VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
11-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
MẠC
KHẢI
CỦA
THIÊN
CHÚA
(DEI
VERBUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Chương
III
Sự
Linh
Ứng
Của
Thiên
Chúa
Và
Việc
Chú
Giải
Thánh
Kinh
11.
Sự
linh
ứng
và
chân
lý
trong
Thánh
Kinh.
Những
gì
Thiên
Chúa
đã
mạc
khải
Thánh
Kinh
chứa
đựng
và
trình
bày,
đều
được
viết
ra
dưới
sự
linh
ứng
của
Chúa
Thánh
Thần
29*.
Thực
vậy,
Giáo
Hội
Mẹ
Thánh,
nhờ
đức
tin
tông
truyền,
xác
nhận
rằng
toàn
bộ
sách
Cựu
Ước
cũng
như
Tân
Ước
với
tất
cả
các
thành
phần
đều
là
sách
thánh
và
được
ghi
vào
bản
chính
lục
Thánh
Kinh:
bởi
lẽ
được
viết
ra
dưới
sự
linh
ứng
của
Chúa
Thánh
Thần
(x.
Gio
20,31;
2Tm
3,16;
2P
1,19-21;
3,15-16)
nên
tác
giả
của
các
sách
ấy
là
chính
Thiên
Chúa
và
chúng
được
lưu
truyền
cho
Giáo
Hội
với
tình
trạng
như
vậy
1.
Nhưng
để
viết
các
sách
thánh,
Thiên
Chúa
đã
chọn
những
người
và
dùng
họ
trong
khả
năng
và
phương
tiện
của
họ
2,
để
khi
chính
Ngài
hành
động
trong
họ
và
qua
họ
3,
họ
viết
ra
như
những
tác
giả
đích
thực
tất
cả
những
gì
Chúa
muốn,
và
chỉ
viết
những
điều
đó
thôi
4.
Vì
phải
xem
mọi
lời
các
tác
giả
được
linh
ứng
viết
ra,
tức
các
thánh
sử,
là
những
lời
của
Chúa
Thánh
Thần,
nên
phải
công
nhận
rằng
Thánh
Kinh
dạy
ta
cách
chắc
chắn,
trung
thành
và
không
sai
lầm,
những
chân
lý
30*
mà
Thiên
Chúa
đã
muốn
Thánh
Kinh
ghi
lại
vì
phần
rỗi
chúng
ta
5.
Bởi
vậy
"mọi
sự
trong
Thánh
Kinh
được
Thiên
Chúa
linh
ứng
có
ích
lợi
cho
việc
dạy
dỗ,
biện
luận,
sửa
trị
và
rèn
luyện
trong
công
chính:
để
người
của
Thiên
Chúa
trở
nên
trọn
hảo
và
sẵn
sàng
thực
hiện
mọi
việc
lành"
(2Tm
1,
16-17
bản
Hy
lạp).
12.
Cách
thức
giải
thích
Thánh
Kinh.
31*
Tuy
nhiên
vì
trong
Thánh
Kinh,
Thiên
Chúa
đã
nhờ
loài
người
và
dùng
cách
nói
của
loài
người
mà
phán
dạy
6,
nên
để
thấy
rõ
điều
chính
Ngài
muốn
truyền
đạt
cho
chúng
ta,
nhà
chú
giải
Thánh
Kinh
phải
cẩn
thận
tìm
hiểu
điều
các
thánh
sử
thực
sự
có
ý
trình
bày
và
điều
Thiên
Chúa
muốn
diễn
tả
qua
lời
lẽ
của
họ.
Ðể
tìm
ra
chủ
ý
của
thánh
sử,
giữa
những
phương
pháp
khác,
cũng
cần
phải
xét
đến
văn
loại
32*.
Vì
chân
lý
được
trình
bày
và
diễn
tả
qua
nhiều
thể
văn
khác
nhau,
như
thể
văn
lịch
sử,
tiên
tri,
thi
phú
hoặc
những
thể
văn
diễn
tả
khác.
Hơn
nữa,
nhà
chú
giải
còn
có
bổn
phận
tìm
hiểu
ý
nghĩa
mà
trong
những
trường
hợp
xác
định,
thánh
sử
đã
muốn
diễn
tả
và
thực
sự
đã
diễn
tả
trong
hoàn
cảnh
thời
đại
và
văn
hóa
của
họ,
qua
các
lối
văn
được
dùng
trong
thời
đó
7.
Thực
vậy,
để
hiểu
đúng
ý
nghĩa
tác
giả
Thánh
Kinh
muốn
quả
quyết
trong
bản
văn,
chúng
ta
phải
chú
tâm
đúng
mức
đến
các
cách
thức
cảm
nghĩ,
diễn
tả,
tường
thuật
do
bẩm
sinh,
được
thịnh
hành
trong
thời
của
họ,
cũng
như
phải
để
ý
đến
các
hình
thức
mà
người
thời
ấy
thường
dùng
khi
giao
tế
với
nhau
8.
Nhưng
Thánh
Kinh
đã
được
viết
ra
bởi
Chúa
Thánh
Thần,
nên
cũng
phải
được
đọc
và
chú
giải
trong
Chúa
Thánh
Thần
9.
Và
để
hiểu
đúng
ý
nghĩa
của
sách
Thánh,
chúng
ta
cũng
phải
ân
cần
lưu
ý
đến
nội
dung
và
sự
thống
nhất
toàn
bộ
Thánh
Kinh,
dựa
trên
truyền
thống
sống
động
của
toàn
Giáo
Hội
và
trên
sự
tương
hợp
toàn
bộ
đức
tin.
33*
Theo
các
qui
tắc
ấy,
nhà
chú
giải
có
nhiệm
vụ
nỗ
lực
tìm
hiểu
và
trình
bày
ý
nghĩa
Thánh
Kinh
cách
sâu
rộng
hơn,
hầu
sự
học
hỏi
của
họ,
như
một
việc
làm
chuẩn
bị,
giúp
phán
quyết
của
Giáo
Hội
được
chính
chắn.
Thực
vậy,
mọi
điều
liên
hệ
đến
việc
chú
giải
Thánh
Kinh
cuối
cùng
đều
phải
tùy
thuộc
vào
phán
quyết
của
Giáo
Hội,
vì
Giáo
Hội
được
Thiên
Chúa
giao
cho
sứ
mệnh
và
chức
vụ
gìn
giữ
và
giải
thích
lời
Chúa
10.
13.
Sự
"hạ
mình"
của
Ðấng
Khôn
Ngoan.
Cho
nên,
trong
Thánh
Kinh,
vừa
luôn
được
bảo
toàn
sự
chân
thật
và
thánh
thiện
của
Thiên
Chúa,
vừa
diễn
tả
sự
"hạ
mình"
kỳ
diệu
của
Ðấng
khôn
ngoan
muôn
đời,
"để
chúng
ta
học
biết
lượng
nhân
từ
vô
biên
của
Chúa,
và
trong
sự
quan
phòng
săn
sóc
đến
bản
tính
chúng
ta,
Ngài
đã
thích
ứng
lời
nói
của
Ngài
đến
mức
nào"
11.
Vì
lời
nói
của
Chúa
diễn
tả
qua
ngôn
ngữ
nhân
loại,
được
đồng
hóa
với
tiếng
nói
loài
người,
cũng
như
xưa
Lời
Nói
của
Chúa
Cha
Hằng
Hữu
đã
trở
nên
giống
loài
người,
sau
khi
nhận
lấy
sự
yếu
đuối
của
xác
thịt.
Chú
Thích:
29*
Trong
chương
này
Công
Ðồng
bàn
về
những
điểm
gay
go
nhất
của
Thánh
Kinh:
linh
ứng,
vô
ngộ,
chú
giải.
Trước
tiên
là
vấn
đề
linh
ứng:
lược
đồ
thứ
nhất
đề
cập
dài
dòng
về
đề
mục
này,
nhưng
theo
lối
trình
bày
của
các
sách
thần
học
nên
bị
giới
hạn
vì
những
tranh
luận
chưa
ổn
thỏa.
Với
lập
trường
không
nghiêng
về
luận
đề
này
hay
luận
đề
kia,
Công
Ðồng
dạy:
a)
Có
linh
ứng
Thánh
Kinh,
nghĩa
là
có
ảnh
hưởng
của
Chúa
Thánh
Thần
theo
hai
nghĩa:
mạc
khải
các
chân
lý
(ví
dụ
cho
các
tiên
tri)
và
tác
động
giúp
viết
thành
văn
bản
để
lưu
truyền,
đồng
thời
bảo
đảm
kết
quả.
b)
Linh
ứng
ảnh
hưởng
đến
toàn
bản
chính
lục,
bởi
lẽ
một
cuốn
sách
được
liệt
kê
vào
bản
chính
lục
là
vì
nó
được
linh
ứng.
Bản
văn
lập
lại
giáo
thuyết
của
Vaticanô
I,
và
thêm
rằng
giáo
thuyết
về
linh
ứng
Thánh
Kinh
là
di
sản
của
các
Tông
Ðồ
(Ðức
tin
tông
truyền).
c)
Liên
quan
giữa
các
Thánh
sử
và
Chúa
Thánh
Thần,
Ðấng
linh
ứng:
Chúa
là
tác
giả,
còn
thánh
sử
là
người
viết
sách;
người
ta
tránh
gọi
các
thánh
sử
là
"dụng
cụ",
vì
như
vậy
thì
lại
quá
thụ
động.
Cũng
vậy,
người
ta
sẽ
tránh
hiểu
Thiên
Chúa
như
là
tác
giả
"chính"
mà
thích
nói
Ngài
là
tác
giả
"siêu
việt".
Thiên
Chúa
không
là
"thánh
sử"
nhưng
Ngài
dùng
con
người
dầu
vẫn
để
con
người
hoàn
toàn
tự
do
và
tự
phát
(với
lỗi
lầm
của
họ).
Ðây
là
nền
tảng
của
việc
phê
bình
Thánh
Kinh.
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
Công
Giáo
Dei
Filius,
ch.
2:
Dz
1787
(3006).
-
Ủy
ban
giáo
hoàng
về
Thánh
Kinh,
Sắc
lệnh
ngày
18-6-1915:
Dz
2180
(3629);
EB.
420.
-
Thánh
Bộ
Thánh
Vụ,
Epist.
22-12-1923:
EB.
499.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Divino
afflante
Spiritu,
30-9-1943:
AAS
35
(1943)
trg
313;
EB
556.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
trong
và
qua
họ:
xem
Dth
1,1
và
4,7
(trong):
2Sm
23,2;
Mt
1,22
và
nhiều
nơi
khác
(qua);
CÐ
Vat.
I:
schema
de
doctr.
Cath.,
ghi
chú
số
9:
Col.
Lac.
VII,
522.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Leô
XIII,
Tđ.
Providentissimus
Deus,
18-11-1893:
Dz
1952
(3293);
EB.
125.
(Trở
lại
đầu
trang)
30*
Kết
quả
của
linh
ứng
là
chân
lý
của
Thánh
Kinh.
Trước
kia
lược
đồ
2
chỉ
nói
vô
ngộ,
sau
đó
bản
thảo
thứ
ba
lại
thêm:
vô
ngộ
và
chân
lý;
trong
bản
thảo
thứ
4,
Ủy
Ban
thêm
tĩnh
từ
"cứu
rỗi"
vào
danh
từ
"chân
lý".
Ðiều
này
gây
nên
một
cuộc
tranh
luận
rộng
lớn
và
sôi
nổi,
vì
người
ta
cho
rằng
như
thế
sẽ
hạn
chế
tính
cách
vô
ngộ
của
Thánh
Kinh
và
những
điều
siêu
nhiên
và
đi
ngược
lại
Giáo
Huấn
của
các
Ðức
Giáo
Hoàng
gần
đây.
Ủy
Ban
chấp
nhận
đề
nghị
sửa
đổi
của
73
Nghị
Phụ:
"vì
phần
rỗi
chúng
ta"
trong
khi
nhấn
mạnh
là
linh
ứng
không
bị
giới
hạn
vào
một
phần
nào
của
Thánh
Kinh.
Nhưng
câu
này
chỉ
rõ
đặc
tính
riêng
biệt
của
chân
lý
Thánh
Kinh,
nghĩa
là
chiều
hướng
để
hiểu
đúng
những
xác
quyết
của
Thánh
Kinh.
Chân
lý
Thánh
Kinh
chứa
đựng
trong
những
lời
xác
quyết
hay
lời
giáo
huấn
của
các
tác
giả
chứ
không
trong
những
từ
ngữ.
Những
giáo
huấn
ấy
không
bị
giới
hạn
trong:
"đức
tin
và
luân
lý"
bởi
vì
các
"chân
lý
cứu
độ"
cũng
bao
gồm
cả
những
sự
kiện
lịch
sử.
Nên
lưu
ý
là
bản
văn
không
nói:
"những
chân
lý",
nhưng
nói:
"chân
lý"
theo
số
ít
và
chân
lý
ở
đây
hiểu
theo
nghĩa
Thánh
Kinh,
nghĩa
là
hàm
chứa
sự
biểu
lộ
của
Thiên
Chúa
chân
thật,
(chứ
không
theo
nghĩa
duy
trí).
Chân
lý
lịch
sử
của
Thánh
Kinh
không
nhất
thiết
hệ
tại
việc
dựng
lại
các
sự
kiện
theo
thời
gian
và
hoàn
cảnh
xã
hội,
nhưng
hệ
tại
sự
giải
thích
các
sự
kiện,
nghĩa
là
dưới
phương
diện
những
sự
kiện
đó
diễn
tả
mối
tương
quan
giữa
con
người
và
Thiên
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
T.
Augustinô
De,
Gen.
a
litt.
2,
9,20:
PL
270-271;
CSEL
28,
1,
46-47
và
Epist.
82,
3:
PL
33,
277;
CSEL
34,
2,
354.
-
T.
Tôma,
De
Ver.
q.
12a.
2,C.
-
CÐ
Tren
tô,
khóa
4,
De
canonis
scripturis:
Dz
783
(1501)
-
Leô
XIII
Tđ.
Providentissimus
Deus:
EB.
121,
124,
126-127.
Piô
XII,
Tđ.
Divino
Afflante:
EB.
539.
(Trở
lại
đầu
trang)
31*
Công
Ðồng
dạy
vấn
đề
chú
giải
rất
cần
thiết
để
hiểu
Thánh
Kinh.
Khoa
chú
giải
tìm
tòi
những
phương
pháp
văn
chương
của
thánh
sử
để
khám
phá
điều
thánh
sử
muốn
dạy.
Thiên
Chúa
muốn
dạy
cũng
điều
đó
và
có
lẽ
còn
hơn
nữa:
đó
là
vấn
đề
nghĩa
thâm
sâu
(sensus
plenior)
mà
Ủy
Ban
không
muốn
quyết
đoán.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Thánh
Augustinô,
De
civ.
Dei
XVII,
6,2:
PL
41,537;
CSEL.
40,2,228.
(Trở
lại
đầu
trang)
32*
Ðoạn
này
bàn
về
việc
phê
bình
Thánh
Kinh
nghĩa
là
nhằm
phân
tách
"khía
cạnh
nhân
loại"
của
Thánh
Kinh:
văn
thể,
phạm
trù
tri
thức,
hoàn
cảnh
lịch
sử
v.v...
như
trong
bất
cứ
một
tác
phẩm
văn
chương
nào.
Tầm
quan
trọng
của
"văn
loại"
được
đặt
lên
hàng
đầu,
dầu
không
kê
khai
đầy
đủ.
Ta
nên
lưu
ý
điểm
này:
phải
công
nhận
sự
hiện
hữu
của
nhiều
loại
lịch
sử
khác
nhau,
vì
trong
các
cuốn
sách
của
Thánh
Kinh
quan
niệm
lịch
sử
không
có
cùng
một
nghĩa
như
nhau.
Ý
tưởng
sâu
xa
được
hiểu
ngầm
ở
đây
là
Lời
Thiên
Chúa
đã
trở
thành
lời
thực
sự
của
con
người,
nghĩa
là
lời
nhập
thể,
như
trình
bày
ở
số
13.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
T.
Aug.
De
doctr.
Christ.
III.18,26:
PL.34,75-76:
CSEL
80,95.
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Piô
XII,
n.v.t.:
Dz
2294
(3829-3830);
EB
557-562.
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Benedictô
XV,
Tđ.
Spiritus
Paraclitus,
15-9-1920:
EB
469.
-
T.
Hieronimô,
In
Gal.,
5,
19-21:
PL
26,
417A.
(Trở
lại
đầu
trang)
33*
Khoa
học
chưa
đủ
cho
việc
chú
giải
của
Kitô
giáo.
Cần
phải
có
đức
tin.
Nhà
chú
giải
cũng
phải
được
hướng
dẫn
bởi
cùng
một
Thánh
Thần
đã
linh
ứng
các
thánh
sử.
Tiếp
đến,
phải
đặt
mỗi
cuốn
sách
trong
toàn
bộ
Thánh
Kinh
vì
nó
không
có
cùng
một
giá
trị
như
nhau.
Phải
nhớ
rằng
Mạc
Khải
còn
tiến
triển:
Tân
Ước
soi
sáng
Cựu
Ước
và
Thánh
Truyền
của
Giáo
Hội
lại
sáng
soi
Tân
Ước.
Sau
cùng,
việc
chú
giải
và
quyền
Giáo
Huấn
phải
cộng
tác
theo
cùng
một
mục
đích
là
làm
phát
triển
sự
hiểu
biết
Mạc
Khải.
(Trở
lại
đầu
trang)
10
Xem
CÐ.
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
công
giáo
Dei
Filius,
ch.:
Dz
1788
(3007).
(Trở
lại
đầu
trang)
11
T.
Gioan
Kim
Khẩu,
In
Gen.
3,8
(hom.
17,1):
PL
53,
134.
-
"Thích
ứng"
tiếng
Hy
lạp
là
synkatábasis.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II