
tới
hết
mọi
người
trong
môi
trường
hoạt
động
và
không
được
loại
bỏ
bất
cứ
lợi
ích
thiêng
liêng
hay
vật
chất
nào
có
thể
làm
cho
họ.
Nhưng
người
tông
đồ
đích
thực
không
chỉ
hài
lòng
với
hoạt
động
này,
họ
còn
phải
quan
tâm
đến
việc
rao
giảng
Chúa
Kitô
cho
anh
em
bằng
cả
lời
nói
nữa.
Bởi
vì
nhiều
người
chỉ
có
thể
nghe
Phúc
Âm
và
nhận
biết
Chúa
Kitô
nhờ
những
người
giáo
dân
sống
gần
họ.
14.
Trên
bình
diện
quốc
gia
và
quốc
tế.
Môi
trường
hoạt
động
tông
đồ
mở
rộng
bao
la
trên
bình
diện
quốc
gia
và
quốc
tế,
trong
đó,
hơn
ai
hết,
giáo
dân
là
những
người
nắm
giữ
và
phân
phát
sự
khôn
ngoan
Kitô
giáo.
Tận
tâm
đối
với
quốc
gia
và
trung
thành
chu
toàn
những
nhiệm
vụ
công
dân,
người
công
giáo
cảm
thấy
bó
buộc
phải
cổ
võ
cho
công
ích
thực
sự,
và
họ
phải
làm
sao
cho
ý
kiến
của
họ
ảnh
hưởng
tới
chính
quyền
để
quyền
hành
được
thực
thi
chính
đáng
và
để
luật
lệ
đáp
ứng
được
những
đòi
hỏi
của
luân
lý
và
công
ích.
Những
người
công
giáo
có
khả
năng
làm
chính
trị
và
đã
được
huấn
luyện
đầy
đủ
về
đức
tin
và
giáo
lý
đừng
từ
chối
tham
gia
việc
nước,
bởi
vì
nhờ
thi
hành
nhiệm
vụ
cách
tốt
đẹp,
họ
có
thể
đóng
góp
vào
công
ích
và
đồng
thời
mở
đường
cho
Phúc
Âm.
Người
công
giáo
phải
tìm
cách
cộng
tác
với
tất
cả
mọi
người
thiện
chí
để
cổ
động
cho
bất
cứ
những
gì
là
chân
thật,
công
bằng,
thánh
thiện
và
đáng
yêu
quí
(x.
Ph
4,8).
Người
công
giáo
hãy
đối
thoại
với
họ,
hãy
đến
với
họ
cách
khôn
ngoan
và
tế
nhị,
hãy
tìm
cách
kiện
toàn
những
định
chế
xã
hội
và
quốc
gia
theo
tinh
thần
Phúc
Âm.
Trong
các
dấu
chỉ
của
thời
đại
chúng
ta,
phải
đặc
biệt
chú
ý
tới
ý
nghĩa
ngày
một
gia
tăng
và
không
thể
tránh
né
về
sự
liên
đới
giữa
các
dân
tộc
mà
nhiệm
vụ
của
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân
là
phải
lo
lắng
cổ
động
và
biến
nó
thành
một
khát
vọng
chân
thành
và
thiết
thực
về
tình
huynh
đệ.
Hơn
nữa
giáo
dân
còn
phải
ý
thức
về
lãnh
vực
quốc
tế
và
ý
thức
về
những
vấn
nạn
cũng
như
những
giải
pháp
trên
lý
thuyết
hay
trong
thực
hành
đang
được
đề
ra,
nhất
là
về
những
vấn
đề
liên
quan
tới
các
dân
tộc
đang
nỗ
lực
phát
triển
10.
Tất
cả
những
ai
làm
việc
ở
các
nước
khác
hay
đang
trợ
giúp
những
nước
ấy
phải
nhớ
rằng
những
mối
bang
giao
giữa
các
dân
tộc
phải
là
cuộc
trao
đổi
huynh
đệ
đích
thực,
trong
đó,
cả
hai
bên
cùng
cho
và
cùng
nhận.
Còn
những
ai
xuất
ngoại
để
lo
công
chuyện
hay
để
giải
trí
phải
nhớ
rằng
dù
họ
ở
đâu
họ
cũng
vẫn
là
sứ
giả
lưu
động
của
Chúa
Kitô
và
họ
phải
sống
đúng
danh
hiệu
đó.
Chú
Thích:
8*
Ở
đây
Sắc
Lệnh
nói
đến
tinh
thần
hoạt
động
phổ
quát
của
việc
tông
đồ
giáo
dân.
Chính
tinh
thần
này
đã
đem
lại
nhiều
cảm
hứng
cho
Hiến
Chế
về
Giáo
Hội.
Tầm
hoạt
động
tông
đồ
sẽ
không
giới
hạn
ở
giáo
xứ,
trong
giáo
phận
hay
nơi
quốc
gia
nào.
Tính
cách
phổ
quát
này
của
việc
tông
đồ
giáo
dân
có
nền
tảng
ở
sự
ý
thức
hơn
về
Giáo
Hội
như
Nhiệm
Thể
mà
Kitô
hữu
là
những
chi
thể
sống
động,
cũng
như
ý
thức
về
sự
thích
ứng
cần
thiết
của
Giáo
Hội
đối
với
những
hoàn
cảnh
hiện
tại
của
thế
giới
ngày
nay
(x.
số
10).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Piô
X.
Tông
thư
Creationis
duarum
novarum
paroeciarum,
1-6-1905:
AAS
38
(1905),
trg
65-67.
-
Piô
XII,
Huấn
từ
ad
fides
paroeciae
S.
Saba,
11-1-1953:
Discorsi
e
Radiomessaggi
di
diocesi
suburbicaria
Albanesi,
ad
Arcem
Gandulfi
habita:
26-8-1962:
AAS
54
(1962),
trg
656-660.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Leô
XIII,
Huấn
từ
28-1-1894:
Acia
14
(1894),
trg
424-425.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
Piô
XII,
Huấn
từ
Ad
parochos,
etc...
6-2-1951:
Discorsi
e
Radiomessaggi
di
S.S.
Piô
XII,
12
(1950-1951),
trg
437-443;
8-3-1952:
n.v.t.
14,
(1952-1953),
trg
5-10;
27-3-1953:
n.v.t.
15
(1953-1954),
trg
27-35;
28-2-1954:
n.v.t.
trg
585-590.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
Piô
XI,
Tđ
Casti
Connubii:
AAS
22
(1930),
trg
554,
-
Piô
XII,
Nuntius
Radiophonicus,
1-1-1941:
AAS
33
(1941),
trg
203.
-
n.t.
Delegatis
ad
conventum
unionis
internaltionalis
sodalitatum
ad
iura
familiar
tuenda,
20-9-1949:
AAS
41
(1949),
trg
552.
-
n.t.
Ad
patresfamilias
e
Galia
Romanperegrinantes,
18-9-1951:
AAS
43
(1951),
trg
731.
n.t.
Nuntius
radiophonicus
in
Natali
Domini
1952:
AAS
45
(1953),
trg
41.
-
Gioan
XXIII,
Tđ
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
429,
439.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
Piô
XII,
Tđ
Evangelii
Praecones,
2-6-1951:
AAS
43
(1951),
trg
514.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
Piô
XII,
Delegatis
ad
Conventum
Unionis
internationalis
sodatiatum
ad
iura
familiae
tuenda,
20-9-1949:
AAS
41
(1949),
trg
552.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Piô
X,
Huấn
từ
ad
Catholicam
Associationem
Iuventutis
Gallicae
de
pietate,
scientia
et
actione,
25-9-1904:
AAS
37
(1904-1905),
trg
296-300.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
Piô
XII,
Thư
Dans
quelques
semaines,
gởi
Ðức
Tổng
Giám
Mục
Montréal:
de
conventibus
a
iuvenibus
operaiis
christianis
Canadiensibus
indictis,
24-5-1947:
AAS
39
(1947),
trg
257.
-
Và
sứ
điệp
truyền
thanh
Ad
J.O.C.
Bruxelles,
2-9-1950:
AAS
42
(1950),
trg
640-641.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Piô
XI,
Tđ
Quadragesimo
anno,
15-5-1931:
AAS
23
(1931),
trg
225-226.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
Gioan
XXIII,
Tđ
Mater
et
Magistra,
15-5-1961:
AAS
53
(1961),
trg
448-450.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II