VĂN
KIỆN
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
Bản
dịch
Việt
Ngữ
của
Giáo
Hoàng
Học
Viện
Piô
X
Prepared
for
Internet
by
Vietnamese
Missionaries
in
Asia
-
Về
Mục
Lục
11-
HIẾN
CHẾ
TÍN
LÝ
VỀ
MẠC
KHẢI
CỦA
THIÊN
CHÚA
(DEI
VERBUM)
Lời
Giới
Thiệu
|
ChươngI
|
ChươngII
|
ChươngIII
|
ChươngIV
|
ChươngV
|
ChươngVI
|
Chương
II
Sự
Lưu
Truyền
Mạc
Khải
Của
Thiên
Chúa
18*
7.
Tông
đồ
và
các
người
kế
vị
loan
truyền
Phúc
Âm.
Những
gì
Thiên
Chúa
đã
mạc
khải
để
cứu
rỗi
muôn
dân,
Ngài
đã
ân
cần
sắp
đặt
để
luôn
được
bảo
toàn
và
lưu
truyền
19*
nguyên
vẹn
cho
mọi
thế
hệ.
Bởi
thế
Chúa
Kitô,
nơi
Người
Thiên
Chúa
tối
cao
hoàn
tất
trọn
vẹn
nguồn
mạc
khải
(x.
2Cor
1,20
và
3,16-4,6),
đã
truyền
dạy
các
Tông
Ðồ
rao
giảng
cho
mọi
người
Phúc
Âm
được
hứa
trước
qua
miệng
các
Tiên
Tri,
được
chính
Người
thực
hiện
và
công
bố;
các
Ngài
rao
giảng
Phúc
Âm
như
nguồn
mọi
chân
lý
cứu
độ
và
lề
luật
luân
lý
1,
đồng
thời
thông
ban
cho
họ
các
ân
thiêng.
Việc
này
đã
được
thực
hiện
cách
trung
thành,
một
phần
do
các
Tông
Ðồ:
hoặc
qua
lời
giảng
dạy,
gương
lành
và
các
thể
chế
các
ngài
đã
truyền
lại
những
gì
đã
nhận
lãnh
từ
miệng
Chúa
Kitô
khi
chung
sống
với
Người
và
thấy
Người
hành
động,
hoặc
đã
học
biết
được
nhờ
Chúa
Thánh
Thần
gợi
ý;
một
phần
do
chính
các
ngài
và
những
người
phụ
tá
các
ngài
đã
viết
lại
20*
tin
mừng
cứu
rỗi
dưới
sự
linh
ứng
của
cùng
một
Chúa
Thánh
Thần
2.
Nhưng
để
Phúc
Âm
được
giữ
gìn
toàn
vẹn
và
sống
động
mãi
trong
Giáo
Hội
21*,
các
Tông
Ðồ
đã
để
lại
những
người
kế
vị
là
các
Giám
Mục,
và
"trao
lại
cho
họ
quyền
giáo
huấn
của
các
ngài"
3.
Bởi
vậy,
Thánh
Truyền
đó
cùng
với
Thánh
Kinh
Cựu
và
Tân
Ước,
là
như
tấm
gương
mà
Giáo
Hội
lữ
thứ
trên
trần
gian
nhìn
vào
để
chiêm
ngưỡng
Thiên
Chúa,
nơi
Ngài
Giáo
Hội
nhận
lãnh
tất
cả,
cho
đến
khi
được
dẫn
tới
để
nhìn
thấy
Ngài,
diện
đối
diện,
như
Ngài
hiện
thực
(x.
1Gio
3,2).
8.
Thánh
Truyền.
22*
Vì
vậy,
những
lời
giảng
dạy
của
các
Tông
Ðồ
được
đặc
biệt
ghi
lại
trong
các
sách
linh
ứng,
phải
được
bảo
tồn
và
liên
tục
lưu
truyền
cho
đến
tận
thế.
Do
đó
khi
truyền
lại
những
gì
chính
mình
đã
lãnh
nhận,
các
Tông
Ðồ
khuyến
cáo
tín
hữu
phải
giữ
gìn
các
truyền
thống
họ
đã
học
biết
qua
lời
chỉ
giáo
hay
bằng
thư
từ
(x.
2Th
2,15),
và
phải
chiến
đấu
để
bảo
vệ
đức
tin
chỉ
được
truyền
dạy
cho
họ
một
lần
thôi
(Gđa
3)
4.
Và
những
điều
các
Tông
Ðồ
truyền
lại
bao
gồm
tất
cả
những
gì
góp
phần
vào
việc
giúp
Dân
Thiên
Chúa
sống
một
đời
thánh
thiện
và
làm
tăng
triển
đức
tin.
Như
vậy,
Giáo
Hội
qua
giáo
lý,
đời
sống
và
việc
thờ
phượng
của
mình,
bảo
tồn
và
lưu
truyền
cho
mọi
thế
hệ
tất
cả
thực
chất
của
mình
và
tất
cả
những
gì
mình
tin.
23*
Thánh
Truyền
do
các
Tông
Ðồ
truyền
lại
được
tiến
triển
trong
Giáo
Hội
dưới
sự
trợ
giúp
của
Chúa
Thánh
Thần
5.
Thật
vậy,
các
sự
việc
và
lời
nói
truyền
lại
được
hiểu
biết
thấu
đáo
hơn,
nhờ
sự
chiêm
ngắm
và
học
hỏi
của
các
tín
hữu,
những
người
đã
ghi
nhận
các
điều
đó
trong
lòng
(x.
Lc
2,19
và
51);
nhờ
sự
thông
hiểu
những
điều
thiêng
liêng
họ
cảm
nghiệm
được,
hoặc
nhờ
việc
giảng
dạy
của
những
người
lãnh
nhận
một
đoàn
sủng
chắc
chắn
về
chân
lý,
do
việc
kế
vị
trong
chức
Giám
Mục.
Nói
cách
khác,
qua
bao
thế
kỷ
Giáo
Hội
luôn
hướng
tới
sự
viên
mãn
của
chân
lý
Thiên
Chúa,
cho
đến
khi
lời
Chúa
được
hoàn
tất
nơi
chính
Giáo
Hội.
24*
Lời
các
Thánh
Giáo
Phụ
chứng
thực
sự
có
mặt
sống
động
của
Thánh
Truyền.
Và
sự
phong
phú
của
Thánh
Truyền
đã
thâm
nhập
vào
thực
hành
và
đời
sống
của
Giáo
Hội
hằng
tin
tưởng
và
cầu
nguyện.
Nhờ
Thánh
Truyền
ấy,
Giáo
Hội
biết
được
toàn
bộ
chính
lục
Thánh
Kinh
và
cũng
nhờ
Thánh
Truyền,
Thánh
Kinh
được
hiểu
biết
thấu
đáo
hơn,
cũng
như
Thánh
Truyền
đã
làm
cho
Thánh
Kinh
không
ngừng
hoạt
động.
Như
vậy
Thiên
Chúa,
Ðấng
xưa
đã
phán
dạy,
nay
vẫn
không
ngừng
ngỏ
lời
với
Hiền
Thê
của
Con
yêu
dấu
mình;
và
Thánh
Thần,
Ðấng
làm
cho
tiếng
nói
sống
động
của
Phúc
Âm
vang
dội
trong
Giáo
Hội
và
nhờ
Giáo
Hội
làm
vang
dội
trong
thế
giới,
hướng
dẫn
các
tín
hữu
nhận
biết
toàn
thể
chân
lý
và
làm
cho
lời
Chúa
Kitô
tràn
ngập
lòng
họ
(x.
Col
3,16).
25*
9.
Tương
quan
giữa
Thánh
Truyền
và
Thánh
Kinh.
Bởi
vậy
Thánh
Truyền
và
Thánh
Kinh
liên
kết,
phối
hiệp
mật
thiết
với
nhau
vì
cả
hai
phát
xuất
từ
một
nguồn
mạch
là
Thiên
Chúa,
có
thể
nói
kết
hợp
làm
một
duy
nhất
và
cùng
hướng
về
một
mục
đích.
Thực
vậy,
Thánh
Kinh
là
lời
Chúa
nói,
vì
được
ghi
chép
lại
dưới
sự
linh
ứng
của
Chúa
Thánh
Thần;
còn
lời
Chúa,
mà
Chúa
Kitô
và
Chúa
Thánh
Thần
đã
ủy
thác
cho
các
Tông
Ðồ,
thì
Thánh
Truyền
lưu
lại
toàn
vẹn
cho
những
kẻ
kế
vị
các
ngài,
để
nhờ
Thần
Chân
Lý
soi
sáng,
họ
trung
thành
gìn
giữ,
trình
bày
và
phổ
biến
qua
lời
rao
giảng.
Do
đó,
Giáo
Hội
không
chỉ
nhờ
Thánh
Kinh
mà
biết
cách
xác
thực
những
điều
mạc
khải.
Chính
vì
thế
cả
Thánh
Kinh
lẫn
Thánh
Truyền
đều
phải
được
đón
nhận
và
tôn
kính
bằng
một
tâm
tình
quý
mến
và
kính
trọng
như
nhau
6.
26*
10.
Tương
quan
giữa
Thánh
Truyền,
Thánh
Kinh,
Dân
Chúa
và
Huấn
Quyền.
Thánh
Truyền
và
Thánh
Kinh
họp
thành
một
kho
tàng
thánh
thiện
duy
nhất
chứa
đựng
lời
Thiên
Chúa
và
được
ủy
thác
cho
Giáo
Hội.
Trong
khi
gắn
bó
với
kho
tàng
ấy,
toàn
thể
dân
thánh
hiệp
nhất
với
các
chủ
chăn,
27*
luôn
được
vững
bền
trong
giáo
lý
các
Tông
Ðồ,
trong
niềm
hiệp
thông,
trong
việc
bẻ
bánh
và
lời
cầu
nguyện
(x.
CvTđ
2,42,
bản
Hy
lạp),
đến
nỗi
trong
việc
tuân
giữ,
thực
hành
và
tuyên
xưng
đức
tin
lưu
truyền,
các
Giám
Mục
và
tín
hữu
hiệp
nhất
với
nhau
cách
lạ
lùng
7.
Nhiệm
vụ
chú
giải
chính
thức
lời
Chúa
đã
được
viết
ra
hay
lưu
truyền
8
chỉ
được
ủy
thác
cho
Quyền
Giáo
Huấn
sống
động
của
Giáo
Hội
9,
và
Giáo
Hội
thi
hành
quyền
đó
nhân
danh
Chúa
Giêsu
Kitô
28*.
Tuy
nhiên
Quyền
Giáo
Huấn
này
không
vượt
trên
Lời
Chúa,
nhưng
để
phục
vụ
Lời
Chúa,
chỉ
dạy
những
gì
đã
được
truyền
lại,
vì
thừa
lệnh
Chúa
và
với
sự
trợ
giúp
của
Chúa
Thánh
Thần,
Giáo
Hội
thành
tâm
lắng
nghe,
gìn
giữ
cách
thánh
thiện
và
trung
thành
trình
bày
Lời
Chúa.
Và
từ
kho
tàng
duy
nhất
ấy,
Giáo
Hội
rút
ra
mọi
chân
lý,
mà
dạy
phải
tin
là
do
Thiên
Chúa
mạc
khải.
Bởi
thế,
hiển
nhiên
là
Thánh
Truyền,
Thánh
Kinh
và
Quyền
Giáo
Huấn
của
Giáo
Hội,
theo
ý
định
vô
cùng
khôn
ngoan
của
Thiên
Chúa,
liên
kết
và
phối
hiệp
với
nhau
đến
nỗi
không
thực
thể
nào
trong
ba
có
thể
đứng
vững
một
mình
được.
Và
dưới
tác
động
của
một
Chúa
Thánh
Thần
duy
nhất,
cả
ba,
theo
phương
cách
riêng,
cùng
góp
phần
hữu
hiệu
vào
việc
cứu
rỗi
các
linh
hồn.
Chú
Thích:
18*
Trong
bản
thảo
thứ
hai,
chương
I
mang
tựa
đề:
"Về
Lời
Chúa
được
Mạc
Khải"
và
gồm
có
bốn
số.
Trong
bản
thảo
thứ
ba,
người
ta
thêm
số
8
và
rồi
chương
II
này.
Nhiều
người
đã
phê
bình
tựa
đề,
vì
Mạc
Khải
-
theo
họ
nói
-
là
lời
mạc
khải
hơn
là
lời
được
mạc
khải.
Tựa
đề
hiện
tại
thích
hợp
với
nội
dung
hơn:
"chỗ
này
chúng
tôi
miêu
tả
việc
lưu
truyền
mạc
khải
cách
tổng
quát,
nhưng
chúng
tôi
quan
tâm
đặc
biệt
đến
truyền
thống
sống
vì
nó
có
liên
quan
trực
tiếp
với
mạc
khải
được
lưu
truyền
và
nó
vẫn
tiếp
tục
sau
khi
Thánh
Kinh
đã
được
viết.
Như
thế,
chương
này
là
một
bài
nhập
đề
khá
hay
cho
những
chương
nói
về
Thánh
Kinh
sau
này"
(Relatio,
trg
19).
Một
số
các
Nghị
Phụ
muốn
nhấn
mạnh
Thánh
Truyền
nên
đòi
phải
có
một
đề
mục
về
điểm
này.
"Phần
đông
các
Nghị
Phụ
này
muốn
đặt
Thánh
Truyền
lên
trước
Thánh
Kinh,
vì
theo
bản
tính
và
thời
gian
Thánh
Truyền
có
trước
Thánh
Kinh...
Các
Nghị
Phụ
khác
muốn
xác
nhận
Thánh
Truyền
là
một
nguồn
Mạc
Khải
hoàn
toàn
tách
biệt
khỏi
Thánh
Kinh
(Relatio,
n.v.t.).
Còn
Ủy
Ban
lại
muốn
tránh
tất
cả
những
vấn
đề
đang
trong
vòng
tranh
luận.
Thế
là
đề
mục
Mạc
Khải
đã
trở
thành
nóng
bỏng
hơn
cả
đề
mục
về
Cộng
Ðoàn
tính
của
Giám
Mục.
Vấn
đề
ở
đây
là
di
sản
của
bao
thế
kỷ
tranh
luận
chống
Tin
Lành.
Chúng
ta
phải
vượt
qua
vấn
đề
đó,
nhưng
không
phải
là
việc
dễ
dàng,
nhất
là
vì
chúng
lại
xa
lạ
với
Ðông
Phương
và
các
Giáo
Hội
tân
lập.
Ðây
là
lời
Ðức
Giám
Mục
Edelly
trong
một
cuộc
phát
biểu
ý
kiến:
"Phải
thoát
ra
khỏi
vấn
đề
sau
Công
Ðồng
Trentô...
Ðặt
mình
vào
trung
tâm
mầu
nhiệm
Giáo
Hội
là
một
liều
thuốc
công
hiệu.
Phải
loại
trừ
tâm
thức
qua
pháp
lý
và
duy
danh
mà
những
người
cải
cách
và
Latinh
tự
đóng
khung
vào.
Từ
thời
Trung
Cổ,
chính
tâm
thức
này
đã
đối
nghịch
"việc
truyền
phép"
với
"lời
khẩn
cầu
Chúa
Thánh
Thần".
Và
chính
tâm
thức
này
mới
đây
đã
trình
bày
"quyền
tối
thượng"
và
"cộng
đoàn
tính"
như
hai
thực
thể
tách
biệt.
Cũng
chính
tâm
thức
này
đã
đặt
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền
song
song
với
nhau?
Thánh
Kinh
là
một
thực
tại
phụng
vụ
và
tiên
tri.
Các
Giáo
Hội
Ðông
Phương
coi
Thánh
Kinh
là
một
"việc
truyền
phép"
lịch
sử
cứu
độ
dưới
"hình
thức"
tiếng
nói
con
người,
nhưng
không
tách
biệt
khỏi
việc
truyền
phép
Mình
Thánh
Chúa
trong
đó
tất
cả
lịch
sử
được
qui
hợp
trong
Thánh
Thể
Chúa
Kitô.
"Việc
truyền
phép"
này
cần
một
"lời
cầu
khẩn
Chúa
Thánh
Thần"
đó
chính
là
Thánh
Truyền.
Thánh
Truyền
là
"lời
cầu
khần
Chúa
Thánh
Thần"
của
lịch
sử
cứu
rỗi,
là
sự
tỏ
mình
của
Thánh
Thần;
bởi
thế
nếu
thiếu
lịch
sử,
Thánh
Truyền
sẽ
không
thể
hiểu
được
và
Thánh
Kinh
là
những
chữ
chết.
Tiếng
Thánh
Truyền
không
luôn
có
cùng
một
nghĩa,
vì
vậy
Ủy
Ban
đã
cho
biết
cách
chung
là
từ
khoảng
giữa
số
8
(và
những
điều
các
Tông
Ðồ
truyền
lại)
tiếng
"Thánh
Truyền"
phải
hiểu
theo
nghĩa
thụ
động:
thực
thể
hay
chân
lý
được
lưu
truyền.
(Trở
lại
đầu
trang)
19*
Câu
này
nói
lên
ý
hướng
của
toàn
chương:
Thiên
Chúa
muốn
lưu
truyền
toàn
thể
Mạc
Khải,
cả
Cựu
Ước
lẫn
Tân
Ước,
cho
mọi
thời
đại.
Các
Tông
Ðồ
đã
được
lệnh
truyền
dạy
tất
cả
những
điều
các
Ngài
đã
thu
nhận
nơi
Chúa
Kitô
(Mt
28,20).
(Trở
lại
đầu
trang)
1
Xem
Mt
28,19-20
và
Mc
16,15.
CÐ
Trentô,
khóa
4,
Sắc
lệnh
De
cononicis
scripturis:
Dz
783
(1501).
(Trở
lại
đầu
trang)
20*
Công
Ðồng
dạy
về
hai
nguồn
lưu
truyền
"Phúc
Âm"
trước
hết
theo
chiều
dọc:
từ
Chúa
Kitô
và
Chúa
Thánh
Thần
đến
các
Tông
Ðồ;
sau
đó
theo
chiều
ngang:
từ
các
Tông
Ðồ
đến
Giáo
Hội.
Ðoạn
này
nhấn
mạnh
đến
giai
đoạn
đặc
biệt
là
"thời
các
Thánh
Tông
Ðồ",
gồm
cả
những
"môn
đệ
của
các
Tông
Ðồ"
vì
họ
đã
viết
một
phần
Tân
Ước,
ngay
cả
sau
khi
vị
Tông
Ðồ
cuối
cùng
băng
hà.
Các
phương
tiện
lưu
truyền
là
lời
giảng
dạy
và
Thánh
Kinh:
cả
hai
phương
tiện
đều
lưu
truyền
cùng
một
mạc
khải.
Công
Ðồng
không
muốn
nói
là
trong
lời
giảng
dạy
chứa
nhiều
mạc
khải
hơn
trong
các
bản
văn.
Việc
giảng
dạy
không
phải
chỉ
bằng
lời
nói
mà
cũng
bằng
gương
sáng
và
các
tổ
chức.
Thánh
Truyền
không
phải
chỉ
là
lời
nói
suông
mà
còn
là
những
hiện
thực.
(Trở
lại
đầu
trang)
2
Xem
CÐ
Trentô,
n.v.t.
-
CÐ
Vat
I,
khóa
3,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
Công
Giáo
De
Filius,
ch.2:
Dz
1787
(3006).
(Trở
lại
đầu
trang)
21*
Ở
đây
bàn
về
tính
cách
liên
tục
của
Mạc
Khải
sau
thời
các
Tông
Ðồ.
Ðề
mục
này
được
bàn
kỹ
lưỡng
trong
Hiến
Chế
Giáo
Hội
số
20
và
21.
Ở
đây
Công
Ðồng
chỉ
nhắc
lại.
Ở
chỗ
khác
Công
Ðồng
cũng
dạy
rằng
nhiệm
vụ
thiết
yếu
của
các
Giám
Mục
là
lưu
truyền
Mạc
Khải
(x.
GH
25a,
GM
12a).
Sự
viên
mãn
của
Mạc
Khải
hiện
hữu
trong
Giáo
Hội,
và
chính
nơi
Giáo
Hội,
nhờ
đức
tin
ta
gặp
được
Thiên
Chúa,
tức
là
khởi
đầu
việc
hưởng
nhan
Chúa:
có
sự
liên
tục
giữa
Giáo
Hội
hiện
tại
và
Giáo
Hội
cánh
chung.
(Trở
lại
đầu
trang)
3
T.
Ireneô,
Adv.
Haer.
III,
3,
1:
PG
7,
848;
Harvey,
2,
trg
9.
(Trở
lại
đầu
trang)
22*
Số
này
xuất
hiện
trong
bản
thảo
thứ
ba.
Nhiều
Nghị
Phụ
đòi
Công
Ðồng
phải
trực
tiếp
bàn
đến
Thánh
Truyền,
vì
các
lược
đồ
trước
hầu
như
không
nói
gì
đến.
(Trở
lại
đầu
trang)
4
Xem
CÐ
Nicea
II:
Dz
303
(602).
-
CÐ
Constantinopla
IV,
khóa
10,
đ.
th.
1:
Dz
336
(650-652).
(Trở
lại
đầu
trang)
23*
Ðoạn
này
bàn
về
sự
hiện
hữu
và
bản
tính
của
Thánh
Truyền.
Một
Nghị
Phụ
muốn
bản
văn
nói:
"các
chân
lý
mà
các
Tông
Ðồ
đã
mạc
khải
bằng
miệng
và
không
có
trong
Thánh
Kinh,
được
lưu
truyền
cho
chúng
ta
bằng
Thánh
Truyền".
Nhưng
Ủy
Ban
bác
bỏ
đề
nghị
trên,
vì
Ủy
Ban
không
muốn
đặt
vấn
đề
tính
cách
đầy
đủ
chất
liệu
của
Thánh
Kinh
và
nội
dung
của
Thánh
Truyền.
Chỉ
có
một
điều
không
còn
nghi
ngờ
là
Thánh
Truyền
có
nội
dung
rộng
hơn
Thánh
Kinh;
bằng
chứng
là
trường
hợp
bản
chính
lục
và
sự
linh
ứng
của
chính
Thánh
Kinh.
Như
thế
câu
"lời
giảng
dạy
của
các
Tông
Ðồ"
bao
gồm
tất
cả
mọi
điều
mà
các
Tông
Ðồ
đã
lưu
truyền
bằng
bất
cứ
cách
nào.
Và
những
điều
đó
nhờ
linh
ứng
được
chứa
đựng
"cách
đặc
biệt"
trong
Thánh
Kinh
(nghĩa
là
không
phải
chỉ
trong
Thánh
Kinh).
(Trở
lại
đầu
trang)
5
Xem
CÐ
Vat
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
Công
Giáo
De
Filius,
ch.4:
Dz
1800
(3020).
(Trở
lại
đầu
trang)
24*
Thánh
Truyền
luôn
linh
động,
tăng
tiến
và
tiến
triển
liên
tục
(không
phải
trong
bản
chất
mà
trong
việc
hiểu
biết)
và
luôn
giữ
đồng
nhất
tính
nguyên
thủy
của
mình
trong
khi
vẫn
hướng
về
sự
viên
mãn
của
chân
lý.
Ðể
chỉ
"bản
chất"
ta
nói
"Tông
Truyền"
thay
vì
"Thánh
Truyền
sống".
Nguồn
gốc
sự
phát
triển
là:
việc
chiêm
ngắm,
sự
nghiên
cứu
của
các
nhà
thần
học,
ơn
hiểu
biết
Chúa
Thánh
Thần
ban
và
lời
giảng
dạy
của
hàng
Giáo
Phẩm.
Ở
đây
người
ta
theo
kiểu
nói
của
Thánh
Ireneô
mà
không
nêu
danh
tánh,
vì
các
ngôn
từ
"
Ðoàn
sủng
về
chân
lý"
có
thể
có
ba
nghĩa:
ơn
ban
chân
lý
mạc
khải,
ân
sủng
giúp
trung
thành
với
chân
lý,
và
ơn
giúp
cắt
nghĩa
mạc
khải
cách
chân
thực;
ở
đây
theo
nghĩa
thứ
ba.
(Trở
lại
đầu
trang)
25*
Các
Giáo
Phụ
là
những
nhân
chứng
quan
trọng
nhất
của
Thánh
Truyền,
không
phải
chỉ
vì
các
Ngài
sống
gần
thời
của
Tông
Ðồ
mà
vì
các
Ngài
đã
hệ
thống
hóa
giáo
thuyết,
đến
nỗi
đã
có
thể
truyền
lại
cho
chúng
ta
theo
những
công
thức
mà
chính
Ngài
đã
hình
thành.
(Trở
lại
đầu
trang)
6
Xem
CÐ
Trentô,
Sắc
lệnh
De
Canonicis
Scripturis:
Dz
783
(1501).
(Trở
lại
đầu
trang)
26*
Thánh
Truyền
không
phải
chỉ
là
của
Giáo
Hội
nhưng
còn
mang
đặc
tính
thần
linh
như
Thánh
Kinh
cả
về
nguồn
gốc,
nội
dung
và
mục
đích.
Nội
dung
là
xét
theo
phẩm,
chứ
Công
Ðồng
không
bàn
đến
lượng.
Ở
đây
ta
thấy
có
sự
phân
biệt
vai
trò
của
các
Tông
Ðồ,
những
người
cấu
tạo
Thánh
Truyền,
và
vai
trò
của
các
Giám
Mục,
những
người
bảo
vệ
Thánh
Truyền.
Câu
"Do
đó,
Giáo
Hội
không
chỉ
nhờ..."
được
Ðức
Giáo
Hoàng
Phaolô
VI
ghi
thêm
vào
phút
chót.
Nhiều
người
Tin
Lành
phản
đối
và
cho
rằng
đó
là
một
bước
quay
về
thuyết
"Hai
nguồn".
Nhưng
Ủy
Ban
cắt
nghĩa
là
câu
trên
không
hề
thay
đổi
ý
nghĩa
bản
văn.
Thực
ra
270
Nghị
Phụ
đã
yêu
cầu
sửa
đổi
theo
nghĩa
đó
(trong
số
đó
có
111
Nghị
Phụ
thuộc
nhóm
đưa
ra
đề
nghị
tu
chỉnh
danh
tiếng
40D).
Ðược
Ðức
Hồng
Y
Bea
khuyến
khích,
Ủy
Ban
đã
chấp
nhận
câu
thứ
3
trong
số
7
câu
do
Ðức
Giáo
Hoàng
đề
nghị,
và
nói
rằng
câu
đó
không
ngăn
trở
những
vấn
đề
đương
tranh
luận.
(Trở
lại
đầu
trang)
27*
Ðoạn
này
dạy
rằng
Mạc
Khải
là
gia
sản
của
toàn
thể
Dân
Chúa.
Do
đó,
tín
hữu
không
thể
thụ
động
đối
với
Lời
Mạc
Khải.
Giáo
thuyết
này
là
một
bước
tiến
sánh
với
Vaticanô
I
và
Thông
điệp
Humani
Generis.
Dân
Chúa
sống
đạo
sẽ
làm
giàu
Thánh
Truyền
và
giải
thích
Lời
Chúa.
(Trở
lại
đầu
trang)
7
Xem
Piô
XII,
Tông
hiến
Munificentissimus
Deus,
1-11-1950:
AAS
42
(1950),
trg
756,
lấy
lại
lời
thánh
Cyprianô,
Epist.
66,8:
CSEL
3,2,
733:
"Giáo
Hội
là
một
dân
hiệp
nhất
với
Linh
mục
và
là
một
đàn
chiên
liên
kết
với
Chủ
Chăn".
(Trở
lại
đầu
trang)
8
Xem
CÐ
Vat.
I,
Hiến
chế
tín
lý
về
đức
tin
Công
Giáo
Dei
Filius,
ch.
3:
Dz
1792
(3011).
(Trở
lại
đầu
trang)
9
Xem
Piô
XII,
Tđ.
Humani
generis,
12-8-1950:
AAS
42
(1050),
trg
568-569:
Dz
2314
(3886).
(Trở
lại
đầu
trang)
28*
Quyền
Giáo
Huấn
là
lời
giải
thích
chính
thức
và
độc
nhất
của
Mạc
Khải,
quyền
này
do
Chúa
thiết
lập
và
giữ
vai
trò
phụng
sự
Lời
Chúa
và
Dân
Chúa.
Quyền
Giáo
Huấn
có
thể
là
thường
và
bất
thường,
khả
ngộ
và
bất
khả
ngộ.
Về
phương
diện
hiệp
nhất
lời
xác
quyết
sau
đây
thực
là
lời
tối
quan
trọng:
Quyền
Giáo
Huấn
phải
tuân
theo
Lời
Chúa,
dầu
quyền
này
gây
khó
khăn
cho
nhiều
Kitô
hữu
khác.
(Trở
lại
đầu
trang)

Về
Mục
Lục
Văn
Kiện
Công
Đồng
Vaticanô
II