VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
12-
SẮC
LỆNH
TÔNG
ĐỒ
GIÁO
DÂN
(APOSTOLICAM
ACTUOSITATEM)
Lời
Giới
Thiệu
|
Lời
Mở
Ðầu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
Chương
I
Ơn
Gọi
Làm
Tông
Ðồ
Giáo
Dân
2.
Giáo
dân
tham
dự
vào
sứ
mạng
của
Giáo
Hội.
Giáo
Hội
được
khai
sinh
là
để
làm
cho
nước
Chúa
Kitô
rộng
mở
trên
khắp
hoàn
cầu,
hầu
làm
vinh
danh
Thiên
Chúa
Cha:
tức
là
làm
cho
mọi
người
tham
dự
vào
việc
chuộc
tội
và
cứu
rỗi
1,
để
rồi
nhờ
họ,
toàn
thể
vũ
trụ
thực
sự
được
qui
hướng
về
Chúa
Kitô.
Mọi
hoạt
động
của
Nhiệm
Thể
hướng
về
mục
đích
này
gọi
là
việc
tông
đồ,
công
việc
mà
Giáo
Hội
thực
hiện
nhờ
tất
cả
các
chi
thể,
tùy
theo
những
cách
thức
khác
nhau.
Thật
ra
ơn
gọi
làm
Kitô
hữu
tự
bản
chất
cũng
là
ơn
gọi
làm
tông
đồ.
Cũng
như
toàn
bộ
một
cơ
thể
sống
động,
2*
không
chi
thể
nào
hoàn
toàn
thụ
động,
nhưng
cũng
tham
dự
vào
đời
sống
và
công
việc
của
toàn
thân.
Cũng
thế,
trong
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô
tức
Giáo
Hội,
toàn
thân
tùy
theo
công
dụng
khả
năng
từng
phần
tử
khiến
thân
thể
này
gắn
bó
và
liên
kết
chặt
chẽ
với
nhau
(x.
Eph
4,16),
đến
nỗi
chi
thể
nào
không
hoạt
động
đúng
tầm
mức
của
mình
trong
việc
tăng
triển
toàn
thân
đều
bị
coi
là
vô
dụng
đối
với
Giáo
Hội
cũng
như
với
chính
mình.
Trong
Giáo
Hội
có
nhiều
tác
vụ
khác
nhau
nhưng
đều
cùng
chung
một
sứ
mệnh.
Chúa
Kitô
đã
trao
phó
cho
các
Tông
Ðồ
và
những
người
kế
vị
các
ngài
nhiệm
vụ
nhân
danh
và
lấy
quyền
Người
mà
giảng
dạy,
thánh
hóa
và
cai
quản.
Còn
phần
giáo
dân,
vì
họ
tham
dự
thực
sự
vào
nhiệm
vụ
tư
tế,
tiên
tri
và
vương
đế
của
Chúa
Kitô,
nên
họ
chu
toàn
phần
việc
của
mình
trong
sứ
mệnh
của
toàn
dân.
Thiên
Chúa
trong
Giáo
Hội
và
ở
giữa
trần
gian
2.
Giáo
dân
thực
sự
thi
hành
việc
tông
đồ
bằng
công
việc
của
mình
để
rao
giảng
Phúc
Âm
và
thánh
hóa
nhân
loại,
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
thấm
nhuần
và
hoàn
hảo
hóa
những
việc
thuộc
phạm
vi
trần
thế,
sao
cho
công
việc
của
họ
thuộc
lãnh
vực
này
làm
chứng
tỏ
tường
về
Chúa
Kitô
và
góp
phần
vào
việc
cứu
độ
nhân
loại.
Vì
bản
chất
riêng
biệt
của
người
giáo
dân
là
sống
giữa
đời
và
làm
việc
đời
nên
chính
họ
được
Thiên
Chúa
mời
gọi
để
một
khi
tràn
đầy
tinh
thần
Kitô
giáo,
họ
làm
việc
tông
đồ
giữa
đời
như
men
trong
bột.
3.
Nền
tảng
của
việc
tông
đồ
giáo
dân.
Giáo
dân
có
bổn
phận
và
quyền
làm
tông
đồ
do
chính
việc
kết
hợp
với
Chúa
Kitô
là
Ðầu.
Họ
được
chính
Chúa
chỉ
định
làm
việc
tông
đồ,
vì
phép
Rửa
Tội
sát
nhập
họ
vào
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô,
phép
Thêm
Sức
làm
cho
họ
nên
mạnh
mẽ
nhờ
quyền
năng
của
Chúa
Thánh
Thần.
Họ
được
thánh
hiến
vào
chức
vụ
tư
tế
vương
giả
và
dân
tộc
thánh
(x.
1P
2,2-10),
hầu
trong
mọi
việc
họ
dâng
những
lễ
vật
thiêng
liêng
và
làm
chứng
cho
Chúa
Kitô
ở
mọi
nơi
trên
hoàn
cầu.
Ðàng
khác,
đức
ái
như
là
linh
hồn
của
tất
cả
việc
tông
đồ,
được
chuyển
thông
và
nuôi
dưỡng
nhờ
các
bí
tích
nhất
là
bí
tích
Thánh
Thể
3.
Việc
tông
đồ
được
thực
thi
nhờ
đức
tin,
đức
cậy,
đức
ái
3*,
là
những
nhân
đức
mà
Chúa
Thánh
Thần
đổ
đầy
tâm
hồn
mọi
phần
tử
của
Giáo
Hội.
Lại
nữa,
nhờ
giới
răn
tình
yêu,
giới
răn
cao
thượng
nhất
của
Chúa,
mọi
tín
hữu
được
thúc
đẩy
để
tìm
vinh
danh
Thiên
Chúa
bằng
cách
làm
cho
nước
Ngài
trị
đến
và
mưu
tìm
sự
sống
đời
đời
cho
mọi
người
để
họ
nhận
biết
một
Thiên
Chúa
chân
thật
và
Ðấng
Ngài
đã
sai
đến
là
Chúa
Giêsu
Kitô
(x.
Gio
17,3).
Vì
vậy
hết
mọi
tín
hữu
đều
có
bổn
phận
rất
cao
cả
là
hoạt
động
để
mọi
người
trên
khắp
hoàn
cầu
nhận
biết
và
đón
nhận
Phúc
Âm
cứu
độ
của
Chúa.
Ðể
thể
hiện
việc
tông
đồ
này,
Chúa
Thánh
Thần
thánh
hóa
dân
Chúa
qua
tác
vụ
và
các
bí
tích.
Ngài
cũng
ban
cho
các
tín
hữu
những
ơn
đặc
biệt
(x.
1Cor
12,7),
"phân
phát
những
ơn
đó
cho
mọi
người
tùy
ý
Ngài"
(1Cor
12,11)
để
"mỗi
người
tùy
theo
ơn
đã
nhận
mà
giúp
đỡ
nhau"
và
chính
họ
trở
nên
như
những
người
quản
lý
trung
tín
giữ
mọi
thứ
ơn
của
Thiên
Chúa"
(1P
4,10)
hầu
xây
dựng
toàn
thân
trong
đức
ái
(x.
Eph
4,16).
Do
sự
đón
nhận
những
đoàn
sủng
này
dẫu
là
những
đoàn
sủng
thông
thường,
mỗi
tín
hữu
có
quyền
lợi
và
bổn
phận
sử
dụng
những
ơn
đó
trong
Giáo
Hội
cũng
như
giữa
trần
gian
để
mưu
ích
cho
mọi
người
và
xây
dựng
Giáo
Hội
trong
tự
do
của
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
"muốn
thổi
đâu
thì
thổi"
(Gio
3,8)
và
đồng
thời
sử
dụng
trong
sự
hiệp
thông
với
anh
em
trong
Chúa
Kitô,
nhất
là
với
các
bản
tính
đích
thực
và
việc
sử
dụng
thích
hợp
những
đoàn
sủng
đó,
không
phải
để
dập
tắt
Thánh
Thần,
nhưng
để
thử
nghiệm
mọi
việc
và
điều
nào
tốt
thì
giữ
lấy
(x.
1Th
5,12;
19,21)
4.
4.
Ðường
lối
tu
đức
của
người
giáo
dân
hướng
đến
việc
tông
đồ.
Vì
Chúa
Kitô,
Ðấng
được
Chúa
Cha
sai
đến,
là
nguồn
mạch
nguyên
ủy
của
mọi
việc
tông
đồ
trong
Giáo
Hội,
nên
hiển
nhiên
là
kết
quả
phong
phú
của
việc
tông
đồ
giáo
dân
tùy
thuộc
ở
sự
kết
hiệp
sống
động
của
chính
họ
với
Chúa
Kitô,
Ðấng
phán
rằng:
"Ai
ở
trong
Thầy
và
Thầy
ở
trong
kẻ
ấy,
như
vậy
mới
sinh
được
nhiều
hoa
trái
vì
ngoài
Thầy
ra
các
con
chẳng
làm
gì
được"
(Gio
15,5).
Ðời
sống
kết
hiệp
mật
thiết
với
Chúa
Kitô
trong
Giáo
Hội
được
nuôi
dưỡng
bằng
sự
phù
giúp
thiêng
liêng
chung
cho
mọi
tín
hữu,
nhất
là
bằng
việc
tham
dự
tích
cực
vào
Phụng
Vụ
5.
Người
giáo
dân
phải
làm
thế
nào
để
nhờ
những
phương
tiện
ấy
mà
chu
toàn
nhiệm
vụ
trần
thế
trong
những
hoàn
cảnh
thường
xuyên
của
cuộc
sống
mà
vẫn
không
tách
khỏi
đời
sống
mình
sự
kết
hiệp
với
Chúa
Kitô,
nhưng
càng
kết
hiệp
mật
thiết
hơn
chính
khi
thi
hành
công
việc
của
mình
theo
ý
Thiên
Chúa.
Bằng
phương
thức
này,
những
người
giáo
dân
phải
hăng
hái
và
vui
vẻ
tiến
bước
trên
đường
thánh
thiện,
với
sự
khôn
ngoan
và
nhẫn
nại,
họ
cố
gắng
thắng
vượt
những
khó
khăn
6.
Những
việc
trong
gia
đình
cũng
như
những
việc
ngoài
xã
hội
không
được
tách
rời
khỏi
động
lực
siêu
nhiên
của
cuộc
sống,
theo
lời
Thánh
Tông
Ðồ:
"Hết
thảy
công
việc
anh
em
làm
trong
lời
nói
hay
việc
làm,
hãy
nhân
danh
Chúa
Giêsu
Kitô
mà
thực
hành,
nhờ
Người
để
cảm
tạ
Chúa
Cha
là
Thiên
Chúa"
(Col
3,17).
Ðời
sống
như
thế
đòi
hỏi
việc
thực
hành
liên
tục
đức
tin,
đức
cậy
và
đức
ái
4*.
Chỉ
nhờ
ánh
sáng
đức
tin
và
nhờ
suy
niệm
lời
Chúa
mỗi
người
mới
có
thể
nhận
ra
Chúa
trong
mọi
nơi
và
mọi
lúc,
vì
trong
Ngài
"ta
sống,
ta
hoạt
động,
ta
hiện
hữu"
(CvTđ
17,28).
Tìm
ý
Chúa
trong
mọi
biến
cố,
thấy
Chúa
Kitô
trong
mọi
người,
dù
là
kẻ
thân
hay
người
lạ,
phê
phán
đúng
đắn
về
ý
nghĩa
đích
thực
và
giá
trị
của
sự
vật
trần
thế,
xét
nơi
chính
nó
và
xét
theo
tương
quan
với
cứu
cánh
của
con
người.
Những
người
có
đức
tin
này,
trong
khi
tưởng
niệm
Thánh
Giá
và
sự
Phục
Sinh
Chúa,
họ
sống
trong
niềm
hy
vọng
mạc
khải
của
con
cái
Thiên
Chúa.
Trong
lúc
đời
sống
lữ
hành
này,
họ
được
giấu
ẩn
trong
Thiên
Chúa
cùng
với
Chúa
Kitô
và
được
giải
thoát
khỏi
nô
lệ
của
cải
trần
thế,
đang
khi
họ
tìm
kiếm
của
cải
tồn
tại
vĩnh
viễn,
với
lòng
quảng
đại
họ
sẽ
hoàn
toàn
hiến
mình
để
mở
rộng
nước
Thiên
Chúa
và
đem
tinh
thần
Phúc
Âm
thấm
nhập
và
cải
tạo
lãnh
vực
thực
tại
trần
thế.
Giữa
những
cơn
thử
thánh
đời
này
họ
tìm
thấy
sức
mạnh
trong
niềm
hy
vọng
vì
họ
nghĩ
rằng:
"Những
đau
khổ
hiện
thời
chẳng
thấm
vào
đâu
so
với
vinh
quang
sắp
tới
sẽ
được
giải
bày
cho
chúng
ta"
(Rm
8,18).
Lòng
yêu
thương
phát
xuất
từ
Thiên
Chúa
thúc
đẩy
họ
làm
việc
thiện
cho
hết
mọi
người,
nhất
là
cho
những
người
có
cùng
một
niềm
tin
(x.
Gal
6,10),
từ
bỏ
"mọi
gian
ác,
mọi
lường
gạt,
giả
trá,
lòng
ghen
ghét
và
mọi
lời
nói
hành"
(1P
2,1)
và
như
vậy
họ
lôi
kéo
mọi
người
đến
với
Chúa
Kitô.
Hơn
nữa
tình
yêu
của
Chúa
"giải
khắp
lòng
ta
do
Chúa
Thánh
Thần
đã
ban
cho
ta"
(Rm
5,5)
làm
cho
giáo
dân
có
sức
biểu
lộ
thực
sự
trong
đời
sống
mình
tinh
thần
các
mối
Phúc
Thật.
Theo
Chúa
Giêsu
khó
nghèo,
họ
không
tuyệt
vọng
khi
thiếu
thốn,
cũng
không
kiêu
căng
khi
dư
dật.
Bắt
chước
Chúa
Kitô
khiêm
hạ,
họ
không
háo
danh
(x.
Gal
5,26)
nhưng
chuyên
lo
làm
đẹp
lòng
Thiên
Chúa
hơn
làm
đẹp
lòng
người
ta.
Họ
luôn
sẵn
sàng
bỏ
mọi
sự
vì
Chúa
Kitô
(x.
Lc
14,26),
và
chịu
bách
hại
vì
sự
công
chính
(x.
Mt
5,10)
vì
nhớ
lời
Chúa:
"Nếu
ai
muốn
theo
Ta,
phải
từ
bỏ
mình,
vác
thập
giá
mình
mà
theo
Ta"
(Mt
16,24).
Sống
với
nhau
trong
tình
thân
hữu
của
Chúa
Kitô,
họ
sẵn
sàng
giúp
đỡ
nhau
khi
cần
thiết.
Nguyên
lý
đời
sống
thiêng
liêng
của
mỗi
người
giáo
dân
phải
mang
sắc
thái
đặc
biệt
tùy
theo
bậc
sống:
đời
sống
hôn
nhân
và
đời
sống
gia
đình,
đời
sống
độc
thân
hay
góa
bụa,
trong
tình
trạng
đau
yếu,
tùy
sinh
hoạt
nghề
nghiệp
và
xã
hội.
Vậy
mỗi
người
phải
phát
triển
không
ngừng
những
đức
tính
và
tài
năng
ban
cho
mình,
thích
ứng
với
hoàn
cảnh
của
mỗi
đời
sống,
và
biết
lợi
dụng
những
ơn
huệ
Chúa
Thánh
Thần
ban
riêng.
Ngoài
ra,
giáo
dân
theo
ơn
gọi
của
mình,
gia
nhập
vào
một
trong
những
hiệp
hội
hay
tu
hội
được
Giáo
Hội
nhìn
nhận,
họ
cũng
cố
gắng
trung
thành
thể
hiện
những
đặc
tính
của
đời
sống
thiêng
liêng
đó.
Họ
cũng
nên
kính
trọng
nghề
nghiệp
chuyên
môn,
ý
nghĩa
gia
đình
và
ý
nghĩa
công
dân
cũng
như
những
đức
tính
liên
quan
tới
đời
sống
xã
hội,
chẳng
hạn
sự
liêm
khiết,
tinh
thần
công
bình,
lòng
thành
thực,
lòng
nhân
hậu,
lòng
quả
cảm;
không
có
những
đức
tính
đó,
không
thể
có
đời
sống
Kitô
hữu
đích
thực.
Gương
mẫu
hoàn
hảo
của
đời
sống
thiêng
liêng
và
đời
sống
tông
đồ
ấy
chính
là
Ðức
Trinh
Nữ
Rất
Thánh
Maria,
Nữ
Vương
các
Tông
Ðồ:
khi
sống
ở
trần
gian.
người
đã
sống
cuộc
đời
như
mọi
người,
vất
vả
lo
lắng
cho
gia
đình,
nhưng
luôn
luôn
kết
hợp
mật
thiết
với
Con
mình
và
đã
cộng
tác
vào
công
việc
của
Ðấng
Cứu
Thế
một
cách
riêng
biệt;
còn
bây
giờ,
sau
khi
đã
được
đưa
lên
trời,
"với
tình
yêu
thương
của
người
mẹ,
Người
săn
sóc
những
đứa
em
của
Con
Mẹ,
đang
trên
đường
lữ
hành,
gặp
nhiều
nguy
hiểm
và
thử
thách,
Người
lo
lắng
cho
tới
khi
họ
về
tới
quê
hương
hạnh
phúc"
7.
Mọi
người
hãy
hết
lòng
tôn
sùng
Mẹ
và
phó
thác
đời
sống
và
cả
việc
tông
đồ
của
mình
cho
Mẹ
coi
sóc.
Chú
Thích:
1
Xem
Piô
XI,
Tđ
Rerum
Ecclesiae:
AAS
(1926),
trg
65.
(Trở
lại
đầu
trang)
2*
Là
nhiệm
thể
của
Chúa
Kitô,
Ðấng
vừa
là
Linh
Mục,
vừa
là
Vua,
vừa
là
ngôn
Sứ.
Giáo
Hội
trở
thành
một
cộng
đồng
tư
tế,
vương
giả
và
ngôn
sứ.
Trong
đó,
có
chức
linh
mục
cộng
đồng
và
chức
linh
mục
thừa
tác.
Chức
linh
mục
thừa
tác
được
dành
riêng
cho
hàng
giáo
phẩm
và
cho
các
ngài
quyền
tham
dự
vào
chức
linh
mục
của
Chúa
Kitô
trong
chức
thánh.
Gọi
là
chức
linh
mục
cộng
đồng
vì
tất
cả
các
tín
hữu
(giáo
dân
hay
giáo
sĩ
thuộc
hàng
giáo
phẩm)
đều
được
tham
dự
vào
nhờ
phép
Rửa
Tội.
Sự
tham
dự
này
cho
mọi
tín
hữu
khả
năng
tự
mình
dâng
lên
Chúa
lễ
tế
Thánh
Thể,
nhờ
tay
linh
mục
thừa
tác
cũng
như
họ
có
thể
kết
hợp
với
lễ
vật
hy
sinh
là
Chúa
Kitô
trong
khi
rước
lễ,
và
như
vậy
được
dâng
chính
mình
lên
như
lễ
thiêng
liêng
cho
Thiên
Chúa.
Các
tín
hữu
cũng
tham
dự
quyền
vương
giả
của
Chúa
Kitô
nhờ
phép
Rửa
Tội
và
Thêm
Sức.
Quyền
vương
giả
cho
họ
sức
mạnh
tinh
thần
để
chế
ngự
bản
tính
riêng
của
họ,
bắt
nó
tùng
phục
quyền
bính
Thiên
Chúa
để
chinh
phục
mọi
người
cho
Nước
Trời
và
chiếu
sáng
tinh
thần
Phúc
Âm
trong
lãnh
vực
trần
thế.
Sau
cùng,
các
tín
hữu
cũng
tham
dự
quyền
ngôn
sứ.
Mọi
tín
hữu
có
quyền
làm
chứng
cho
Chúa
Kitô
bằng
lời
nói
và
bằng
chính
đời
sống
Kitô
hữu.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
CÐ
Vat.
II.
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
số
31:
AAS
57
(1965),
trg
37.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
Xem
n.v.t.
số
33,
trg
39;
x.
thêm
số
10,
trg
14.
(Trở
lại
đầu
trang)
3*
Ðối
với
giáo
dân,
việc
tông
đồ
là
bổn
phận
thiết
thực
phát
sinh
do
đòi
hỏi
ơn
gọi
Kitô
hữu.
Bổn
phận
tông
đồ
này
không
tùy
thuộc
những
hoàn
cảnh
như
thiếu
linh
mục
hay
tình
trạng
xã
hội
đang
mất
đạo,
mặc
dầu
những
hoàn
cảnh
đó
có
thể
khiến
cho
hoạt
động
tông
đồ
giáo
dân
khẩn
thiết
hơn.
Ơn
gọi
làm
tông
đồ
phát
sinh
từ
bí
tích
Tửa
Tội
và
Thêm
Sức;
và
do
đức
ái
mà
Chúa
Thánh
Thần
đổ
tràn
trong
tâm
hồn,
các
tín
hữu
được
thúc
đẩy
giúp
mọi
người
tham
dự
vào
cuộc
sống
của
Thiên
Chúa.
Ðể
thực
thi
việc
tông
đồ
này,
người
tín
hữu
dựa
vào
ân
sủng
của
các
bí
tích
mà
họ
đã
lãnh
nhận
cũng
như
vào
các
đoàn
sủng
ban
cho
mỗi
người,
vì
mưu
ích
cho
toàn
thể
Giáo
Hội.
Các
đoàn
sủng
có
thể
là
khác
thường
như
ơn
nói
tiếng
lạ
hay
ơn
nói
tiên
tri,
hoặc
thông
thường
như
sự
trực
giác
các
chân
lý
của
Chúa
hay
tài
năng
khôn
ngoan
để
hướng
dẫn
các
linh
hồn.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
n.v.t.
số
12,
trg
16.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
CÐ
Vat.
Vat.
II
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
ch
I
số
11:
AAS
56
(1964)
trg
102-103.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CÐ
Vat.
II
Hiến
Chế
tín
lý
về
Giáo
Hội
số
32:
AAS
57
(1965)
trg
38:
x.
thêm
số
40-41,
trg
45-47.
(Trở
lại
đầu
trang)
4*
Ở
đây,
Sắc
Lệnh
đã
đưa
ra
những
nguyên
tắc
để
huấn
luyện
đời
sống
tinh
thần
và
cá
nhân
của
các
giáo
dân
làm
việc
tông
đồ:
-
Hiệp
nhất
với
Chúa
Kitô,
nguồn
mạch
và
nguyên
nhân
việc
tông
đồ
của
Giáo
Hội;
thánh
hóa
đời
sống
gia
đình:
thánh
hóa
những
lo
âu
trần
thế
hay
phàm
tục.
Mọi
sự
đều
có
giá
trị
riêng
của
nó
và
đời
sống
đạo
đức
của
giáo
dân
đời
họ
không
được
khinh
chê
những
thứ
đó.
-
Suy
gẫm
lời
Chúa
và
bác
ái
với
tha
nhân
là
những
nhân
đức
sẽ
đem
lại
kết
quả
phong
phú
cho
việc
tông
đồ
giáo
dân.
-
Ngoài
những
nhân
đức
chung
nói
trên,
phải
thêm
nhưng
nhân
đức
riêng
biệt
do
hoàn
cảnh
sống
của
mỗi
người:
đời
sống
vợ
chồng
gia
đình,
độc
thân
hay
góa
bụa,
tình
trạng
ốm
đau...
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
n.v.t.
số
62,
trg
63;
x.
thêm
số
65,
trg
64-65.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II